IV. VỤ ÁN TẠI TRANG VIÊN THREE GABLES

Trong muôn vàn cuộc phiêu lưu cùng Sherlock Holmes, có lẽ hiếm câu chuyện nào mở màn đường đột và nhuốm màu kịch tính như vụ án tại trang viên The Three Gables. Đã mấy ngày qua, tôi không có dịp gặp gỡ Holmes, thành thử chẳng mảy may hay biết anh đang dồn tâm trí vào bí ẩn mới nào. Dẫu vậy, sáng hôm ấy, bầu không khí có phần cởi mở hơn. Anh vừa ân cần mời tôi an tọa trên chiếc ghế bành thấp cũ kỹ bên lò sưởi, còn bản thân thì cuộn mình nơi chiếc ghế đối diện, thong thả ngậm tẩu thuốc trên môi, thì gã khách lạ bất thần ập tới. Có lẽ phải ví von gã như một con bò tót điên cuồng lao sầm sập vào nhà mới lột tả hết được cảnh tượng kinh hồn bạt vía lúc bấy giờ.

Cánh cửa xé toạc ra, để lộ một gã da đen vạm vỡ xông thẳng vào phòng. Bộ dạng gã hẳn sẽ là một trò hề lố bịch nếu như sự hung hãn không toát ra quá rõ ràng. Gã diện bộ vest kẻ caro xám chói lóa, kèm theo chiếc cà vạt lụa màu cá hồi phấp phới một cách đầy khoa trương. Khuôn mặt to bè cùng chiếc mũi tẹt hếch lên xấc xược, trong khi đôi mắt đen ngầu sưng sỉa phóng ra những tia nhìn độc ác, không ngừng đảo quanh dò xét hai chúng tôi.

"Ai trong hai người là ông Holmes?" gã cộc lốc buông lời.

Holmes khẽ nhấc tẩu thuốc khỏi môi, nở một nụ cười nhạt uể oải.

"Ồ! Là ông, đúng không?" gã khách nói, chậm rãi vòng qua góc bàn bằng những bước chân rón rén, đầy vẻ đe dọa. "Nghe cho rõ đây, ông Holmes. Ông hãy tránh xa chuyện của người khác ra. Để người ta tự lo việc của họ. Rõ chưa, ông Holmes?"

"Cứ nói tiếp đi," Holmes điềm nhiên đáp. "Khá lắm."

"Ồ! Khá lắm, phải không?" tên man rợ gầm gừ. "Sẽ chẳng khá khẩm gì đâu nếu tôi phải tự tay chỉnh đốn ông một trận. Thể loại như ông tôi từng xử lý nhiều rồi, và đảm bảo lúc tôi xong việc thì bộ dạng chúng nó chẳng còn nguyên vẹn đâu. Nhìn cho kỹ đây, ông Holmes!"

Gã vung nắm đấm to lù lù như cục bướu sượt ngang mũi bạn tôi. Thế nhưng, Holmes chỉ điềm tĩnh quan sát nó kỹ lưỡng với vẻ vô cùng thích thú.

"Anh sinh ra đã mang cục nợ này rồi sao?" anh hỏi. "Hay nó cứ thế phình to dần lên?"

Chẳng rõ do sự điềm tĩnh lạnh lùng của Holmes, hay tiếng lách cách khe khẽ khi tôi kịp với tay cầm lấy thanh cời lửa. Dù là lý do gì, thái độ của gã khách lạ lập tức xẹp xuống, bớt hẳn vẻ hùng hổ.

"Thôi được, tôi đã tử tế cất lời cảnh báo rồi đấy," gã nói. "Tôi có một người bạn đang để mắt đến khu vực Harrow1-ông hiểu ý tôi chứ-và anh ấy không hề muốn ông xọc mũi vào. Rõ chưa? Ông chẳng đại diện cho luật pháp, tôi cũng thế. Và nếu ông cứ cố tình xen vào, thì ông sẽ phải đụng độ tôi đấy. Khắc cốt ghi tâm điều đó đi."

"Từ lâu tôi đã rất muốn gặp anh," Holmes điềm đạm đáp. "Tôi sẽ không mời anh ngồi, bởi tôi chẳng mấy thiện cảm với cái mùi của anh. Cơ mà, anh có phải là tay đấm bốc Steve Dixie không nhỉ?"

"Chính là cái tên này, thưa ông Holmes. Và ông chắc chắn sẽ ăn đủ trái đắng nếu còn dám lôi thôi với tôi."

"Đó chắc chắn là hạ sách cuối cùng của anh rồi," Holmes hờ hững nói, ánh mắt dán chặt vào cái khuôn miệng gớm ghiếc của gã khách. "Thế còn vụ sát hại cậu thanh niên Perkins bên ngoài quán bar Holborn2 thì sao-- Ơ hay! Sao anh chưa cút đi?"

Gã da đen giật lùi lại, nét mặt hắn chợt xám ngoét. "Tôi sẽ không nghe những chuyện nhảm nhí như thế," hắn lúng búng. "Tôi thì dính dáng gì đến cái tên Perkins này, ông Holmes? Hồi thằng ranh đó gặp rắc rối, tôi đang bận tập luyện ở võ đài Bull Ring3 tít tận Birmingham kia mà."

"Phải rồi, anh cứ việc đem câu chuyện đó mà kể cho ngài thẩm phán nghe, Steve ạ," Holmes điềm nhiên tiếp lời. "Tôi đã để mắt theo dõi anh và Barney Stockdale--"

"Lạy Chúa rủ lòng thương! Ông Holmes--"

"Đủ rồi. Cút đi. Khi nào cần, tôi khắc sẽ tìm đến anh."

"Chào buổi sáng, ông Holmes. Tôi hy vọng ông không mang ác cảm gì về chuyến viếng thăm này chứ?"

"Chắc chắn là có đấy, trừ phi anh khai ra kẻ nào đã phái anh đến đây."

"Chà, chuyện đó cũng chẳng phải bí mật gì đâu, ông Holmes. Chính là cái gã mà ông vừa mới nhắc tên đó."

"Thế ai đã giật dây hắn làm trò này?"

"Có Chúa chứng giám, tôi hoàn toàn mù tịt, ông Holmes. Hắn chỉ bảo, 'Steve, mày đi gặp ông Holmes, bắn tiếng với ổng rằng mạng sống của ổng sẽ không được bảo đảm nếu còn dám bén mảng đến khu Harrow.' Đó là tất cả sự thật."

Không màng nán lại đợi thêm bất kỳ câu hỏi nào, vị khách của chúng tôi lao tót ra khỏi phòng với vẻ cuống cuồng, hấp tấp hệt như lúc gã xông vào. Holmes khẽ gõ tàn thuốc trong tẩu, buông một tiếng cười khúc khích nho nhỏ.

"Tôi rất mừng vì anh đã không phải đập vỡ cái sọ đặc sệt của hắn, Watson ạ. Tôi đã để ý thấy từng cử động của anh với thanh cời lửa. Thực chất thì hắn cũng chỉ là một gã vô hại, một đứa trẻ to xác, ngốc nghếch, thích lớn tiếng dọa nạt nhưng lại rất dễ bị hù dọa lại, như anh vừa thấy đấy. Hắn là một tay chân thuộc băng đảng của Spencer John, dạo gần đây có nhúng chàm vào một vài vụ việc bẩn thỉu mà có lẽ tôi sẽ làm cho ra nhẽ khi có thời gian. Kẻ chỉ đạo trực tiếp của hắn, Barney, lại là một gã xảo quyệt hơn nhiều. Bọn chúng chuyên nhận đâm thuê chém mướn, dằn mặt tống tiền, và những trò đê tiện tương tự. Tuy nhiên, điều tôi thực sự muốn biết lúc này là: ai mới là kẻ đứng trong bóng tối giật dây bọn chúng trong phi vụ đặc biệt này?"

"Nhưng cớ sao chúng lại muốn đe dọa anh?"

"Chính là vì vụ án ở Harrow Weald. Lời đe dọa ban nãy đã thôi thúc tôi phải đích thân xem xét vấn đề này. Bởi lẽ, nếu có kẻ đã phải hao tâm tổn trí dằn mặt tôi đến vậy, thì ắt hẳn đằng sau phải ẩn chứa một bí mật không hề nhỏ."

"Rốt cuộc đó là chuyện gì vậy?"

"Tôi vừa định kể cho anh nghe thì màn hài kịch lố lăng này ập tới. Đây là lá thư của phu nhân Maberley. Nếu anh muốn đồng hành cùng tôi, chúng ta sẽ gửi điện báo cho bà ấy và lập tức khởi hành ngay."

KÍNH GỬI ÔNG SHERLOCK HOLMES, (tôi lẩm nhẩm đọc)-

Tôi đang phải đối mặt với một chuỗi những sự việc vô cùng kỳ lạ liên quan đến ngôi nhà này, và tôi vô cùng trân trọng nếu nhận được lời khuyên từ ông. Ông có thể ghé qua nhà tôi vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày mai. Ngôi nhà nằm cách Ga Weald một quãng đi bộ ngắn. Tôi tin rằng người chồng quá cố của mình, ông Mortimer Maberley, cũng từng là một trong những vị khách hàng thuở ban đầu của ông.

Trân trọng, MARY MABERLEY.

Địa chỉ được ghi là "Trang viên The Three Gables, Harrow Weald."

"Sự tình là vậy đó!" Holmes hồ hởi nói. "Và bây giờ, nếu anh đã thu xếp được thời gian, Watson, chúng ta sẽ lên đường."

Một chuyến tàu ngắn nối tiếp bằng một cuốc xe ngựa còn ngắn hơn đã đưa chúng tôi đến trước ngôi nhà, một căn biệt thự xây bằng gạch và gỗ, nằm lọt thỏm giữa một mẫu cỏ hoang vu. Phía trên các cửa sổ tầng lầu nhô ra ba mái che nhỏ xíu, như một nỗ lực yếu ớt nhằm biện minh cho cái tên "Ba Mái Nhà" của nó. Phía sau lưng là một rặng thông còi cọc, ủ rũ. Nhìn tổng thể, chốn này toát lên một vẻ nghèo nàn và chán chường. Dẫu vậy, khi bước vào trong, chúng tôi nhận thấy ngôi nhà được bài trí nội thất rất tươm tất. Quý bà ra đón tiếp chúng tôi là một phụ nữ luống tuổi vô cùng duyên dáng, toát lên phong thái của một người học thức và vô cùng tinh tế.

"Tôi vẫn nhớ rất rõ phu quân của bà, thưa bà," Holmes lên tiếng, "mặc dù đã nhiều năm trôi qua kể từ dạo ông ấy nhờ tôi giúp đỡ trong một vấn đề nhỏ."

"Có lẽ cái tên của con trai tôi, Douglas, sẽ quen thuộc với ông hơn."

Holmes nhìn bà với vẻ vô cùng thích thú.

"Trời đất! Bà là thân mẫu của Douglas Maberley sao? Tôi có biết cậu ấy một chút. Nhưng hẳn nhiên là cả London này đều biết tiếng cậu ấy. Cậu ta quả là một chàng trai tuyệt vời! Bây giờ cậu ấy đang ở đâu?"

"Nó mất rồi, thưa ông Holmes, mất rồi! Nó vốn là Tùy viên tại Rome, và vừa qua đời ở đó vì bệnh viêm phổi hồi tháng trước."

"Tôi thực sự lấy làm tiếc. Thật khó mà tin được cái chết lại có thể tìm đến một người như cậu ấy. Tôi chưa từng biết ai lại tràn trề nhựa sống đến vậy. Cậu ấy sống đầy cuồng nhiệt-trong từng hơi thở của mình!"

"Quá cuồng nhiệt, ông Holmes ạ. Và đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại của nó. Ông nhớ về nó như những gì nó đã từng-vui vẻ và huy hoàng. Ông không hề chứng kiến hình ảnh một kẻ u sầu, ủ rũ và đăm chiêu mà nó đã biến thành. Trái tim nó đã tan nát. Chỉ trong vòng một tháng, tôi như thể phải tận mắt nhìn cậu con trai dũng cảm của mình héo mòn thành một gã đàn ông mệt mỏi và đầy hoài nghi."

"Vì một chuyện tình-hay vì một người phụ nữ sao?"

"Hoặc một ác quỷ cũng nên. Nhưng chà, tôi mời ông đến đây không phải để than vãn về đứa con trai tội nghiệp của mình, thưa ông Holmes."

"Bác sĩ Watson và tôi luôn sẵn lòng phục vụ bà."

"Đã có một số chuyện hết sức kỳ lạ xảy ra. Tôi dọn đến sống ở ngôi nhà này được hơn một năm nay, và vì muốn tận hưởng một cuộc sống ẩn dật nên tôi cũng ít khi qua lại với hàng xóm láng giềng. Ba ngày trước, tôi nhận được cuộc gọi từ một gã đàn ông tự xưng là người môi giới bất động sản. Anh ta bảo rằng ngôi nhà này hoàn toàn phù hợp với một thân chủ của anh ta, và nếu tôi đồng ý nhượng lại, tiền bạc không thành vấn đề. Tôi thấy chuyện này thật lạ lùng, bởi ngoài kia có thiếu gì những ngôi nhà trống trải khác xem chừng cũng phù hợp không kém, nhưng lẽ tự nhiên là tôi vẫn tò mò trước lời đề nghị của anh ta. Vì vậy, tôi đã đưa ra một mức giá cao hơn năm trăm bảng so với số tiền tôi bỏ ra để mua nơi này. Lạ thay, anh ta lập tức gật đầu cái rụp, rồi còn nói thêm rằng thân chủ của mình muốn mua luôn cả đồ đạc nội thất và hỏi xem tôi có thể ra giá cho chúng luôn không. Một số món đồ ở đây được mang từ ngôi nhà cũ của tôi sang, và như ông thấy đấy, chúng đều là hàng tốt, nên tôi đã ngã giá một con số tròn trĩnh kha khá. Với yêu cầu này, anh ta cũng đồng ý ngay tắp lự. Tôi vốn luôn ôm mộng được đi du lịch, và quả thực món hời này béo bở đến mức có vẻ như tôi sẽ được tự do tận hưởng phần đời còn lại của mình.

"Ngày hôm qua, gã đàn ông đó đã quay lại cùng bản hợp đồng được soạn thảo sẵn. May mắn thay, tôi đã cho ông Sutro, vị luật sư của tôi đang sống ở Harrow, xem qua tờ giấy ấy. Ông ấy bảo với tôi: 'Đây là một văn bản hết sức kỳ quặc. Bà có biết rằng một khi đặt bút ký vào đó, về mặt pháp lý, bà sẽ không được mang bất cứ thứ gì ra khỏi nhà không-thậm chí là cả tài sản cá nhân của bà?' Khi gã đó quay lại vào buổi tối, tôi đã chỉ ra điểm bất thường này, và khẳng định rõ tôi chỉ định bán đồ đạc nội thất mà thôi.

"'Không, không; là tất cả mọi thứ,' anh ta khăng khăng.

"'Thế còn quần áo của tôi thì sao? Còn đồ trang sức của tôi nữa?'

"'Chà, chà, có thể linh động một chút cho những vật dụng cá nhân của bà. Nhưng tuyệt đối không một món đồ nào được mang ra khỏi nhà mà chưa qua kiểm tra. Thân chủ của tôi là một người vô cùng phóng khoáng, nhưng ông ấy có những sở thích kỳ quái và cách thức làm việc riêng. Với ông ấy, một là có tất cả, hai là không có gì.'

"'Vậy thì đành là không có gì,' tôi đáp lời. Câu chuyện bị bỏ dở ở đó, nhưng toàn bộ sự việc có vẻ quá đỗi bất thường đối với tôi nên tôi nghĩ--"

Ngay lúc này, chúng tôi bị cắt ngang bởi một tình huống hết sức dị thường.

Holmes giơ tay lên ra hiệu giữ im lặng. Rồi anh sải bước thật nhanh ngang qua căn phòng, mở toang cánh cửa, lôi tuột vào trong một người phụ nữ cao lớn, gầy nhom đang bị anh tóm chặt lấy vai. Cô ta lảo đảo bước vào với những cú giằng co vụng về, trông chẳng khác nào một con gà mái cồng kềnh, lóng ngóng bị lôi xềnh xệch ra khỏi chuồng, miệng không ngừng kêu quàng quạc.

"Bỏ tôi ra! Các người đang làm cái quái gì vậy?" cô ta ré lên.

"Sao thế, Susan, chuyện này là thế nào?"

"Chà, thưa bà, tôi đang định vào hỏi xem liệu mấy vị khách có ở lại dùng bữa trưa không thì người đàn ông này bỗng dưng nhảy xổ vào người tôi."

"Tôi đã lắng nghe động tĩnh của cô ả suốt năm phút qua rồi, nhưng không muốn cắt ngang câu chuyện vô cùng thú vị của bà. Chỉ là hơi thở khò khè một chút thôi, Susan nhỉ? Cô thở có phần quá sức so với loại công việc rình mò này đấy."

Susan quay gương mặt sưng sỉa xen lẫn vẻ kinh ngạc nhìn chằm chằm vào người vừa bắt giữ mình. "Rốt cuộc ông là ai cơ chứ, và ông lấy quyền gì mà lôi kéo tôi thế này hả?"

"Chỉ là tôi muốn hỏi một câu ngay trước mặt cô thôi. Thưa bà Maberley, bà có tiết lộ với ai rằng bà dự định viết thư cho tôi để xin ý kiến tư vấn không?"

"Không, thưa ông Holmes, tôi chẳng nói với ai cả."

"Thế ai là người đem gửi bức thư của bà?"

"Là Susan đi gửi."

"Chính xác. Này, Susan, cô đã viết thư hay nhắn nhe cho ai để báo rằng bà chủ của cô đang tìm đến tôi xin lời khuyên?"

"Đấy là một lời dối trá. Tôi chẳng gửi tin nhắn cho ai sất."

"Này, Susan, những kẻ mang hơi thở khò khè thường không sống được lâu đâu, cô biết đấy. Và nói dối lại là một thói xấu tệ hại. Cô đã tuồn tin cho ai?"

"Susan!" bà chủ của cô ta thảng thốt kêu lên, "Tôi cứ tin rằng cô là một người phụ nữ tử tế, hóa ra lại xảo trá đến vậy. Giờ thì tôi mới nhớ ra lúc trước tôi có thoáng thấy cô to nhỏ chuyện trò với ai đó qua bờ rào."

"Đó là việc riêng của tôi," người phụ nữ đáp ráo hoảnh với vẻ hờn dỗi.

"Giả sử tôi nói toạc ra rằng người cô vừa buôn chuyện cùng chính là Barney Stockdale thì sao nhỉ?" Holmes nhếch mép.

"Chà, nếu ông đã biết tỏng rồi thì còn cất công hỏi han làm quái gì nữa?"

"Ban đầu tôi vẫn chưa dám chắc, nhưng giờ thì tôi biết rõ rồi. Chà, Susan, mười bảng sẽ là của cô nếu cô chịu mở lời cho tôi biết ai là kẻ đứng sau giật dây Barney."

"Là một người có dư dả một ngàn bảng cho mỗi mười bảng mà ông kiếm được trên cái thế gian này."

"Vậy ra đó là một gã đàn ông giàu nứt đố đổ vách? Không; cô vừa nhoẻn miệng cười-là một người phụ nữ giàu có mới phải. Giờ chúng ta đã lật bài ngửa đến mức này rồi, cô cũng có thể khai ra cái tên đó và đút túi tờ mười bảng chứ nhỉ."

"Tôi thà trừng mắt nhìn ông sa xuống địa ngục trước còn hơn."

"Ôi, Susan! Cẩn thận ngôn từ của cô kìa!"

"Tôi sẽ dọn đồ khỏi chốn này. Tôi đã chịu đựng cái nhà này quá đủ rồi. Ngày mai tôi sẽ gọi người đến dọn rương của mình đi." Cô ta vùng vằng bỏ đi về phía cửa.

"Tạm biệt cô, Susan. Thuốc giảm ho Paregoric4 là thứ mà cô đang rất cần đấy... Giờ thì," anh tiếp lời, nét mặt thoắt cái chuyển từ vẻ cợt nhả sang nghiêm nghị ngay khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng người phụ nữ với gương mặt đỏ bừng vì giận dữ, "băng đảng này đang manh động thật sự. Hãy xem cái cách chúng bám sát ván bài này mà xem. Bức thư bà gửi cho tôi được đóng dấu bưu điện lúc mười giờ đêm. Vậy mà Susan vẫn kịp tuồn tin cho Barney. Barney có đủ thời gian để chạy đến bẩm báo với chủ nhân của gã và nhận chỉ thị; ông ta hay bà ta-từ nụ cười nhếch mép của Susan khi ả đinh ninh rằng tôi đoán sai, tôi nghiêng về trường hợp thứ hai hơn-đã vạch ra một kế hoạch. Black Steve được gọi đến, và tôi bị dằn mặt vào đúng mười một giờ sáng ngày hôm sau. Tốc độ làm việc quả là đáng nể đấy, bà thấy không."

"Nhưng rốt cuộc chúng muốn gì cơ chứ?"

"Đúng thế, đó mới chính là mấu chốt của vấn đề. Ai là người từng ở trong ngôi nhà này trước bà?"

"Một thuyền trưởng hải quân đã về hưu, tên là Ferguson."

"Ông ta có điểm gì đáng chú ý không?"

"Tôi chưa từng nghe thấy bất kỳ điều gì dị thường về ông ấy."

"Tôi đang trăn trở không biết liệu ông ta có chôn giấu thứ gì ở đây chăng. Tất nhiên, ngày nay nếu muốn giấu giếm của cải, người ta sẽ gửi thẳng vào ngân hàng Bưu điện. Tuy nhiên, vẫn luôn có những kẻ gàn dở ngoài kia. Thế giới sẽ tẻ nhạt biết bao nếu vắng bóng họ. Ban đầu tôi đã thoáng nghĩ đến giả thuyết về một món vật phẩm vô giá nào đó được cất giấu. Nhưng nếu quả đúng như vậy, cớ gì chúng lại muốn thu mua cả đồ đạc của bà? Bà hẳn không tình cờ sở hữu một bức danh họa của Raphael5 hay một ấn bản kịch Shakespeare đầu tiên6 nào đó mà bản thân không hề hay biết chứ?"

"Không đâu, tôi chẳng nghĩ mình có thứ gì quý hiếm hơn bộ ấm trà Crown Derby7."

"Điều đó khó lòng mà biện minh cho toàn bộ sự bí ẩn này. Thêm vào đó, tại sao chúng không đường hoàng nói thẳng ra thứ chúng muốn? Nếu chúng thèm khát bộ ấm trà của bà, chúng hoàn toàn có thể ra giá cho riêng món đồ ấy mà chẳng cần phải cất công thu mua lại toàn bộ tư dinh của bà, từ ổ khóa, cổ phiếu cho đến từng thùng rượu. Không, theo cách tôi nhìn nhận vấn đề, hẳn phải có một thứ gì đó bà đang nắm giữ mà bản thân không hề hay biết, và một khi đã tỏ tường, bà nhất quyết sẽ không chịu buông tay."

"Đó cũng là những gì tôi đang nghĩ," tôi phụ họa.

"Bác sĩ Watson cũng đồng tình, vậy là vấn đề đã rõ như ban ngày rồi."

"Chà, thưa ông Holmes, rốt cuộc nó có thể là thứ gì được cơ chứ?"

"Để xem liệu bằng phép suy luận logic thuần túy này, chúng ta có thể làm sáng tỏ vấn đề hơn được không. Bà đã dọn đến sống ở ngôi nhà này tròn một năm."

"Cũng ngót nghét hai năm rồi."

"Vậy càng tốt. Trong suốt khoảng thời gian đằng đẵng đó, chẳng một bóng người nào đến đây gõ cửa đòi hỏi từ bà bất cứ thứ gì. Thế mà đùng một cái, chỉ trong vỏn vẹn ba hay bốn ngày, bà lại liên tục nhận được những lời đề nghị dồn dập. Bà có thể rút ra được kết luận gì từ điều đó?"

"Nó chỉ có thể mang một ý nghĩa duy nhất," tôi lên tiếng, "vật đó, bất kể nó là gì đi chăng nữa, hẳn là chỉ vừa mới được đưa vào trong ngôi nhà này."

"Lại một điểm nữa đã được gỡ rối," Holmes gật gù. "Bây giờ, thưa bà Maberley, liệu có món đồ nào mới được đưa đến đây không?"

"Không hề; cả năm nay tôi chưa sắm sửa thêm thứ gì mới mẻ cả."

"Thật sao! Điều đó quả là đáng lưu tâm. Chà, tôi cho rằng cách tốt nhất hiện nay là cứ để mọi việc diễn tiến thêm một thời gian nữa cho đến khi chúng ta có trong tay những manh mối rõ ràng hơn. Vị luật sư nọ của bà có phải là người thạo việc không?"

"Ông Sutro là một người vô cùng tài cán."

"Bà còn người hầu gái nào khác phụ việc trong nhà không, hay cô nàng Susan xinh đẹp vừa đóng sầm cánh cửa trước của bà kia là người duy nhất?"

"Tôi vẫn còn một cô giúp việc trẻ nữa."

"Hãy thử ngỏ lời nhờ ông Sutro ngủ lại trong nhà một hai đêm xem sao. Có thể bà sẽ cần người bảo vệ đấy."

"Bảo vệ khỏi ai cơ?"

"Ai mà lường trước được? Vấn đề này quả thực còn quá mịt mờ. Nếu tôi không thể tìm ra thứ chúng đang săn lùng, tôi buộc lòng phải tiếp cận vụ việc từ một hướng khác, và cố gắng truy lùng kẻ chủ mưu đứng trong bóng tối. Gã môi giới bất động sản nọ có để lại địa chỉ nào không?"

"Chỉ có mỗi tấm danh thiếp cùng chức danh nghề nghiệp của anh ta thôi. Haines-Johnson, Đấu giá viên kiêm Định giá viên."

"Tôi e rằng chúng ta sẽ chẳng thể tìm thấy tên anh ta trong Danh bạ đâu. Những kẻ làm ăn lương thiện đời nào lại đi giấu giếm nơi chốn kinh doanh của mình. Chà, bà nhớ báo cho tôi biết nếu có bất kỳ diễn biến mới nào nhé. Tôi đã chính thức nhận lời giải quyết vụ án của bà, và bà có thể hoàn toàn yên tâm rằng tôi sẽ bám trụ với nó đến cùng."

Khi chúng tôi đi ngang qua sảnh, ánh mắt tinh tường, chẳng bỏ sót bất cứ thứ gì của Holmes đã vô tình lướt qua những chiếc rương và hộp đang nằm xếp xó ở một góc. Những chiếc nhãn mác dán trên chúng vẫn còn đang bóng loáng.

"'Milano.' 'Lucerne.' Những thứ này được chuyển đến từ Ý."

"Đó là những món đồ của cậu Douglas tội nghiệp nhà tôi."

"Bà vẫn chưa mở chúng ra xem sao? Bà nhận được đống đồ này bao lâu rồi?"

"Chúng được gửi tới đây vào tuần trước."

"Nhưng rõ ràng bà từng nói-chà, chắc chắn đây chính là mắt xích còn khuyết thiếu. Ai mà biết được bên trong đống đồ đó lại chẳng ẩn chứa một thứ gì đó vô giá?"

"Chuyện đó là không thể nào đâu, ông Holmes. Cậu Douglas tội nghiệp chỉ sống dựa vào những đồng lương ít ỏi và một khoản trợ cấp hằng năm khiêm tốn. Cậu ấy thì đào đâu ra thứ gì có giá trị chứ?"

Holmes chìm sâu vào những dòng suy tưởng.

"Đừng chần chừ thêm nữa, thưa bà Maberley," cuối cùng anh cũng lên tiếng. "Hãy cho người khuân tất cả đống rương này lên phòng ngủ của bà. Tiến hành kiểm tra chúng càng sớm càng tốt và xem xem bên trong rốt cuộc chứa đựng thứ gì. Ngày mai tôi sẽ ghé qua để nghe bà báo cáo lại."

Bầu không khí rõ ràng cho thấy The Three Gables đang bị giăng lưới giám sát hết sức nghiêm ngặt, bởi ngay khi chúng tôi rảo bước vòng qua bức tường rào cao ngất nghểu án ngữ ở cuối ngõ, gã võ sĩ quyền anh da đen đã đứng lù lù ở đó, lẩn khuất trong bóng tối. Chúng tôi bắt gặp gã một cách đầy bất ngờ, và ở cái chốn vắng vẻ quạnh hiu này, trông gã thật tàn độc và đầy rẫy sự đe dọa. Holmes điềm nhiên vỗ tay vào túi áo mình.

"Đang tìm súng đấy à, ông Holmes?"

"Không; tôi đang tìm lọ nước hoa của mình, Steve ạ."

"Ông cũng biết đùa đấy, ông Holmes nhỉ?"

"Sẽ chẳng vui vẻ gì cho anh đâu, Steve, một khi tôi đã quyết định bám đuôi anh. Sáng nay tôi đã có lời cảnh báo anh rất đàng hoàng rồi mà."

"Chà, thưa ông Holmes, tôi đã nghiền ngẫm những gì ông dặn dò, và tôi cũng chẳng muốn bới móc thêm về chuyện của thằng nhãi Perkins nữa. Nếu có gì tôi có thể giúp được ông, thưa ông Holmes, tôi sẵn sàng làm."

"Chà, vậy thì, hãy khai mau xem ai là kẻ đứng sau sai sử anh trong vụ này?"

"Có Chúa chứng giám! Ông Holmes, trước nay tôi luôn thật lòng với ông. Tôi nào có biết. Ông chủ Barney của tôi chỉ thị cho tôi như vậy, và tôi chỉ biết cắm đầu làm theo thôi."

"Chà, hãy ghi khắc những lời này cho kỹ, Steve, rằng người phụ nữ đang sống trong ngôi nhà đó, và mọi thứ nằm dưới mái nhà đó, đều nằm dưới sự bảo hộ của tôi. Đừng bao giờ quên điều đó."

"Tuân lệnh, ông Holmes. Tôi sẽ ghi tạc trong lòng."

"Tôi đã dọa cho gã sợ xanh mắt mèo và phải lo sốt vó cho sự an nguy của chính bản thân gã rồi, Watson ạ," Holmes cất lời nhận xét khi hai chúng tôi tiếp tục rảo bước. "Tôi dám cá là gã sẽ sẵn sàng trở mặt phản bội lại kẻ đã thuê mình nếu gã thực sự biết kẻ đó là ai. Thật may mắn khi tôi lại có đôi chút hiểu biết về băng đảng Spencer John, và Steve chính là một trong số những tên đàn em dưới trướng chúng. Bây giờ, Watson này, đây chính là vụ án dành cho Langdale Pike, và tôi sẽ đi gặp anh ta ngay bây giờ. Khi tôi quay lại, biết đâu tôi sẽ có cái nhìn thấu suốt hơn về mớ bòng bong này."

Suốt cả ngày hôm đó tôi không gặp lại Holmes, nhưng tôi hoàn toàn có thể mường tượng ra anh đã dành thời gian như thế nào, bởi Langdale Pike vốn là cuốn bách khoa toàn thư sống của anh về tất thảy mọi vấn đề dính líu đến những vụ bê bối trong giới thượng lưu. Sinh vật kỳ quặc và luôn mang vẻ uể oải này đã dành trọn những khoảng thời gian thức giấc của mình bên khung cửa sổ lồi của một câu lạc bộ trên Phố St. James8, đóng vai trò như một trạm thu phát sóng cho mọi lời đồn thổi trên khắp chốn Thủ đô. Người ta kháo nhau rằng, anh ta đã rủng rỉnh bỏ túi một khoản thu nhập khổng lồ lên đến bốn con số nhờ vào những mẩu tin vặt vãnh mà anh ta đều đặn gửi cho các tờ báo lá cải hàng tuần nhằm phục vụ nhu cầu tò mò của công chúng. Giả như ẩn sâu bên dưới những bề chìm đục ngầu của cuộc sống chốn London phồn hoa có tồn tại một vòng xoáy hay luồng nước ngầm kỳ lạ nào đó, thì hẳn nó đã được đánh dấu bằng một độ chính xác tự động nhờ vào chiếc la bàn mang hình hài con người đang hiện diện trên bề mặt này. Holmes đã âm thầm tiếp tay giúp Langdale thu thập thông tin, và đôi khi, đổi lại, anh cũng nhận được sự hỗ trợ từ nhân vật này.

Khi tôi gặp lại bạn mình trong phòng riêng vào sáng sớm hôm sau, nhìn thần thái của anh, tôi hiểu rằng mọi sự đều ổn thỏa. Thế nhưng, dù vậy, một điều bất ngờ hết sức khó chịu vẫn đang chờ đón chúng tôi. Nó mang hình hài của bức điện tín sau đây:

"Hãy đến ngay. Nhà của thân chủ đã bị đột nhập đêm qua. Cảnh sát đang kiểm soát hiện trường.

"SUTRO."

Holmes huýt sáo. "Vở kịch đã tiến đến hồi khủng hoảng, và còn nhanh hơn tôi dự liệu. Đằng sau vụ này hẳn có một thế lực rất mạnh thúc đẩy, Watson ạ, và điều đó chẳng làm tôi ngạc nhiên sau những gì tôi đã nghe được. Sutro này, đương nhiên, là luật sư của bà ấy. Tôi e rằng tôi đã sai lầm khi không yêu cầu anh nán lại canh gác suốt đêm. Rõ ràng gã này đã tỏ ra là một chỗ dựa quá ọp ẹp. Chà, chẳng còn cách nào khác - lại phải một phen nữa lên đường đến Harrow Weald."

Chúng tôi nhận thấy The Three Gables giờ đây mang một diện mạo hoàn toàn khác so với cái vẻ ngăn nắp, chỉn chu của hôm trước. Một nhóm nhỏ những kẻ tò mò đã tụ tập ở cổng vườn, trong khi mấy viên cảnh sát đang lùng sục khắp các ô cửa sổ và những luống hoa phong lữ. Vào đến bên trong, chúng tôi gặp một quý ông lớn tuổi, tóc hoa râm, tự giới thiệu là luật sư, cùng với một viên Thanh tra mặt mũi hồng hào, lanh lợi, người đã chào đón Holmes như thể một người bạn cũ thân tình.

"Chà, ông Holmes, tôi e rằng chẳng còn chỗ nào cho ông xen vào vụ này nữa rồi," ông ta nói. "Đơn thuần chỉ là một vụ trộm vặt, tầm thường, nằm trọn trong tầm tay của lực lượng cảnh sát già nua tội nghiệp chúng tôi. Không cần đến chuyên gia đâu."

"Tôi tin chắc vụ việc đang nằm trong những bàn tay rất có năng lực," Holmes đáp. "Ông vừa nói đây chỉ là một vụ trộm thông thường thôi sao?"

"Đúng thế. Chúng tôi biết khá rõ đám đó là những kẻ nào và có thể lần ra chúng ở đâu. Chính là băng đảng của Barney Stockdale, có cả gã da đen to xác trong đó - chúng đã bị bắt gặp lởn vởn quanh khu vực này."

"Tuyệt! Vậy chúng đã lấy được những gì?"

"Chà, có vẻ như chúng chẳng vơ vát được bao nhiêu. Bà Maberley đã bị đánh thuốc mê bằng chloroform, và ngôi nhà thì bị-- À! Người phụ nữ ấy đây rồi."

Người bạn hôm qua của chúng tôi bước vào phòng, sắc mặt tái nhợt và trông vô cùng yếu ớt, phải vịn vào một cô hầu gái nhỏ nhắn.

"Ông đã cho tôi một lời khuyên sáng suốt, ông Holmes," bà nói, kèm theo một nụ cười buồn bã. "Than ôi, tôi đã không nghe theo! Tôi không muốn làm phiền ông Sutro, và thế là tôi chẳng được ai bảo vệ."

"Mãi sáng nay tôi mới hay tin," vị luật sư giải thích.

"Ông Holmes đã khuyên tôi nên có một người bạn ở lại trong nhà. Tôi đã phớt lờ lời khuyên ấy, và giờ thì tôi phải trả giá."

"Trông bà thật tiều tụy," Holmes nói. "Có lẽ bà khó lòng đủ sức để thuật lại cho tôi nghe những gì đã xảy ra."

"Mọi thứ đều đã ở trong này," viên Thanh tra lên tiếng, vỗ vỗ vào cuốn sổ tay dày cộp của mình.

"Tuy nhiên, nếu người phụ nữ này chưa đến nỗi quá kiệt sức--"

"Thực sự thì cũng chẳng có bao nhiêu chuyện để kể. Tôi không nghi ngờ gì việc con Susan độc ác ấy đã sắp đặt sẵn lối vào cho bọn chúng. Chúng hẳn đã thuộc nằm lòng từng tấc đất của ngôi nhà này. Tôi có tỉnh lại trong một thoáng khi miếng giẻ tẩm chloroform bị ấn vào miệng mình, nhưng rồi tôi không rõ mình đã mê man trong bao lâu nữa. khi tôi tỉnh dậy, một gã đang đứng ở đầu giường, còn một gã khác vừa đứng thẳng dậy, tay ôm một bọc đồ lấy từ trong đống hành lý của con trai tôi - cái rương đã bị lục tung và đồ đạc vung vãi khắp sàn nhà. Trước khi hắn kịp tẩu thoát, tôi đã chồm dậy và túm chặt lấy hắn."

"Bà đã liều lĩnh quá đấy," viên Thanh tra nhận xét.

"Tôi đã bám chặt được hắn, nhưng hắn hất tôi ra, và tên kia thì có thể đã đánh tôi, vì tôi chẳng nhớ thêm được gì nữa. Cô hầu gái Mary nghe thấy tiếng động và bắt đầu thét lên qua cửa sổ. Tiếng la của cô ấy đã gọi cảnh sát đến, nhưng bọn vô lại thì đã tẩu thoát mất rồi."

"Chúng đã lấy đi những gì?"

"Chà, tôi không nghĩ có bất cứ thứ gì có giá trị bị mất. Tôi dám chắc trong rương của con trai tôi chẳng có gì đáng giá."

"Bọn chúng có để lại manh mối gì không?"

"Có một tờ giấy mà tôi nghĩ mình đã giật được từ tay gã đàn ông mà tôi túm lấy. Nó nằm nhàu nát dưới sàn nhà. Đó là nét chữ của con trai tôi."

"Vậy thì cũng chẳng có mấy tác dụng," viên Thanh tra nói. "Ngược lại, nếu nó nằm trong tay tên trộm--"

"Chính xác," Holmes tiếp lời. "Quả là một suy luận thực tế đến mức thô thiển! Dù sao thì tôi cũng tò mò muốn xem qua nó."

Viên Thanh tra rút ra từ cuốn sổ tay bỏ túi một tờ giấy khổ lớn đã được gấp lại.

"Tôi chẳng bao giờ bỏ sót bất cứ thứ gì, dù là nhỏ nhặt nhất," ông ta nói với một vẻ hơi khoa trương. "Đó chính là lời khuyên của tôi dành cho ông đấy, ông Holmes. Hai mươi lăm năm trong nghề, tôi đã học được bài học của mình. Luôn luôn có khả năng có dấu vân tay hay thứ gì đó tương tự."

Holmes xem xét tờ giấy.

"Ông hiểu nó ra sao, thưa Thanh tra?"

"Theo những gì tôi thấy, thì có vẻ như đây là phần kết của một cuốn tiểu thuyết quái dị nào đó."

"Nó quả thực có thể chứng minh là phần kết của một câu chuyện quái dị," Holmes nói. "Ông có để ý đến con số ở đầu trang giấy không. Nó là hai trăm bốn mươi lăm. Vậy hai trăm bốn mươi bốn trang lẻ còn lại thì đang ở đâu?"

"Chà, tôi cho là lũ trộm đã lấy mất rồi. Chúc chúng may mắn với món hàng đó!"

"Xem nào, đột nhập vào một căn nhà chỉ để lấy trộm những thứ giấy tờ như thế này hẳn là một điều kỳ quặc. Nó có gợi ý gì cho ông không, thưa Thanh tra?"

"Có chứ, thưa ông; nó gợi ý rằng, trong cơn vội vã, bọn vô lại đã vớ đại lấy bất cứ thứ gì vừa tầm tay nhất. Tôi chúc chúng vui vẻ với những gì đã vớ được."

"Nhưng tại sao chúng lại nhắm vào đồ đạc của con trai tôi?" bà Maberley thắc mắc.

"Chà, sau khi chẳng tìm thấy gì quý giá ở tầng dưới, chúng bèn thử vận may trên gác. Đó là cách tôi giải thích. Còn ông hiểu thế nào, ông Holmes?"

"Tôi phải suy nghĩ về chuyện này đã, thưa Thanh tra. Lại đây bên cửa sổ với tôi, Watson." Rồi khi chúng tôi đã đứng cùng nhau, anh đọc to mảnh giấy. Nó bắt đầu ở giữa chừng một câu và chạy như thế này:

"... khuôn mặt rịn đầy máu vì những vết cắt và những cú đấm, nhưng điều đó chẳng thấm vào đâu so với nỗi rỉ máu trong tim anh khi anh nhìn thấy gương mặt đáng yêu ấy, cái gương mặt mà anh đã sẵn sàng hy sinh chính mạng sống của mình, đang nhìn xuống nỗi đau đớn và sự tủi nhục của anh. Nàng mỉm cười - vâng, có Chúa chứng giám! nàng mỉm cười, như một con quỷ nhẫn tâm chẳng khác gì bản chất thâm độc của chính nàng, khi anh ngước lên nhìn nàng. Chính vào khoảnh khắc đó, tình yêu đã chết và lòng căm hận đã ra đời. Con người phải sống vì một điều gì đó. Nếu không phải vì vòng tay của nàng, thưa phu nhân, thì ắt hẳn sẽ là vì sự sụp đổ của nàng và sự trả thù trọn vẹn của tôi."

"Ngữ pháp lạ thật!" Holmes nhận xét, kèm theo một nụ cười, khi anh trả lại tờ giấy cho viên Thanh tra. "Ông có nhận thấy chữ 'anh' đột ngột chuyển thành 'của tôi' không. Tác giả đã bị câu chuyện của chính mình cuốn đi mãnh liệt đến mức vào khoảnh khắc cao trào, anh ta đã tưởng tượng mình chính là nhân vật chính."

"Có vẻ đây là một thứ văn chương hết sức tồi tệ," viên Thanh tra nói, vừa cất tờ giấy trở lại vào cuốn sổ. "Sao cơ! ông định đi rồi sao, ông Holmes?"

"Tôi không nghĩ mình còn bất cứ việc gì để làm ở đây nữa, khi mà vụ án đã ở trong những bàn tay tài năng như thế này. Nhân tiện, thưa bà Maberley, bà vừa nói rằng bà muốn đi du lịch phải không?"

"Đó luôn là giấc mơ của tôi, ông Holmes."

"Bà muốn đi đâu - Cairo, Madeira, hay Riviera9?"

"Ồ, nếu có đủ tiền, tôi sẽ đi một vòng quanh thế giới."

"Quá hợp lý. Một vòng quanh thế giới. Chà, chào buổi sáng bà. Có thể tôi sẽ gửi cho bà vài dòng vào buổi tối." Khi chúng tôi đi ngang qua cửa sổ, tôi thoáng thấy nụ cười và cái lắc đầu của viên Thanh tra. "Mấy gã thông minh này lúc nào cũng có một chút điên điên." Đó chính là điều tôi đọc được từ nụ cười của viên Thanh tra.

"Giờ thì, Watson, chúng ta đã đi đến chặng cuối của cuộc hành trình nhỏ này rồi," Holmes lên tiếng khi chúng tôi lại hòa mình vào sự huyên náo của khu trung tâm London. "Tôi cho rằng tốt nhất là nên làm cho ra nhẽ ngay lập tức. Sẽ rất tuyệt nếu anh đi cùng tôi, bởi lẽ có thêm một nhân chứng bao giờ cũng an toàn hơn khi phải giao thiệp với một người phụ nữ như Isadora Klein."

Chúng tôi vẫy một chiếc xe ngựa và hối hả lao đến một địa chỉ nằm trên Quảng trường Grosvenor. Holmes nãy giờ vẫn chìm đắm trong suy tưởng, bỗng nhiên bừng tỉnh.

"Nhân tiện, Watson, tôi đồ rằng anh đã nhìn thấu toàn bộ sự việc rồi chứ?"

"Không, tôi không dám nhận là mình đã tường tận mọi ngóc ngách. Tôi chỉ đoán chúng ta đang trên đường tới gặp người đàn bà giật dây đằng sau tất cả những trò quỷ quái này."

"Chính xác! Nhưng cái tên Isadora Klein chẳng gợi lên cho anh điều gì ư? Hiển nhiên, cô ta từng là một tuyệt sắc giai nhân lừng lẫy. Chưa từng có một người phụ nữ nào sánh kịp. Cô ta mang trong mình dòng máu Tây Ban Nha thuần chủng, huyết mạch đích thực của những kẻ chinh phục độc đoán, và gia tộc cô ta vốn là những thủ lĩnh tại Pernambuco10 qua bao thế hệ. Cô ta kết hôn với một ông trùm ngành đường người Đức lớn tuổi tên Klein, để rồi chẳng bao lâu sau chễm chệ trở thành góa phụ giàu có và quyến rũ bậc nhất thế gian. Tiếp nối sau đó là một thời kỳ phiêu lưu tình ái, khi cô ta tự do buông thả theo những sở thích cá nhân. Cô ta có vài người tình, và Douglas Maberley, một trong những người đàn ông nổi bật nhất London, cũng nằm trong số đó. Theo những lời đồn thổi, đối với anh ta, đây không đơn thuần chỉ là một cuộc phiêu lưu chớp nhoáng. Anh ta chẳng phải hạng bướm lượn chốn phù hoa, mà là một người đàn ông mạnh mẽ, kiêu hãnh, kẻ đã dốc cạn trái tim và kỳ vọng nhận lại tất cả. Thế nhưng, cô ta lại đích thị là một 'người đẹp không chút rủ lòng thương11' bước ra từ tiểu thuyết. Một khi thói bốc đồng đã được thỏa mãn, mọi chuyện coi như chấm dứt, và nếu kẻ lỡ bước si tình không chịu tin vào lời cự tuyệt, cô ta thừa thủ đoạn để khiến anh ta phải mở mắt."

"Ra vậy, đó chính là câu chuyện của cậu ta--"

"À! Giờ thì anh đang bắt đầu xâu chuỗi mọi thứ lại rồi đấy. Tôi nghe đồn cô ta sắp kết hôn với vị Công tước trẻ tuổi xứ Lomond, người đáng tuổi con mình. Mẹ của ngài Công tước có thể nhắm mắt làm ngơ chuyện chênh lệch tuổi tác, nhưng một vụ bê bối động trời lại là chuyện hoàn toàn khác, thế nên cô ta buộc phải hành động-- À! Chúng ta đến nơi rồi."

Đó là một trong những căn góc tráng lệ nhất khu West End. Một người hầu nam với phong thái cứng nhắc như cỗ máy cầm lấy danh thiếp của chúng tôi, rồi quay trở ra buông lời báo rằng phu nhân không có nhà.

"Vậy thì chúng ta sẽ nán lại chờ cho đến khi cô ta có mặt," Holmes đáp lại với vẻ hân hoan.

Cỗ máy liền dở chứng.

"Không có ở nhà nghĩa là không tiếp các ông," người hầu nam gắt gỏng.

"Tuyệt," Holmes ung dung đáp. "Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta chẳng cần phải chờ đợi nữa. Phiền anh chuyển mảnh giấy này cho bà chủ."

Anh vội vã ngoáy vài ba chữ lên tờ giấy xé từ cuốn sổ tay, gấp gọn lại và ấn vào tay gã gia nhân.

"Anh viết gì thế, Holmes?" tôi tò mò hỏi.

"Chỉ đơn giản là: 'Vậy thì có cần đến cảnh sát không?'. Tôi tin bấy nhiêu đó là đủ để chúng ta được mời vào."

Quả nhiên là vậy-và còn với một tốc độ nhanh đến chóng mặt. Chỉ phút chốc sau, chúng tôi đã đặt chân vào một không gian tựa cõi mộng Nghìn lẻ một đêm12. Căn phòng khách rộng lớn và xa hoa, chìm trong ánh sáng mờ ảo được tô điểm bởi vài ngọn đèn điện hắt sắc hồng. Tôi chợt nghĩ, hẳn người đàn bà này đã bước sang cái tuổi mà dẫu có là một mỹ nhân kiêu ngạo đến đâu, ánh sáng nửa vời vẫn luôn là sự lựa chọn được ưu ái hơn cả. Cô ta khẽ nâng mình khỏi chiếc ghế tràng kỷ khi chúng tôi bước vào: vóc dáng cao ráo, phong thái uy quyền như một bà hoàng, đường nét cơ thể hoàn mỹ, gương mặt xinh đẹp tựa hồ mang một chiếc mặt nạ không cảm xúc, với đôi mắt Tây Ban Nha tuyệt đẹp phóng ánh nhìn sắc lẹm như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi.

"Sự đường đột này là sao-và cả mảnh giấy xúc phạm này nữa?" cô ta chất vấn, tay giơ cao tờ giấy.

"Tôi thiết nghĩ mình không cần phải giải thích, thưa phu nhân. Tôi dành quá nhiều sự tôn trọng cho trí thông minh của phu nhân để phải làm việc thừa thãi đó-dù tôi buộc phải thú nhận rằng, sự thông minh ấy dạo gần đây đã mắc phải những sai lầm thật đáng kinh ngạc."

"Thế nghĩa là sao, thưa ông?"

"Là khi phu nhân lầm tưởng rằng đám du côn đánh thuê của mình có thể dọa nạt và tống cổ tôi khỏi công việc đang làm. Chắc chắn chẳng có gã đàn ông nào lại dấn thân vào cái nghề của tôi nếu không vì bị những hiểm nguy lôi cuốn. Hóa ra, chính phu nhân là người đã dồn ép tôi phải nhúng tay vào vụ án của chàng thanh niên Maberley."

"Tôi hoàn toàn không hiểu ông đang nói gì. Tôi thì có liên quan gì đến đám du côn đánh thuê chứ?"

Holmes mệt mỏi quay mặt đi.

"Phải, có lẽ tôi đã đánh giá thấp trí thông minh của phu nhân. Thôi được, chúc buổi chiều tốt lành!"

"Khoan đã! Ông định đi đâu?"

"Đến Scotland Yard."

Cả hai chưa kịp bước qua nửa căn phòng, cô ta đã vội vã lao theo và níu chặt lấy cánh tay Holmes. Chỉ trong chớp mắt, thái độ lạnh lùng như thép đã tan chảy thành sự mềm mỏng tựa nhung nhụa.

"Xin hãy nán lại và ngồi xuống, thưa các quý ông. Chúng ta hãy cùng nhau thảo luận về chuyện này. Tôi cảm nhận được rằng mình có thể thành thật với ông, ông Holmes ạ. Ông sở hữu sự tinh tế của một quý ông. Và bản năng của một người phụ nữ luôn đủ nhạy bén để nhận ra điều đó. Tôi sẽ đối đãi với ông như một người bạn."

"Tôi không dám hứa sẽ đáp lại thịnh tình ấy, thưa phu nhân. Tôi không phải là hiện thân của luật pháp, nhưng tôi đại diện cho công lý trong giới hạn quyền lực nhỏ nhoi của mình. Tôi sẵn lòng lắng nghe, và sau đó, tôi sẽ cho phu nhân biết tôi định hành xử ra sao."

"Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi quả thật ngu ngốc khi dọa dẫm một người đàn ông dũng cảm như ông."

"Điều thực sự ngu ngốc, thưa phu nhân, là phu nhân đã tự đặt mình dưới quyền sinh sát của một lũ lưu manh rác rưởi, những kẻ sẵn sàng quay lưng tống tiền hoặc bán đứng phu nhân bất cứ lúc nào."

"Không, không! Tôi đâu có đơn giản đến thế. Vì đã hứa sẽ thành thật, tôi có thể tiết lộ rằng ngoài vợ chồng Barney và Susan Stockdale, tuyệt nhiên không một ai mường tượng ra kẻ giật dây bọn chúng là ai. Còn đối với hai kẻ đó, chà, đây đâu phải lần đầu tiên--" Cô ta mỉm cười và khẽ gật đầu, toát lên vẻ thân mật đầy quyến rũ và lơi lả.

"Tôi hiểu. Phu nhân đã từng thử thách chúng từ trước."

"Chúng là những con chó săn ngoan ngoãn, biết cách hành sự trong im lặng."

"Những con chó săn kiểu ấy, sớm muộn gì cũng sinh thói phản chủ và cắn lại chính bàn tay đã ném xương cho chúng. Chúng sẽ bị tóm cổ vì vụ trộm này. Cảnh sát đã đánh hơi thấy dấu vết rồi."

"Chúng sẽ phải gánh chịu những gì đáng phải nhận. Bọn chúng được trả tiền để làm thế mà. Tôi sẽ hoàn toàn đứng ngoài vòng xoáy này."

"Trừ khi tôi lôi phu nhân vào."

"Không, không đâu; ông sẽ chẳng làm thế. Ông là một quý ông. Đó là bí mật thầm kín của một người phụ nữ mà."

"Trước hết, phu nhân phải trả lại bản thảo kia đã."

Cô ta bật cười khanh khách rồi uyển chuyển bước về phía lò sưởi. Nơi đó chỉ còn lại một đống tro tàn xám xịt mà cô ta vừa chọc nát bươm bằng thanh cời lửa. "Tôi có nên hoàn trả mớ này không nhỉ?" cô ta hỏi. Hình ảnh cô ta đứng đó, ranh mãnh và tinh tế, nở một nụ cười ngạo nghễ thách thức chúng tôi, khiến tôi có cảm giác rằng trong số tất cả những kẻ thủ ác mà Holmes từng chạm trán, đây chính là đối thủ khiến anh khó xử nhất. Thế nhưng, vị thám tử của chúng ta lại hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi cám dỗ tình cảm.

"Hành động này đã tự định đoạt số phận của phu nhân," anh lạnh nhạt buông lời. "Phu nhân hành sự rất mau lẹ, thưa phu nhân, nhưng e rằng lần này phu nhân đã đi quá giới hạn rồi."

Cô ta giận dữ ném phăng thanh cời lửa xuống sàn, tạo nên một tiếng loảng xoảng chói tai.

"Ông thật quá đáng!" cô ta thốt lên. "Liệu tôi có thể giãi bày ngọn nguồn câu chuyện với ông được không?"

"Tôi cứ ngỡ chính tôi mới là người kể lại nó cho phu nhân nghe chứ."

"Nhưng ông phải nhìn nhận sự việc qua lăng kính của tôi, ông Holmes. Ông phải thấu hiểu nó từ góc độ của một người phụ nữ khi trơ mắt nhìn toàn bộ tham vọng cả đời sắp sửa sụp đổ tan tành ngay phút chót. Liệu một người phụ nữ trong hoàn cảnh đó có đáng bị lên án khi ả chỉ cố gắng tự bảo vệ mình?"

"Tội lỗi khởi nguồn vẫn là của phu nhân."

"Đúng, đúng thế! Tôi thừa nhận. Douglas quả là một chàng trai dễ thương, ngặt nỗi anh ấy lại chẳng hề ăn khớp với những kế hoạch vĩ đại của tôi. Anh ấy muốn kết hôn-kết hôn đấy, ông Holmes ạ-với một kẻ xuất thân thường dân chẳng có lấy một xu dính túi. Mọi thứ thấp kém hơn sự ràng buộc ấy đều không thể khiến anh ta thỏa mãn. Rồi anh ta đâm ra cố chấp mù quáng. Chỉ vì tôi đã trót trao thân gửi phận, anh ta ngộ nhận rằng tôi có nghĩa vụ phải tiếp tục hiến dâng, và chỉ dâng hiến cho riêng mình anh ta mà thôi. Sự trói buộc ấy thật ngột ngạt và không thể nào chịu đựng nổi. Cuối cùng, tôi buộc lòng phải khiến anh ta tỉnh mộng."

"Bằng cách vung tiền thuê đám lưu manh đến nện anh ta một trận nhừ tử ngay dưới cửa sổ phòng phu nhân."

"Ông quả thực nắm rõ mọi thứ như lòng bàn tay. Chà, sự thật đúng là vậy. Barney và bọn đàn em đã tống cổ anh ta đi, và tôi thừa nhận, chúng đã ra tay hơi quá trớn. Nhưng rồi anh ta đã đáp trả thế nào? Làm sao tôi có thể ngờ một quý ông lại giở trò hèn hạ đến vậy? Anh ta cặm cụi viết một cuốn sách để phơi bày chính câu chuyện của mình. Trong đó, dĩ nhiên tôi sắm vai con sói độc ác; còn anh ta là chú cừu non tội nghiệp. Mọi thứ đều rành rành trên trang giấy, dưới lớp vỏ bọc của những cái tên giả, hiển nhiên là thế; nhưng liệu có ai ở cái chốn London này lại mù mờ đến mức không nhận ra sự thật đằng sau chứ? Ông nghĩ sao về chuyện đó, thưa ông Holmes?"

"Chà, dẫu sao cậu ta cũng chỉ hành xử trong phạm vi quyền hạn của mình."

"Cứ như thể bầu không khí của nước Ý đã ngấm sâu vào trong máu, mang theo cái tinh thần tàn nhẫn của thời Ý cổ đại truyền vào người anh ta vậy. Anh ta viết thư và gửi kèm một bản thảo cuốn sách cho tôi, cốt chỉ để tôi bị sự chờ đợi giày vò đến chết đi sống lại. Anh ta rành rọt báo rằng có hai bản thảo-một dành cho tôi, và bản còn lại nằm trong tay nhà xuất bản."

"Làm thế nào phu nhân biết chắc bản thảo kia chưa đến tay nhà xuất bản?"

"Tôi thừa biết nhà xuất bản của anh ấy là ai. Ông biết đấy, đó đâu phải là cuốn tiểu thuyết đầu tay. Tôi đã cất công điều tra và phát hiện ra gã kia vẫn chưa nhận được bất cứ tin tức gì từ Ý. Rồi cái chết đột ngột của Douglas ập đến. Chừng nào bản thảo kia còn tồn tại trên cõi đời này, tôi sẽ vĩnh viễn không có lấy một ngày bình yên. Dĩ nhiên, nó chắc chắn phải nằm lẫn lộn trong mớ di vật của anh ấy, và sớm muộn gì cũng được chuyển về tay mẹ anh ấy. Thế là tôi giao phó việc này cho băng đảng của Barney. Một con ả trong số chúng đã luồn lách vào nhà xin làm hầu gái. Ban đầu tôi thực sự muốn giải quyết êm đẹp một cách lương thiện. Tôi thề có trời đất chứng giám cho lòng thành của mình. Tôi đã sẵn sàng vung tiền mua đứt ngôi nhà lẫn toàn bộ đồ đạc bên trong. Tôi đã đưa ra cái giá trên trời, bất kể bà ấy có đòi hỏi nhường nào đi chăng nữa. Chỉ khi mọi nỗ lực đàm phán đều đi vào ngõ cụt, tôi mới buộc lòng phải dùng đến hạ sách. Giờ thì, ông Holmes, cứ cho là tôi đã quá tàn nhẫn với Douglas đi-và, có Chúa mới thấu tôi ân hận nhường nào!-nhưng thử hỏi, tôi còn biết phải xoay sở ra sao khi toàn bộ tương lai của mình đang ngàn cân treo sợi tóc?"

Sherlock Holmes khẽ nhún vai.

"Chà, chà," anh cất giọng, "Có lẽ tôi lại phải bao che cho một tội ác tày đình như thường lệ rồi. Cho tôi hỏi, một chuyến du lịch vòng quanh thế giới với tiêu chuẩn hạng nhất sẽ ngốn hết bao nhiêu tiền?"

Người đàn bà trân trân nhìn anh trong sự kinh ngạc tột độ.

"Năm ngàn bảng liệu có đủ không?"

"Chà, quả thực tôi cũng nghĩ đến con số đó!"

"Rất tốt. Vậy thì phiền phu nhân ký cho tôi một tấm séc đúng với số tiền đó, và tôi sẽ đích thân đảm bảo nó được trao tận tay bà Maberley. Phu nhân nợ bà ấy một chuyến đi đổi gió sau tất cả những gì đã gây ra. Trong lúc chờ đợi, thưa phu nhân"-anh đưa ngón trỏ lên vẫy vẫy đầy vẻ cảnh cáo-"hãy cẩn thận! Hãy thật cẩn thận! Phu nhân không thể cứ mãi đùa giỡn với dao sắc mà không có ngày bị đứt đôi bàn tay ngọc ngà ấy đâu."



  1. Harrow là một khu vực ngoại ô nằm ở phía tây bắc London, nổi tiếng với ngôi trường nam sinh danh giá cùng tên. 

  2. Holborn là một khu vực sầm uất tại trung tâm London, nổi tiếng với nhiều quán rượu và địa điểm sinh hoạt lịch sử của các tầng lớp xã hội. 

  3. Bull Ring là một khu vực thương mại lâu đời ở Birmingham, từng là nơi tổ chức các trận đấu thể thao và tụ tập của tầng lớp lao động. 

  4. Paregoric (cồn nha phiến long não) là một loại thuốc ho truyền thống chứa hàm lượng nhỏ thuốc phiện (opium), từng được sử dụng rất phổ biến như một loại thuốc không kê đơn trong quá khứ. 

  5. Raffaello Sanzio (thường được gọi là Raphael), là một danh họa vĩ đại thời kỳ Phục hưng Ý, các tác phẩm của ông có giá trị vô giá. 

  6. Ám chỉ bản 'First Folio' (1623), ấn bản đầu tiên tập hợp các vở kịch của William Shakespeare, được xem là một trong những cuốn sách hiếm và đắt giá nhất trong lịch sử văn học. 

  7. Royal Crown Derby là một trong những hãng sản xuất đồ gốm sứ cao cấp lâu đời và danh tiếng bậc nhất nước Anh, biểu tượng cho sự xa xỉ và tinh xảo. 

  8. St. James's Street là con phố nổi tiếng ở London, nơi tập trung các câu lạc bộ quý ông (gentlemen's clubs) danh giá, trung tâm giao lưu và trao đổi tin tức của giới thượng lưu. 

  9. Riviera (thường chỉ French Riviera hoặc Italian Riviera) là vùng duyên hải Địa Trung Hải tuyệt đẹp, điểm đến nghỉ dưỡng xa hoa quen thuộc của giới thượng lưu châu Âu. 

  10. Một bang ở vùng Đông Bắc Brazil, từng là trung tâm sản xuất đường khổng lồ trên thế giới, nơi các gia tộc quý tộc cai quản những đồn điền rộng lớn. 

  11. Cụm từ mượn từ tựa đề bài thơ nổi tiếng 'La Belle Dame sans Merci' của John Keats, dùng để chỉ những người phụ nữ có sắc đẹp mê hồn nhưng lạnh lùng, tàn nhẫn, gieo rắc bi kịch cho những kẻ si tình. 

  12. Ám chỉ tập truyện dân gian Ả Rập nổi tiếng (Arabian Nights), thường được dùng như một biểu tượng văn hóa để miêu tả những khung cảnh huyền bí, lộng lẫy và xa hoa tột bậc.