IX. VỤ ÁN CHIẾC BỜM SƯ TỬ

Thật vô cùng kỳ lạ khi vụ án phức tạp và dị thường nhất trong suốt sự nghiệp dài đằng đẵng của tôi lại xuất hiện ngay sau khi tôi đã rửa tay gác kiếm; có thể nói, nó tự gõ cửa nhà tôi. Câu chuyện này diễn ra sau khi tôi lui về ẩn cư tại một căn nhà nhỏ chốn đồng quê Sussex, buông mình vào nhịp sống êm đềm giữa thiên nhiên mà tôi hằng khao khát suốt những năm tháng chìm trong sương mù London. Ở khoảng thời gian này của cuộc đời, anh bạn tốt Watson đã không còn thường xuyên kề cận bên tôi nữa. Chút cơ hội hiếm hoi để chúng tôi tương phùng chỉ là dăm ba chuyến viếng thăm cuối tuần. Bởi vậy, tôi đành tự chắp bút ghi lại câu chuyện của chính mình. Ôi! Giá như có Watson ở đây, anh ấy hẳn đã thêu dệt nên một áng văn tuyệt mỹ biết bao về sự kiện diệu kỳ này, cũng như về khúc khải hoàn cuối cùng của tôi trước muôn vàn trắc trở! Nhưng dẫu sao, hiện thực là tôi phải tự thuật lại mọi chuyện bằng một giọng điệu bình dị nhất, dùng câu chữ mộc mạc để dẫn dắt các bạn bước theo từng dấu chân trên con đường chông gai mà tôi đã trải qua, khi dấn thân vào hành trình vạch trần bí ẩn về chiếc Bờm Sư Tử.

Căn biệt thự của tôi nằm chênh vênh trên sườn dốc phía nam vùng đồi Downs1, phóng tầm mắt bao trọn cả Eo biển mênh mông. Nơi đây, đường bờ biển được ôm ấp bởi những vách đá phấn dựng đứng, và lối duy nhất để đi xuống là một con đường dài ngoằn ngoèo, dốc đứng và trơn trượt. Nằm phơi mình dưới chân dốc là bãi đá cuội pha sỏi thoai thoải trải dài cả trăm thước, ngay cả khi thủy triều dâng lên mức cao nhất. Rải rác khắp bãi biển, những hốc đá và chỗ trũng tự nhiên đan xen vào nhau, tạo thành những hồ nước tuyệt đẹp luôn được tưới tắm bằng làn nước biển tươi mát sau mỗi bận triều lên. Dải cát thênh thang tuyệt mỹ ấy vươn dài vài dặm về cả hai phía, và chỉ bị cắt ngang tại một điểm duy nhất: eo vịnh nhỏ ôm trọn lấy ngôi làng Fulworth bình yên.

Căn nhà của tôi nằm tĩnh lặng nơi heo hút. Cả cơ ngơi này chỉ có tôi, bà quản gia già và bầy ong bầu bạn. Dẫu vậy, cách đó chừng nửa dặm lại là trung tâm luyện thi nức tiếng của Harold Stackhurst. Khuôn viên rộng lớn mang tên The Gables ấy là nơi tá túc của chừng hai mươi thanh niên đang ngày đêm dùi mài kinh sử chuẩn bị cho tương lai, dưới sự dẫn dắt của một đội ngũ giáo viên tận tâm. Bản thân Stackhurst thời trẻ từng là một tay chèo thuyền cự phách, đồng thời cũng là một học giả uyên thâm toàn diện. Kể từ ngày tôi dọn đến sống ven bờ biển này, anh ấy và tôi luôn giữ mối giao tình thân thiết; thậm chí, anh ấy còn là người duy nhất gần gũi với tôi tới mức chúng tôi có thể thoải mái ghé thăm nhau mỗi tối mà chẳng cần tới những lời mời mọc khách sáo.

Vào những ngày cuối tháng Bảy năm 1907, một cơn bão hung hãn đã tràn qua, từng luồng gió giật ngược eo biển, hất tung nước biển xô vào tận chân vách đá, để rồi khi thủy triều rút đi, chúng bỏ lại một đầm nước tĩnh lặng. Vào cái buổi sáng mà tôi sắp sửa kể đây, cuồng phong đã lặng, vạn vật thiên nhiên dường như vừa được gột rửa, khoác lên mình vẻ thanh tân và trong trẻo. Dành một ngày tuyệt mỹ dường này để cắm mặt vào công việc quả là một tội lỗi, vì thế tôi quyết định tản bộ ra ngoài hít thở bầu không khí trong lành trước khi dùng bữa sáng. Tôi cất bước dọc theo con đường trên vách đá, hướng về phía lối mòn dẫn xuống bãi biển. Đang thả hồn lãng đãng, tôi chợt nghe tiếng gọi rành rọt cất lên từ phía sau. Tôi ngoái lại và thấy Harold Stackhurst đang hớn hở vẫy tay chào mình.

"Một buổi sáng tuyệt diệu, anh Holmes! Tôi biết ngay là sẽ gặp anh tản bộ ngoài này mà."

"Anh định đi bơi sao, tôi thấy đồ đạc rồi kìa."

"Anh lại đoán trúng phóc," anh ấy bật cười, đưa tay vỗ vỗ vào cái túi căng phồng mang theo. "Đúng thế. McPherson đã ra ngoài từ sớm tinh mơ, và tôi chắc mẩm sẽ hội ngộ anh ấy ở dưới đó."

Fitzroy McPherson là giáo viên bộ môn khoa học, một chàng trai trẻ vóc dáng cao ráo và đĩnh đạc. Cuộc đời anh chịu ảnh hưởng nặng nề từ căn bệnh tim quái ác, di chứng của một trận sốt thấp khớp thuở trước. Bất chấp điều đó, với tố chất của một vận động viên bẩm sinh, anh vẫn vô cùng xuất sắc trong mọi môn thể thao không đòi hỏi tiêu hao quá nhiều thể lực. Bất kể là tiết trời oi ả của mùa hè hay sự lạnh giá của mùa đông, anh luôn giữ thói quen đi bơi. Bản thân tôi cũng là người say mê bơi lội, nên chúng tôi thường xuyên cùng nhau vùng vẫy dưới làn nước biển.

Vừa nhắc tới thì chúng tôi liền trông thấy anh chàng. Mái đầu của anh từ từ nhô lên khỏi mép vách đá, ngay đoạn cuối của con đường. Rồi toàn bộ dáng vẻ của anh hiện ra rành rọt trên đỉnh con dốc, nhưng bước chân lại lảo đảo, chệch choạc tựa một kẻ say khướt. Tích tắc sau, anh vung hai tay lên trời, cất tiếng thét thảm thiết rồi ngã sấp mặt xuống nền đất. Stackhurst và tôi cuống cuồng lao tới - từ chỗ chúng tôi đến đó chừng năm mươi thước - và vội lật ngửa anh lên. Rõ ràng anh đang thoi thóp ở ranh giới của sự sống và cái chết. Đôi mắt đờ đẫn, sâu hoắm cùng đôi má nhợt nhạt đến rợn người ấy chính là điềm báo tử không thể chối cãi. Một tia sống mong manh chợt lóe lên trên gương mặt anh trong chớp mắt, và anh cố thốt ra hai ba từ như muốn cảnh báo điều gì đó đầy khẩn thiết. Những âm thanh ấy ríu vào nhau, đứt quãng và mờ mịt, nhưng lọt vào tai tôi, từ cuối cùng bật ra thành tiếng thét tuyệt vọng trên đôi môi ấy lại là "chiếc bờm sư tử". Lời nói ấy nghe chẳng có chút ăn nhập và vô cùng khó hiểu, nhưng dẫu vắt óc suy nghĩ, tôi cũng chẳng thể nào mường tượng âm thanh đó mang một ý nghĩa nào khác. Thoắt cái, anh nửa bề gượng dậy khỏi mặt đất, buông thõng hai tay giữa không trung rồi ngã vật sang một bên. Anh ấy đã trút hơi thở cuối cùng.

Stackhurst dường như tê dại đi trước nỗi kinh hoàng quá đỗi đường đột này, nhưng tôi, như các bạn có thể hình dung, đã lập tức huy động mọi giác quan để cảnh giác cao độ. Sự tỉnh táo ấy là vô cùng thiết yếu, bởi rõ ràng chúng tôi đang phải đối diện với một vụ án mạng dị thường. Nạn nhân trên người chỉ khoác chiếc áo Burberry2, mặc chiếc quần tây cùng đôi giày vải bố không buồn buộc dây. Cú ngã đã khiến chiếc áo Burberry vốn chỉ được khoác hờ hững tuột xuống, phơi bày toàn bộ phần thân trên của anh. Chúng tôi trân trân nhìn cảnh tượng trước mắt trong nỗi bàng hoàng tột độ. Lưng anh chằng chịt những vệt đỏ bầm ứa máu, tựa như anh vừa phải hứng chịu những trận đòn roi tàn khốc từ một sợi dây thép mỏng và sắc lẹm. Hung khí gây ra những thương tích này ắt hẳn phải vô cùng dẻo dai, bởi những vết lằn dài, tấy đỏ đã quất xoáy và uốn lượn ôm trọn lấy hai bờ vai cũng như mạng sườn của anh. Máu rỉ dài xuống tận cằm, bởi lẽ trong cơn đau đớn xé thịt, anh đã tự cắn nát bờ môi dưới của mình. Gương mặt nhăn nhúm, biến dạng của chàng trai trẻ khắc họa rõ nét nỗi thống khổ kinh hoàng mà anh vừa trải qua.

Trong lúc tôi đang quỳ gối xem xét, còn Stackhurst vẫn đứng như trời trồng bên cái xác, thì chợt có một cái bóng sừng sững đổ ập xuống chỗ chúng tôi; ngước lên, chúng tôi nhận ra Ian Murdoch đang đứng lù lù ngay sát bên cạnh. Murdoch là giáo viên đảm trách môn toán tại trung tâm. Một người đàn ông có vóc dáng cao kều, gầy gò, nước da ngăm đen. Anh ta lầm lì và luôn giữ thái độ xa lánh mọi người đến mức chẳng ai dám nhận mình là bạn của anh ta. Con người này dường như tự nhốt mình trong một thế giới trừu tượng, cao siêu, nơi chỉ có sự hiện diện của những con số vô tỉ hay các khối hình nón khô khan, mà hiếm khi đoái hoài tới cuộc sống trần tục. Đám học trò vẫn thường coi anh ta là một gã lập dị, và có lẽ chúng đã chẳng ít lần lôi anh ta ra làm trò tiêu khiển; nhưng sâu thẳm trong huyết quản con người này dường như cuộn chảy một dòng máu lai bí ẩn nào đó. Điều này không chỉ bộc lộ qua đôi mắt đen láy và khuôn mặt sạm đen, mà còn hiện hữu trong những cơn cuồng nộ bộc phát bất thình lình, dữ dằn đến đáng sợ. Đã từng có lần, khi bị con chó nhỏ của McPherson sủa nhặng lên quấy rầy, anh ta liền tóm cổ con vật tội nghiệp và ném thẳng nó qua ô cửa kính. Vì hành vi bạo lực ấy, Stackhurst hẳn đã tống cổ anh ta ra khỏi trung tâm nếu anh ta không phải là một giáo viên có năng lực chuyên môn cực kỳ xuất sắc. Và đó, chính là con người với nội tâm phức tạp, kỳ quái đang đứng lù lù cạnh chúng tôi. Anh ta lộ rõ vẻ bàng hoàng đến tột độ trước thảm cảnh phơi bày trước mắt, dù rằng cái vụ xô xát với con chó thuở trước dường như ngầm chỉ ra giữa anh ta và người đã khuất vốn dĩ chẳng có lấy một tia cảm thông nào.

"Tội nghiệp! Thật quá đỗi tội nghiệp! Tôi có thể làm gì đây? Có việc gì cần tôi giúp không?"

"Anh có đi cùng anh ấy không? Anh có thể thuật lại cho chúng tôi nghe những gì đã xảy ra chứ?"

"Không, không, sáng nay tôi thức dậy muộn. Tôi hoàn toàn chưa đặt chân xuống bãi biển. Tôi phi thẳng một mạch từ The Gables đến đây. Tôi có thể giúp gì được bây giờ?"

"Anh hãy chạy thục mạng đến đồn cảnh sát ở Fulworth đi. Hãy trình báo vụ việc ngay lập tức."

Chẳng ừ hử nửa lời, anh ta vụt chạy như bay với tốc độ đáng kinh ngạc, còn tôi thì bắt tay vào việc xem xét hiện trường. Trong khi đó, Stackhurst vẫn chưa hết bàng hoàng trước bi kịch đẫm máu này, lẳng lặng đứng canh bên thi thể. Đương nhiên, nhiệm vụ đầu tiên bủa vây tâm trí tôi là phóng tầm mắt quan sát xem liệu có ai đang lảng vảng trên bãi biển hay không. Đứng từ đỉnh của con dốc, tôi có thể thu gọn toàn bộ khung cảnh bãi biển vào trong tầm mắt, và nơi ấy vắng lặng như tờ, ngoại trừ bóng dáng của hai ba người mờ ảo ở tít đằng xa đang lững thững tiến về phía làng Fulworth. Khi đã tạm yên tâm về điểm này, tôi chậm rãi lần bước xuống dốc. Rải rác trên lối mòn pha lẫn đất sét hay đất phù sa mềm nhão quyện cùng đá phấn, tôi phát hiện ra những dấu chân in hằn giống hệt nhau, cả hướng đi lên lẫn đi xuống. Chẳng có bất kỳ ai khác đặt chân xuống bãi biển thông qua con đường này vào sáng nay. Tại một khúc quanh, tôi tinh ý nhận ra dấu tay người in rõ trên nền đất trơn trượt, với các ngón tay bấu chặt hướng lên đỉnh dốc. Điều này chỉ có thể lý giải rằng anh chàng McPherson tội nghiệp đã vấp ngã khi đang cố sức leo lên. Dọc theo lối đi còn hằn lên những vết lõm tròn trịa, chứng tỏ anh ấy đã liên tục ngã khuỵu gối xuống không chỉ một lần. Nằm nép mình ngay dưới chân dốc là một cái đầm rộng lớn được tạo thành sau khi thủy triều rút. Gần ngay đó, McPherson đã cởi bỏ y phục, bằng chứng là chiếc khăn tắm của anh được đặt ngay ngắn trên một tảng đá. Nó được gấp ghém gọn gàng và khô ráo; như vậy, rất có khả năng anh ấy vẫn chưa kịp ngâm mình xuống làn nước kia. Khoảng một hai lần, khi đảo mắt thăm dò quanh bãi sỏi cứng cỏi, tôi tình cờ bắt gặp những vệt cát nhỏ lưa thưa in dấu giày vải bố của anh, cùng với đó là vài dấu chân trần. Phát hiện thứ hai này củng cố thêm giả thuyết rằng anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tắm biển, dẫu chiếc khăn khô ráo kia lại ngầm khẳng định điều ngược lại.

Và đây, vấn đề đã được vạch ra rành mạch - một bài toán hóc búa, kỳ lạ chẳng kém cạnh bất kỳ vụ án nào từng thử thách tôi trong quá khứ. Nạn nhân hiện diện trên bãi biển chưa đầy mười lăm phút. Stackhurst đã lẽo đẽo theo sau anh ấy ngay khi rời The Gables, nên tình tiết này hoàn toàn không có gì phải hoài nghi. Anh chàng xấu số đã định tắm biển và cởi bỏ quần áo, những dấu chân trần in trên cát đã nói lên điều đó. Thế nhưng ngay sau đó, anh ấy đột nhiên cuống cuồng vơ lấy quần áo mặc lại - tất cả đều xộc xệch và ngay cả nút áo cũng chẳng buồn cài - rồi hớt hải quay về trong khi chưa kịp tắm, hay ít nhất là chưa kịp lau khô người. Nguyên do khiến anh ấy thay đổi ý định đột ngột đến vậy chính là trận đòn roi dã man, vô nhân đạo đã giáng xuống người anh, một màn tra tấn tàn khốc đến mức anh phải tự cắn nát bầm đôi môi để cắn răng chịu đựng, và chút sức tàn lực kiệt cuối cùng chỉ đủ để anh lê lết trốn chạy rồi gục chết tức tưởi. Kẻ thủ ác nào đã rắp tâm thực hiện hành vi tàn bạo đến nhường này? Quả tình, dưới chân vách đá cũng có lác đác những hang động hay hốc đá nhỏ, thế nhưng ánh nắng ban mai chói chang đã soi rọi thẳng vào đó, biến chúng thành những góc khuất vô vọng để ẩn mình. Thêm vào đó, có bóng dáng của vài người lảng vảng ở tít tắp ngoài bãi biển. Họ có vẻ ở quá xa để nhúng tay vào tội ác này, chưa kể giữa họ và nạn nhân còn bị ngăn cách bởi cái đầm lớn nơi McPherson định tắm, với những bọt sóng vỗ xô vào bờ đá. Xa xăm ngoài khơi, vài chiếc thuyền đánh cá đang dập dềnh trên sóng nước. Chúng tôi có thể từ tốn thẩm vấn những ngư phủ trên thuyền sau. Vài hướng điều tra đã được vạch ra, song chưa có con đường nào thực sự dẫn tới một mục tiêu rõ nét.

Khi tôi quay trở lại vị trí thi thể, một tốp nhỏ những kẻ hiếu kỳ dạo quanh đó đã bu quanh thành vòng tròn. Lẽ dĩ nhiên Stackhurst vẫn túc trực ở đấy, còn Ian Murdoch vừa mới tới cùng Anderson, viên cảnh sát của ngôi làng. Đó là một gã đàn ông vạm vỡ, để ria mép màu gừng, mang đậm nét đặc trưng của người dân xứ Sussex: chậm rãi mà vững chãi - cái tuýp người thường che đậy sự nhạy bén sắc sảo bên dưới lớp vỏ bọc thô kệch, kiệm lời. Anh ta chăm chú lắng nghe mọi tình tiết, cặm cụi ghi chép lại tất cả những gì chúng tôi thuật lại, và cuối cùng kín đáo kéo tôi ra một góc.

"Tôi rất muốn thỉnh giáo ngài đôi lời, thưa ngài Holmes. Đây quả là một trọng án đối với tôi, và tôi sẽ khó ăn khó nói với cấp trên ở Lewes3 nếu trót để xảy ra bất kỳ sai sót nào."

Tôi liền khuyên anh ta cử người lập tức đi thỉnh thị cấp trên trực tiếp và mời một vị bác sĩ đến; đồng thời, phải phong tỏa hiện trường, nghiêm cấm di dời bất kỳ vật dụng nào, và cẩn trọng giữ gìn dấu vết, hạn chế tối đa việc in thêm những dấu chân mới cho đến khi giới chức trách có mặt. Thừa dịp đó, tôi lặng lẽ lục lọi các túi áo của người chết. Bên trong có một chiếc khăn tay, một con dao xếp khá lớn cùng một chiếc ví đựng danh thiếp nhỏ nhắn đang gập lại. Thò ra khỏi mép ví là một mẩu giấy nhỏ; tôi nhẹ nhàng mở ra và chìa cho viên cảnh sát. Dòng chữ nguệch ngoạc trên giấy mang nét mềm mại của phụ nữ: "Em sẽ ở đó, anh cứ yên tâm.-Maudie." Lời nhắn gửi sặc mùi tình ái, tựa như một cuộc hẹn hò bí mật, dẫu thời gian và địa điểm đã bị giấu nhẹm đi. Viên cảnh sát cẩn thận nhét mẩu giấy vào lại chiếc ví rồi trả tất cả những vật dụng ấy vào túi áo khoác Burberry. Sau đó, bởi chẳng còn rà soát thêm được manh mối nào, tôi rảo bước về nhà dùng điểm tâm, không quên căn dặn phải rà soát thật kỹ lưỡng khu vực dưới chân vách đá.

Chừng một hai giờ sau, Stackhurst vội vã ghé qua để báo tin rằng thi thể đã được đưa về The Gables, nơi chuẩn bị tiến hành cuộc điều tra về cái chết bất thường này. Anh mang theo một vài tin tức đặc biệt nghiêm trọng và đáng tin cậy. Đúng y như những gì tôi dự liệu, cuộc lùng sục tại các hang động nhỏ dưới vách đá chẳng mang lại kết quả gì, nhưng khi lục lọi mớ giấy tờ trong bàn làm việc của McPherson, anh ấy đã tìm thấy vài bức thư minh chứng cho mối quan hệ thư từ khăng khít giữa người chết và một cô gái tên Maud Bellamy nào đó ngụ tại Fulworth. Thế là, lai lịch của chủ nhân mẩu giấy ấy đã được đưa ra ánh sáng.

"Cảnh sát đã tịch thu đống thư từ ấy rồi," anh ấy trần tình. "Tôi không sao mang chúng đến đây được. Nhưng có thể khẳng định chắc nịch rằng, đó là một mối tình sâu đậm. Dẫu vậy, tôi chẳng thấy có bất kỳ sợi dây liên kết nào giữa chuyện tình ái ấy với thảm kịch kinh hoàng vừa qua, ngoại trừ việc cô gái đã hẹn gặp anh ta."

"Nhưng hẹn hò ở ngay cái hồ bơi mà tất cả các anh vẫn ngày ngày lui tới thì quả là khó tin," tôi tinh ý chỉ ra.

"Sự vắng mặt của đám học sinh đi cùng McPherson sáng nay chỉ là một sự tình cờ thôi," anh ấy chép miệng.

"Liệu có thực sự chỉ là tình cờ?"

Stackhurst chau mày, đăm chiêu suy nghĩ.

"Chính Ian Murdoch đã cản bước bọn chúng," anh ấy đáp lời; "anh ta nằng nặc đòi giảng giải cho bằng được một định lý đại số nào đó trước khi ăn sáng. Tội nghiệp anh chàng, lúc này anh ta đang ủ rũ, sầu thảm lắm."

"Thế nhưng tôi nghe phong phanh rằng bọn họ vốn chẳng ưa gì nhau."

"Đúng là đã từng có thời điểm họ coi nhau như người dưng nước lã. Nhưng khoảng chừng một năm trở lại đây, Murdoch bỗng dưng trở nên thân thiết với McPherson, chí ít là thân cận hơn bất kỳ ai khác. Bản tính anh ta xưa nay vốn dĩ không phải là người dễ dàng thấu cảm hay bộc lộ cảm xúc."

"Tôi hiểu rồi. Trí nhớ mách bảo rằng anh từng kể tôi nghe về một cuộc cãi vã nảy lửa giữa hai người, bắt nguồn từ cái vụ bạo hành một chú chó thì phải."

"Chuyện đó xưa như diễm rồi."

"Nhưng biết đâu chừng, mầm mống của sự thù hằn vẫn còn âm ỉ?"

"Không, không đâu; tôi dám lấy danh dự ra đảm bảo rằng họ là những người bạn tốt."

"Nếu đã vậy, chúng ta đành phải đào sâu vào lai lịch của cô gái kia. Anh có biết chút gì về cô ta không?"

"Cả cái vùng này ai mà chẳng biết cô ấy. Đó là một đóa hồng tuyệt sắc của vùng đất này - một mỹ nhân đúng nghĩa, Holmes à, nhan sắc ấy đủ sức thiêu rụi mọi ánh nhìn ở bất cứ nơi đâu cô ấy bước tới. Tôi thừa biết McPherson đã phải lòng cô ấy, nhưng tôi chẳng mảy may ngờ rằng mối tình này lại sâu đậm đến mức những bức thư kia đã bộc lộ."

"Thế nhưng cô ấy rốt cuộc là ai?"

"Cô ấy là ái nữ của lão Tom Bellamy, người thâu tóm toàn bộ hệ thống tàu thuyền và lều tắm ở Fulworth. Lão ta xuất thân từ một ngư dân nghèo hèn, nhưng nay đã phất lên thành một kẻ có máu mặt với khối tài sản kha khá. Lão cùng cậu con trai William đang xắn tay điều hành toàn bộ công việc kinh doanh."

"Hay là chúng ta cuốc bộ vào Fulworth để bái phỏng họ một chuyến xem sao?"

"Dựa vào cái cớ gì chứ?"

"Ồ, cái cớ thì thiếu gì cách để moi ra. Dù sao đi nữa, gã thanh niên bất hạnh kia cũng chẳng thể nào tự mình thực thi bản án tàn khốc đến vậy lên thân xác mình. Chắc chắn phải có một bàn tay ác quỷ nào đó vung lên chiếc roi oan nghiệt ấy, giả dụ như đó thực sự là một chiếc roi. Vòng tròn các mối quan hệ của anh ta ở cái chốn thâm sơn cùng cốc này ắt hẳn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cứ bám riết lấy mọi manh mối, và chúng ta thể nào cũng moi ra được động cơ gây án, từ đó vạch mặt được kẻ thủ ác đang lẩn khuất trong bóng tối."

Lẽ ra đó đã là một buổi tản bộ tuyệt vời băng qua vùng đồi Downs thoang thoảng hương cỏ xạ hương, nếu tâm trí chúng tôi không bị đầu độc bởi thảm kịch vừa chứng kiến. Ngôi làng Fulworth nép mình trong một thung lũng, uốn lượn thành hình bán nguyệt ôm trọn lấy mặt vịnh. Phía sau khu xóm cổ kính, vài ngôi nhà mang lối kiến trúc hiện đại đã mọc lên trên nền đất cao. Stackhurst dẫn tôi tiến về phía một trong số đó.

"Kia là dinh thự The Haven, theo cách gọi của lão Bellamy. Ngôi nhà có tháp góc và mái ngói đen sẫm. Khá phết đấy chứ, nhất là với một gã đi lên từ hai bàn tay trắng-- Trời đất ơi, nhìn kìa!"

Cánh cổng vườn của dinh thự The Haven bật mở và một gã đàn ông bước ra. Không thể nhầm lẫn được cái dáng vẻ cao nghều, gầy gò và lòng khòng ấy. Đó chính là Ian Murdoch, tay giáo viên dạy toán. Một lát sau, chúng tôi chạm mặt anh ta ngay trên đường.

"Chào anh!" Stackhurst cất lời. Gã đàn ông chỉ gật đầu, ném về phía chúng tôi một cái liếc nhìn qua đôi mắt đen kỳ dị, rồi toan lướt qua, nhưng vị sếp của anh ta đã gọi giật lại.

"Anh làm gì ở đó vậy?" Stackhurst gặng hỏi.

Gương mặt Murdoch đỏ bừng lên vì phẫn nộ. "Dưới mái nhà của anh, thưa anh, tôi là cấp dưới. Nhưng tôi không nghĩ mình nợ anh bất cứ lời giải thích nào cho những hành động cá nhân."

Thần kinh của Stackhurst vốn đã căng như dây đàn sau bao đả kích vừa phải hứng chịu. Nếu không, có lẽ anh ấy đã cư xử chừng mực hơn. Còn giờ thì anh ấy hoàn toàn mất kiểm soát.

"Trong hoàn cảnh này, câu trả lời của anh thật quá sức xấc xược, Murdoch ạ."

"Câu hỏi của anh e rằng cũng cùng một ruộc mà thôi."

"Đây chẳng phải lần đầu tôi phải nhắm mắt làm ngơ trước thái độ vô kỷ luật của anh. Nhưng chắc chắn đây sẽ là lần cuối. Phiền anh vui lòng sớm thu xếp các dự định tương lai cho mình."

"Tôi vốn đã định thế rồi. Ngày hôm nay, tôi đã mất đi người duy nhất khiến trang viên The Gables còn chút giá trị để lưu lại."

Anh ta sải bước bỏ đi thẳng, bỏ mặc Stackhurst đứng đó, đôi mắt hằn học trừng trừng nhìn theo bóng lưng gã. "Trời ạ, anh ta đúng là một kẻ xấc láo không thể dung thứ nổi, đúng không?" anh ấy thốt lên.

Điều duy nhất hằn sâu trong tâm trí tôi lúc này là gã Ian Murdoch kia đang chớp lấy cơ hội đầu tiên để tẩu thoát khỏi hiện trường vụ án. Một nỗi hoài nghi, dẫu còn mơ hồ và lờ mờ, nay đang dần thành hình trong tâm trí tôi. Có lẽ chuyến viếng thăm gia đình Bellamy sẽ soi sáng thêm phần nào vấn đề. Stackhurst cố lấy lại sự trấn tĩnh, rồi chúng tôi tiếp tục rảo bước về phía ngôi nhà.

Ông Bellamy hóa ra là một gã đàn ông trung niên với bộ râu quai nón đỏ rực. Trông ông ta có vẻ đang cực kỳ phẫn nộ, và gương mặt ông ta cũng nhanh chóng sung huyết, đỏ gay gắt hệt như màu tóc.

"Không, thưa ngài, tôi chẳng thiết tha gì việc nghe thêm chi tiết. Con trai tôi đây" - ông ta trỏ tay về phía một gã thanh niên to con, với gương mặt cau có, lầm lì đang ngồi thu lu trong góc phòng khách - "cũng hoàn toàn đồng tình với tôi rằng sự đeo bám của tên McPherson dành cho Maud quả là một nỗi sỉ nhục. Vâng, thưa ngài, hai chữ 'kết hôn' chưa từng được thốt ra, vậy mà lại có thư từ lén lút, những cuộc hẹn hò mờ ám, và vô số chuyện khác mà cả hai cha con tôi đều không thể nào chấp nhận nổi. Con bé đã mất mẹ, và chúng tôi là những người giám hộ hợp pháp duy nhất của nó. Chúng tôi đã quyết tâm--"

Nhưng lời lẽ của ông ta chợt bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của chính cô con gái. Không thể phủ nhận rằng cô ấy thừa sức làm lu mờ bất kỳ một bữa tiệc xa hoa nào trên thế giới. Ai mà mường tượng nổi một bông hoa diễm lệ nhường ấy lại có thể nảy nở từ một gốc rễ thô kệch và trong một môi trường như thế này cơ chứ? Phụ nữ vốn hiếm khi thu hút được tôi, bởi lý trí của tôi luôn lấn át con tim, nhưng tôi không thể rời mắt khỏi khuôn mặt thanh tú, hoàn mỹ kia. Sự tươi tắn, dịu dàng của vùng đồi Downs dường như quyện hòa trọn vẹn trong sắc da tinh tế của cô, khiến tôi nhận ra rằng chẳng một gã trai trẻ nào lướt ngang qua đời cô mà lại không mang theo một trái tim xao xuyến. Đó chính là cô gái vừa đẩy cửa bước vào và giờ đây đang đứng sững lại, đôi mắt mở to đầy căng thẳng, đối diện trực tiếp với Harold Stackhurst.

"Tôi đã nghe hung tin về sự ra đi của anh Fitzroy," cô nói. "Xin đừng ngại ngần, hãy kể cho tôi nghe mọi chi tiết."

"Vị quý ngài đi cùng anh đây đã loan báo tin tức cho chúng ta rồi," người cha cất giọng giải thích.

"Chẳng có lý do gì để lôi con bé vào mớ rắc rối này cả," gã thanh niên gầm gừ. Cô em gái lập tức quay ngoắt lại, ném về phía anh ta một ánh nhìn sắc lẹm, nảy lửa. "Đây là chuyện cá nhân của em, William. Vui lòng để em tự định đoạt theo cách của mình. Theo những gì mọi người thuật lại, thì rõ ràng đã có một tội ác xảy ra. Nếu em có thể góp phần vạch trần thủ phạm, thì đó là điều tối thiểu em có thể làm để an ủi linh hồn người đã khuất."

Cô lặng lẽ lắng nghe lời thuật lại vắn tắt từ người bạn đồng hành của tôi, với một sự tập trung điềm tĩnh đến độ tôi nhận ra cô sở hữu một nội tâm vô cùng mạnh mẽ đằng sau nhan sắc diễm lệ kia. Maud Bellamy có lẽ sẽ mãi in đậm trong tâm trí tôi như một người phụ nữ toàn vẹn và phi thường bậc nhất. Có vẻ như cô ấy đã nhận ra tôi, bởi vào phút cuối, cô bất chợt quay sang tôi.

"Xin ngài hãy đưa chúng ra ánh sáng công lý, anh Holmes. Ngài sẽ có trọn vẹn sự đồng tình và mọi sự trợ giúp từ tôi, bất kể lũ khốn đó là kẻ nào." Tôi có cảm giác cô ấy đã ném một ánh nhìn đầy thách thức về phía cha và anh trai khi thốt ra những lời ấy.

"Cảm ơn cô," tôi đáp lời. "Tôi luôn đánh giá cao trực giác nhạy bén của phụ nữ trong những vấn đề thế này. Cô vừa dùng từ 'chúng'. Phải chăng cô cho rằng có nhiều hơn một kẻ nhúng tay vào tội ác?"

"Tôi hiểu anh McPherson đủ rõ để biết anh ấy là một người can trường và vô cùng khỏe mạnh. Một kẻ đơn độc không đời nào có thể gây ra thứ tội ác tàn bạo nhường ấy với anh."

"Liệu tôi có thể xin cô vài phút trò chuyện riêng tư được không?"

"Cha cấm con, Maud, tuyệt đối không được dây dưa vào mớ rắc rối này," người cha giận dữ quát tháo.

Cô ấy nhìn tôi với ánh mắt đầy bất lực. "Tôi biết phải làm sao đây?"

"Dù sao thì cả thế giới cũng sẽ sớm tỏ tường sự thật thôi, nên có mang ra bàn luận ở đây cũng chẳng hề hấn gì," tôi lên tiếng. "Tôi chuộng sự riêng tư hơn, nhưng nếu cha cô đã cấm cản, thì đành để ông ấy dự phần vào cuộc thảo luận này vậy." Kế đó, tôi thuật lại chi tiết về mảnh giấy được tìm thấy trong túi áo nạn nhân. "Chắc chắn vật chứng này sẽ được công bố tại phiên điều tra pháp y. Tôi có thể mạn phép nhờ cô làm sáng tỏ đôi chút về nguồn cơn của nó không?"

"Tôi chẳng thấy có lý do gì để giấu giếm cả," cô đáp lời. "Chúng tôi đã bí mật đính ước với nhau. Sự tình phải giữ kín chỉ vì người bác của Fitzroy, một ông lão tuổi cao sức yếu và nghe đâu đang gần kề miệng lỗ, rất có thể sẽ tước bỏ quyền thừa kế của anh nếu anh dám kết hôn trái ý ông ta. Hoàn toàn không còn nguyên do nào khác."

"Đáng ra con phải nói cho chúng ta biết chứ," lão Bellamy gầm gừ.

"Con đã làm vậy rồi, thưa cha, giá như cha từng mảy may tỏ ra cảm thông."

"Cha kiên quyết phản đối việc con gái mình hạ mình cặp kè với những gã đàn ông không môn đăng hộ đối."

"Chính định kiến sâu sắc của cha về anh ấy đã buộc chúng con phải ngậm miệng. Còn về cuộc hẹn này" - cô luồn tay vào nếp váy, rút ra một mẩu giấy nhàu nát - "nó chính là lời hồi đáp cho bức thư này đây."

"EM YÊU," nội dung tin nhắn viết: "Vẫn chỗ cũ trên bãi biển, ngay sau lúc hoàng hôn vào thứ Ba nhé. Đó là khoảng thời gian duy nhất anh có thể lén trốn đi được.-F.M."

"Thứ Ba chính là hôm nay, và tôi đã định bụng sẽ đến gặp anh ấy vào tối nay."

Tôi khẽ lật mặt sau của mẩu giấy. "Thứ này chưa từng được gửi qua đường bưu điện. Cô đã nhận nó bằng cách nào vậy?"

"Tôi xin phép không trả lời câu hỏi đó. Chuyện này thực sự chẳng mảy may liên quan đến vấn đề ngài đang điều tra. Nhưng với bất cứ điều gì có dính líu đến vụ án, tôi đều sẽ sẵn lòng giải đáp tuốt luốt."

Cô đã giữ đúng lời hứa, thế nhưng lại chẳng có thông tin nào thực sự hữu ích cho cuộc điều tra của chúng tôi. Cô không tìm ra được lý do nào để tin rằng vị hôn phu của mình lại có những kẻ thù giấu mặt, nhưng cô cũng thẳng thắn thừa nhận bản thân từng có vài gã theo đuổi đầy cuồng nhiệt.

"Mạn phép cho tôi hỏi, liệu anh Ian Murdoch có phải là một trong số những kẻ si tình đó không?"

Gương mặt cô thoáng ửng đỏ, mang theo nét bối rối thấy rõ.

"Đã từng có lúc tôi đinh ninh là anh ấy có ý đồ đó. Nhưng mọi chuyện đã xoay chuyển kể từ khi anh ấy thấu tỏ mối quan hệ giữa tôi và Fitzroy."

Một lần nữa, lớp sương mù mờ ám bủa vây gã đàn ông kỳ dị kia dường như lại càng hiện lên sắc nét hơn trong tôi. Lai lịch của anh ta bắt buộc phải được điều tra tường tận. Căn phòng của gã cũng phải được khám xét một cách bí mật. May thay, Stackhurst là một người cộng sự đầy nhiệt thành, bởi trong thâm tâm anh ấy, những hạt mầm nghi ngờ cũng đang dần bắt rễ. Chúng tôi rời khỏi dinh thự The Haven, mang theo một tia hy vọng mỏng manh rằng một đầu mối để gỡ rối mớ bòng bong này đã nằm gọn trong tay chúng tôi.

Một tuần lễ lặng lẽ trôi qua. Cuộc điều tra pháp y chẳng làm sáng tỏ thêm được điều gì và đành phải hoãn lại nhằm thu thập thêm bằng chứng. Stackhurst đã âm thầm điều tra cấp dưới của mình, phòng của anh ta cũng bị khám xét một cách sơ sài nhưng tuyệt nhiên không thu về kết quả nào. Cá nhân tôi đã xem xét lại toàn bộ hiện trường một lần nữa, cả về mặt vật lý lẫn tư duy, nhưng vẫn chẳng mảy may có thêm manh mối mới. Quý độc giả sẽ chẳng thể tìm thấy trong toàn bộ cuốn biên niên sử của tôi một vụ án nào dồn ép tôi đến tận cùng giới hạn khả năng một cách tuyệt đối như vậy. Ngay cả trí tưởng tượng của tôi cũng chẳng thể vạch ra nổi một lối thoát nào cho bí ẩn này. Và rồi, sự việc liên quan đến con chó xảy ra.

Chính bà quản gia già của tôi là người đầu tiên nghe được hung tin ấy, thông qua cái mạng lưới truyền tin truyền miệng kỳ lạ mà những người ở vùng nông thôn thường dùng để thu thập tin tức.

"Thật là một câu chuyện đáng buồn về con chó của anh McPherson, thưa ngài," bà cất lời vào một buổi tối nọ.

Thường thì tôi chẳng mấy bận tâm đến những chuyện phiếm kiểu này, nhưng những lời ấy đã lập tức thu hút sự chú ý của tôi.

"Con chó của anh McPherson làm sao?"

"Nó chết rồi, thưa ngài. Chết vì quá đau buồn rầu rĩ trước sự ra đi của chủ nhân."

"Bà nghe ai nói chuyện này?"

"Trời đất ơi, thưa ngài, mọi người đều đang bàn tán xôn xao cả lên. Con vật hẳn phải đau buồn ghê gớm lắm, nó đã bỏ ăn suốt cả tuần nay. Thế rồi hôm nay, hai cậu thanh niên từ The Gables đã phát hiện ra xác nó - ngay dưới bãi biển, thưa ngài, tại đúng cái nơi mà chủ nhân nó đã bỏ mạng."

"Tại đúng cái nơi đó." Những lời ấy cứ văng vẳng hiển hiện trong tâm trí tôi. Một linh cảm lờ mờ nhưng mang tính sống còn chợt lóe lên trong đầu. Chuyện con vật chết vì đau buồn vốn dĩ hoàn toàn phù hợp với bản tính trung thành tuyệt đẹp của loài chó. Thế nhưng tại sao lại là 'ngay tại đúng cái nơi đó'! Cớ sao bãi biển hẻo lánh kia lại mang đến cái chết cho nó? Phải chăng nó cũng đã trở thành vật tế thần cho một mối thù hằn nào đó? Có thể nào--? Đúng vậy, dù cho linh cảm ấy vẫn còn rất mơ hồ, nhưng một điều gì đó đã bắt đầu thành hình trong tâm trí tôi. Vài phút sau, tôi tức tốc lên đường đến The Gables, tìm thấy Stackhurst đang trong phòng làm việc. Theo yêu cầu của tôi, anh ấy đã cho gọi Sudbury và Blount, hai cậu học sinh đã tìm thấy con chó.

"Vâng, xác nó nằm ngay bên mép hồ," một trong hai cậu bé cất tiếng. "Chắc hẳn nó đã lần theo dấu vết của người chủ đã khuất."

Tôi trầm ngâm nhìn sinh vật nhỏ bé trung thành ấy, một con chó sục giống Airedale, được đặt nằm trên tấm thảm ngoài sảnh. Cơ thể nó cứng đơ, đôi mắt lồi trừng trừng, và các chi thì co quắp vặn vẹo. Có thể dễ dàng nhận ra sự đau đớn tột cùng hằn rõ trên từng đường nét của con vật.

Rời khỏi The Gables, tôi rảo bước xuống hồ bơi. Mặt trời lúc này đã lặn, và cái bóng đen ngòm của vách đá khổng lồ phủ rợp xuống mặt nước. Nước hồ phản chiếu thứ ánh sáng đùng đục như một tấm chì nguội lạnh. Nơi này hoàn toàn vắng lặng, chẳng mảy may có dấu hiệu của sự sống, ngoại trừ hai con chim biển đang bay lượn và kêu gào thảm thiết trên cao. Trong thứ ánh sáng chạng vạng mờ ảo, tôi loáng thoáng nhận ra dấu chân của con vật nhỏ in trên mặt cát, loanh quanh chính cái tảng đá nơi chiếc khăn tắm của chủ nhân nó từng được đặt lên. Tôi đứng đó, chìm đắm trong những suy tư sâu thẳm một lúc lâu, mặc cho những bóng đen ngày càng sẫm lại bủa vây quanh mình. Tâm trí tôi ngập tràn trong vô vàn những luồng suy nghĩ hối hả. Quý độc giả hẳn đã từng trải qua cái cảm giác bị nhốt trong một cơn ác mộng, nơi bạn mơ hồ nhận ra có một thứ vô cùng quan trọng mà mình đang tìm kiếm, bạn biết chắc nó ở ngay đó thôi, nhưng lại mãi mãi nằm ngoài tầm với. Đó chính xác là cảm giác của tôi trong buổi tối hôm ấy, khi đứng trơ trọi một mình bên cạnh cái nơi đầy rẫy sự chết chóc đó. Cuối cùng, tôi quay gót và chầm chậm bước về nhà. Ngay khi vừa lên tới đỉnh con dốc, một tia sáng bất chợt lóe lên trong tôi. Như một luồng điện xẹt ngang qua não, tôi sực nhớ ra cái điều mà bản thân bấy lâu nay vẫn luôn tuyệt vọng khao khát nắm bắt. Quý độc giả hẳn đã biết, nếu không thì quả là Watson đã tốn công vô ích khi viết về tôi, rằng tôi vốn sở hữu một kho tàng kiến thức ít người biết tới; dẫu chẳng theo một hệ thống khoa học nào, nhưng lại cực kỳ hữu ích cho nhu cầu công việc của tôi. Trí óc tôi giống như một căn phòng chứa đồ chật ních những kiện hàng đủ loại bị nhồi nhét ngổn ngang - nhiều tới mức tôi đôi khi chỉ mường tượng lờ mờ về những thứ đang nằm trong đó. Thế nhưng, tôi biết chắc chắn rằng có một điều gì đó liên quan trực tiếp đến vụ án này. Nó vẫn còn đôi chút mơ hồ, nhưng ít nhất tôi đã biết cách để làm cho nó sáng tỏ. Thật kinh khủng, thật khó tin, nhưng đó vẫn luôn là một khả năng hiện hữu. Tôi nhất định phải kiểm chứng nó một cách tường tận. Có một căn gác xép khá lớn trong ngôi nhà nhỏ của tôi, nơi chứa đầy ắp những sách là sách. Tôi lao nhanh vào đó và lùng sục tung tóe suốt cả tiếng đồng hồ. Cuối cùng, tôi bước ra với một cuốn sách nhỏ bọc bìa màu sô-cô-la và bạc trên tay. Tôi háo hức lật giở từng trang, cố tìm cho bằng được cái chương sách mà mình chỉ còn giữ lại một ký ức nhạt nhòa. Đúng vậy, quả thực đó là một giả thuyết cực kỳ xa vời và khó có khả năng xảy ra, thế nhưng tôi sẽ chẳng thể nào ăn ngon ngủ yên cho tới khi tự mình xác minh xem nó có thực sự là vậy hay không. Đêm hôm đó, tôi đi ngủ khi trời đã rất khuya, với một tâm trí sục sôi háo hức, mong chờ đến những công việc phải làm vào sáng ngày hôm sau.

Nhưng công việc ấy lại bị gián đoạn một cách khó chịu. Tôi vừa uống xong tách trà buổi sáng và đang định khởi hành ra bãi biển thì nhận được cuộc ghé thăm từ Thanh tra Bardle thuộc Sở Cảnh sát hạt Sussex - một người đàn ông điềm đạm, vững vàng, mang dáng vẻ chậm rãi cùng đôi mắt trầm ngâm, lúc này đang nhìn tôi với vẻ mặt hết sức bối rối.

"Tôi biết ngài là người dày dặn kinh nghiệm, anh Holmes," thanh tra lên tiếng. "Dĩ nhiên, chuyện này hoàn toàn không chính thức, và cũng không cần phải nhắc lại với ai. Nhưng tôi đang gặp bế tắc trong vụ McPherson này. Câu hỏi đặt ra là, tôi có nên tiến hành bắt giữ hay không?"

"Ý thanh tra là Ian Murdoch?"

"Vâng, thưa ngài. Quả thực chẳng còn ai khác khi ngài suy xét kỹ lưỡng mọi chuyện. Đó chính là cái lợi - và cũng là cái hại - của chốn hẻo lánh này. Chúng ta bị thu hẹp trong một phạm vi rất nhỏ. Nếu không phải anh ta làm, thì còn ai vào đây nữa?"

"Thanh tra có bằng chứng gì chống lại anh ta?"

Thanh tra cũng đã thu thập được những manh mối tương tự như tôi. Đó là tính khí của Murdoch cùng vẻ bí ẩn dường như bao bọc lấy con người này. Những cơn thịnh nộ dữ dội của anh ta, như đã thể hiện qua vụ việc với con chó. Việc anh ta từng cãi vã với McPherson trước đây, và có lý do để ngờ rằng anh ta có thể đã ôm mối oán hận vì sự chú ý McPherson dành cho cô Bellamy. Thanh tra nắm trong tay tất cả những điểm mà tôi cũng có, nhưng chẳng có gì mới mẻ, ngoại trừ việc Murdoch dường như đang thu xếp mọi thứ để rời đi.

"Vị trí của tôi sẽ ra sao nếu tôi để anh ta vuột mất với ngần này bằng chứng chống lại anh ta?" Người đàn ông to con, điềm tĩnh ấy đang vô cùng rối trí trong lòng.

"Thanh tra hãy cân nhắc," tôi nói, "tất cả những lỗ hổng chí mạng trong vụ án của anh. Vào buổi sáng xảy ra án mạng, anh ta rõ ràng có bằng chứng ngoại phạm. Anh ta đã ở cùng học trò cho đến tận phút cuối cùng, và chỉ trong vài phút sau khi McPherson xuất hiện, anh ta đã đến chỗ chúng tôi từ phía sau. Rồi sau đó, hãy nhớ đến sự bất khả thi tuyệt đối rằng anh ta có thể một tay gây ra sự tàn bạo này đối với một người có thể lực ngang ngửa mình. Cuối cùng, còn có câu hỏi về hung khí đã tạo ra những vết thương này."

"Thứ đó có thể là gì ngoài một loại roi dây thép hay roi mềm nào đó?"

"Thanh tra đã xem xét kỹ các vết hằn chưa?" tôi hỏi.

"Tôi đã xem rồi. Vị bác sĩ cũng vậy."

"Nhưng tôi đã kiểm tra chúng rất kỹ lưỡng bằng kính lúp. Chúng có những đặc điểm rất riêng biệt."

"Đó là gì vậy, thưa anh Holmes?"

Tôi bước đến bàn làm việc và lấy ra một bức ảnh phóng to. "Đây là phương pháp của tôi trong những vụ án như thế này," tôi giải thích.

"Ngài làm việc thật là cẩn thận, anh Holmes."

"Tôi đã không còn là chính mình nếu tôi không làm vậy. Giờ chúng ta hãy xem xét vết hằn kéo dài ngang vai phải này. Thanh tra không thấy có điểm gì đáng chú ý sao?"

"Tôi không thể nói là có."

"Rõ ràng là cường độ của nó không đồng đều. Có một điểm tụ máu ở chỗ này, và một điểm nữa ở chỗ kia. Những dấu hiệu tương tự cũng xuất hiện ở vết hằn phía dưới này. Điều đó có nghĩa là gì?"

"Tôi chẳng có manh mối nào. Còn ngài thì sao?"

"Có thể tôi có. Cũng có thể không. Tôi hy vọng có thể nói thêm được sớm thôi. Bất cứ điều gì giúp xác định được thứ gây ra vết thương đó sẽ đưa chúng ta tiến một bước dài đến chỗ hung thủ."

"Tất nhiên đây chỉ là một ý tưởng ngớ ngẩn," viên cảnh sát nói, "nhưng nếu một tấm lưới dây thép nung đỏ được quấn ngang lưng, thì những điểm in dấu rõ ràng hơn này sẽ tương ứng với những chỗ các mắt lưới giao nhau."

"Một sự so sánh rất thông minh. Hoặc chúng ta có thể nói đó là một chiếc roi chín đuôi rất cứng với những nút thắt nhỏ và rắn trên đó?"

"Trời đất, anh Holmes, tôi nghĩ ngài đã đoán trúng rồi."

"Hoặc cũng có thể có một nguyên nhân rất khác, thanh tra Bardle. Nhưng vụ án của anh còn quá yếu để tiến hành bắt giữ. Hơn nữa, chúng ta còn có những lời cuối cùng ấy - 'Bờm Sư Tử'."

"Tôi đã tự hỏi liệu Ian --"

"Vâng, tôi cũng đã cân nhắc điều đó. Nếu từ thứ hai có bất kỳ sự tương đồng nào với chữ Murdoch - nhưng không phải vậy. Anh ấy gần như đã hét lên. Tôi chắc chắn rằng đó là chữ 'Bờm'."

"Ngài không có giả thuyết nào khác sao, anh Holmes?"

"Có thể tôi có. Nhưng tôi không muốn bàn luận về nó cho đến khi có một điều gì đó vững chắc hơn để bàn."

"Và khi nào thì sẽ có chuyện đó?"

"Trong vòng một giờ nữa - có thể ít hơn."

Thanh tra xoa cằm và nhìn tôi bằng đôi mắt đầy hoài nghi.

"Tôi ước gì mình có thể nhìn thấu những gì đang diễn ra trong đầu ngài, anh Holmes. Có lẽ đó là những chiếc thuyền đánh cá."

"Không, không; chúng ở quá xa."

"Vậy thì, có phải là Bellamy và cậu con trai to xác của ông ta chăng? Họ chẳng ưa gì anh McPherson. Liệu họ có thể đã hãm hại anh ta không?"

"Không, không; thanh tra sẽ không moi được thông tin gì từ tôi cho đến khi tôi sẵn sàng đâu," tôi nói với một nụ cười. "Giờ thì, thưa Thanh tra, mỗi người chúng ta đều có việc riêng phải làm. Có lẽ nếu thanh tra gặp lại tôi ở đây vào buổi trưa --?"

Chúng tôi còn chưa dứt lời thì một sự gián đoạn kinh hoàng ập đến, và đó chính là khởi đầu của hồi kết. Cánh cửa ngoài của tôi bị đẩy bật tung, những tiếng bước chân loạng choạng vang lên ngoài hành lang, và Ian Murdoch lảo đảo bước vào phòng. Mặt anh ta nhợt nhạt, quần áo xộc xệch, tả tơi, đôi bàn tay xương xẩu bấu víu vào đồ đạc để giữ thăng bằng. "Rượu mạnh! Rượu mạnh!" anh ta thở hổn hển, rồi rên rỉ gục xuống ghế sô-pha.

Anh ta không đi một mình. Theo sau là Stackhurst, đầu trần, thở dốc, vẻ mặt cũng hoảng hốt gần như người bạn đồng hành của mình.

"Đúng rồi, đúng rồi, rượu mạnh!" anh ấy kêu lên. "Anh ấy đang thở những hơi cuối cùng. Tôi đã phải làm mọi cách mới đưa được anh ấy đến đây. Anh ấy ngất xỉu hai lần trên đường đi rồi."

Nửa cốc rượu mạnh nguyên chất đã tạo nên một sự thay đổi kỳ diệu. Anh ta gượng dậy bằng một tay và hất chiếc áo khoác khỏi vai. "Vì Chúa! Dầu xoa, thuốc phiện, morphine!" anh ta kêu lên. "Bất cứ thứ gì có thể xoa dịu cơn đau địa ngục này!"

Thanh tra và tôi cùng thốt lên kinh hoàng trước cảnh tượng ấy. Ở đó, đan chéo trên bờ vai trần của người đàn ông, là những vệt màu đỏ tấy lên, uốn lượn theo một hình mạng lưới kỳ quái, giống hệt những dấu vết tử thần trên thi thể Fitzroy McPherson.

Cơn đau rõ ràng là khủng khiếp và không chỉ dừng lại ở bên ngoài, vì nhịp thở của người bệnh thỉnh thoảng lại ngừng hẳn, khuôn mặt anh ta tái xanh, rồi với những tiếng thở dốc lớn, anh ta ôm chặt lấy ngực trái, trong khi trán túa ra những giọt mồ hôi. Bất cứ lúc nào anh ta cũng có thể chết. Rượu mạnh tiếp tục được rót xuống cổ họng anh ta, mỗi ngụm mới lại kéo anh ta trở về từ cõi chết. Những miếng bông tẩm dầu xoa bóp dường như làm dịu bớt cơn đau từ những vết thương kỳ dị kia. Cuối cùng, đầu anh ta gục nặng xuống chiếc gối. Cơ thể kiệt quệ đã tìm được nơi nương tựa trong kho tàng sinh lực cuối cùng của nó. Đó là một trạng thái nửa mê nửa tỉnh, nhưng ít ra cũng xoa dịu được phần nào cơn đau.

Hỏi han anh ta lúc này là điều bất khả, nhưng ngay khi chúng tôi yên tâm phần nào về tình trạng của anh ta, Stackhurst quay sang tôi.

"Chúa ơi!" anh ấy kêu lên, "chuyện gì đang xảy ra vậy, Holmes? Chuyện gì thế này?"

"Anh tìm thấy anh ấy ở đâu?"

"Dưới bãi biển. Chính xác là nơi McPherson tội nghiệp gặp nạn. Nếu tim của người đàn ông này mà yếu như tim McPherson, thì giờ này anh ấy đã không còn ở đây nữa rồi. Đã hơn một lần tôi tưởng anh ấy không qua khỏi lúc đưa anh ấy lên đây. Quãng đường đến The Gables xa quá, nên tôi đã chạy thẳng đến chỗ anh."

"Anh có thấy anh ấy ở trên bãi biển không?"

"Tôi đang đi trên vách đá thì nghe thấy tiếng kêu của anh ấy. Anh ấy đang ở sát mép nước, lảo đảo như người say. Tôi chạy xuống, quấn vội vài thứ quần áo cho anh ấy, rồi đưa anh ấy lên. Vì tình yêu Chúa, Holmes, hãy dùng tất cả khả năng của anh và đừng tiếc công sức mà nhấc bỏ lời nguyền khỏi nơi này đi, vì cuộc sống ở đây đang trở nên không thể chịu đựng nổi. Anh, với danh tiếng lừng lẫy khắp thế giới, lẽ nào không thể làm gì cho chúng tôi sao?"

"Tôi nghĩ tôi có thể, Stackhurst. Đi theo tôi ngay bây giờ! Và cả thanh tra nữa, đi cùng tôi! Chúng ta sẽ xem liệu chúng ta có thể trao tên sát nhân này vào tay thanh tra hay không."

Để người đàn ông bất tỉnh lại cho bà quản gia chăm nom, cả ba chúng tôi tiến xuống đầm nước chết chóc. Trên bãi sỏi, một đống nhỏ khăn tắm và quần áo - di vật của kẻ xấu số - vẫn còn nằm đó. Tôi chầm chậm đi vòng quanh mép nước, hai người bạn đồng hành nối gót phía sau thành hàng một. Phần lớn mặt hồ khá nông, nhưng ngay dưới chân vách đá, nơi bờ biển bị khoét sâu vào, mực nước lên tới bốn đến năm feet. Đây chính là chỗ mà bất kỳ ai đi bơi cũng sẽ tự nhiên hướng tới, bởi nó tạo thành một vũng nước xanh thẳm, trong vắt tựa pha lê. Một doi đá nhô ra ngay phía trên mặt nước ấy, nép mình dưới chân vách đá. Tôi dẫn đầu, bước dọc theo doi đá, dán chặt ánh mắt xuống vùng nước sâu bên dưới với tất cả sự hồi hộp. Và rồi, khi vừa đến nơi sâu nhất, tĩnh lặng nhất của hồ nước, đôi mắt tôi đã bắt gặp đúng thứ chúng đang ráo riết tìm kiếm. Tôi buột miệng hét lên một tiếng đầy đắc thắng.

"Cyanea!" tôi reo lên. "Cyanea! Kìa, hãy nhìn Chiếc Bờm Sư Tử xem!"

Sinh vật kỳ dị mà tôi chỉ tay về phía ấy nom thực sự giống như một mớ bờm rối bù bị giật tung ra khỏi đầu một con sư tử. Nó trôi lơ lửng trên một thềm đá, cách mặt nước chừng ba feet - một thực thể đầy lông lá, ngọ nguậy và dập dềnh một cách quái đản, điểm những vệt bạc lấp lánh xen giữa từng chùm lông màu vàng. Nó co bóp đều đặn theo một nhịp phồng xẹp chậm chạp và nặng nề.

"Nó đã gây ra đủ tai họa rồi. Ngày tàn của nó đã đến!" tôi kêu lên. "Giúp tôi với, Stackhurst! Hãy kết liễu kẻ sát nhân này mãi mãi."

Ngay bên trên rìa đá có một tảng đá lớn. Chúng tôi hợp sức đẩy nó, cho đến khi nó rơi đánh rầm xuống mặt nước. Khi những gợn sóng lặng dần, chúng tôi thấy tảng đá đã nằm gọn ngay trên rìa đá bên dưới. Một viền màng vàng phập phồng nhô ra từ dưới tảng đá, báo hiệu nạn nhân của chúng tôi đã nằm gọn ở đó. Một lớp váng dầu đặc sệt rỉ ra từ bên dưới, nhuộm màu cả vùng nước xung quanh, rồi chầm chậm trồi lên mặt nước.

"Chà, thật đáng kinh ngạc!" Thanh tra thốt lên. "Nó là thứ gì vậy, thưa anh Holmes? Tôi sinh ra và lớn lên ở ngay vùng này, vậy mà chưa từng thấy thứ gì giống như thế. Nó không thuộc về Sussex."

"Cũng may cho Sussex đấy," tôi nhận xét. "Có lẽ cơn bão tây nam đã cuốn nó trôi dạt đến đây. Nào, hai anh hãy quay trở lại nhà tôi, tôi sẽ kể cho các anh nghe trải nghiệm kinh hoàng của một con người có lý do chính đáng để khắc cốt ghi tâm cuộc chạm trán của chính mình với hiểm họa biển cả này."

Khi chúng tôi trở về phòng làm việc, Murdoch đã hồi phục đủ để ngồi dậy được. Tâm trí anh vẫn còn bàng hoàng, và thỉnh thoảng cả người anh lại co giật lên vì một cơn đau nhói buốt. Bằng những lời nói đứt quãng, anh giải thích rằng anh hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra với mình, ngoại trừ việc những cơn đau khủng khiếp đột ngột chạy dọc khắp cơ thể, và anh đã phải vắt kiệt chút nghị lực cuối cùng mới lết được lên bờ.

"Đây là một cuốn sách," tôi nói, nhấc cuốn sách nhỏ lên, "đã lần đầu tiên rọi ánh sáng vào những điều tưởng chừng sẽ mãi mãi chìm trong bóng tối. Đó là cuốn Ngoài Trời, của nhà quan sát tự nhiên lừng danh J. G. Wood4. Chính bản thân Wood cũng suýt mất mạng sau khi chạm trán sinh vật ghê tởm này, thế nên ông viết về nó với một sự am tường sâu sắc. Cyanea Capillata là tên gọi đầy đủ của kẻ thủ ác, và nó có khả năng gây chết người, cũng như gây đau đớn hơn vết cắn của rắn hổ mang rất nhiều. Để tôi đọc tóm tắt đoạn trích này.

"'Nếu người đi bơi trông thấy một khối lùng nhùng gồm những màng và sợi màu hung vàng, trông tựa như những lọn bờm sư tử khổng lồ quyện cùng giấy bạc, thì hãy coi chừng, bởi đó chính là kẻ mang vòi đốt đáng sợ, Cyanea Capillata.' Liệu kẻ thủ ác quen mặt của chúng ta có thể được mô tả rõ ràng hơn thế được nữa chăng?

"Ông tiếp tục thuật lại cuộc chạm trán của chính mình với một con khi đang bơi ngoài khơi bờ biển Kent. Ông nhận thấy sinh vật này tỏa ra những sợi tơ gần như vô hình, vươn xa tới năm mươi feet, và bất kỳ ai lọt vào bán kính ấy tính từ tâm điểm chết chóc đều lâm vào hiểm nguy đến tính mạng. Ngay cả ở một khoảng cách đáng kể, tác động lên Wood cũng đã suýt gây tử vong. 'Vô số sợi tơ để lại những đường vằn đỏ nhạt trên da, và khi quan sát kỹ hơn, chúng hiện ra thành những đốm hay mụn mủ li ti, mỗi đốm dường như chứa một mũi kim nung đỏ đang luồn lách xuyên qua các dây thần kinh.'

"Nỗi đau cục bộ, như ông giải thích, mới chỉ là phần nhẹ nhàng nhất của sự hành hạ tột cùng ấy. 'Những cơn đau nhói xuyên qua lồng ngực, khiến tôi ngã quỵ như thể bị trúng đạn. Nhịp tim dường như ngừng hẳn, rồi lại đập dồn dập sáu bảy nhịp liền như muốn vỡ tung lồng ngực.'

"Nó suýt giết chết ông, dù rằng ông chỉ phơi nhiễm với sinh vật ấy trong vùng biển động, chứ không phải trong vùng nước tù đọng chật hẹp của một hồ bơi. Ông kể rằng sau đó ông gần như không thể nhận ra chính mình - khuôn mặt trắng bệch, nhăn nheo và hốc hác đến teo tóp. Ông nốc cạn một ngụm rượu mạnh, nguyên cả một chai đầy, và dường như chính điều ấy đã cứu mạng ông. Cuốn sách đây, thưa Thanh tra. Tôi trao nó cho thanh tra, và thanh tra khó lòng mà nghi ngờ rằng nó chứa đựng lời giải thích trọn vẹn cho thảm kịch của McPherson tội nghiệp."

"Và tình cờ cũng minh oan cho tôi," Ian Murdoch nhận xét, nở một nụ cười gượng gạo. "Tôi không trách thanh tra, thưa Thanh tra, cũng không trách ngài, anh Holmes, bởi sự nghi ngờ của các ngài là điều hoàn toàn tự nhiên. Tôi có cảm giác rằng vào ngay đêm trước cái ngày tôi bị bắt, cách duy nhất để tự minh oan cho mình chính là chia sẻ số phận của người bạn tội nghiệp của tôi."

"Không, anh Murdoch. Tôi đã đi đúng hướng rồi. Và nếu tôi ra ngoài sớm như dự định, hẳn tôi đã có thể cứu anh khỏi trải nghiệm khủng khiếp này."

"Nhưng làm sao ngài biết được, thưa anh Holmes?"

"Tôi là một kẻ ham đọc sách, sở hữu một trí nhớ đáng kinh ngạc về những điều vụn vặt. Cụm từ 'Bờm Sư Tử' cứ ám ảnh tâm trí tôi mãi. Tôi biết mình đã từng bắt gặp nó ở đâu đó, trong một bối cảnh hết sức bất ngờ. Các anh vừa thấy nó mô tả sinh vật kia đấy. Tôi không chút nghi ngờ rằng nó đang nổi trên mặt nước vào lúc McPherson trông thấy, và cụm từ ấy là cách duy nhất anh có thể dùng để truyền đạt cho chúng ta một lời cảnh báo về sinh vật đã cướp đi mạng sống của anh."

"Vậy thì, ít nhất tôi cũng đã được minh oan," Murdoch nói, chậm rãi đứng dậy. "Có một vài điều tôi nên giải thích, bởi tôi biết hướng điều tra của ngài. Quả thực tôi đã yêu cô gái ấy, nhưng kể từ ngày cô ấy chọn bạn tôi McPherson, mong ước duy nhất của tôi là được thấy cô ấy hạnh phúc. Tôi hoàn toàn mãn nguyện khi lùi sang một bên và đóng vai trò người trung gian cho họ. Tôi thường chuyển thư từ qua lại giữa hai người, và chính vì được họ tin tưởng, cùng với mối thân tình sâu sắc cô ấy dành cho tôi, mà tôi đã vội vã báo tin bạn tôi qua đời cho cô ấy, kẻo có ai đó nhanh chân hơn tôi mà loan tin một cách đột ngột và nhẫn tâm. Cô ấy không muốn nói cho các ngài biết về mối quan hệ của chúng tôi, thưa ngài, vì e rằng ngài sẽ không tán thành và tôi có thể gặp rắc rối. Nhưng xin phép ngài, tôi phải cố lết về The Gables thôi - giường của tôi lúc này sẽ là nơi tuyệt vời nhất trần đời."

Stackhurst chìa tay ra. "Thần kinh của chúng ta đều đang căng như dây đàn," anh nói. "Hãy tha thứ cho những gì đã qua, Murdoch. Chúng ta sẽ hiểu nhau hơn trong tương lai." Họ khoác tay nhau bước ra ngoài, vẻ mặt thân thiện. Thanh tra vẫn nán lại, chằm chằm nhìn tôi trong im lặng với đôi mắt mở to như mắt bò.

"Chà, ngài đã làm được rồi!" cuối cùng anh ta thốt lên. "Tôi từng đọc về ngài, nhưng tôi chưa bao giờ tin. Thật là tuyệt vời!"

Tôi buộc phải lắc đầu. Nhận lời khen ngợi như thế đồng nghĩa với việc hạ thấp tiêu chuẩn của chính mình.

"Lúc đầu tôi đã chậm chạp - chậm chạp một cách đáng trách. Nếu phát hiện ra thi thể dưới nước thì tôi khó lòng mà bỏ sót được nó. Chính chiếc khăn tắm đã đánh lừa tôi. Chàng trai tội nghiệp ấy chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lau khô người, và vì thế tôi đã tin rằng anh chưa từng xuống nước. Vậy thì, tại sao tôi lại nghĩ đến chuyện bị tấn công bởi một sinh vật dưới nước cơ chứ? Đó chính là chỗ tôi đã đi chệch hướng. Chà chà, thưa Thanh tra, tôi thường cả gan trêu đùa các ngài cảnh sát, nhưng lần này Cyanea Capillata đã gần như báo thù cho Scotland Yard rồi."



  1. Tên gọi rút gọn của South Downs, một dải đồi đá phấn trải dài dọc bờ biển phía nam nước Anh, chủ yếu thuộc hạt Sussex. Nơi đây nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và những vách đá trắng dựng đứng đổ xuống eo biển Manche. 

  2. Một thương hiệu thời trang cao cấp của Anh được thành lập vào năm 1856. Ở thời điểm câu chuyện diễn ra (đầu thế kỷ 20), áo khoác chống thấm nước của Burberry rất được tầng lớp trung lưu và thượng lưu Anh ưa chuộng khi tham gia các hoạt động ngoài trời. 

  3. Thủ phủ của hạt East Sussex, Anh. Trong bối cảnh này, nhân vật nhắc đến Lewes với ngụ ý đây là nơi đặt trụ sở chính của sở cảnh sát hạt, cơ quan cấp trên của viên cảnh sát địa phương. 

  4. John George Wood (1827-1889), một mục sư người Anh đồng thời là nhà văn phổ biến khoa học tự nhiên rất nổi tiếng ở thời đại Victoria. Những cuốn sách của ông đã góp phần lan tỏa niềm đam mê khám phá thế giới tự nhiên tới công chúng.