V. VỤ ÁN MA CÀ RỒNG XỨ SUSSEX

Holmes cẩn thận săm soi bức thư do chuyến bưu tá cuối ngày vừa mang tới. Đoạn, bật ra một tiếng cười khùng khục khô khốc - cái âm thanh hiếm hoi bộc lộ sự thích thú của anh - rồi quăng tờ giấy sang cho tôi.

"Nếu bảo có sự giao thoa nào mỉa mai giữa thời hiện đại và thời trung cổ, giữa những thực tế trần trụi và những ảo tưởng hoang đường ngông cuồng nhất, thì tôi dám chắc đây là giới hạn tận cùng rồi," anh nói. "Anh nghĩ sao về chuyện này hả, Watson?"

Tôi cất giọng đọc:

Số 46, phố OLD JEWRY1, Ngày 19 tháng 11.

V/v: Ma cà rồng.

THƯA NGÀI,-

Khách hàng của chúng tôi, ngài Robert Ferguson, thuộc công ty môi giới trà Ferguson và Muirhead tọa lạc tại Mincing Lane2, vừa gửi một bức thư cùng ngày để dọ hỏi chút thông tin về ma cà rồng. Vì công ty chúng tôi vốn chỉ chuyên giám định máy móc, nên vấn đề kỳ bí này hoàn toàn nằm ngoài năng lực chuyên môn. Do đó, chúng tôi mạn phép khuyên ngài Ferguson trực tiếp tìm đến ngài để tỏ bày nội tình sự việc. Chúng tôi vẫn luôn khắc ghi phương thức xử lý tài tình của ngài trong vụ án Matilda Briggs thuở nào.

Kính thư,
MORRISON, MORRISON, VÀ DODD.
đại diện E. J. C.

"Matilda Briggs chẳng phải tên của một kiều nữ nào đâu, Watson ạ," Holmes thả giọng hoài niệm. "Đó là một con tàu chở đầy tai ương, gắn liền với huyền thoại về con chuột khổng lồ ở xứ Sumatra, một câu chuyện mà thế giới này hãy còn quá non nớt để gánh gồng nổi. Thế nhưng chúng ta thì biết cái quái gì về ma cà rồng cơ chứ? Liệu nó có nằm trong luồng tri thức hữu hạn của chúng ta không đây? Dẫu sao thà lao vào việc còn hơn là ngồi ỳ ra đấy, nhưng quả thực, chúng ta dường như vừa bị ném tuột vào một câu chuyện cổ tích rùng rợn của anh em nhà Grimm3. Với tay lấy giùm tôi cuốn từ điển, Watson, xem mục vần V có chút manh mối nào chăng."

Tôi ngả người ra sau, nhấc cuốn từ điển bách khoa đồ sộ mà anh vừa nhắc tới. Holmes kê nó lên gối, để ánh mắt lướt đi chậm rãi và đong đầy vẻ trìu mến qua hồ sơ của những vụ án cũ kỹ, đan xen cùng kho tàng kiến thức anh đã cất công tích lũy cả một đời.

"Chuyến đi của con tàu Gloria Scott," anh cất giọng đọc. "Chao ôi, một vụ án tồi tệ. Tôi lờ mờ nhớ ra anh đã tỉ mẩn ghi chép lại vụ đó, Watson, dù tôi thật khó mà cất lời ngợi khen anh về kết quả cuối cùng. Victor Lynch, gã thợ làm giả giấy tờ chuyên nghiệp. Thằn lằn độc, hay còn gọi là gila. Thật là một vụ án đáng để tâm! Vittoria, kiều nữ rạp xiếc. Vanderbilt và gã Yeggman. Rắn lục (Vipers). Vigor, kỳ tích của vùng Hammersmith. Ái chà chà! Một cuốn bách khoa toàn thư cũ kỹ tuyệt diệu. Chẳng có tài liệu nào sánh kịp nó. Lắng tai nghe đây, Watson. Chứng cuồng tín ma cà rồng ở Hungary. Và lại thêm mục, Ma cà rồng ở vùng Transylvania4." Anh háo hức lật qua vài trang giấy ố vàng, nhưng chỉ sau một hồi chăm chú dán mắt vào những dòng chữ, anh đã quăng cuốn sách dày cộp xuống đi kèm một tiếng càu nhàu đầy vẻ chán chường.

"Rác rưởi, Watson ạ, toàn là rác rưởi! Chúng ta thì có dây dưa gì tới những cái xác biết đi, những thứ vốn dĩ chỉ bị kìm hãm dưới nấm mồ bằng mấy cái cọc gỗ đóng xuyên qua ngực trái cơ chứ? Thật là một sự điên rồ thuần túy."

"Nhưng thưa anh," tôi e dè lên tiếng, "chắc hẳn ma cà rồng không nhất thiết phải là một người đã chết? Một kẻ đang sống sờ sờ cũng có thể nuôi dưỡng thói quen rùng rợn đó chứ. Chẳng hạn, tôi từng đọc ở đâu đó về những kẻ già nua tìm cách hút máu người trẻ để duy trì sự thanh xuân."

"Anh nói có lý, Watson. Truyền thuyết quả thực có đề cập đến điều đó trong vài trang tài liệu này. Nhưng liệu chúng ta có đáng phải bận tâm một cách nghiêm túc cho những thứ ma mị như vậy chăng? Văn phòng của chúng ta từ trước tới nay vẫn luôn đứng vững trên mặt đất, và nó phải tiếp tục bám lấy hiện thực như thế. Thế giới trần tục này đã quá đủ rộng lớn cho chúng ta vùng vẫy rồi. Không cần phải viện đến cả lũ ma quỷ nữa. Tôi e rằng chúng ta không thể nào đáp ứng yêu cầu của ông Robert Ferguson với sự nghiêm túc tuyệt đối được. Có lẽ bức thư thứ hai này đích thị là của ông ấy, mong sao nó có thể soi rọi chút ánh sáng vào cái cõi u tối đang khiến ông ấy bận tâm."

Anh nhặt bức thư thứ hai lên - nó vẫn nằm im lìm trên mặt bàn suốt khoảng thời gian anh mải mê nghiền ngẫm bức thư đầu. Holmes bắt đầu đọc, trên môi thoạt tiên thoáng nở một nụ cười thích thú, nhưng rồi nụ cười ấy cứ nhạt dần đi, nhường chỗ cho một vẻ mặt tập trung và ngập tràn sự tò mò khôn tả. Đọc xong, anh cứ thế ngồi chìm sâu vào dòng suy tưởng một hồi lâu, để mặc tờ giấy buông thõng hờ hững giữa những ngón tay. Mãi một lúc sau, với một cú giật mình khe khẽ, anh mới sực tỉnh khỏi cơn mơ màng.

"Cheeseman's, vùng Lamberley. Cái xứ Lamberley đó nằm ở xó xỉnh nào thế, Watson?"

"Nó thuộc vùng Sussex5, nằm ở phía nam Horsham."

"Chẳng xa xôi gì cho cam, nhỉ? Thế còn địa danh Cheeseman's thì sao?"

"Tôi biết rõ vùng đó, anh Holmes. Nơi ấy nhan nhản những dinh thự cổ kính mang tên chính những người đã tự tay dựng lên chúng từ nhiều thế kỷ trước. Anh có thể dễ dàng bắt gặp những cái tên như nhà của Odley, nhà của Harvey hay nhà của Carriton - những con người bằng xương bằng thịt từ lâu đã chìm vào quên lãng, nhưng tên tuổi họ thì vẫn hóa thành sự vĩnh cửu trong từng vách đá của ngôi nhà."

"Chuẩn xác," Holmes đáp lời bằng một giọng lạnh nhạt. Đó vốn là một trong những thói quen kỳ quặc, phát sinh từ bản tính kiêu hãnh và khép kín của anh: dẫu cho có hấp thụ và phân loại bất cứ luồng thông tin mới mẻ nào vào não bộ một cách nhạy bén và chuẩn xác đến đâu, anh cũng rất hiếm khi chịu thừa nhận công lao của người đã cung cấp nó. "Tôi dám chắc chúng ta sẽ còn phải khám phá nhiều điều thú vị hơn về Cheeseman's, xứ Lamberley, trước khi vụ án này khép lại. Bức thư này đúng như dự đoán của tôi, được gửi từ Robert Ferguson. À nhân tiện, ông ta tự xưng là có thân tình với anh đấy."

"Quen biết tôi sao!"

"Tốt nhất anh hãy tự mình đọc đi."

Anh chìa bức thư sang. Phần mở đầu ghi rành rành cái địa chỉ mà chúng tôi vừa mới thảo luận.

KÍNH GỬI ÔNG HOLMES, (trong thư viết) - Tôi được các luật sư đại diện của mình nhiệt tình tiến cử đến gặp ông, nhưng quả thực đây là một vấn đề vô cùng nhạy cảm và khó lòng cất lời. Câu chuyện này xoay quanh một người bạn mà tôi đang thay mặt để giải quyết. Vị quý ông này đã kết hôn cách đây chừng năm năm với một quý cô người Peru. Nàng vốn là con gái của một thương nhân Peru mà ông đã có duyên gặp gỡ trong những ngày còn hoạt động trong ngành nhập khẩu nitrat6. Quý cô ấy đẹp sắc sảo, nhưng chính gốc gác ngoại lai và sự khác biệt rạch ròi về đức tin đã vô tình khoét sâu một hố ngăn cách trong sở thích lẫn tình cảm giữa hai vợ chồng. Để rồi, qua sự bào mòn của thời gian, ngọn lửa tình yêu của ông dành cho vợ có lẽ đã lụi tàn tự lúc nào, và ông bắt đầu cay đắng nhận ra cuộc hôn nhân của mình quả là một sai lầm tai hại. Ông luôn cảm thấy nơi vợ mình lẩn khuất những vùng tối tăm trong tâm hồn mà ông vĩnh viễn chẳng thể nào với tới hay thấu hiểu nổi. Đáng buồn thay, điều này càng gặm nhấm cõi lòng ông thêm gấp bội, bởi lẽ nàng là một người vợ si tình đến cuồng dại mà bất kỳ gã đàn ông nào trên thế gian này cũng phải thèm khát - chí ít, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, nàng đã tận tụy với chồng bằng một sự ngoan đạo tuyệt đối.

Và bây giờ, tôi xin phép được đi thẳng vào trọng tâm, điều mà tôi chắc chắn sẽ trình bày cặn kẽ hơn khi đôi bên giáp mặt. Thực chất, lá thư này chỉ đóng vai trò phác thảo cho ông một cái nhìn toàn cảnh về sự tình, đồng thời cũng để ướm hỏi xem ông liệu có sẵn lòng can dự vào vũng lầy này hay chăng. Số là, dạo gần đây quý cô nọ bắt đầu bộc phát những thói hư tật xấu vô cùng kỳ dị, trái ngược hoàn toàn với bản tính ngọt ngào, dịu dàng thường ngày của cô. Quý ông bạn tôi từng trải qua hai đời vợ, và có một cậu con trai riêng với người vợ đầu. Cậu bé năm nay trạc mười lăm tuổi, vốn là một thiếu niên kháu khỉnh và dạt dào tình cảm, chỉ hiềm nỗi đã mang tật nguyền sau một tai nạn thuở bé. Đã hai lần, người vợ sau bị bắt quả tang đang ra tay hành hung thằng bé tội nghiệp này một cách hoàn toàn vô cớ. Thậm chí có bận, cô ta còn thẳng tay vung gậy phang cậu, để lại một vết lằn bầm tím hằn sâu trên cánh tay gầy gò của nó.

Thế nhưng, bấy nhiêu đó hãy còn là quá nhẹ nhàng nếu đem so sánh với những gì cô ta trút lên đầu đứa con ruột của mình, một bé trai vô cùng đáng yêu hãy còn chưa thôi nôi. Cách đây chừng một tháng, đứa trẻ này tình cờ bị cô bảo mẫu bỏ lại một mình trong phòng vỏn vẹn vài phút. Chợt, một tiếng thét thất thanh vì đớn đau của đứa bé đã giật gọi người bảo mẫu vội vàng quay lại. Vừa xô cửa chạy vào phòng, cô bàng hoàng chứng kiến cảnh nữ chủ nhân đang cúi rạp người đè lên thân thể đứa trẻ nhỏ nhoi, và dường như... đang nghiến răng cắn vào cổ nó. Có một vết thương nhỏ rớm máu ngay trên cổ đứa bé, thứ chất lỏng đỏ sẫm ấy cứ thế rỉ ra. Quá đỗi kinh hoàng trước cảnh tượng ấy, người bảo mẫu định bụng hét lên gọi ông chủ, nhưng quý cô kia đã cuống cuồng van xin cô ta hãy nhắm mắt làm ngơ, thậm chí còn nhét vào tay cô ả năm bảng Anh7 để đổi lấy sự im lặng tuyệt đối. Chẳng hề có bất kỳ lời thanh minh nào được đưa ra sau đó, và vào khoảnh khắc ấy, sự việc rùng rợn đành tạm bị chôn vùi.

Tuy nhiên, bóng ma của sự kiện ấy đã để lại một vết hằn kinh hoàng không thể tẩy xóa trong tâm trí người bảo mẫu. Kể từ dạo đó, cô bắt đầu dán chặt ánh mắt theo dõi từng cử động của nữ chủ nhân, đồng thời dốc hết sức mình để bảo bọc đứa bé mà cô nhất mực thương yêu. Lạ kỳ thay, dường như trong lúc cô đang rình rập người mẹ, thì chính người mẹ ấy cũng đang âm thầm quan sát cô. Cứ mỗi bận cô buộc lòng phải để đứa trẻ lại một mình, người mẹ lại chờ chực sẵn ở đó, mon men tiếp cận sinh linh bé bỏng ấy. Ngày cũng như đêm, cô bảo mẫu dang tay che chở cho đứa trẻ, và ngày cũng như đêm, cái bóng câm lặng, dò xét của người mẹ dường như cứ rình rập xung quanh, tựa hồ một con sói đói đang thèm khát con cừu non tơ. Đọc đến đây, hẳn ông sẽ thấy những điều này nghe sao mà hoang đường quá đỗi. Thế nhưng, tôi khẩn khoản cầu xin ông hãy nhìn nhận sự việc này bằng tất cả sự nghiêm túc, bởi lẽ mạng sống mong manh của một đứa trẻ thơ và chút lý trí rách nát còn sót lại của một người đàn ông đang bị treo lơ lửng trên đó.

Và rồi, cái ngày tồi tệ nhất cuối cùng cũng ập đến, khi sự thật tàn nhẫn không thể nào tiếp tục giấu giếm người chồng được nữa. Thần kinh của cô bảo mẫu đã hoàn toàn suy sụp; cô không tài nào chống chọi thêm sức ép nặng nề bủa vây, để rồi tuôn ra bằng sạch mọi chuyện với ông chủ. Đối với ông bạn tôi lúc bấy giờ, tất thảy chỉ giống như một câu chuyện hoang đường đến lố bịch, y hệt như cảm giác của ông ngay lúc này vậy. Ông thừa biết vợ mình là một người vợ chung thủy, và nếu bỏ qua mấy bận ra tay hành hung thằng con riêng, thì cô cũng vốn là một người mẹ hiền từ. Cớ làm sao cô lại có thể nhẫn tâm làm hại đứa con ruột bé bỏng thân yêu do chính mình dứt ruột đẻ ra cơ chứ? Ông mắng người bảo mẫu rằng cô ta đang nằm mộng giữa ban ngày, rằng những sự nghi ngờ của cô chỉ là ảo giác của một kẻ điên dại, và rằng thói buông lời vu khống nữ chủ nhân hèn hạ như thế tuyệt nhiên sẽ không được dung thứ trong nhà này. Nhưng rồi, ngay trong lúc họ đang giằng co, một tiếng khóc ré lên xé lòng đột ngột vang vọng lại. Người bảo mẫu cùng ông chủ hốt hoảng lao thẳng vào căn phòng của đứa bé. Hãy thử hình dung xem cảm xúc của ông ấy lúc đó tồi tệ đến nhường nào, thưa ông Holmes, khi bắt gặp cảnh tượng vợ mình vội vã lùi lại từ tư thế quỳ rạp bên cạnh chiếc cũi, và đập vào mắt ông là những vệt máu loang lổ trên chiếc cổ trần của đứa trẻ cùng tấm khăn trải giường trắng muốt. Bật ra một tiếng nấc kinh hoàng, ông thô bạo quay ngoắt mặt vợ ra hướng có ánh sáng và trân trân nhìn thấy máu tươi vẫn còn vương vãi quanh miệng cô. Chính cô ta - không còn nghi ngờ gì nữa - đã uống máu của đứa con nhỏ tội nghiệp.

Đấy, toàn bộ sự việc là như vậy. Giờ đây cô ta đang bị giam lỏng trong chính căn phòng của mình. Vẫn chưa có một lời giải thích nào được thốt ra. Cú sốc ấy đã đẩy người chồng đến ranh giới của sự phát điên. Ông ấy biết, và tôi cũng biết, vô cùng ít ỏi về cái chứng gọi là Ma cà rồng ngoài một cái tên gọi sáo rỗng. Chúng tôi vẫn đinh ninh đó chẳng qua chỉ là những câu chuyện ma mị được thêu dệt ở tận những xứ sở xa xôi nào đó. Vậy mà, giờ đây, ngay giữa lòng hạt Sussex của nước Anh phồn hoa - ôi, tất thảy những điều này, tôi hy vọng có thể được cùng ông đàm đạo kỹ lưỡng hơn vào sáng mai. Ông sẽ gặp tôi chứ? Liệu ông có sẵn lòng sử dụng khối óc xuất chúng của mình để chìa tay cứu rớt một người đàn ông đang ngập ngụa trong bế tắc quẫn bách này không? Nếu câu trả lời là có, xin ông vui lòng đánh một bức điện tín cho Ferguson, địa chỉ Cheeseman's, vùng Lamberley, và tôi xin hứa sẽ có mặt tại căn phòng của ông trước khi chuông điểm mười giờ.

Kính thư,
ROBERT FERGUSON.

Tái bút. - Tôi đinh ninh rằng người bạn đáng quý của ông, Watson, đã từng tung hoành trên sân bóng bầu dục trong màu áo đội Blackheath8 vào cái thời tôi còn đang trấn giữ vị trí three-quarter9 cho đội Richmond. Đó là lời giới thiệu mang tính cá nhân duy nhất mà tôi có thể mạo muội đưa ra.

"Tất nhiên là tôi còn nhớ anh ta chứ," tôi lên tiếng sau khi đặt lá thư xuống bàn. "Bob Ferguson hộ pháp, cầu thủ three-quarter cừ khôi nhất mà đội bóng Richmond từng sản sinh ra. Anh ta lúc nào cũng là một gã hiền lành, tốt bụng. Thật đúng với bản tính hào hiệp của anh ta khi sẵn lòng đứng ra lo toan cho vụ án của một người bạn như thế này."

Holmes nhìn tôi đăm chiêu rồi khẽ lắc đầu.

"Tôi không bao giờ lường hết được những giới hạn của anh đâu, Watson ạ," anh nói. "Bên trong anh dường như luôn ẩn chứa những tiềm năng chưa bao giờ được khám phá tới. Hãy đánh ngay một bức điện tín đi, anh bạn tốt của tôi. 'Sẽ rất hân hạnh được trực tiếp kiểm tra vụ án của ông.'"

"Vụ án của ông ư!"

"Chúng ta đâu thể để anh ta giữ cái suy nghĩ rằng Văn phòng này là chốn dung thân cho những kẻ khờ khạo dễ bị qua mặt. Tất nhiên đó chính là vụ án của anh ta rồi. Hãy gửi bức điện đó đi và gác chuyện này sang một bên cho đến sáng mai."

Đúng mười giờ sáng hôm sau, Ferguson sải bước vào phòng chúng tôi. Trong ký ức của tôi, anh ta là một người đàn ông cao lớn, thân hình vạm vỡ với những cánh tay và đôi chân dài miên man cùng khả năng xoay trở tuyệt vời - thứ vũ khí từng giúp anh dễ dàng vượt qua biết bao hậu vệ đối phương. Trên đời này, hẳn không còn cảnh tượng nào đau lòng hơn việc gặp lại tàn tích của một vận động viên xuất chúng mà mình từng biết khi anh ta còn ở đỉnh cao phong độ. Bộ khung xương to lớn ngày nào giờ đây đã gầy rộc đi, mái tóc vàng nhạt trở nên lưa thưa, còn đôi vai thì rũ xuống như trĩu nặng. Tôi e rằng hình ảnh của tôi lúc này cũng gợi lên trong anh những cảm xúc tương tự.

"Chào anh, Watson," anh nói, giọng vẫn trầm và vang như xưa. "Trông anh chẳng còn giống cái gã mà tôi từng quẳng qua dây thừng vào giữa đám đông ở Công viên Old Deer nữa rồi. Tôi nghĩ mình cũng đã thay đổi đi ít nhiều. Nhưng chính mấy ngày vừa qua mới thực sự khiến tôi già đi. Qua bức điện của ông, thưa ông Holmes, tôi hiểu rằng mình không cần phải đóng vai người đại diện cho ai nữa."

"Làm việc trực tiếp với nhau thì mọi chuyện sẽ đơn giản hơn," Holmes đáp.

"Hiển nhiên rồi. Nhưng ông thử hình dung xem, khó khăn biết bao khi phải lên tiếng tố cáo chính người phụ nữ duy nhất mà mình có bổn phận che chở và bảo vệ. Tôi biết phải làm sao đây? Liệu tôi có thể đến trình báo cảnh sát với một câu chuyện như thế này không? Ấy vậy mà lũ trẻ thì cần được bảo vệ. Thưa ông Holmes, liệu đây có phải là chứng điên loạn không? Có phải nó đã ngấm sẵn trong dòng máu rồi chăng? Trong kinh nghiệm của mình, ông đã từng gặp trường hợp nào tương tự chưa? Vì Chúa, xin hãy cho tôi một lời khuyên, bởi tôi đã hoàn toàn bế tắc rồi."

"Cảm giác ấy là hết sức tự nhiên thôi, thưa ông Ferguson. Giờ xin ông hãy ngồi xuống, trấn tĩnh lại và cho tôi một vài câu trả lời rõ ràng. Tôi có thể cam đoan với ông rằng mình còn lâu mới chịu bó tay, và tôi tin chắc chúng ta sẽ tìm ra hướng giải quyết. Trước hết, xin ông cho biết những biện pháp ông đã thực hiện. Liệu vợ ông có còn được tiếp cận bọn trẻ không?"

"Chúng tôi đã có một cuộc cãi vã khủng khiếp. Cô ấy là một người phụ nữ yêu chồng sâu sắc, thưa ông Holmes ạ. Nếu trên đời này từng có một người phụ nữ nào yêu một người đàn ông bằng cả trái tim và tâm hồn mình, thì chính là cô ấy yêu tôi. Việc tôi phát hiện ra bí mật kinh hoàng, vượt quá sức tưởng tượng này hẳn đã như một nhát dao cứa thẳng vào tim cô ấy. Cô ấy thậm chí còn không buồn nói lấy một lời. Cô ấy chẳng hề đáp lại những lời trách móc của tôi, mà chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt điên dại, tràn ngập tuyệt vọng. Rồi sau đó, cô ấy lao thẳng về phòng mình và nhốt kín cửa. Kể từ lúc ấy, cô ấy nhất quyết không chịu gặp tôi. Cô ấy có một người hầu gái đã theo hầu từ trước khi chúng tôi thành hôn, tên là Dolores - nói đúng hơn là một người bạn hơn là một người hầu. Cô ta là người mang thức ăn cho vợ tôi."

"Vậy hiện tại đứa trẻ chưa gặp nguy hiểm gì cấp bách chứ?"

"Bà Mason, người bảo mẫu, đã thề rằng ngày cũng như đêm sẽ không rời mắt khỏi đứa bé. Tôi hoàn toàn có thể tin cậy vào bà ấy. Mối lo của tôi lúc này dồn cả vào bé Jack tội nghiệp, bởi như tôi đã kể trong thư, thằng bé đã hai lần bị cô ấy hành hung."

"Nhưng chưa lần nào thực sự bị thương chứ?"

"Không. Cô ấy đánh thằng bé hết sức tàn nhẫn. Thật khủng khiếp, khi mà thằng bé chỉ là một đứa trẻ tàn tật đáng thương, hoàn toàn vô hại." Những đường nét hốc hác trên gương mặt Ferguson bỗng dịu hẳn đi khi ông nhắc đến con trai mình. "Có lẽ ông sẽ nghĩ rằng tình cảnh của cậu bé đáng yêu ấy đủ để làm mềm lòng bất kỳ ai. Một cú ngã hồi nhỏ khiến cột sống bị vẹo, thưa ông Holmes. Thế nhưng ẩn sâu bên trong thân hình tật nguyền ấy là một trái tim nhân hậu và tràn đầy yêu thương hơn bất cứ ai."

Holmes cầm lá thư ngày hôm qua lên và đọc lại một lần nữa. "Ngoài những người đã kể, còn ai khác sống trong nhà ông không, thưa ông Ferguson?"

"Hai người hầu mới đến chưa được bao lâu. Một người trông coi chuồng ngựa tên là Michael, ngủ ngay trong nhà. Vợ tôi, tôi, con trai Jack của tôi, đứa bé, Dolores và bà Mason. Chỉ có bấy nhiêu thôi."

"Tôi hiểu rằng vào thời điểm hai người kết hôn, ông chưa thực sự hiểu rõ về vợ mình?"

"Lúc ấy tôi mới chỉ quen cô ấy được vài tuần."

"Còn cô hầu gái Dolores này đã theo vợ ông được bao lâu rồi?"

"Vài năm."

"Vậy thì tính cách vợ ông hẳn được Dolores thấu hiểu hơn cả chính ông?"

"Vâng, ông có thể nói như vậy."

Holmes ghi thêm vài dòng vào sổ tay.

"Tôi nghĩ," anh nói, "rằng mình sẽ giúp ích được nhiều hơn nếu có mặt tận nơi ở Lamberley, thay vì ngồi đây. Vụ việc này thực sự đòi hỏi một cuộc điều tra tại chỗ. Nếu quý phu nhân vẫn còn ở trong phòng riêng, thì sự hiện diện của chúng tôi sẽ chẳng làm phiền hay gây bất tiện gì cho cô ấy. Đương nhiên, chúng tôi sẽ trọ tại quán trọ trong làng."

Một nét nhẹ nhõm thoáng qua trên gương mặt Ferguson.

"Đó chính là điều tôi đã hy vọng, thưa ông Holmes. Có một chuyến tàu rất thuận tiện lúc hai giờ từ ga Victoria, nếu các ông có thể thu xếp đi được."

"Tất nhiên là chúng tôi có thể. Hiện tại công việc đang tạm lắng, tôi sẵn sàng dành toàn bộ tâm trí cho vụ của ông. Và Watson, dĩ nhiên, sẽ đồng hành cùng chúng ta. Nhưng còn một đôi điều tôi muốn xác định cho thật rõ ràng trước khi khởi hành. Vị phu nhân bất hạnh này, theo như những gì tôi nắm được, dường như đã ra tay với cả hai đứa trẻ - đứa con ruột của cô ấy và cậu con trai nhỏ của ông?"

"Đúng vậy."

"Nhưng các vụ tấn công lại mang những hình thức khác nhau, phải không? Cô ấy đã đánh con trai ông."

"Một lần bằng gậy, và một lần ra tay đánh đập rất thô bạo bằng tay không."

"Cô ấy có đưa ra lời giải thích nào về lý do mình đánh thằng bé không?"

"Không hề có gì cả, ngoại trừ việc cô ấy nói rằng mình ghét nó. Cô ấy cứ lặp đi lặp lại mãi câu đó."

"Chà, điều ấy thì cũng không phải là chưa từng xảy ra với những bà mẹ kế. Tạm thời ta cứ gán cho nó cái tên là sự ghen tuông muộn màng vậy. Quý phu nhân có bản tính hay ghen không?"

"Có chứ, cô ấy cực kỳ hay ghen - ghen tuông bằng tất cả sức mạnh dữ dội của một tình yêu cuồng nhiệt, nóng bỏng tựa như chính vùng nhiệt đới quê hương mình."

"Nhưng còn cậu bé - theo tôi được biết thì cậu bé đã mười lăm tuổi, và có lẽ trí tuệ phát triển rất tốt, bởi cơ thể cậu bị hạn chế vận động. Cậu bé có đưa ra lời giải thích nào cho những lần bị hành hung này không?"

"Không. Thằng bé khẳng định rằng chẳng có lý do gì hết."

"Vào những lúc bình thường, giữa họ có hòa thuận với nhau không?"

"Không. Giữa họ chưa bao giờ có chút yêu thương nào."

"Nhưng ông nói rằng thằng bé là một đứa trẻ rất giàu tình cảm cơ mà?"

"Trên đời này chẳng thể có một người con nào tận tụy hơn thế. Cuộc sống của tôi chính là cuộc sống của nó. Nó say mê từng lời tôi nói, từng việc tôi làm."

Một lần nữa, Holmes lại ghi chú. Anh ngồi lặng đi một hồi lâu, đắm chìm trong suy tư.

"Không còn nghi ngờ gì nữa, trước cuộc hôn nhân thứ hai này, ông và cậu bé từng là những người bạn vô cùng thân thiết. Hai người gắn bó với nhau rất khăng khít, có phải không?"

"Vô cùng khăng khít."

"Và cậu bé, với một bản tính vốn đầy ắp yêu thương, hẳn đã vô cùng tận tụy với ký ức về người mẹ quá cố của mình?"

"Tận tụy hết mực."

"Quả là một thiếu niên thú vị. Còn một điểm nữa liên quan đến những vụ hành hung này. Những cuộc tấn công kỳ lạ nhắm vào đứa bé và những lần đánh đập con trai ông - liệu chúng có xảy ra trong cùng một khoảng thời gian không?"

"Ở lần đầu tiên thì đúng là như vậy. Cứ như thể một cơn điên cuồng nào đó đã bất chợt chiếm lấy cô ấy, và cô ấy trút cơn thịnh nộ lên cả hai đứa. Còn ở lần thứ hai, chỉ mình Jack là kẻ phải hứng chịu. Bà Mason không có lời phàn nàn nào về đứa bé."

"Điều đó chắc chắn khiến vấn đề thêm phần phức tạp."

"Tôi chưa hoàn toàn theo kịp ý của ông, thưa ông Holmes."

"Có lẽ là vậy. Người ta thường dựng nên những giả thuyết tạm thời, rồi chờ đợi thời gian hoặc những hiểu biết đầy đủ hơn để đập tan chúng. Một thói quen chẳng mấy tốt đẹp, thưa ông Ferguson; nhưng bản tính con người vốn dĩ yếu đuối là thế. Tôi e rằng người bạn cũ của ông đây đã thổi phồng quá mức cái gọi là phương pháp khoa học của tôi mất rồi. Dẫu sao, trong giai đoạn hiện tại, điều duy nhất tôi có thể nói là vấn đề của ông đối với tôi dường như không phải là vô phương cứu chữa, và phiền ông hãy đón chúng tôi ở ga Victoria vào lúc hai giờ."

Đó là một buổi tối tháng Mười một xám xịt, sương mù giăng kín lối. Sau khi gửi lại hành lý tại quán trọ "Chequers" ở Lamberley, chúng tôi đánh xe ngựa vượt qua con đường mòn ngoằn ngoèo trải đầy đất sét vùng Sussex. Điểm đến cuối cùng là một trang trại cổ kính, nằm trơ trọi giữa vùng đồng không mông quạnh - chính là nơi Ferguson sinh sống. Tòa nhà hiện ra rộng lớn, với lối kiến trúc chắp vá: phần trung tâm nhuốm màu thời gian, cũ kỹ và rêu phong, trong khi hai bên cánh lại có vẻ mới mẻ hơn với những ống khói kiểu Tudor10 vươn cao, cùng phần mái dốc lợp đá phiến Horsham11 đã lốm đốm địa y. Những bậc thềm đá đã mòn vẹt vì bước chân người qua lại, lõm xuống thành những đường cong mềm mại. Vòm cổng tò vò được lát bằng gạch cổ, in rõ biểu tượng một người đàn ông và tảng phô mai, vốn là dấu ấn của người thợ xây đầu tiên. Bên trong, trần nhà oằn xuống dưới sức nặng của những xà ngang bằng gỗ sồi to bản, còn sàn nhà cũng võng xuống, tạo thành những hố lún rõ rệt. Cả tòa nhà đang chìm dần trong vẻ hoang tàn, phảng phất một mùi ẩm mốc, già cỗi và mục nát.

Ferguson dẫn chúng tôi bước vào gian phòng chính rộng thênh thang. Tại đây, ngọn lửa củi đang cháy rừng rực, nổ lách tách bên trong chiếc lò sưởi khổng lồ mang hơi hướm cổ xưa. Phía sau ngọn lửa, tấm bình phong bằng sắt được chạm khắc rõ ràng năm 1670.

Đưa mắt nhìn quanh, tôi nhận ra căn phòng này là một sự pha trộn kỳ lạ giữa các thời kỳ và nền văn hóa khác nhau. Dàn vách ốp gỗ dở dang kia rất có thể là tàn tích từ thời một gã điền chủ nào đó thuộc thế kỷ mười bảy. Thế nhưng, chạy dọc nửa dưới bức tường lại là những bức tranh màu nước hiện đại được tuyển chọn đầy tinh tế. Phía trên cao, nơi những tấm thạch cao màu vàng thay thế cho chất liệu gỗ sồi, người ta lại cất công treo một bộ sưu tập tuyệt mỹ gồm các món đồ dùng và vũ khí mang đậm phong cách Nam Mỹ. Chẳng cần phải suy đoán nhiều, chắc chắn chúng chính là của hồi môn do quý phu nhân người Peru mang đến. Bản tính tò mò cố hữu lại trỗi dậy, Holmes đứng phắt lên, cẩn thận tiến đến xem xét từng món đồ. Khi quay lại, trong đôi mắt anh đã ánh lên một vẻ suy tư sâu xa.

"Kìa!" anh buột miệng thốt lên. "Kìa!"

Trong chiếc rổ đặt ở góc phòng có một con chó tai cụp đang nằm co ro. Thấy chủ, nó cố trườn mình ra, chậm chạp và khó nhọc tiến lại gần. Hai chân sau của nó lết đi loạng choạng, chiếc đuôi rũ rượi lê quét trên mặt đất. Nó cố vươn cổ lên, liếm nhẹ vào tay Ferguson.

"Có chuyện gì thế, ông Holmes?"

"Con chó này. Nó bị làm sao vậy?"

"Đó cũng là điều làm bác sĩ thú y phải đau đầu. Một dạng tê liệt nào đó. Ông ấy ngờ rằng nó bị viêm màng não tủy. Nhưng dạo này tình trạng của nó đang dần cải thiện. Rồi mày sẽ sớm khỏe lại thôi-đúng không, Carlo?"

Nghe gọi tên, cái đuôi rũ rượi của nó khẽ rùng mình một cái như muốn đáp lời. Đôi mắt u buồn của con vật tội nghiệp lướt chậm qua từng người chúng tôi. Nó dư sức hiểu rằng mọi người đang bàn tán về căn bệnh của mình.

"Triệu chứng này xảy ra đột ngột lắm phải không?"

"Chỉ qua một đêm thôi."

"Cách đây bao lâu rồi?"

"Có lẽ khoảng chừng bốn tháng trước."

"Đáng chú ý thật. Một chi tiết rất đáng suy ngẫm."

"Ông nhận ra điều gì từ nó sao, thưa ông Holmes?"

"Nó vừa giúp tôi xác nhận lại những gì mình đang suy đoán."

"Lạy Chúa tôi, ông đang nghĩ đến chuyện gì vậy, ông Holmes? Với ông, đây có thể chỉ là một trò giải đố trí tuệ, nhưng với tôi, nó lại là vấn đề sống còn! Vợ tôi đang mang tâm địa của một kẻ sát nhân-con trai tôi thì luôn bị đặt trong vòng nguy hiểm! Xin đừng đùa giỡn với tôi nữa, ông Holmes. Mọi chuyện đã đi quá giới hạn rồi."

Gã cựu cầu thủ bóng bầu dục to cao vạm vỡ bỗng run lên bần bật. Thấy vậy, Holmes khẽ vươn tay vỗ nhẹ lên cánh tay ông đầy trấn an.

"Thưa ông Ferguson, tôi e rằng ông sẽ phải đối mặt với một nỗi đau vô bờ, dù cho sự thật có sáng tỏ theo chiều hướng nào đi chăng nữa," anh điềm tĩnh đáp. "Tôi sẽ cố gắng hết sức để hạn chế những tổn thương cho ông. Lúc này, tôi chưa thể nói thêm điều gì, nhưng tôi tin chắc mình sẽ tìm ra manh mối xác đáng trước khi rời khỏi ngôi nhà này."

"Cầu Chúa phù hộ cho ông thành công! Nếu các quý ông không phiền, tôi xin phép lên phòng để xem tình hình của vợ tôi có chuyển biến gì mới không."

Ferguson rời đi trong vài phút. Tranh thủ thời gian đó, Holmes lại tiếp tục say sưa ngắm nghía những món đồ kỳ lạ treo trên tường. Khi người chủ nhà quay lại, vẻ mặt ủ dột của ông đã nói lên tất cả: chẳng có chút tia hy vọng nào. Theo sau ông là một hầu gái cao gầy, mang làn da ngăm đen đặc trưng.

"Trà nước đã sẵn sàng rồi, Dolores," Ferguson lên tiếng. "Cô thử xem phu nhân có dặn dò gì thêm không."

"Phu nhân đang ốm nặng lắm," cô gái hét lên, phóng ánh mắt căm phẫn về phía ông chủ. "Phu nhân không thiết ăn uống gì cả. Bệnh tình của người đang rất tồi tệ. Phu nhân cần một bác sĩ. Tôi vô cùng sợ hãi khi phải túc trực một mình bên cạnh phu nhân mà không có ai can thiệp y tế."

Ferguson đưa mắt nhìn tôi, ánh lên một câu hỏi ngầm.

"Tôi rất sẵn lòng nếu có thể giúp ích được chút gì."

"Liệu phu nhân của cô có chịu để bác sĩ Watson thăm khám không?"

"Tôi sẽ đưa ông ấy lên ngay. Chẳng cần phải xin phép gì cả. Phu nhân đang rất cần một bác sĩ."

"Vậy tôi sẽ theo cô lên đó ngay lập tức."

Cô hầu gái vẫn chưa hết run rẩy vì xúc động. Tôi cất bước theo cô leo lên cầu thang, đi dọc theo một dãy hành lang nhuốm màu thời gian. Điểm tận cùng của hành lang là một cánh cửa gỗ đồ sộ, được nẹp sắt vô cùng kiên cố. Trông thấy nó, tôi mường tượng ra viễn cảnh Ferguson sẽ phải chật vật nhường nào nếu muốn phá cửa xông vào gặp vợ mình. Cô gái móc trong túi ra một chiếc chìa khóa. Những tấm ván gỗ sồi nặng trịch khẽ rên rỉ trên mấy chiếc bản lề cũ kỹ khi cánh cửa được mở ra. Tôi vừa bước vào phòng, cô ấy đã nhanh chóng lách vào theo rồi cẩn thận cài chặt chốt cửa lại.

Nằm gục trên giường là một người phụ nữ đang lên cơn sốt hầm hập. Ý thức của cô dường như đã mơ hồ phân nửa. Thế nhưng, ngay khi tôi vừa bước vào, cô liền ngước lên nhìn tôi chằm chằm bằng một đôi mắt tuy ẩn chứa nỗi kinh hoàng tột độ nhưng lại tuyệt đẹp vô ngần. Nhận ra người bước vào là một kẻ xa lạ, cô có vẻ thở phào nhẹ nhõm, buông mình rũ rượi xuống gối kèm theo một tiếng thở dài thườn thượt. Tôi tiến lại gần, khẽ thốt vài lời trấn an. Phu nhân nằm yên, ngoan ngoãn để tôi bắt mạch và đo nhiệt độ. Dù nhịp tim và thân nhiệt đều đang ở mức cao, nhưng bằng trực giác của một bác sĩ, tôi cho rằng tình trạng này giống như hệ quả của một cú sốc tinh thần hay sự kích động thần kinh tột độ, hơn là dấu hiệu của một căn bệnh thực thể.

"Phu nhân đã nằm li bì như vậy ròng rã suốt một, hai ngày nay rồi. Tôi e rằng phu nhân sẽ không qua khỏi mất," cô hầu gái cất giọng nghẹn ngào.

Nghe vậy, người phụ nữ khẽ quay khuôn mặt xinh đẹp đang ửng đỏ vì sốt về phía tôi.

"Chồng tôi đang ở đâu?"

"Ông ấy đang túc trực dưới nhà, và vô cùng mong mỏi được gặp phu nhân."

"Tôi sẽ không gặp ông ấy. Cương quyết không gặp." Dứt lời, cô dường như lại chìm vào trạng thái mê sảng, miệng lẩm bẩm không ngớt. "Một con quỷ! Nó là một con quỷ! Ôi, tôi phải làm gì với con quỷ này đây?"

"Tôi có thể giúp gì được cho phu nhân chăng?"

"Không. Không một ai có thể giúp được nữa. Mọi chuyện đã kết thúc rồi. Tất cả đã tan tành mây khói. Dù tôi có cố gắng thế nào đi chăng nữa, thì mọi thứ cũng đã bị hủy hoại hoàn toàn."

Phu nhân Ferguson hẳn đang chìm trong một cơn ảo giác kỳ quái nào đó. Làm sao tôi có thể gắn ghép hình ảnh một ác quỷ hay một kẻ thủ ác cho anh chàng Bob Ferguson hiền lành, tử tế kia chứ.

"Thưa phu nhân," tôi nhẹ nhàng cất lời, "chồng phu nhân vẫn một mực yêu thương phu nhân tha thiết. Ông ấy đang vô cùng đau khổ vì những chuyện đã xảy ra."

Một lần nữa, cô lại hướng đôi mắt tuyệt đẹp ấy về phía tôi.

"Ông ấy yêu tôi. Vâng, đúng là thế. Nhưng lẽ nào tôi lại không yêu ông ấy sao? Lẽ nào tôi không yêu ông ấy đến mức thà hy sinh bản thân mình còn hơn là làm tan nát trái tim nhân hậu đó? Tình yêu của tôi dành cho ông ấy là thế đấy. Vậy mà ông ấy nỡ lòng nào nghĩ về tôi-nỡ lòng nào thốt ra những lời cay độc về tôi như vậy."

"Ông ấy đang chìm sâu trong đau khổ, hơn nữa, ông ấy hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang diễn ra."

"Đúng, ông ấy có thể không hiểu. Nhưng lẽ ra ông ấy phải đặt niềm tin vào tôi chứ."

"Vậy phu nhân nhất quyết không gặp ông ấy sao?" tôi ướm hỏi.

"Không, không bao giờ; tôi không tài nào quên được những lời cay nghiệt ấy, cũng như ánh mắt rùng rợn của ông ấy lúc đó. Tôi tuyệt đối không gặp lại ông ấy. Ông hãy đi đi. Ông chẳng thể giúp gì cho tôi đâu. Chỉ cần nhắn lại với ông ấy một điều duy nhất. Tôi muốn con tôi. Tôi có đầy đủ quyền hạn đối với đứa con do chính mình dứt ruột đẻ ra. Đó là thông điệp duy nhất tôi muốn gửi cho ông ấy." Nói đoạn, cô quay mặt vào tường, buông rèm im lặng, kiên quyết không thốt thêm nửa lời.

Tôi quay gót bước xuống căn phòng dưới nhà, nơi Ferguson và Holmes vẫn đang ngồi túc trực bên lò sưởi. Gã khổng lồ Ferguson ủ rũ lắng nghe tôi thuật lại vắn tắt cuộc trò chuyện vừa rồi.

"Làm sao tôi có thể giao nộp đứa bé cho cô ấy được cơ chứ?" ông mếu máo. "Làm sao tôi lường trước được liệu có một cơn bốc đồng điên rồ nào đó lại bất thần ập đến với cô ấy hay không? Làm sao tôi có thể tẩy xóa khỏi tâm trí mình cái khoảnh khắc kinh hoàng khi cô ấy chồm dậy từ nôi đứa bé, trên môi còn vương vệt máu tươi?" Ông rùng mình ớn lạnh khi nhớ lại cảnh tượng ấy. "Đứa bé hiện đang rất an toàn dưới sự che chở của bà Mason, và nó nhất định phải ở lại đó."

Một cô hầu gái ăn mặc tươm tất - dấu ấn hiện đại duy nhất mà chúng tôi bắt gặp trong ngôi nhà - mang chút trà vào. Khi cô vừa dọn trà xong, cánh cửa chợt mở và một thiếu niên bước vào phòng. Cậu mang một vẻ ngoài khá ấn tượng: khuôn mặt nhợt nhạt, mái tóc vàng hoe và đôi mắt xanh nhạt vô cùng nhạy cảm. Đôi mắt ấy chợt bừng lên ngọn lửa của niềm vui và cảm xúc mãnh liệt khi ánh nhìn dừng lại nơi cha mình. Cậu lao đến, ôm chầm lấy cổ ông với vẻ nũng nịu thả phanh của một cô con gái đong đầy tình yêu thương.

"Ôi, ba," cậu reo lên, "con không biết là ba đã về. Lẽ ra con phải có mặt ở đây để đón ba chứ. Ôi, con vui quá khi được gặp ba!"

Ferguson nhẹ nhàng gỡ mình khỏi vòng tay con trai với vẻ hơi bối rối.

"Con trai ngoan," ông nói, đưa bàn tay dịu dàng vỗ về mái tóc vàng nhạt của con. "Ba về sớm vì những người bạn của ba, ông Holmes và bác sĩ Watson, đã nhận lời xuống đây và dành cả buổi tối với gia đình ta."

"Đó có phải là ông Holmes, vị thám tử không ạ?"

"Đúng vậy."

Cậu thiếu niên ném về phía chúng tôi một cái nhìn sắc lẹm, và theo cảm nhận của tôi, là chẳng lấy gì làm thân thiện.

"Còn mụn con kia của ông thì sao, thưa ông Ferguson?" Holmes lên tiếng. "Liệu chúng tôi có thể làm quen với cháu bé được không?"

"Hãy bảo bà Mason bế em bé xuống đây," Ferguson dặn. Cậu thiếu niên rời đi với dáng điệu lạch bạch, xiêu vẹo đầy kỳ lạ. Dưới con mắt của một bác sĩ phẫu thuật, tôi nhận ra ngay cậu đang mắc chứng yếu cột sống. Lát sau, cậu quay lại, theo sau là một người phụ nữ cao gầy đang bồng một đứa trẻ tuyệt đẹp trên tay. Đứa bé có đôi mắt đen nhánh, mái tóc vàng óng, mang một vẻ đẹp pha trộn hoàn hảo giữa dòng máu Saxon và Latin. Hiển nhiên Ferguson vô cùng cưng chiều đứa trẻ, ông đón lấy nó vào lòng và âu yếm vuốt ve đầy trìu mến.

"Thử tưởng tượng xem có ai lại nhẫn tâm làm tổn thương nó chứ," ông lầm bầm, ánh mắt lướt xuống vết sưng tấy đỏ rực đầy phẫn nộ trên cổ họng sinh linh bé bỏng đẹp tựa thiên thần.

Đúng khoảnh khắc đó, tôi tình cờ liếc sang Holmes và bắt gặp một nét tập trung cao độ đầy kỳ lạ trên gương mặt anh. Khuôn mặt anh đanh lại, cứng đờ như được tạc từ khối ngà voi cổ kỹ. Đôi mắt anh, vốn chỉ vừa lướt qua hai cha con trong tích tắc, giờ đây đang dán chặt vào một thứ gì đó phía bên kia căn phòng với sự tò mò tột độ. Lần theo ánh nhìn ấy, tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng anh đang ngó ra ngoài cửa sổ, hướng về phía khu vườn ảm đạm, đang chìm trong những giọt sương rơi rả rích. Một tấm rèm chớp khép hờ bên ngoài đã che khuất một phần tầm nhìn, nhưng chắc chắn ô cửa sổ ấy chính là tâm điểm thu hút mọi sự chú ý của Holmes. Rồi anh khẽ mỉm cười, ánh mắt quay lại với đứa bé. Trên chiếc cổ bụ bẫm của sinh linh bé bỏng hiện rõ một vết hằn nhỏ xíu. Không nói một lời, Holmes cẩn thận kiểm tra vết thương. Cuối cùng, anh nhẹ nhàng nắm lấy một trong những bàn tay bé xíu, mũm mĩm đang khua khoắng trước mặt mình.

"Tạm biệt, cậu bé nhỏ. Cháu đã có một sự khởi đầu đời thật kỳ lạ. Này bảo mẫu, tôi muốn trao đổi riêng với bà một lát."

Anh kéo bà ta ra một góc và thì thầm nghiêm nghị trong vài phút. Tôi chỉ loáng thoáng nghe được những từ cuối cùng: "Tôi hy vọng sự lo âu của bà sẽ sớm được giải tỏa." Người phụ nữ với vẻ ngoài lầm lì, cau có ấy liền cúi chào rồi bế đứa bé rời đi.

"Bà Mason là người như thế nào?" Holmes lên tiếng hỏi.

"Như ông thấy đấy, bề ngoài của bà ấy không mấy thu hút, nhưng bên trong lại là một trái tim vàng. Bà ấy vô cùng tận tụy với đứa bé."

"Cậu có thích bà ấy không, Jack?" Holmes đột ngột quay sang hỏi cậu thiếu niên. Khuôn mặt nhạy bén và giàu biểu cảm của cậu sầm lại, rồi cậu khẽ lắc đầu.

"Jacky yêu ghét rất rạch ròi và mãnh liệt," Ferguson vừa nói vừa vòng tay ôm lấy con trai. "May mắn thay, tôi lại thuộc nhóm những người mà nó yêu mến."

Cậu bé thủ thỉ rồi rúc đầu vào ngực cha. Ferguson nhẹ nhàng đẩy cậu ra.

"Chạy đi chơi đi, Jacky nhỏ," ông dặn, ánh mắt đong đầy yêu thương dõi theo con trai cho tới khi cậu khuất bóng. "Bây giờ, thưa ông Holmes," ông tiếp lời sau khi cậu bé rời đi, "tôi thực sự cảm thấy mình đang đẩy ông vào một cuộc tìm kiếm vô vọng. Bởi ông có thể làm được gì cơ chứ, ngoại trừ việc chia sẻ sự cảm thông cùng tôi? Đứng từ góc nhìn của ông, hẳn đây là một vụ án vô cùng tế nhị và phức tạp."

"Tế nhị thì đúng," bạn tôi đáp lời cùng một nụ cười thích thú, "nhưng tính đến lúc này, tôi vẫn chưa thấy nó phức tạp ở điểm nào. Đây vốn là một vụ án đòi hỏi sự suy luận trí tuệ thuần túy. Và khi những suy luận ban đầu này được xác nhận từng chi tiết một bởi những sự cố hoàn toàn độc lập, thì những giả định chủ quan sẽ chuyển hóa thành sự thật khách quan. Khi đó, chúng ta có thể tự tin khẳng định rằng mình đã chạm tới chân tướng sự việc. Thành thực mà nói, tôi đã nắm được cốt lõi vấn đề ngay từ trước khi chúng ta rời phố Baker. Những gì diễn ra ở đây chỉ đơn thuần là quan sát để xác nhận lại mà thôi."

Ferguson đưa bàn tay to lớn ôm lấy vầng trán đang nhăn nhúm vì lo âu.

"Vì Chúa, thưa ông Holmes," ông cất giọng khàn đặc, "nếu ông thực sự nhìn thấu được chân tướng sự việc, xin đừng để tôi phải sống trong sự dằn vặt này thêm nữa. Tình cảnh của tôi giờ ra sao? Tôi phải làm gì đây? Tôi chẳng màng đến việc ông tìm ra sự thật bằng cách nào, miễn là ông thực sự nắm được nó."

"Chắc chắn tôi nợ ông một lời giải thích, và ông sẽ nhận được nó. Nhưng ông bằng lòng để tôi giải quyết vấn đề theo cách riêng của mình chứ? Quý phu nhân có đủ sức để tiếp chúng ta không, Watson?"

"Phu nhân ấy đang ốm, nhưng tinh thần hoàn toàn tỉnh táo."

"Tuyệt lắm. Chỉ khi có mặt phu nhân thì chúng ta mới có thể làm sáng tỏ mọi góc khuất. Chúng ta hãy lên lầu gặp phu nhân thôi."

"Cô ấy sẽ không chịu gặp tôi đâu," Ferguson than thở.

"Ồ, có chứ, cô ấy sẽ gặp," Holmes quả quyết. Anh vội vã ngoáy vài dòng lên một mẩu giấy. "Ít nhất thì anh cũng được phép vào trong, Watson. Anh có phiền trao cho phu nhân mảnh giấy này không?"

Tôi lại trở lên lầu và trao mẩu giấy cho Dolores, người vừa thận trọng hé mở cánh cửa. Một phút sau, từ bên trong vọng ra một tiếng kêu-một âm thanh dường như là sự hòa quyện giữa niềm vui sướng và nỗi kinh ngạc tột độ. Dolores ló đầu ra ngoài.

"Phu nhân đồng ý gặp họ. Phu nhân sẽ lắng nghe," cô thông báo.

Nghe tiếng gọi của tôi, Ferguson và Holmes liền bước lên lầu. Khi chúng tôi vừa bước vào phòng, Ferguson vội tiến về phía vợ-người lúc này đang cố gượng ngồi dậy trên giường. Nhưng cô vội giơ tay ra cự tuyệt sự xích lại gần của chồng. Ông đành gieo mình xuống một chiếc ghế bành. Holmes ngồi xuống bên cạnh ông, sau khi đã cung kính cúi chào phu nhân-người đang trân trân nhìn anh với một sự kinh ngạc tột độ.

"Tôi trộm nghĩ chúng ta không cần đến sự có mặt của Dolores nữa," Holmes lên tiếng. "Ồ, được thôi, thưa phu nhân. Nếu phu nhân muốn cô ấy ở lại thì tôi cũng không phản đối. Nào, thưa ông Ferguson, tôi là một người bận rộn với nhiều yêu cầu cầu cứu, nên phương pháp làm việc của tôi buộc phải ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Ca phẫu thuật càng diễn ra chớp nhoáng thì nỗi đau càng được giảm thiểu. Trước tiên, hãy để tôi nói một điều giúp ông nhẹ lòng. Vợ ông là một người phụ nữ tuyệt vời, vô cùng yêu thương chồng, và bà ấy đã phải chịu đựng những sự đối xử hết sức tàn nhẫn."

Ferguson bật dậy khỏi ghế cùng một tiếng kêu đầy sung sướng.

"Xin hãy chứng minh điều đó đi, thưa ông Holmes. Tôi nguyện sẽ là con nợ của ông suốt đời."

"Tôi sẽ chứng minh, nhưng đổi lại, tôi e rằng sẽ phải khoét một vết thương sâu hoắm vào lòng ông ở một khía cạnh khác."

"Tôi chẳng màng đến điều gì khác, miễn là ông giải oan được cho vợ tôi. Mọi thứ trên đời này đều trở nên vô nghĩa nếu đem so sánh với sự trong sạch của cô ấy."

"Vậy thì để tôi kể cho ông nghe chuỗi suy luận đã lóe lên trong đầu tôi lúc còn ở phố Baker. Cái ý tưởng về một ma cà rồng hút máu thực sự là vô lý đối với tôi. Những chuyện huyễn hoặc như thế không bao giờ tồn tại trong thực tiễn tội phạm học ở nước Anh. Tuy nhiên, sự quan sát của ông lại hoàn toàn chuẩn xác. Ông quả thực đã nhìn thấy phu nhân đứng dậy từ bên cạnh nôi của đứa trẻ với vệt máu vương trên môi."

"Đúng vậy."

"Chẳng lẽ ông không nghĩ tới việc người ta có thể mút một vết thương đang rỉ máu vì một mục đích nào khác, thay vì chỉ để thỏa mãn cơn khát máu sao? Chẳng phải trong lịch sử nước Anh từng ghi nhận một vị Nữ hoàng đã hút nọc độc từ một vết thương tương tự hay sao?"

"Chất độc ư!"

"Một gia đình mang dòng máu Nam Mỹ. Bản năng thám tử của tôi đã đánh hơi được sự hiện diện của những thứ vũ khí chết người treo trên tường, ngay cả trước khi tôi thực sự để mắt tới chúng. Nó có thể là bất kỳ loại chất độc nào, nhưng đó là giả thuyết đầu tiên lóe lên trong tâm trí tôi. Và khi nhìn thấy ống đựng tên trống rỗng đặt cạnh cây cung nhỏ chuyên dùng để bắn chim, mọi nghi ngờ trong tôi đã được khẳng định. Nếu đứa bé bị đâm bởi một trong những mũi tên tẩm độc curare hoặc một loại nọc ác hiểm nào khác, cái chết sẽ là điều chắc chắn nếu chất độc không được hút ra kịp thời.

"Và rồi còn vụ con chó nữa! Nếu ai đó rắp tâm sử dụng một loại chất độc như vậy, chẳng phải họ sẽ phải tiến hành thử nghiệm trước để đảm bảo nọc độc vẫn còn nguyên hiệu lực sao? Tôi không hề lường trước được vụ việc liên quan đến con chó Spaniel. Nhưng ít nhất, tôi đã thấu hiểu ngọn ngành và tình tiết ấy hoàn toàn ăn khớp với bức tranh toàn cảnh mà tôi đã chắp nối.

"Bây giờ thì ông đã hiểu ra vấn đề chưa? Vợ ông luôn sống trong nỗi nơm nớp lo sợ về một cuộc tấn công nhằm vào đứa bé. Bà ấy đã chứng kiến toàn bộ sự việc và giành lại mạng sống cho con mình. Nhưng bà ấy lại đành cắn răng chịu đựng, không dám hé lộ sự thật với ông. Bởi bà ấy hiểu ông yêu thương cậu con trai lớn đến nhường nào. Bà ấy lo sợ rằng sự thật phũ phàng ấy sẽ bóp nát trái tim ông."

"Trời ơi, Jacky!"

"Tôi đã âm thầm quan sát cậu ấy lúc ông âu yếm đứa bé ban nãy. Khuôn mặt cậu thiếu niên in bóng rõ mồn một trên tấm kính cửa sổ, nơi bức rèm chớp vô tình tạo thành một tấm phông nền hoàn hảo. Tôi đã nhìn thấy sự ghen tuông tột độ, một nỗi căm hờn tàn độc đến mức tôi hiếm khi được chứng kiến trên khuôn mặt của bất kỳ ai."

"Jacky của tôi!"

"Ông phải dũng cảm đối mặt với sự thật này, thưa ông Ferguson. Sự thật ấy càng cứa sâu vào lòng người bởi thứ tình yêu méo mó, cuồng nhiệt và thái quá mà cậu bé dành cho ông, và có lẽ là cho cả người mẹ quá cố của cậu. Chính thứ tình cảm ấy đã xui khiến cậu ta hành động điên rồ. Sâu thẳm trong tâm hồn, cậu thiếu niên đang bị thiêu rụi bởi lòng đố kỵ hừng hực dành cho sinh linh bé bỏng tuyệt đẹp kia-kẻ mà sự khỏe mạnh và vẻ đẹp hoàn mỹ lại như một sự trêu ngươi tàn nhẫn, hoàn toàn đối lập với hình hài ốm yếu, tật nguyền của chính cậu."

"Lạy Chúa lòng lành! Chuyện này thật quá sức tưởng tượng!"

"Những lời tôi nói vừa rồi có đúng với sự thật không, thưa phu nhân?"

Quý phu nhân bật khóc nức nở, vùi mặt vào gối. Giờ đây, cô mới nghẹn ngào quay sang nhìn chồng.

"Làm sao em có thể nhẫn tâm thốt ra những lời đó với anh được, Bob? Em thừa hiểu sự thật ấy sẽ giáng một đòn chí mạng vào anh như thế nào. Tốt hơn hết là em nên cắn răng chờ đợi, để sự thật ấy được phơi bày từ môi của một người khác chứ không phải từ chính miệng em. Khi vị quý ông đây-người dường như có phép thuật-viết trong mảnh giấy rằng ông ấy đã thấu tỏ mọi chuyện, em đã mừng rỡ đến nhường nào."

"Tôi cho rằng một chuyến đi biển kéo dài một năm sẽ là phương thuốc hữu hiệu nhất mà tôi có thể kê cho cậu chủ Jacky," Holmes nhận định, chậm rãi đứng lên khỏi ghế. "Chỉ còn một khuất tất nhỏ khiến tôi băn khoăn, thưa phu nhân. Chúng tôi hoàn toàn có thể cảm thông cho những lần phu nhân trừng phạt cậu chủ Jacky. Sự kiên nhẫn của một người mẹ dù lớn lao đến mấy cũng có giới hạn của nó. Thế nhưng, làm sao phu nhân lại dám bỏ mặc đứa con bé bỏng của mình trong suốt hai ngày qua?"

"Tôi đã dặn dò bà Mason cẩn thận. Bà ấy đã biết rõ mọi chuyện."

"Tuyệt lắm. Mọi thứ diễn ra đúng như những gì tôi đã mường tượng."

Ferguson đứng trân trân bên mép giường, cổ họng nghẹn đắng. Hai tay ông vươn ra, run lẩy bẩy trong sự xúc động tột độ.

"Tôi trộm nghĩ, đây chính là lúc chúng ta nên ý tứ lui ra ngoài, Watson," Holmes thì thầm vào tai tôi. "Nếu anh giữ lấy một cánh tay của cô nàng Dolores quá đỗi trung thành này, thì tôi sẽ xốc nách cánh tay còn lại. Đấy, mọi việc đã êm xuôi," anh nói thêm khi vừa khép lại cánh cửa phòng. "Tôi cho rằng chúng ta nên để họ tự giải quyết những nút thắt còn lại với nhau."

Tôi chỉ xin được bổ sung một ghi chú nhỏ về vụ án này. Đó là lá thư mà Holmes đã viết, xem như lời hồi đáp cuối cùng cho bức thư xuất hiện ở phần mở đầu của câu chuyện. Bức thư được viết với nội dung như sau:

PHỐ BAKER,
Ngày 21 tháng 11.

V/v: Ma cà rồng.

THƯA NGÀI,-

Tiếp theo lá thư của ngài gửi vào ngày 19, tôi xin hân hạnh thông báo rằng tôi đã xem xét kỹ lưỡng yêu cầu từ khách hàng của ngài-ông Robert Ferguson, thuộc công ty môi giới trà Ferguson và Muirhead tọa lạc tại Mincing Lane. Vấn đề đã được làm sáng tỏ và đi đến một kết luận vô cùng thỏa đáng. Xin chân thành cảm ơn lời giới thiệu của ngài.

Kính thư,
SHERLOCK HOLMES.



  1. Old Jewry là một con phố cổ nằm trong khu tài chính (City of London) của London. Tên gọi này bắt nguồn từ việc đây từng là khu định cư của người Do Thái ở Anh trước khi họ bị vua Edward I trục xuất vào năm 1290. Nơi đây từng là một trung tâm tài chính và thương mại sầm uất. 

  2. Mincing Lane là một con phố ở London, nổi tiếng lịch sử là trung tâm giao dịch trà và gia vị của thế giới, được mệnh danh là 'Phố của những nhà buôn trà' trong thời kỳ hoàng kim của Đế quốc Anh. 

  3. Anh em nhà Grimm (Jacob và Wilhelm Grimm) là những học giả người Đức nổi tiếng vào thế kỷ 19, được biết đến qua việc thu thập và xuất bản các câu chuyện dân gian truyền thống. Nhiều câu chuyện trong số đó có nội dung rùng rợn và tăm tối hơn hẳn so với các phiên bản truyện cổ tích hiện đại dành cho trẻ em. 

  4. Transylvania là một vùng lịch sử ở miền trung Romania. Nơi đây được gắn liền với huyền thoại ma cà rồng trong văn hóa đại chúng nhờ cuốn tiểu thuyết 'Dracula' (1897) của nhà văn Bram Stoker, dù truyền thuyết ma cà rồng ở Đông Âu vốn có nguồn gốc từ rất lâu trước đó. 

  5. Sussex là một hạt lịch sử nằm ở Đông Nam nước Anh, nổi tiếng với những miền quê yên bình, các ngôi làng cổ kính và những khu đồng hoang tĩnh lặng, thường là bối cảnh quen thuộc trong các câu chuyện trinh thám cổ điển. 

  6. Nitrat (thường gọi là diêm tiêu Peru hoặc diêm tiêu Chile) từng là một loại khoáng sản xuất khẩu quan trọng của vùng Nam Mỹ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chủ yếu được dùng để sản xuất phân bón và thuốc nổ. 

  7. Vào thời điểm cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, năm bảng Anh là một số tiền tương đối lớn đối với tầng lớp lao động và người làm thuê, có giá trị tương đương hàng trăm bảng Anh theo thời giá hiện đại. 

  8. Blackheath F.C. là một trong những câu lạc bộ bóng bầu dục lâu đời nhất thế giới, được thành lập vào năm 1858 tại London, Anh. Việc nhắc đến đội bóng này góp phần gợi lại phông nền thể thao của giới thanh niên Anh quốc đương thời. 

  9. Three-quarter (hay three-quarter back) là một vị trí trong môn bóng bầu dục (rugby), đòi hỏi sự kết hợp giữa thể lực, tốc độ và khả năng khống chế bóng nhạy bén. 

  10. Kiểu Tudor (Tudor style) là phong cách kiến trúc đặc trưng của nước Anh trong thời kỳ vương triều Tudor (1485-1603). Đặc điểm nổi bật là các vạch gỗ lộ thiên (half-timbering), mái dốc nhọn và các ống khói bằng gạch được xây đắp cầu kỳ. 

  11. Đá phiến Horsham (Horsham stone) là một loại sa thạch vôi hóa đặc trưng ở khu vực Sussex, Anh. Nhờ có khả năng tách thành những phiến mỏng, loại đá này thường được dùng làm vật liệu lợp mái truyền thống trong kiến trúc nhà ở tại địa phương này.