VI. VỤ ÁN BA NGƯỜI MANG HỌ GARRIDEB

Đó có thể coi là một vở hài kịch, mà cũng có thể là một bi kịch chua xót. Vụ án ấy đã tước đi lý trí của một người, khiến tôi phải đổ máu, và ném một kẻ khác vào vòng lao lý. Dẫu vậy, ẩn sau những biến cố khốc liệt ấy, quả thực vẫn vương vất một nét trào phúng kỳ lạ. Thôi thì, tôi xin nhường lại phần phán xét cho quý độc giả.

Tôi nhớ in dấu mốc thời gian ấy, bởi vì cùng trong tháng đó, Holmes đã khước từ tước hiệp sĩ cho những cống hiến thầm lặng mà có lẽ, vào một ngày nào đó, tôi sẽ kể lại tường tận. Tôi chỉ dám nhắc khéo chuyện này, bởi với tư cách là người cộng sự kiêm tri kỷ của anh, tôi luôn phải cẩn trọng giữ mình để không trót lỡ lời vô ý. Dù sao, chi tiết ấy cũng giúp tôi xác định chính xác thời điểm xảy ra vụ việc: đó là vào những ngày cuối tháng Sáu năm 1902, ngay sau khi cuộc Chiến tranh Nam Phi1 vừa khép lại.

Mấy hôm liền, Holmes cứ nằm liệt giường như cái thói quen khó bỏ mỗi khi anh thiếu vắng những vụ án. Thế nhưng, sáng hôm ấy, anh bỗng xuất hiện với một xấp tài liệu dày cộp trên tay, nét tinh nghịch xán lạn lại nhảy múa trong đôi mắt xám vốn thường ngày nghiêm nghị.

"Có cơ hội để anh kiếm chút đỉnh rồi đấy, anh bạn Watson ạ," anh cất lời. "Anh đã bao giờ nghe đến cái tên Garrideb chưa?"

Tôi đành thú thực là mình chưa từng nghe qua.

"Chà, nếu anh mà lôi ra được một người mang họ Garrideb, thì tiền bạc rủng rỉnh đấy."

"Sao lại thế?"

"À, chuyện đó dài lắm-mà cũng kỳ quặc hết sức. Trong suốt quá trình đi sâu vào những ngóc ngách rắc rối của đời sống con người, tôi dám chắc chúng ta chưa từng bắt gặp vụ nào dị thường đến thế. Kẻ đó sắp tới đây để bị chất vấn, nên tôi sẽ tạm khóa miệng chờ hắn đến. Nhưng trong lúc rảnh rỗi này, đó chính là cái tên mà chúng ta cần săn lùng."

Cuốn danh bạ điện thoại đang nằm im lìm trên chiếc bàn ngay cạnh, tôi bèn lật giở từng trang trong một nỗ lực tìm kiếm xem chừng vô vọng. Nào ngờ, trước sự sững sờ của tôi, cái tên kỳ khôi ấy lại ngoan ngoãn nằm ngay đúng vị trí vần chữ cái của nó. Tôi bật lên một tiếng reo đắc thắng.

"Đây rồi, Holmes! Nó nằm chình ình ở đây này!"

Holmes cầm lấy cuốn sách dày cộp từ tay tôi.

"'Garrideb, N.,'" anh chậm rãi đọc, "'136 Phố Little Ryder, W.' Thành thực xin lỗi vì làm anh cụt hứng, Watson thân mến, nhưng đây chính xác là gã đàn ông đó. Đó là địa chỉ ghi rành rành trên bức thư của ông ta. Cái chúng ta cần là một người khác để ghép thành cặp với ông ta kìa."

Bà Hudson bước vào, tay bưng một tấm danh thiếp đặt ngay ngắn trên khay. Tôi đón lấy và đưa mắt nhìn lướt qua.

"Ái chà, nó đến rồi này!" tôi kinh ngạc thốt lên. "Đây là một chữ cái khởi đầu hoàn toàn khác. John Garrideb, Luật sư cố vấn, Moorville, Kansas, U.S.A."

Khẽ mỉm cười khi nhìn tấm danh thiếp, Holmes đáp lời. "Tôi e là anh lại phải nhọc công thêm một lần nữa thôi, Watson," anh nói. "Vị quý ông này cũng đã nằm gọn trong bàn cờ rồi, dẫu tôi chẳng thể ngờ lại đụng mặt ông ta vào sáng nay. Dù sao thì, ông ta cũng đang ở cái thế có thể tiết lộ cho chúng ta rất nhiều điều mà tôi đang nóng lòng muốn biết."

Chỉ một lát sau, ông ta đã hiện diện trong căn phòng. Ông John Garrideb, Luật sư cố vấn, là một người đàn ông thấp bé, tướng tá vạm vỡ, khuôn mặt tròn trịa, tươi tắn và nhẵn thính râu ria-đặc điểm nhận dạng quen thuộc của vô số những gã đàn ông Mỹ tháo vát. Tổng thể con người ông ta toát lên vẻ mũm mĩm và có phần hơi trẻ con, mang lại ấn tượng về một gã thanh niên khá trẻ với nụ cười rạng rỡ thường trực trên môi. Tuy nhiên, cặp mắt của ông ta lại có một sức hút kỳ lạ. Hiếm khi nào tôi thấy một đôi mắt lại phơi bày đời sống nội tâm sục sôi đến thế; chúng sáng quắc, vô cùng cảnh giác và nhạy bén bắt nhịp với mọi chuyển biến trong suy nghĩ. Giọng nói của ông ta rặt chất Mỹ, nhưng lại chẳng hề pha lẫn chút kỳ quặc nào trong cách ăn nói.

"Ông Holmes?" ông ta lên tiếng hỏi, liếc mắt dò xét từ người này sang người kia. "À, vâng! Trông ông ở ngoài cũng không khác mấy so với những bức ảnh, thưa ông, nếu tôi có thể đường đột nhận xét như vậy. Tôi tin là ông đã nhận được thư từ cái người trùng tên với tôi, ông Nathan Garrideb, có phải không?"

"Xin mời ông ngồi," Sherlock Holmes lịch thiệp đáp. "Tôi đồ rằng chúng ta sẽ có kha khá chuyện để đàm đạo đây." Anh nhấc xấp tài liệu lên. "Tất nhiên, ông chính là ngài John Garrideb được nhắc đến trong sớ tài liệu này. Nhưng chắc hẳn ông cũng đã nán lại nước Anh được một thời gian rồi chứ?"

"Cớ sao ông lại khẳng định vậy, ông Holmes?" Tôi dường như đọc thấu được nét hoài nghi chợt lóe lên trong đôi mắt đầy biểu cảm kia.

"Toàn bộ cách ăn mặc của ông rặt một kiểu Anh."

Ông Garrideb gượng cười bối rối. "Tôi đã từng đọc về những ngón nghề của ông, thưa ông Holmes, nhưng thú thực tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại trở thành mục tiêu để ông trổ tài. Ông nhìn ra điều đó từ đâu vậy?"

"Từ đường cắt trên vai chiếc áo khoác, cho đến cái mũi giày của ông-ai mà có thể mảy may nghi ngờ điều đó cơ chứ?"

"Chà, chà, tôi chẳng thể ngờ mình lại lộ tẩy là một tay người Anh rõ rành rành như thế. Nhưng công việc đã trói chân tôi ở đây một thời gian trước, và đúng như ông tinh ý nhận ra, trang phục của tôi gần như sắm toàn bộ ở London. Tuy nhiên, tôi đoán thời gian của ông là vàng là bạc, và chúng ta tụ họp ở đây chẳng phải để bàn luận về kiểu dáng đôi tất của tôi. Thử chuyển hướng sang tờ giấy ông đang cầm trên tay xem sao nhỉ?"

Chẳng hiểu sao, Holmes dường như đã làm vị khách của chúng tôi phật ý; khuôn mặt vốn bụ bẫm của ông ta thoắt cái đã khoác lên một vẻ kém thân thiện hơn hẳn.

"Bình tĩnh nào! Kiên nhẫn một chút, ông Garrideb!" bạn tôi đáp lời bằng chất giọng ôn tồn quen thuộc. "Bác sĩ Watson đây sẽ làm chứng cho ông thấy rằng, những cú đi chệch hướng nho nhỏ này của tôi đôi khi lại chứng minh được giá trị liên quan của chúng vào phút chót. Nhưng tại sao ông Nathan Garrideb lại không đích thân đi cùng ông?"

"Tại sao ông ấy lại kéo ông vào cái mớ bòng bong này cơ chứ?" vị khách của chúng tôi gắt lên, cơn thịnh nộ bùng phát đầy bất chợt. "Ông thì có liên quan cái quái gì đến chuyện này? Đây rành rành là chút công chuyện làm ăn riêng tư giữa hai quý ông với nhau, thế mà một trong hai người lại phải cậy nhờ đến tận một thám tử! Sáng nay tôi có ghé qua chỗ ông ấy, và ông ấy đã thuật lại cho tôi nghe cái trò ngu xuẩn mà ông ấy vừa làm với tôi, đó cũng chính là lý do khiến tôi phải vác mặt đến đây. Dù gì đi nữa, tôi cũng cảm thấy vô cùng tồi tệ về chuyện đó."

"Chẳng có ý trách móc gì ông đâu, ông Garrideb. Đó đơn thuần chỉ là sự sốt sắng từ phía ông ấy nhằm thúc đẩy mục đích của ông-một mục đích mà tôi hiểu là mang tầm quan trọng ngang ngửa đối với cả hai người. Ông ấy thừa biết rằng tôi có mánh khóe để cạy miệng thông tin, và vì lẽ đó, việc ông ấy gõ cửa tìm đến tôi là một bước đi rất đỗi tự nhiên."

Nét giận dữ hằn trên khuôn mặt vị khách dần dà giãn ra.

"Chà, nghe ông nói vậy thì lại là nhẽ khác," ông ta nói. "Sáng nay, khi tôi vừa ló mặt đến gặp ông ấy và ông ấy thốt ra rằng đã tìm đến tận cửa một thám tử, tôi chỉ xin ngay cái địa chỉ rồi phi thẳng đến đây. Tôi chẳng hề muốn cảnh sát nhúng mũi vào chuyện đời tư của mình. Nhưng nếu ông đã bằng lòng góp chút sức mọn giúp chúng tôi tìm người, thì việc đó âu cũng chẳng có gì là tai hại."

"Vâng, vấn đề chính xác là nằm ở chỗ đó," Holmes từ tốn. "Và bây giờ, thưa ông, vì đằng nào ông cũng đã cất công đến đây, thiết nghĩ tốt nhất là chúng ta nên được nghe một lời tường thuật rõ ngọn ngành từ chính miệng ông. Bạn tôi ngồi đây vẫn còn mù tịt về các chi tiết."

Ông Garrideb liếc nhìn tôi bằng một ánh mắt chẳng lấy gì làm thiện cảm cho cam.

"Ông ấy có nhất thiết phải biết không?" ông ta vặn vẹo.

"Chúng tôi vẫn thường tác chiến cùng nhau."

"Chà, vậy thì cũng chẳng có lý do gì phải úp mở giữ bí mật cả. Tôi sẽ kể cho các ông nghe ngọn ngành sự thật một cách vắn tắt nhất có thể. Nếu các ông xuất thân từ Kansas, tôi sẽ chẳng cần phải tốn công giải thích Alexander Hamilton Garrideb là nhân vật tầm cỡ nào. Ông ấy phất lên nhờ bất động sản, và sau đó là vớ bẫm từ thị trường lúa mì ở Chicago; thế nhưng ông ấy đã dùng toàn bộ số tiền đó để thâu tóm lượng đất đai đủ để lấp kín một trong những quận của các ông, nằm dọc theo Sông Arkansas, ngay phía tây Fort Dodge. Đó là hỗn hợp của đất chăn thả, đất khai thác gỗ, đất canh tác và cả đất chứa khoáng sản, tóm lại là đủ mọi loại đất có khả năng đẻ ra đô la cho chủ sở hữu của nó.

"Ông ấy chẳng có lấy một mống họ hàng thân thích-hay giả dụ có đi chăng nữa, tôi cũng chưa từng nghe ai nhắc tới. Nhưng ông ấy lại mang trong mình một niềm tự hào kiểu quái gở nào đó về sự độc lạ của cái tên mình. Đó chính xác là thứ đã gắn kết chúng tôi lại với nhau. Tôi vốn hành nghề luật sư ở Topeka, và vào một ngày đẹp trời nọ, tôi nhận được chuyến viếng thăm từ ông lão; ông ấy vui sướng đến độ phát cuồng khi bắt gặp một người khác mang cùng cái tên với mình. Đó là thứ sở thích kỳ quặc mà ông ấy luôn nâng niu cưng chiều, và ông ấy đã hạ quyết tâm phải tìm cho bằng được xem trên cõi đời này liệu còn có mống nào tên Garrideb nữa hay không. 'Hãy lục sục cho tôi một người khác!' ông ấy lớn tiếng. Tôi bèn bảo ông ấy rằng tôi là một kẻ bận rộn trăm công nghìn việc, thời gian đâu mà dành cả thanh xuân để lang thang khắp chân trời góc bể tìm kiếm những người tên Garrideb. 'Dẫu vậy,' ông ấy đáp lời, 'đó lại chính xác là những gì anh sẽ phải làm nếu mọi việc tiến triển đúng như dự tính của tôi.' Tôi cứ ngỡ ông ấy đang buông lời nói đùa, nhưng hóa ra những lời ấy lại mang một ý nghĩa vô cùng to lớn, như cái cách mà tôi đã sớm nghiệm ra sau này.

"Chẳng là vì ông ấy đã qua đời vỏn vẹn trong vòng một năm sau khi thốt ra những lời đó, và ông ấy có để lại một bản di chúc. Đó có thể coi là bản di chúc kỳ quặc bậc nhất từng được đệ trình ở Bang Kansas. Khối tài sản khổng lồ của ông ấy được xẻ làm ba phần, và tôi sẽ ẵm trọn một phần với điều kiện cốt lõi là tôi phải tìm ra được hai người nữa mang tên Garrideb để chia chác phần còn lại. Mỗi phần có giá trị lên tới năm triệu đô la nếu tính chi li đến từng xu lẻ, nhưng chúng tôi tuyệt đối không được động vào một đồng cắc nào cho đến khi cả ba người chúng tôi cùng đứng xếp hàng tề tựu.

"Cơ hội đó quá đỗi béo bở nên tôi đành gác lại sự nghiệp hành nghề luật sư của mình sang một bên và khăn gói lên đường săn lùng những người mang tên Garrideb. Rốt cuộc lại chẳng có lấy một mống nào ở Hoa Kỳ cả. Tôi đã lùng sục khắp mọi ngóc ngách, thưa ông, chải chuốt cẩn thận như dùng lược chải chấy vậy mà chẳng thể tóm gọn được một gã Garrideb nào. Sau đó tôi bèn thử vận may tìm đến cố quốc. Quả nhiên cái tên đó chễm chệ nằm trong Danh bạ điện thoại London. Tôi đã đến diện kiến ông ấy cách đây hai ngày và phơi bày toàn bộ sự việc cho ông ấy nghe. Trớ trêu thay, ông ấy lại là một kẻ độc thân, y chang như tôi, họ hàng thì chỉ lác đác vài người là nữ giới, tuyệt nhiên chẳng có lấy một nam giới. Bản di chúc rành rành ghi rõ là ba người đàn ông trưởng thành. Vậy nên các ông thấy đấy, chúng tôi vẫn còn trống một chỗ, và nếu ông có thể ra tay giúp chúng tôi lấp đầy khoảng trống đó, chúng tôi vô cùng sẵn lòng móc hầu bao trả hậu hĩnh cho ông."

"Chà, Watson," Holmes thốt lên, khóe môi khẽ nở một nụ cười, "Tôi đã bảo là nó kỳ quặc lắm mà, phải không? Tôi cứ đinh ninh rằng, thưa ông, con đường quang đãng nhất của ông là đăng tin quảng cáo rầm rộ trên các chuyên mục rao vặt của mấy tờ báo."

"Tôi đã thử rồi, ông Holmes ạ. Chẳng có lấy một dòng hồi âm."

"Trời đất ơi! Chà, đây chắc chắn là một bài toán nhỏ bé nhưng lại cực kỳ thú vị. Có lẽ tôi sẽ xem xét đến nó vào lúc rảnh rỗi. Nhân tiện, thật là kỳ lạ khi ông lại xuất thân từ Topeka. Trước đây tôi từng có một người bạn tâm giao hay trao đổi thư từ-tiếc là ông ấy đã qua đời rồi-đó là bác sĩ già Lysander Starr, người từng ngồi ghế Thị trưởng vào năm 1890."

"Bác sĩ Starr già tốt bụng!" vị khách của chúng tôi thốt lên. "Tên tuổi của ông ấy vẫn được người đời xưng tụng. Vậy, thưa ông Holmes, tôi mạn phép cho rằng tất cả những gì chúng tôi có thể làm lúc này là báo cáo lại với ông và cập nhật tiến triển của chúng tôi cho ông hay. Tôi đoán ông sẽ nhận được tin tức trong một hoặc hai ngày tới." Để lại lời đảm bảo chắc nịch này, người bạn Mỹ của chúng tôi cúi người chào từ biệt và nhanh chóng rời đi.

Holmes thong thả châm tẩu thuốc, rồi anh ngồi câm lặng hồi lâu, một nụ cười đầy ẩn ý vương vất trên môi.

"Sao cơ?" rốt cuộc tôi không kìm được bèn cất tiếng hỏi.

"Tôi đang trầm ngâm tự hỏi, Watson à-chỉ là tự hỏi thôi!"

"Về điều gì cơ?"

Holmes từ tốn rút tẩu thuốc ra khỏi môi.

"Tôi đang tự hỏi, Watson, rốt cục thì mục đích thực sự của gã này là gì khi cất công thêu dệt nên cả một chuỗi dối trá trắng trợn như vậy để kể cho chúng ta nghe. Tôi đã suýt nữa định chất vấn hắn thẳng thừng-bởi lẽ có những lúc, một cuộc tấn công trực diện không khoan nhượng lại là sách lược khôn ngoan nhất-nhưng rồi tôi tự nhủ rằng tốt hơn hết cứ để mặc cho hắn đắc ý tưởng chừng đã lừa phỉnh được chúng ta. Đây rành rành là một gã đàn ông khoác trên mình chiếc áo kiểu Anh đã sờn rách bươm ở cùi chỏ, cùng chiếc quần dài thùng thình dúm dó ở đầu gối vì đã bị mặc nhàu nhĩ cả năm trời; thế mà theo cái tờ tài liệu này và theo chính lời hắn tự biên tự diễn, hắn lại đóng vai một gã người Mỹ tỉnh lẻ chân ướt chân ráo mới đặt chân đến London. Chẳng hề có mống quảng cáo nào xuất hiện trên các chuyên mục rao vặt cả. Anh thừa biết là tôi chẳng bao giờ để lọt lưới thứ gì ở đó. Đó vốn dĩ là khu vực ẩn nấp ưa thích của tôi để xua chim lên, và tôi sẽ không đời nào bỏ sót một con chim trĩ trống đập cánh ầm ĩ lộ liễu đến vậy. Tôi cũng chưa từng nghe danh bấy kỳ một Bác sĩ Lysander Starr nào ở Topeka hết. Hắn ta đụng vào đâu là giả dối tung tóe đến đó. Tuy nhiên, tôi cho rằng gã này đích thực là người Mỹ, chỉ có điều hắn đã mài mòn đi cái giọng điệu gốc gác của mình qua nhiều năm tháng nằm vùng ở London. Vậy thì rốt cuộc mưu đồ của hắn là gì, và động cơ sâu xa nào đang ẩn nấp đằng sau cái cuộc lùng sục những người tên Garrideb lố lăng kệch cỡm này? Vấn đề này rất đáng để chúng ta bận tâm đấy, bởi vì, cứ cho là gã đó đích thị là một kẻ vô lại đi, thì hắn ta chắc chắn phải là một tên vô lại cực kỳ tinh vi và đầy mưu mô xảo quyệt. Giờ thì chúng ta phải bắt tay vào tìm hiểu xem liệu người thường xuyên trao đổi thư từ kia của chúng ta có phải cũng cùng một giuộc lừa đảo hay không. Hãy nhấc máy gọi cho ông ấy đi, Watson."

Tôi lập tức làm theo chỉ thị, và từ đầu dây bên kia vọng lại một giọng nói the thé, có phần run rẩy.

"Vâng, vâng, tôi là Nathan Garrideb đây. Ngài Holmes có ở đó không? Tôi đang rất nóng lòng muốn được thưa chuyện đôi lời với ngài Holmes."

Anh bạn tôi đưa tay cầm lấy ống nghe, và tôi lại được nghe thấy những đoạn hội thoại ngắt quãng quen thuộc mọi khi.

"Vâng, ông ta vừa mới ở đây xong. Tôi hiểu là ông không hề quen biết ông ta.... Khoảng bao lâu cơ? ... Mới chỉ hai ngày thôi sao! ... Vâng, vâng, tất nhiên rồi, đó quả là một viễn cảnh vô cùng béo bở. Tối nay ông có túc trực ở nhà không? Tôi đoán là cái người trùng tên với ông sẽ không có mặt ở đó chứ? ... Rất tốt, vậy chúng tôi sẽ qua đó, vì tôi muốn được trò chuyện riêng tư mà không có sự hiện diện của ông ta.... Bác sĩ Watson sẽ đồng hành cùng tôi.... Dựa theo bức thư của ông, tôi đoán chừng là ông không mấy khi ra khỏi nhà.... Vậy thì, chúng tôi sẽ ghé qua vào khoảng sáu giờ. Ông tuyệt đối không cần phải đá động gì chuyện này với vị luật sư người Mỹ kia.... Rất tốt. Chào ông!"

Hoàng hôn của một chiều xuân tuyệt đẹp đang buông xuống. Ngay cả phố Little Ryder, một nhánh rẽ nhỏ hẹp từ đường Edgware, nằm cách gốc cây Tyburn2 từng mang bao ký ức rùng rợn chỉ một tầm ném đá, lúc này cũng khoác lên mình vẻ rực rỡ và kỳ ảo dưới những tia nắng cuối ngày. Ngôi nhà chúng tôi tìm đến là một khối kiến trúc kiểu đầu thời kỳ George, rộng lớn và mang đậm dấu ấn thời gian. Mặt tiền bằng gạch phẳng phiu, chỉ bị phá vỡ bởi hai khung cửa sổ lồi sâu ở tầng trệt. Đây chính là nơi vị khách hàng của chúng tôi sinh sống. Những ô cửa thấp ấy hóa ra lại là mặt trước của một căn phòng thênh thang, nơi ông dành phần lớn thời gian để thức. Khi chúng tôi sải bước ngang qua, Holmes liền chỉ tay vào tấm biển đồng nhỏ khắc cái tên thật kỳ lạ.

"Tấm biển này treo cũng được vài năm rồi đấy, Watson," anh nhận xét, ngón tay lướt qua bề mặt đã xỉn màu. "Dẫu sao thì đây vẫn là tên thật của ông ta, một chi tiết khá đáng lưu tâm."

Ngôi nhà dùng chung một lối cầu thang. Trong sảnh sơn hàng loạt cái tên, cho thấy nơi đây vừa có văn phòng làm việc vừa có phòng riêng. Nó không hẳn là một khu chung cư, mà mang dáng dấp chốn dung thân của những gã độc thân theo phong cách Bohemian phóng túng. Đích thân vị khách hàng đã ra mở cửa đón chúng tôi. Ông cất lời cáo lỗi, bảo rằng người nữ quản gia đã rời đi từ lúc bốn giờ chiều. Ông Nathan Garrideb hóa ra là một người đàn ông vóc dáng lêu nghêu, lưng gù, hốc hác, đầu hói và các khớp xương trông có vẻ lỏng lẻo. Ước chừng ông ta đã ngoài sáu mươi. Khuôn mặt ông nhợt nhạt như một cái xác, với làn da xỉn màu, thiếu sinh khí trầm trọng do chẳng mấy khi vận động. Cặp kính cận tròn xoe, to tướng cùng chòm râu dê mọc lún phún, cộng thêm tư thế còng lưng khúm núm, khiến ông toát ra một vẻ tò mò, săm soi. Dù vậy, ấn tượng tổng thể về người đàn ông này vẫn khá thân thiện, dù cho có đôi phần lập dị.

Căn phòng cũng kỳ quặc chẳng kém gì chủ nhân của nó. Nơi đây hệt như một viện bảo tàng thu nhỏ. Không gian vừa rộng vừa sâu, bao quanh là hàng loạt tủ chè và tủ trưng bày, chật ních các mẫu vật địa chất lẫn giải phẫu. Dọc hai bên lối vào xếp những tủ kính chứa bướm và ngài. Một chiếc bàn lớn nằm chễm chệ giữa phòng, bề mặt ngổn ngang đủ mọi mảnh vỡ, nổi bật ở trung tâm là chiếc ống đồng vươn cao của một kính hiển vi công suất lớn. Đưa mắt quan sát xung quanh, tôi không khỏi kinh ngạc trước sở thích đa dạng của người đàn ông này. Góc này là một hộp tiền xu cổ. Góc kia lại là tủ trưng bày các công cụ bằng đá lửa. Ngay phía sau chiếc bàn giữa phòng, một chiếc tủ lớn chứa đầy xương hóa thạch hiện ra. Phía trên cùng đặt một hàng hộp sọ bằng thạch cao, bên dưới dán nhãn ghi những cái tên như "Neanderthal," "Heidelberg," hay "Cromagnon". Rõ ràng ông ta là một học giả đam mê nghiên cứu trên rất nhiều lĩnh vực. Khi đứng trước mặt chúng tôi lúc này, tay phải ông vẫn cầm một miếng da sơn dương, mải mê đánh bóng một đồng xu cổ.

"Một đồng tiền Syracusan3-thuộc thời kỳ huy hoàng nhất đấy," ông giải thích, giơ nó lên cao. "Về giai đoạn sau, chúng đã thoái hóa đi rất nhiều. Ở thời kỳ rực rỡ nhất, tôi luôn xem chúng là tuyệt tác, dẫu vài người lại chuộng trường phái Alexandrian hơn. Xin mời ông ngồi chiếc ghế này, ông Holmes. Cho phép tôi dẹp mấy khúc xương này sang một bên nhé. Còn ngài, thưa ngài-à, vâng, Bác sĩ Watson-ngài có thể vui lòng nhích chiếc bình Nhật Bản kia sang một bên được không? Ngài thấy đấy, vây quanh tôi là những niềm đam mê nhỏ bé trong đời. Vị bác sĩ của tôi vẫn thường cằn nhằn chuyện tôi chẳng bao giờ chịu bước ra khỏi nhà. Nhưng cớ sao tôi phải ra ngoài khi ở đây có vô vàn thứ níu chân tôi chứ? Tôi dám cá với các ông, chỉ riêng việc lên danh mục đầy đủ cho một trong những chiếc tủ trưng bày kia cũng ngốn của tôi ba tháng trời ròng rã."

Holmes đưa mắt nhìn quanh với vẻ hiếu kỳ.

"Nhưng ông vừa bảo với tôi rằng ông không bao giờ ra ngoài cơ mà?" anh hỏi.

"Thi thoảng tôi cũng có đánh xe tới chỗ của Sotheby hoặc Christie4. Ngoài những lúc đó ra, tôi hiếm khi rời khỏi căn phòng này. Sức khỏe tôi vốn chẳng được tốt, mà những nghiên cứu của tôi lại có sức hút lạ thường. Tuy nhiên, ông có thể tưởng tượng được không, ông Holmes, việc nghe tin về khối tài sản có một không hai này đã giáng xuống tôi một cú sốc kinh khủng đến nhường nào-dù đó là một cú sốc vô cùng dễ chịu. Chỉ cần tìm thêm một người mang họ Garrideb nữa là mọi chuyện sẽ đâu vào đấy, và tôi tin chắc chúng ta sẽ tìm được. Tôi từng có một người anh trai, nhưng ông ấy đã qua đời, còn họ hàng nữ thì lại không đủ điều kiện. Nhưng trên thế giới bao la này ắt hẳn phải còn những người khác nữa chứ. Nghe danh ông từng phá nhiều vụ án kỳ lạ, nên tôi mới quyết định tìm đến. Tất nhiên, vị khách người Mỹ kia nói hoàn toàn có lý, đáng lẽ tôi nên nghe theo lời khuyên của ông ấy ngay từ đầu, nhưng tôi làm vậy cũng chỉ vì muốn tốt cho mọi việc mà thôi."

"Tôi cho rằng ông đã hành xử rất khôn ngoan," Holmes nhận định. "Nhưng ông có thực sự tha thiết muốn sở hữu một khu đất tận bên Mỹ không?"

"Chắc chắn là không rồi, thưa ông. Chẳng điều gì trên đời có thể thuyết phục tôi rời bỏ bộ sưu tập yêu quý này. Thế nhưng, vị khách kia đã cam đoan sẽ mua lại phần đất của tôi ngay khi quyền thừa kế được xác lập. Năm triệu đô la là con số mà ông ấy đưa ra. Hiện tại, trên thị trường đang có hàng tá mẫu vật có thể lấp đầy những khoảng trống trong bộ sưu tập của tôi, vậy mà tôi đành lực bất tòng tâm chỉ vì thiếu vài trăm bảng Anh. Ông cứ thử nghĩ xem tôi có thể làm được những gì với năm triệu đô la? Chà, tôi đang nắm giữ cốt lõi của một bộ sưu tập mang tầm quốc gia đấy. Tôi sẽ trở thành một Hans Sloane5 của thời đại này cho mà xem."

Đôi mắt ông rực sáng phía sau cặp kính to tướng. Rõ ràng, ông Nathan Garrideb sẽ dốc toàn tâm toàn lực vào công cuộc tìm kiếm một người trùng họ với mình.

"Tôi chỉ tạt qua đây để làm quen với ông một chút, chẳng có lý do gì để tôi làm gián đoạn công việc nghiên cứu của ông cả," Holmes nói. "Tôi luôn thích thiết lập mối liên hệ cá nhân với những người mà mình hợp tác. Tôi cần hỏi ông vài câu, bởi lẽ tôi đã cất sẵn bản tường trình rất rõ ràng của ông trong túi, và cũng đã tự mình điền vào những chỗ trống sau khi vị khách người Mỹ kia ghé thăm. Theo tôi hiểu thì mãi đến tuần này ông mới biết đến sự tồn tại của ông ta, có phải vậy không?"

"Đúng vậy. Ông ấy ghé qua đây vào thứ Ba tuần trước."

"Thế ông ấy có kể cho ông nghe về cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay không?"

"Có chứ, ông ấy đi thẳng một mạch về chỗ tôi. Trông ông ấy tức giận lắm."

"Tại sao ông ta lại tức giận?"

"Ông ấy dường như coi việc đó là một sự xúc phạm đến danh dự cá nhân. Nhưng khi quay lại đây thì ông ấy đã vui vẻ trở lại rồi."

"Ông ta có đề xuất kế hoạch hành động nào không?"

"Không, thưa ông, ông ấy không đề xuất gì cả."

"Thế ông ta đã nhận, hay yêu cầu bất kỳ khoản tiền nào từ ông chưa?"

"Không, thưa ông, chưa bao giờ!"

"Ông không nhận thấy ông ta có bất kỳ động cơ nào khác sao?"

"Hoàn toàn không, ngoại trừ những gì ông ấy đã nói."

"Ông có kể cho ông ta nghe về cuộc hẹn qua điện thoại giữa chúng ta không?"

"Có, thưa ông, tôi có kể."

Holmes chìm vào vòng suy tưởng. Tôi có thể nhận ra anh đang rơi vào trạng thái bối rối.

"Trong bộ sưu tập của mình, ông có lưu giữ món đồ nào mang giá trị lớn không?"

"Không, thưa ông. Tôi nào phải kẻ giàu có gì. Đây chỉ là một bộ sưu tập tốt, chứ không mang giá trị vật chất quá lớn."

"Ông không sợ trộm cắp sao?"

"Hoàn toàn không."

"Ông đã sống trong những căn phòng này được bao lâu rồi?"

"Gần năm năm nay."

Cuộc tra hỏi của Holmes bị gián đoạn bởi một tiếng gõ cửa đầy vẻ ra lệnh. Khách hàng của chúng tôi vừa mới trượt chốt cửa, vị luật sư người Mỹ đã kích động lao thẳng vào phòng.

"Đây rồi!" ông ta reo lên, huơ huơ một tờ giấy trên đầu. "Tôi tính là mình sẽ đến kịp để gặp các ông. Ông Nathan Garrideb, xin chúc mừng ông! Ông sắp thành một người giàu có rồi thưa ông. Phi vụ của chúng ta đã khép lại mỹ mãn và mọi chuyện đều êm xuôi. Còn với ông, ông Holmes, chúng tôi chỉ biết nói lời cáo lỗi nếu đã gây ra cho ông bất cứ sự phiền toái vô ích nào."

Ông ta đưa tờ giấy cho khách hàng của chúng tôi. Vị này bấy giờ đang đứng trân trân, dán mắt vào một mẩu quảng cáo đã được đánh dấu. Holmes và tôi cũng rướn người tới và đọc nó qua vai ông. Nội dung nó như sau:

  +-----------------------------------------------------+
  |                                                     |
  | HOWARD GARRIDEB.                                    |
  |                                                     |
  | Nhà Chế tạo Máy Móc Nông nghiệp.                    |
  |                                                     |
  | Máy đóng bó, máy gặt chạy bằng hơi nước và thủ công,|
  | máy khoan, bừa, xe bò, xe buckboard[^6], và tất cả      |
  | các thiết bị khác.                                  |
  |                                                     |
  | Nhận báo giá cho Giếng khoan tự phun.               |
  |                                                     |
  | Liên hệ Tòa nhà Grosvenor, Aston.                   |
  |                                                     |
  +-----------------------------------------------------+

"Tuyệt vời thay!" chủ nhà của chúng tôi thốt lên, giọng đứt quãng vì xúc động. "Vậy là chúng ta đã tìm thấy người thứ ba."

"Tôi đã mở các cuộc điều tra ở Birmingham," người Mỹ rành rọt nói, "và đại lý của tôi ở đó đã gửi về mẩu quảng cáo này, được cắt từ một tờ báo địa phương. Chúng ta phải gấp rút chốt lại mọi việc thôi. Tôi đã biên thư cho người đàn ông này, báo rằng ông sẽ trực tiếp đến gặp ông ta tại văn phòng lúc bốn giờ chiều mai."

"Ông muốn tôi đến gặp ông ấy sao?"

"Ông thấy sao, ông Holmes? Ông không cho rằng như thế là khôn ngoan nhất sao? Cứ nhìn tôi đây này, một gã người Mỹ tha hương với một câu chuyện nghe chừng khó tin. Cớ gì ông ta lại phải tin những lời tôi nói chứ? Nhưng ông lại là một người Anh với lý lịch vững chắc, và hiển nhiên ông ta sẽ phải chú tâm đến những gì ông trình bày. Tôi có thể tháp tùng ông nếu ông muốn, ngặt nỗi ngày mai tôi lại bận tối mắt tối mũi. Dù sao thì tôi vẫn luôn có thể theo sau hỗ trợ nếu ông gặp bất kỳ rắc rối nào."

"Chà, đã nhiều năm rồi tôi không thực hiện một chuyến đi xa đến thế."

"Chẳng có gì to tát đâu, ông Garrideb. Tôi đã tính toán cẩn thận lịch trình các chuyến tàu nối tiếp cho ông rồi. Ông khởi hành lúc mười hai giờ trưa và sẽ đến nơi ngay sau hai giờ chiều. Rồi ông có thể quay về ngay trong đêm đó. Tất cả những gì ông cần làm là đi gặp người đàn ông kia, giải thích ngọn ngành vấn đề, và lấy một bản khai có tuyên thệ xác nhận sự tồn tại của ông ta. Lạy Chúa!" ông ta buông thêm một câu với vẻ sốt sắng, "xét việc tôi đã lặn lội từ tận miền trung nước Mỹ xa xôi đến đây, thì việc ông ngồi xe lửa một trăm dặm để chốt hạ vụ này chắc chắn chẳng thấm tháp vào đâu."

"Hoàn toàn chính xác," Holmes lên tiếng. "Tôi nghĩ những gì quý ông đây nói đều cực kỳ hợp lý."

Ông Nathan Garrideb nhún vai với vẻ cam chịu pha chút buồn rầu. "Chà, nếu ông đã khăng khăng thì tôi sẽ đi," ông nói. "Quả thực tôi rất khó lòng chối từ ông bất cứ điều gì, nhất là khi vinh quang của niềm hy vọng mà ông mang đến đã thắp sáng cuộc đời tôi."

"Vậy là mọi chuyện đã ngã ngũ," Holmes nói, "và không còn nghi ngờ gì nữa, mong ngài sẽ báo lại kết quả cho tôi tường tận sớm nhất có thể."

"Tôi sẽ lo liệu việc đó," người Mỹ nói. "Chà," ông ta nói thêm, liếc nhìn đồng hồ, "tôi phải đi thôi. Ngày mai tôi sẽ ghé qua, ông Nathan, để tiễn ông lên đường đi Birmingham. Ông có đi cùng đường với tôi không, ông Holmes? Vậy thì, xin cáo từ, và biết đâu chúng tôi sẽ mang tin tốt lành đến cho ông vào tối mai."

Tôi nhận thấy nét mặt người bạn tôi giãn ra hẳn khi người Mỹ vừa rời khỏi phòng, và vẻ đăm chiêu suy nghĩ cũng biến mất.

"Tôi ước gì mình có thể thưởng lãm trọn vẹn bộ sưu tập của ngài, ông Garrideb," anh nói. "Trong nghề nghiệp của tôi, đủ mọi ngóc ngách kiến thức kỳ lạ đều có thể trở nên hữu dụng, và căn phòng này của ngài quả là một kho tàng vô giá."

Vị khách hàng của chúng tôi bừng sáng nét mặt vì sung sướng, và đôi mắt ông lấp lánh sau cặp kính to sụ.

"Tôi vẫn luôn nghe danh về sự thông tuệ của ông, thưa ngài," ông cất lời. "Nếu ông có thời gian, tôi rất sẵn lòng dẫn ông đi một vòng tham quan ngay bây giờ."

"Thật đáng tiếc, tôi lại đang kẹt chút việc. Nhưng các mẫu vật ở đây đều đã được dán nhãn và phân loại kỹ lưỡng đến mức dường như chẳng cần ngài phải đích thân thuyết minh. Giả sử chiều mai tôi ghé qua, chắc ngài sẽ không phiền nếu tôi tự dạo xem một vòng chứ?"

"Hoàn toàn không. Rất hoan nghênh ông. Dĩ nhiên là căn nhà sẽ bị khóa, nhưng bà Saunders ở dưới tầng hầm sẽ ở lại đến bốn giờ chiều và bà ấy có thể dùng chìa khóa mở cửa cho ông vào."

"Chà, thật tình cờ là chiều mai tôi lại rảnh rỗi. Nếu ngài có thể dặn trước bà Saunders một tiếng thì thật ổn thỏa. Nhân tiện, đại lý bất động sản quản lý căn nhà này là ai vậy?"

Vị khách hàng của chúng tôi thoáng sững sờ trước câu hỏi đột ngột.

"Holloway và Steele, ở đường Edgware. Nhưng sao ông lại hỏi vậy?"

"Bản thân tôi cũng là một tay khảo cổ nghiệp dư khi nghiên cứu về nhà cửa," Holmes bật cười sảng khoái. "Tôi chỉ đang thắc mắc không biết công trình này được xây dựng từ thời Nữ hoàng Anne hay thời kỳ George7."

"Chắc chắn là thời George rồi."

"Vậy sao? Tôi lại cứ ngỡ nó được xây sớm hơn một chút cơ. Dẫu sao thì điều này cũng rất dễ xác minh. Chà, xin cáo từ ông Garrideb, chúc ngài có một chuyến đi đến Birmingham thành công rực rỡ."

Văn phòng của đại lý bất động sản nằm ngay gần đó, nhưng chúng tôi thấy nó đã đóng cửa nghỉ lễ, thế là đành quay về phố Baker. Mãi đến sau bữa tối, Holmes mới khơi lại chủ đề này.

"Vụ án nhỏ của chúng ta đang đi đến hồi kết," anh trầm ngâm. "Không nghi ngờ gì nữa, chắc hẳn trong đầu anh đã tự phác thảo ra lời giải rồi chứ."

"Tôi chẳng hiểu đầu đuôi ra sao cả."

"Cái đầu thì đã rõ ràng rồi, còn cái đuôi thì ngày mai chúng ta sẽ thấy. Anh không nhận ra điểm gì kỳ lạ ở mẩu quảng cáo đó sao?"

"Tôi thấy từ 'plough' bị viết sai chính tả."

"Ồ, anh có để ý chuyện đó cơ à? Khá lắm Watson, dạo này anh đang tiến bộ từng ngày đấy. Đúng vậy, đó là một từ tiếng Anh sai bét nhưng lại chuẩn theo chính tả nước Mỹ. Thợ in chỉ đơn thuần là sắp chữ y hệt như bản thảo gốc mà họ nhận được. Rồi đến từ xe 'buckboard' cũng rặt một kiểu Mỹ. Cả cụm từ 'giếng khoan tự phun' cũng phổ biến ở xứ họ hơn là bên ta. Tựu trung lại, đây là một mẩu quảng cáo sặc mùi Mỹ, nhưng lại được mạo danh là do một công ty Anh quốc đăng tải. Anh nghĩ sao về điều này?"

"Tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng chính vị luật sư người Mỹ kia đã tự mình đăng nó. Còn mục đích thực sự của ông ta là gì thì tôi chịu, không thể nào hiểu nổi."

"Chà, có nhiều cách lý giải cho chuyện này. Rõ ràng là hắn ta muốn tống khứ vị học giả già đáng kính đó đến tận Birmingham. Điều đó rành rành ra đấy. Đáng lẽ tôi đã nói tuột ra cho ông ấy biết rằng chuyến đi này hoàn toàn vô ích, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tốt hơn hết là cứ để ông ấy dời đi nhằm dọn trống sân khấu. Ngày mai, Watson ạ-chà, ngày mai mọi thứ sẽ tự khắc phơi bày."

Sáng sớm hôm sau, Holmes đã ra khỏi nhà. Khi anh trở về vào đúng giờ cơm trưa, tôi nhận thấy vẻ mặt anh vô cùng nghiêm trọng.

"Sự việc nghiêm trọng hơn dự tính của tôi nhiều, Watson ạ," anh nói. "Đáng lẽ tôi phải báo trước cho anh biết, mặc dù tôi thừa hiểu chuyện đó sẽ chỉ càng khiến anh lao đầu vào chỗ nguy hiểm. Ngần ấy thời gian, tôi phải hiểu rõ người bạn Watson của mình chứ. Nhưng quả thực có nguy hiểm rình rập, và anh nên biết điều đó."

"Chà, đây đâu phải là lần đầu chúng ta vào sinh ra tử cùng nhau, Holmes. Tôi cũng hy vọng đây không phải là lần cuối. Rốt cuộc thì mối nguy hiểm cụ thể lần này là gì?"

"Chúng ta đang phải đối đầu với một vụ án rất hóc búa. Tôi đã xác minh được thân phận của John Garrideb, vị 'Luật sư cố vấn' khả kính. Hắn không ai khác chính là 'Sát thủ' Evans, một kẻ nổi danh tàn độc và máu lạnh."

"Tôi e là mình vẫn chưa mường tượng ra chút nào."

"À, thì việc lúc nào cũng ghi nhớ nằm lòng cuốn Lịch Newgate8 đâu phải là chuyên môn của anh. Tôi đã xuống trụ sở Scotland Yard gặp anh bạn Lestrade. Dưới đó đôi lúc có thể thiếu đi sự nhạy bén của trí tưởng tượng, nhưng xét về sự tỉ mỉ và bài bản thì họ đứng đầu thế giới. Tôi chợt nảy ra ý định rằng biết đâu chúng ta có thể lần ra tung tích của người bạn Mỹ kia trong kho hồ sơ lưu trữ của họ. Quả nhiên, tôi đã bắt gặp khuôn mặt bụ bẫm của hắn đang cười nhăn nhở với tôi từ Phòng Trưng bày Chân dung Tội phạm. James Winter, bí danh Morecroft, bí danh Sát thủ Evans, đó là những dòng chữ được ghi bên dưới." Holmes rút một chiếc phong bì từ trong túi ra. "Tôi đã ghi chú vội vài điểm từ hồ sơ của hắn. Bốn mươi bốn tuổi. Quê ở Chicago. Được biết là đã bắn hạ ba người ở Mỹ. Thoát khỏi nhà giam nhờ thế lực chính trị chống lưng. Đến London năm 1893. Bắn chết một gã vì tranh chấp cờ bạc trong một hộp đêm ở Phố Waterloo vào tháng Một năm 1895. Gã đàn ông kia bỏ mạng, nhưng hắn lại được chứng minh là nạn nhân tự vệ trong cuộc ẩu đả. Người chết được xác định là Rodger Prescott, một tay tội phạm khét tiếng chuyên giả mạo chữ ký và làm tiền giả ở Chicago. Sát thủ Evans được phóng thích vào năm 1901. Kể từ đó hắn luôn nằm trong tầm ngắm của cảnh sát, nhưng theo những gì được ghi nhận thì hắn sống một cuộc đời lương thiện. Một gã cực kỳ nguy hiểm, luôn mang theo vũ khí và sẵn sàng nhả đạn. Con mồi của chúng ta đấy, Watson-một con mồi đáng gờm, anh phải thừa nhận điều đó chứ."

"Nhưng rốt cuộc âm mưu của hắn là gì?"

"Chà, mọi thứ đang dần thành hình rồi. Tôi đã ghé qua văn phòng đại lý bất động sản. Khách hàng của chúng ta, đúng như những gì ông ấy nói, đã chuyển đến đó được năm năm. Trùng hợp thay, căn phòng đó đã bị bỏ trống suốt một năm trời trước đó. Người thuê cuối cùng là một quý ngài rảnh rỗi tên Waldron. Nhân viên văn phòng vẫn nhớ như in diện mạo của ông ta. Ông ta đột nhiên biến mất tăm hơi và từ đó không một ai còn nghe ngóng được tin tức gì về ông ta nữa. Đó là một gã đàn ông cao lớn, để râu, mang những đường nét vô cùng hắc ám. Mà này, Prescott, kẻ bị Sát thủ Evans bắn chết, theo hồ sơ của Scotland Yard, cũng là một gã đàn ông cao lớn, ngăm đen, để râu. Nếu coi đây là một giả thuyết để điều tra, tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có cơ sở để nhận định Prescott, tên tội phạm người Mỹ kia, đã từng trú ngụ tại chính căn phòng mà người bạn ngây thơ của chúng ta hiện đang cống hiến cho bảo tàng của ông ấy. Thế là cuối cùng chúng ta cũng tìm ra một mắt xích liên kết, anh thấy đấy."

"Vậy mắt xích tiếp theo là gì?"

"Chà, bây giờ chúng ta phải đi tìm kiếm nó thôi."

Anh lấy một khẩu súng lục từ trong ngăn kéo ra và đưa cho tôi.

"Tôi cũng mang theo món đồ chơi cũ thân thuộc của mình đây. Nếu người bạn đến từ miền Tây Hoang dã của chúng ta định thể hiện đúng như cái biệt danh của hắn, chúng ta cũng phải sẵn sàng tiếp đón hắn. Tôi sẽ cho anh một giờ để chợp mắt, Watson, và sau đó tôi nghĩ sẽ đến lúc cho chuyến phiêu lưu ở Phố Ryder của chúng ta."

Đúng bốn giờ, chúng tôi có mặt tại căn hộ kỳ lạ của Nathan Garrideb. Bà Saunders, người quản gia, đang chuẩn bị ra về, nhưng bà chẳng chút ngần ngại để chúng tôi vào. Cánh cửa được trang bị một ổ khóa tự động, và Holmes đã hứa sẽ kiểm tra lại để đảm bảo mọi thứ an toàn trước khi chúng tôi rời đi. Một lát sau, cánh cửa bên ngoài khép lại, chiếc mũ len của bà lướt qua ô cửa sổ lồi, và chúng tôi biết rằng giờ đây cả hai đã hoàn toàn đơn độc ở tầng dưới của ngôi nhà. Holmes nhanh chóng rà soát căn phòng. Ở một góc tối, có một chiếc tủ búp phê hơi nhô ra khỏi tường. Cuối cùng, chúng tôi thu mình nép sau nó, trong khi Holmes thì thầm phác thảo những dự định của mình.

"Hắn muốn dụ người bạn thân thiện của chúng ta ra khỏi phòng - điều đó đã quá rõ ràng. Và, vì nhà sưu tầm này chẳng bao giờ bước chân ra ngoài, hắn đã phải bày ra không ít mưu mẹo mới đạt được mục đích. Toàn bộ câu chuyện bịa đặt về Garrideb này dường như chẳng nhằm mục đích nào khác. Tôi phải nói rằng, Watson, ở đó có một sự khéo léo đầy ma quỷ, dẫu rằng cái tên kỳ quặc của người thuê nhà quả thực đã trao cho hắn một cơ hội mà chính hắn cũng khó lòng ngờ tới. Hắn đã dệt nên mạng lưới âm mưu của mình với một sự tinh ranh đáng kinh ngạc."

"Nhưng hắn muốn gì?"

"Chà, đó chính là điều chúng ta ở đây để tìm ra. Theo như tôi phán đoán, việc này hoàn toàn chẳng liên quan gì đến khách hàng của chúng ta cả. Nó liên quan đến kẻ mà hắn đã sát hại - kẻ có thể từng là đồng phạm của hắn. Có một bí mật đen tối nào đó ẩn giấu trong căn phòng này. Đó là cách tôi nhìn nhận sự việc. Lúc đầu, tôi đã nghĩ người bạn của chúng ta có thể sở hữu thứ gì đó trong bộ sưu tập của ông ấy giá trị hơn ông ấy tưởng - thứ gì đó đáng để một tên tội phạm cỡ bự phải chú ý. Nhưng thực tế rằng Rodger Prescott, kẻ mang một quá khứ tội lỗi, đã từng cư ngụ trong chính những căn phòng này, lại chỉ ra một nguyên do sâu xa hơn. Chà, Watson, chúng ta chỉ còn biết kiên nhẫn và chờ xem thời gian sẽ mang đến điều gì."

Thời khắc ấy không lâu sau đã điểm. Chúng tôi nép mình sát hơn vào bóng tối khi nghe thấy cánh cửa bên ngoài mở ra rồi đóng lại. Tiếp đó là tiếng lách cách kim loại sắc gọn của một chiếc chìa khóa, và gã người Mỹ đã ở trong phòng. Hắn khẽ khép cửa sau lưng, đảo mắt quét một vòng quanh phòng để chắc chắn mọi thứ đều an toàn, cởi phăng chiếc áo khoác ngoài ném sang một bên, rồi sải bước thẳng đến chiếc bàn trung tâm với dáng vẻ nhanh nhẹn của một kẻ biết chính xác mình phải làm gì và làm như thế nào. Hắn đẩy chiếc bàn sang một bên, xé toạc tấm thảm vuông trải bên dưới, cuộn tròn nó lại, rồi rút từ túi áo trong ra một chiếc xà beng. Hắn quỳ xuống và gồng mình cạy sàn nhà. Một lát sau, chúng tôi nghe thấy tiếng những tấm ván trượt đi, và ngay sau đó, một ô vuông đã mở ra giữa các tấm ván sàn. Sát thủ Evans bật một que diêm, thắp một mẩu nến, rồi biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Rõ ràng thời cơ của chúng tôi đã đến. Holmes chạm vào cổ tay tôi ra hiệu, và cả hai cùng rón rén tiến đến bên cánh cửa sập đang mở toang. Thế nhưng, dù chúng tôi di chuyển nhẹ nhàng đến mấy, sàn nhà cũ kỹ hẳn đã phải kêu cọt kẹt dưới chân, vì cái đầu của gã người Mỹ, đang thấp thỏm ngó nghiêng, đột ngột nhô lên khỏi khoảng không tối om bên dưới. Khuôn mặt hắn quay về phía chúng tôi với một cái lườm giận dữ xen lẫn bối rối, rồi dần dãn ra thành một nụ cười nhăn nhở khá xấu hổ khi hắn nhận ra có hai khẩu súng lục đang chĩa thẳng vào đầu mình.

"Chà, chà!" hắn buông lời, giọng thản nhiên, trong lúc loạng choạng bò lên khỏi mặt sàn. "Tôi đoán các ông đã cao tay hơn tôi một bậc rồi, ông Holmes. Tôi cho là các ông đã nhìn thấu trò của tôi ngay từ đầu, và coi tôi như một thằng ngốc. Chà, thưa ông, tôi xin chịu thua ông; ông đã đánh bại tôi và -"

Trong nháy mắt, hắn rút phắt một khẩu súng lục từ trong ngực và nổ hai phát. Tôi cảm thấy một vết bỏng rát đột ngột, như thể có một thanh sắt nung đỏ ấn thẳng vào đùi mình. Có một tiếng va đập khô khốc khi báng súng của Holmes giáng xuống đầu gã đàn ông. Tôi thoáng thấy hắn ngã sõng soài trên sàn, máu ròng ròng chảy trên mặt, trong lúc Holmes lục soát hắn để tước vũ khí. Sau đó, đôi cánh tay săn chắc của bạn tôi vòng qua người tôi, và anh dìu tôi đến một chiếc ghế.

"Anh không bị thương chứ, Watson? Vì Chúa, hãy nói rằng anh không bị thương đi!"

Một vết thương quả là xứng đáng - nhiều vết thương cũng đáng - để biết được chiều sâu của lòng trung thành và tình yêu thương ẩn sau chiếc mặt nạ lạnh lùng kia. Đôi mắt trong trẻo, cứng rắn đã mờ đi trong giây lát, và đôi môi kiên định đang run rẩy. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, tôi bắt gặp một thoáng hé lộ vào một trái tim vĩ đại cũng như một bộ óc vĩ đại. Tất cả những năm tháng phục vụ khiêm tốn nhưng một lòng một dạ của tôi đã đạt đến đỉnh điểm trong khoảnh khắc vỡ òa ấy.

"Không sao đâu, Holmes. Chỉ là một vết xước ngoài da thôi."

Anh đã dùng con dao bỏ túi của mình rạch toạc ống quần tôi ra.

"Anh nói đúng," anh kêu lên, cùng một tiếng thở phào nhẹ nhõm vô bờ bến. "Nó chỉ là vết thương ngoài da." Khuôn mặt anh đanh lại như đá khi anh trừng mắt nhìn tù nhân của chúng tôi, kẻ đang ngồi dậy với vẻ mặt đờ đẫn. "Lạy Chúa, như thế lại hóa hay cho nhà ngươi. Nếu ngươi mà giết Watson, ngươi đừng hòng sống sót mà bước ra khỏi căn phòng này. Bây giờ, thưa ngài, ngài có gì để biện minh cho bản thân không?"

Hắn chẳng có gì để biện minh cho mình. Hắn chỉ nằm đó và cau có. Tôi dựa vào cánh tay của Holmes, và cùng nhau chúng tôi nhìn xuống căn hầm nhỏ vừa được hé lộ qua cánh cửa sập bí mật. Nó vẫn được chiếu sáng bởi ngọn nến mà Evans đã mang xuống. Mắt chúng tôi đổ dồn vào một đống máy móc hoen gỉ, những cuộn giấy lớn, vô số chai lọ vứt lộn xộn, và, được sắp xếp gọn gàng trên một chiếc bàn nhỏ, là những cọc tiền nhăn nheo.

"Một chiếc máy in - đồ nghề của một kẻ làm tiền giả," Holmes nói.

"Vâng, thưa ông," tù nhân của chúng tôi đáp, loạng choạng chầm chậm đứng dậy, rồi thả mình xuống ghế. "Kẻ làm tiền giả vĩ đại nhất mà London từng chứng kiến. Đó là cỗ máy của Prescott, và những cọc tiền trên bàn kia là hai nghìn tờ bạc của Prescott, mỗi tờ trị giá một trăm bảng và có thể đem đi tiêu ở bất cứ đâu. Xin cứ tự nhiên, thưa các quý ông. Hãy coi như đây là một vụ làm ăn và để tôi chuồn khỏi đây."

Holmes cười lớn.

"Chúng tôi không làm những việc như vậy, ông Evans ạ. Không có lỗ hổng nào cho ông ở đất nước này đâu. Ông đã giết tên Prescott này, phải không?"

"Vâng, thưa ông, và đã lĩnh án năm năm vì điều đó, mặc dù chính hắn là kẻ đã chĩa súng vào tôi trước. Năm năm - đáng lẽ tôi phải được nhận một chiếc huy chương to bằng cái đĩa đựng súp. Không một kẻ sống nào có thể phân biệt được một tờ bạc của Prescott với một tờ của Ngân hàng Trung ương Anh, và nếu tôi không trừ khử hắn thì hắn đã nhấn chìm London trong đống tiền giả đó rồi. Tôi là kẻ duy nhất trên thế giới biết được hắn làm ra chúng ở đâu. Các ông có ngạc nhiên không khi tôi muốn tìm đến nơi đó? Và các ông có ngạc nhiên không khi tôi thấy cái gã ngốc điên rồ chuyên săn bọ với cái tên kỳ quặc này đang ngồi chồm hỗm ngay trên đầu nó, và chẳng bao giờ chịu rời khỏi phòng, khiến tôi phải làm đủ mọi cách để tống cổ ông ta đi? Có lẽ tôi đã khôn ngoan hơn nếu tôi trừ khử luôn ông ta. Việc đó dễ như trở bàn tay, nhưng tôi là một gã mềm lòng, chẳng thể nổ súng trừ khi kẻ kia cũng có súng trong tay. Nhưng này, ông Holmes, tôi đã làm gì sai nào? Tôi chưa hề sử dụng cái xưởng in này. Tôi chưa hề làm hại lão già cứng nhắc kia. Các ông bắt tôi về tội gì?"

"Chỉ là mưu toan giết người thôi, theo như tôi thấy," Holmes nói. "Nhưng đó không phải là việc của chúng tôi. Họ sẽ lo việc đó ở giai đoạn tiếp theo. Những gì chúng tôi muốn lúc này chỉ là bản thân ngọt ngào của ông thôi. Watson, vui lòng gọi cho Scotland Yard đi. Việc này hẳn sẽ không nằm ngoài dự đoán của họ đâu."

Vậy đó là những sự thật về Sát thủ Evans và sáng kiến đầy kỳ công của hắn về ba người Garrideb. Sau này, chúng tôi được biết người bạn già tội nghiệp của chúng tôi không bao giờ vượt qua được cú sốc khi những giấc mơ của mình tan tành mây khói. Khi lâu đài trên không của ông sụp đổ, nó đã vùi lấp ông dưới những đống đổ nát. Người ta nghe tin về ông lần cuối là tại một viện dưỡng lão ở Brixton. Đó là một ngày vui mừng ở Scotland Yard khi đồ nghề của Prescott được phát hiện, vì, dù họ biết rằng nó tồn tại, nhưng sau cái chết của hắn, họ chưa bao giờ có thể tìm ra nó ở đâu. Evans quả thực đã góp một công lớn và giúp cho không ít nhân viên C.I.D. đáng kính có được những giấc ngủ ngon hơn, bởi kẻ làm tiền giả đứng trong một đẳng cấp riêng như một mối nguy hiểm đối với công chúng. Họ đã sẵn sàng quyên góp cho chiếc huy chương to bằng cái đĩa đựng súp mà tên tội phạm đã nhắc tới, nhưng Tòa án lại không mấy biết trân trọng công lao ấy và giữ một quan điểm kém hào phóng hơn hẳn. Thế là Sát thủ lại quay trở về với những bóng tối mà hắn vừa mới ngoi lên.



  1. Còn được gọi là Chiến tranh Boer lần thứ hai (1899-1902), một cuộc xung đột lớn giữa Đế quốc Anh và hai nước cộng hòa độc lập của người Boer ở Nam Phi. Cuộc chiến này có tác động sâu sắc đến chính trị và xã hội Anh đầu thế kỷ 20. 

  2. Tyburn Tree là tên gọi của một giá treo cổ khổng lồ bằng gỗ nằm ở làng Tyburn (gần ngã tư Marble Arch, London ngày nay), nơi từng diễn ra các buổi hành quyết công khai rùng rợn suốt nhiều thế kỷ cho đến năm 1783. 

  3. Syracuse là một thành bang Hy Lạp cổ đại hùng mạnh trên đảo Sicily. Những đồng tiền xu đúc tại Syracuse, đặc biệt là ở thế kỷ 5-4 TCN, được giới sưu tập đánh giá là những kiệt tác nghệ thuật đỉnh cao nhất trong lịch sử đúc tiền xu cổ đại. 

  4. Sotheby's và Christie's là hai nhà đấu giá danh tiếng và lâu đời nhất thế giới, có trụ sở tại London, chuyên tổ chức đấu giá các tác phẩm nghệ thuật, đồ cổ và đồ sưu tầm đắt giá. 

  5. Sir Hans Sloane (1660-1753) là một bác sĩ và nhà sưu tầm vĩ đại người Ireland gốc Anh. Khối lượng mẫu vật khổng lồ mà ông hiến tặng cho quốc gia đã trở thành nền tảng để thành lập Bảo tàng Anh (British Museum), Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Thư viện Quốc gia Anh. 

  6. Buckboard là một loại xe ngựa bốn bánh kéo không có mui, ván sàn xe được thiết kế đặc biệt uốn cong linh hoạt để hấp thụ chấn động. Đây là phương tiện đi lại rất phổ biến ở các vùng nông thôn và biên giới nước Mỹ thế kỷ 19. 

  7. Hai thời kỳ kiến trúc nổi bật của Anh. Kiến trúc Nữ hoàng Anne (đầu thế kỷ 18) đặc trưng bởi gạch đỏ và nét trang nhã cổ điển, trong khi kiến trúc thời kỳ George (Georgian, 1714-1830) nổi tiếng với tính đối xứng nghiêm ngặt và sự bề thế. 

  8. Newgate Calendar (Lịch Newgate) là một ấn phẩm phổ biến ở Anh vào thế kỷ 18 và 19, ghi chép lại các vụ án mạng, tiểu sử tội phạm và các vụ hành quyết tại nhà tù Newgate ở London. Nó được coi là cuốn bách khoa toàn thư về giới tội phạm thời bấy giờ.