CHƯƠNG III. TRUY TÌM MANH MỐI
Mãi đến năm rưỡi Holmes mới quay về. Trông anh rạng rỡ hẳn lên, tràn đầy hăng hái và phấn chấn lạ thường - một trạng thái vốn thường luân phiên thay thế cho những cơn u uất đen tối nhất trong tâm hồn anh.
“Vụ này chẳng có gì bí ẩn lớn lao cả,” anh cất tiếng, vừa đón lấy tách trà tôi mới rót cho anh. “Mọi sự kiện dường như chỉ còn mỗi một lối giải thích mà thôi.”
“Gì cơ! Anh đã phá được án rồi ư?”
“Ồ, nói thế thì hơi quá lời. Tôi mới chỉ phát hiện ra một sự thật gợi mở, vậy thôi. Nhưng quả thật nó rất gợi mở. Còn những chi tiết vụn vặt thì vẫn phải ráp nối thêm. Tôi vừa lần giở mấy số báo cũ của tờ Times và phát hiện ra rằng Thiếu tá Sholto, cư ngụ tại vùng Upper Norwood, nguyên là cựu binh của Trung đoàn Bộ binh Bombay số 34, đã từ trần vào ngày 28 tháng Tư năm 1882.”
“E rằng tôi chậm hiểu quá, Holmes ạ, nhưng tôi chẳng thấy điểm này gợi mở được điều gì.”
“Không ư? Anh khiến tôi ngạc nhiên đấy. Vậy hãy nhìn nhận thế này xem. Đại úy Morstan mất tích. Người duy nhất ở London mà ông ấy có thể ghé thăm chính là Thiếu tá Sholto. Thiếu tá Sholto một mực chối rằng chưa từng nghe tin ông ấy đặt chân đến London. Bốn năm sau, Sholto qua đời. Chỉ trong vòng một tuần kể từ cái chết của ông ta, cô con gái của Đại úy Morstan bắt đầu nhận được một món quà giá trị. Món quà ấy cứ lặp đi lặp lại hết năm này sang năm khác, và giờ đây đạt đến đỉnh điểm với một bức thư miêu tả cô là một người phụ nữ bị đối xử bất công. Còn thứ bất công nào có thể ám chỉ ở đây, nếu không phải là việc cô bị tước mất người cha? Và tại sao những món quà kia lại chỉ bắt đầu ngay sau khi Sholto chết, trừ phi kẻ thừa kế của Sholto biết rõ điều gì đó về bí ẩn này và cảm thấy cần phải bồi hoàn? Anh thử nghĩ xem, liệu có giả thuyết nào khác khớp được với toàn bộ chuỗi sự kiện ấy không?”
“Nhưng quả là một cách đền bù hết sức kỳ quặc! Mà cách thực hiện cũng lạ lùng không kém! Tại sao giờ này ông ta mới chịu viết thư, thay vì sáu năm trước? Vả lại, bức thư còn nói đến chuyện trả lại công lý cho cô ấy. Cô ấy thì mong đợi được thứ công lý gì đây? Nghĩ rằng cha cô ấy vẫn còn sống e là quá viển vông. Mà trong hoàn cảnh của cô ấy, tôi chẳng thấy còn sự bất công nào khác nữa.”
“Có những khúc mắc; đúng là còn nhiều khúc mắc,” Sherlock Holmes trầm ngâm. “Nhưng chuyến hành trình tối nay của chúng ta sẽ tháo gỡ tất cả. A, kìa, một cỗ xe ngựa bốn bánh đang đến, và cô Morstan đang ngồi bên trong. Anh đã sẵn sàng cả rồi chứ? Vậy thì ta xuống ngay thôi, trễ giờ mất một chút rồi.”
Tôi đội mũ và cầm lấy cây gậy nặng nhất của mình, nhưng tôi để ý thấy Holmes rút khẩu súng lục từ trong ngăn kéo ra và nhét nó vào túi áo. Rõ ràng trong mắt anh, chuyến đi đêm nay của chúng tôi hứa hẹn sẽ chẳng phải trò đùa.
Cô Morstan khoác lên mình chiếc áo choàng sẫm màu, gương mặt thanh tú của cô tuy điềm tĩnh nhưng lại tái nhợt khác thường. Hẳn cô phải là một người phi thường lắm mới chẳng hề lộ chút bối rối nào trước cuộc phiêu lưu kỳ quặc mà chúng tôi sắp dấn thân vào. Khả năng tự chủ của cô thật đáng khâm phục, và cô sẵn lòng đáp lại mấy câu hỏi mà Sherlock Holmes nêu ra thêm.
"Thiếu tá Sholto là một người bạn vô cùng thân thiết của cha tôi," cô nói. "Thư từ của ông lúc nào cũng nhắc đến vị thiếu tá ấy. Ông và cha tôi từng cùng chỉ huy quân đội ở quần đảo Andaman, thế nên họ gần như lúc nào cũng kề cận bên nhau. À, nhân tiện, có một mảnh giấy kỳ lạ được tìm thấy trong bàn làm việc của cha tôi mà chẳng ai hiểu nổi. Tôi không nghĩ nó có chút quan trọng nào đâu, nhưng tôi đoán có lẽ ngài muốn xem qua, nên tôi đã mang theo. Nó đây ạ."
Holmes thận trọng mở tờ giấy ra và vuốt cho nó phẳng phiu trên đầu gối mình. Rồi anh chăm chú xem xét từng li từng tí một bằng chiếc kính lúp kép, lật tới lật lui hết sức tỉ mỉ.
"Đây là loại giấy do thổ dân Ấn Độ làm ra," anh nhận định. "Trước kia nó từng được ghim lên một tấm bảng. Sơ đồ vẽ trên này trông giống như bản phác họa một phần của một tòa dinh thự lớn, với vô số sảnh đường, hành lang và lối đi. Ở một góc nọ có một dấu thập nhỏ được vẽ bằng mực đỏ, phía trên là dòng chữ '3,37 từ trái sang,' nét bút chì đã phai mờ. Nơi góc trái là một ký hiệu tượng hình hết sức quái dị, trông tựa bốn chữ thập nằm vắt ngang trên một đường thẳng với những nhánh chạm vào nhau. Kế bên là dòng chữ được nắn nót bằng những nét viết vụng về và cứng nhắc: 'Dấu hiệu của Bộ Tứ, - Jonathan Small, Mahomet Singh, Abdullah Khan, Dost Akbar.' Không, tôi phải thú thực là mình chưa hiểu điều này thì can hệ gì đến vụ việc. Dẫu sao, rõ ràng đây là một tài liệu quan trọng. Nó đã được cất giữ hết sức nâng niu trong một cuốn sổ tay, bởi cả hai mặt giấy đều sạch sẽ như nhau."
"Chính trong cuốn sổ tay của cha tôi, người ta đã tìm ra nó."
"Vậy thì cô hãy giữ gìn nó thật cẩn thận nhé, cô Morstan, vì biết đâu nó sẽ trở nên hữu ích cho chúng ta. Tôi bắt đầu ngờ rằng sự việc này có lẽ sâu xa và rắc rối hơn nhiều so với những gì tôi nghĩ lúc ban đầu. Tôi cần phải sắp xếp lại những suy nghĩ của mình."
Anh ngả người ra phía sau thành xe, và qua đôi lông mày nhíu chặt cùng ánh mắt trở nên xa xăm vô định, tôi có thể thấy anh đang đắm chìm trong dòng suy tưởng miên man. Cô Morstan và tôi khẽ khàng trò chuyện với nhau về cuộc hành trình trước mắt cùng những kết cục khả dĩ, nhưng người bạn đồng hành của chúng tôi vẫn giữ nguyên thái độ im lặng đầy bí ẩn cho đến tận lúc chuyến xe kết thúc.
Đó là một buổi tối tháng Chín, còn chưa tới bảy giờ, nhưng cả ngày hôm ấy u ám đến nao lòng. Một màn sương dày đặc quyện cùng mưa phùn giăng thấp trên thành phố mênh mông. Những đám mây xám màu bùn ủ rũ buông mình xuống các con phố lầy lội. Dọc đường Strand, ánh đèn chỉ còn là những quầng sáng nhạt nhòa, hắt xuống vỉa hè trơn trượt những vòng tròn le lói yếu ớt. Từ các ô cửa kính cửa hàng, thứ ánh sáng vàng chói lóa cố len qua bầu không khí đặc quánh hơi nước, rồi đổ xuống con đường tấp nập một luồng sáng nhập nhoạng, ảm đạm đến lạ. Trong tâm trí tôi, có điều gì đó thật rùng rợn và ma quái nơi dòng người vô tận nối nhau lướt qua những dải sáng hẹp này - những khuôn mặt buồn bã, những khuôn mặt tươi vui, kẻ hốc hác, người rạng rỡ. Cứ như muôn kiếp nhân sinh, họ từ bóng tối bước ra ánh sáng, rồi lại chìm khuất vào bóng tối thêm một lần nữa. Tôi vốn không phải là kẻ dễ mềm lòng trước ngoại cảnh, nhưng cái buổi tối nặng nề, ảm đạm này, cộng thêm công việc kỳ quặc mà chúng tôi đang dấn thân vào, gộp lại khiến lòng tôi trĩu nặng lo âu và chán chường. Nhìn sang thái độ của cô Morstan, tôi có thể thấy cô cũng đang chịu cùng một nỗi niềm như vậy. Chỉ duy Holmes là có thể vượt lên trên những xao động tầm thường ấy. Anh đặt cuốn sổ tay mở sẵn trên đầu gối, và dưới ánh đèn lồng bỏ túi, thỉnh thoảng lại hí hoáy ghi chép những con số và mẩu tin vặt.
Khi tới Nhà hát Lyceum, đám đông đã tụ tập chen chúc nghẹt cứng nơi các lối vào phụ. Phía trước, từng đoàn xe độc mã và xe bốn bánh lạch cạch không ngớt lao tới, thả xuống những quý ông áo sơ mi là phẳng phiu và những quý bà quàng khăn, lấp lánh kim cương. Chúng tôi vừa kịp tiến đến cây cột thứ ba - điểm hẹn đã định - thì một gã đàn ông nhỏ thó, ngăm đen, lanh lợi, ăn vận y như người đánh xe ngựa, bước đến bắt chuyện.
“Có phải quý vị đi cùng cô Morstan không ạ?” gã hỏi.
“Tôi là cô Morstan, còn hai quý ông đây là bạn của tôi,” cô đáp.
Gã hướng về phía chúng tôi một cái nhìn dò xét, sắc sảo đến kinh ngạc. “Xin cô thứ lỗi, thưa cô,” gã nói, giọng có phần cương quyết, “nhưng tôi buộc phải hỏi cô một lời bảo đảm rằng không ai trong hai vị đồng hành của cô là người của cảnh sát.”
“Tôi cam đoan với anh điều đó,” cô trả lời.
Gã liền huýt lên một tiếng sáo chói tai. Ngay tức khắc, một cậu bé bụi đời ngoài phố dắt tới một chiếc xe bốn bánh và mở cửa. Gã đàn ông vừa trò chuyện với chúng tôi thoăn thoắt leo lên ghế lái, trong khi chúng tôi ổn định chỗ ngồi bên trong. Vừa kịp ngồi xuống, người đánh xe đã quất roi vun vút, và chúng tôi lao đi như bay xuyên qua những con phố mịt mù sương.
Tình huống này quả thật kỳ lạ. Chúng tôi đang ngồi trên xe ngựa, lao đến một nơi không xác định, để thực hiện một nhiệm vụ chẳng rõ ràng là gì. Thế nhưng lời mời của chúng tôi - hoặc là một trò đùa bịp trắng trợn, một giả thuyết khó lòng tưởng tượng nổi, hoặc nếu không, chúng tôi có đủ lý do chính đáng để tin rằng những điều hệ trọng đang chờ đợi ở cuối hành trình này. Thái độ của cô Morstan vẫn điềm tĩnh và kiên định như mọi khi. Tôi cố gắng động viên và làm cô vui lên bằng những hồi ức về các cuộc phiêu lưu của mình ở Afghanistan; nhưng nói thật lòng, chính tôi cũng đang quá phấn khích trước tình thế hiện tại và quá đỗi tò mò về điểm đến, đến nỗi những câu chuyện của tôi trở nên có phần rối rắm. Mãi đến tận bây giờ, cô ấy vẫn còn nhắc lại rằng tôi đã kể cho cô nghe một giai thoại đầy xúc động về việc một khẩu súng hỏa mai đã nhìn trừng trừng vào lều tôi giữa đêm khuya ra sao, và tôi đã nã một con hổ con hai nòng vào nó như thế nào1. Lúc khởi hành, tôi còn có chút khái niệm mơ hồ về hướng chúng tôi đang đi; nhưng chẳng mấy chốc, vì cỗ xe lao quá nhanh, sương mù dày đặc, cộng thêm vốn hiểu biết hạn hẹp của tôi về London, tôi dần mất hết phương hướng và chẳng còn biết gì ngoài cảm giác rằng dường như chúng tôi đang đi một đoạn đường rất dài. Sherlock Holmes thì không bao giờ bị lạc lối, anh lẩm nhẩm gọi tên từng địa danh khi chiếc xe ngựa lọc cọc lăn bánh qua các quảng trường rồi luồn lách qua những con phố phụ ngoằn ngoèo.
"Rochester Row," anh nói. "Giờ là Vincent Square. Chúng ta đang ra đến đường Vauxhall Bridge rồi. Rõ ràng là đang tiến về phía Surrey. Đúng như tôi nghĩ. Giờ thì chúng ta đang ở trên cầu. Anh có thể thoáng thấy dòng sông kia kìa."
Quả thực, chúng tôi đã kịp nhìn thấy một thoáng sông Thames với những ngọn đèn hắt ánh sáng lung linh trên mặt nước rộng lớn và tĩnh lặng; nhưng cỗ xe của chúng tôi vẫn lao đi không ngừng, và chẳng bao lâu sau đã bị cuốn vào một mê cung những con phố ở phía bờ bên kia.
"Đường Wordsworth," người bạn đồng hành của tôi nói. "Đường Priory. Ngõ Lark Hall. Khu Stockwell. Phố Robert. Ngõ Cold Harbor. Hành trình của chúng ta hình như chẳng đưa chúng ta đến những khu vực sầm uất cho lắm."
Thật vậy, chúng tôi đã tiến vào một khu phố vừa đáng ngờ vừa gớm ghiếc. Những dãy nhà gạch xỉn màu dài miên man chỉ được vớt vát đôi chút bởi ánh sáng chói gắt thô kệch và vẻ rực rỡ lòe loẹt của những quán rượu nơi góc phố. Tiếp đến là những dãy biệt thự hai tầng, mỗi căn đều có một khu vườn tí hon làm mặt tiền, rồi sau đó lại là những dãy nhà gạch mới tinh mọc san sát nhau trải dài bất tận - những chiếc xúc tu khổng lồ mà thành phố vĩ đại đang vươn ra tận vùng nông thôn. Cuối cùng, cỗ xe dừng lại trước ngôi nhà thứ ba trong một dãy phố mới xây. Không ngôi nhà nào khác trong dãy có người ở, và căn nhà nơi chúng tôi dừng chân cũng tối om như những ngôi nhà láng giềng của nó, ngoại trừ một tia sáng le lói hắt ra từ ô cửa sổ nhà bếp. Thế nhưng khi chúng tôi gõ cửa, cánh cửa lập tức được mở toang bởi một người hầu Ấn Độ, đầu quấn khăn xếp vàng, mình mặc bộ quần áo rộng thùng thình màu trắng thắt đai lưng vàng. Có điều gì đó thực sự lạc lõng đến kỳ quặc nơi dáng vẻ của người đàn ông phương Đông này, khi ông ta đứng lọt thỏm trong khung cửa tầm thường của một căn nhà thuộc vùng ngoại ô hạng ba.
"Sahib2 đang đợi các vị," người hầu nói, và ngay khi anh ta vừa dứt lời thì một giọng nói the thé vang lên từ căn phòng nào đó bên trong. "Đưa họ vào đây cho ta, khitmutgar3," giọng nói ấy hét lên. "Đưa họ vào thẳng đây cho ta."
-
Trong nguyên tác, tác giả Arthur Conan Doyle cố tình viết: "...how a musket looked into my tent... and how I fired a double-barrelled tiger cub at it." (một khẩu súng hỏa mai nhìn vào lều... và nã một con hổ con hai nòng). Đây là do Watson đang quá bối rối trước cô Morstan nên đã ghép nhầm các cụm từ với nhau, tạo ra một câu nói vô nghĩa nhưng đầy hài hước. Câu nói của Watson đúng ra là "...việc một khẩu súng hỏa mai đã nhìn vào lều tôi giữa đêm khuya ra sao, và tôi đã dùng một khẩu súng hai nòng bắn hạ nó như thế nào - mà hóa ra đó lại là một con hổ con." ↩
-
Một danh xưng kính trọng, mang nghĩa là 'ông chủ' hay 'ngài', thường được người Ấn Độ dùng để gọi những người đàn ông châu Âu có địa vị quyền lực trong thời kỳ thực dân Anh cai trị. ↩
-
Từ gốc tiếng Hindi/Urdu chỉ một nam gia nhân chuyên phục vụ phòng ăn hoặc làm quản gia trong các gia đình quan chức, quý tộc người Anh tại Ấn Độ thời thuộc địa. ↩
Chapter III In Quest of a Solution
It was half-past five before Holmes returned. He was bright, eager, and in excellent spirits,-a mood which in his case alternated with fits of the blackest depression.
“There is no great mystery in this matter,” he said, taking the cup of tea which I had poured out for him. “The facts appear to admit of only one explanation.”
“What! you have solved it already?”
“Well, that would be too much to say. I have discovered a suggestive fact, that is all. It is, however, very suggestive. The details are still to be added. I have just found, on consulting the back files of the Times, that Major Sholto, of Upper Norwood, late of the 34th Bombay Infantry, died upon the 28th of April, 1882.”
“I may be very obtuse, Holmes, but I fail to see what this suggests.”
“No? You surprise me. Look at it in this way, then. Captain Morstan disappears. The only person in London whom he could have visited is Major Sholto. Major Sholto denies having heard that he was in London. Four years later Sholto dies. Within a week of his death Captain Morstan’s daughter receives a valuable present, which is repeated from year to year, and now culminates in a letter which describes her as a wronged woman. What wrong can it refer to except this deprivation of her father? And why should the presents begin immediately after Sholto’s death, unless it is that Sholto’s heir knows something of the mystery and desires to make compensation? Have you any alternative theory which will meet the facts?”
“But what a strange compensation! And how strangely made! Why, too, should he write a letter now, rather than six years ago? Again, the letter speaks of giving her justice. What justice can she have? It is too much to suppose that her father is still alive. There is no other injustice in her case that you know of.”
“There are difficulties; there are certainly difficulties,” said Sherlock Holmes, pensively. “But our expedition of to-night will solve them all. Ah, here is a four-wheeler, and Miss Morstan is inside. Are you all ready? Then we had better go down, for it is a little past the hour.”
I picked up my hat and my heaviest stick, but I observed that Holmes took his revolver from his drawer and slipped it into his pocket. It was clear that he thought that our night’s work might be a serious one.
Miss Morstan was muffled in a dark cloak, and her sensitive face was composed, but pale. She must have been more than woman if she did not feel some uneasiness at the strange enterprise upon which we were embarking, yet her self-control was perfect, and she readily answered the few additional questions which Sherlock Holmes put to her.
“Major Sholto was a very particular friend of papa’s,” she said. “His letters were full of allusions to the major. He and papa were in command of the troops at the Andaman Islands, so they were thrown a great deal together. By the way, a curious paper was found in papa’s desk which no one could understand. I don’t suppose that it is of the slightest importance, but I thought you might care to see it, so I brought it with me. It is here.”
Holmes unfolded the paper carefully and smoothed it out upon his knee. He then very methodically examined it all over with his double lens.
“It is paper of native Indian manufacture,” he remarked. “It has at some time been pinned to a board. The diagram upon it appears to be a plan of part of a large building with numerous halls, corridors, and passages. At one point is a small cross done in red ink, and above it is ‘3.37 from left,’ in faded pencil-writing. In the left-hand corner is a curious hieroglyphic like four crosses in a line with their arms touching. Beside it is written, in very rough and coarse characters, ‘The sign of the four,-Jonathan Small, Mahomet Singh, Abdullah Khan, Dost Akbar.’ No, I confess that I do not see how this bears upon the matter. Yet it is evidently a document of importance. It has been kept carefully in a pocket-book; for the one side is as clean as the other.”
“It was in his pocket-book that we found it.”
“Preserve it carefully, then, Miss Morstan, for it may prove to be of use to us. I begin to suspect that this matter may turn out to be much deeper and more subtle than I at first supposed. I must reconsider my ideas.” He leaned back in the cab, and I could see by his drawn brow and his vacant eye that he was thinking intently. Miss Morstan and I chatted in an undertone about our present expedition and its possible outcome, but our companion maintained his impenetrable reserve until the end of our journey.
It was a September evening, and not yet seven o’clock, but the day had been a dreary one, and a dense drizzly fog lay low upon the great city. Mud-coloured clouds drooped sadly over the muddy streets. Down the Strand the lamps were but misty splotches of diffused light which threw a feeble circular glimmer upon the slimy pavement. The yellow glare from the shop-windows streamed out into the steamy, vaporous air, and threw a murky, shifting radiance across the crowded thoroughfare. There was, to my mind, something eerie and ghost-like in the endless procession of faces which flitted across these narrow bars of light,-sad faces and glad, haggard and merry. Like all human kind, they flitted from the gloom into the light, and so back into the gloom once more. I am not subject to impressions, but the dull, heavy evening, with the strange business upon which we were engaged, combined to make me nervous and depressed. I could see from Miss Morstan’s manner that she was suffering from the same feeling. Holmes alone could rise superior to petty influences. He held his open note-book upon his knee, and from time to time he jotted down figures and memoranda in the light of his pocket-lantern.
At the Lyceum Theatre the crowds were already thick at the side-entrances. In front a continuous stream of hansoms and four-wheelers were rattling up, discharging their cargoes of shirt-fronted men and beshawled, bediamonded women. We had hardly reached the third pillar, which was our rendezvous, before a small, dark, brisk man in the dress of a coachman accosted us.
“Are you the parties who come with Miss Morstan?” he asked.
“I am Miss Morstan, and these two gentlemen are my friends,” said she.
He bent a pair of wonderfully penetrating and questioning eyes upon us. “You will excuse me, miss,” he said with a certain dogged manner, “but I was to ask you to give me your word that neither of your companions is a police-officer.”
“I give you my word on that,” she answered.
He gave a shrill whistle, on which a street Arab led across a four-wheeler and opened the door. The man who had addressed us mounted to the box, while we took our places inside. We had hardly done so before the driver whipped up his horse, and we plunged away at a furious pace through the foggy streets.
The situation was a curious one. We were driving to an unknown place, on an unknown errand. Yet our invitation was either a complete hoax,-which was an inconceivable hypothesis,-or else we had good reason to think that important issues might hang upon our journey. Miss Morstan’s demeanor was as resolute and collected as ever. I endeavored to cheer and amuse her by reminiscences of my adventures in Afghanistan; but, to tell the truth, I was myself so excited at our situation and so curious as to our destination that my stories were slightly involved. To this day she declares that I told her one moving anecdote as to how a musket looked into my tent at the dead of night, and how I fired a double-barrelled tiger cub at it. At first I had some idea as to the direction in which we were driving; but soon, what with our pace, the fog, and my own limited knowledge of London, I lost my bearings, and knew nothing, save that we seemed to be going a very long way. Sherlock Holmes was never at fault, however, and he muttered the names as the cab rattled through squares and in and out by tortuous by-streets.
“Rochester Row,” said he. “Now Vincent Square. Now we come out on the Vauxhall Bridge Road. We are making for the Surrey side, apparently. Yes, I thought so. Now we are on the bridge. You can catch glimpses of the river.”
We did indeed get a fleeting view of a stretch of the Thames with the lamps shining upon the broad, silent water; but our cab dashed on, and was soon involved in a labyrinth of streets upon the other side.
“Wordsworth Road,” said my companion. “Priory Road. Lark Hall Lane. Stockwell Place. Robert Street. Cold Harbor Lane. Our quest does not appear to take us to very fashionable regions.”
We had, indeed, reached a questionable and forbidding neighbourhood. Long lines of dull brick houses were only relieved by the coarse glare and tawdry brilliancy of public houses at the corner. Then came rows of two-storied villas each with a fronting of miniature garden, and then again interminable lines of new staring brick buildings,-the monster tentacles which the giant city was throwing out into the country. At last the cab drew up at the third house in a new terrace. None of the other houses were inhabited, and that at which we stopped was as dark as its neighbours, save for a single glimmer in the kitchen window. On our knocking, however, the door was instantly thrown open by a Hindoo servant clad in a yellow turban, white loose-fitting clothes, and a yellow sash. There was something strangely incongruous in this Oriental figure framed in the commonplace doorway of a third-rate suburban dwelling-house.
“The Sahib awaits you,” said he, and even as he spoke there came a high piping voice from some inner room. “Show them in to me, khitmutgar,” it cried. “Show them straight in to me.”