CHƯƠNG VI. MÀN TRÌNH DIỄN CỦA SHERLOCK HOLMES
"Nào, Watson," Holmes lên tiếng, vừa xoa hai bàn tay vào nhau, "chúng ta có nửa giờ cho riêng mình. Hãy tận dụng cho thật khéo. Vụ án của tôi, như tôi đã nói với anh, gần như đã xong xuôi cả rồi; nhưng chúng ta không được phép sai lầm chỉ vì quá tự tin. Dù vụ này hiện tại trông có vẻ đơn giản, biết đâu vẫn còn điều gì đó sâu xa hơn còn ẩn giấu bên dưới."
"Đơn giản ư!" tôi buột miệng kêu lên.
"Chắc chắn rồi," anh đáp, với cái dáng vẻ của một vị giáo sư lâm sàng đang thao giảng trước lớp học. "Anh cứ ngồi yên trong góc đó, để dấu chân của anh khỏi làm phức tạp thêm mọi thứ. Giờ thì bắt tay vào việc thôi! Trước hết, những kẻ này đã đến bằng đường nào, và đã đi bằng đường nào? Cánh cửa đã không được mở ra từ tối qua. Còn cửa sổ thì sao?" Anh bưng chiếc đèn lồng đến bên khung cửa sổ, lầm bầm những quan sát của mình thành tiếng, nhưng nghe chừng đang nói với chính mình hơn là với tôi. "Cửa sổ được chốt từ bên trong. Khung cửa rất chắc chắn. Không có bản lề ở bên hông. Mở nó ra xem nào. Không có ống nước nào gần đây cả. Mái nhà thì hoàn toàn ngoài tầm với. Ấy vậy mà đã có một kẻ trèo lên qua đường cửa sổ. Tối qua trời có đổ mưa một chút. Đây là dấu chân in trên lớp bùn đất bám ở bệ cửa. Còn đây là một vết bùn hình tròn, rồi lại thêm một vết nữa trên sàn nhà, và một vết nữa ngay cạnh chân bàn. Nhìn này, Watson! Màn trình diễn này quả thực là rất đẹp mắt."
Tôi cúi xuống nhìn những vết bùn hình tròn in rõ nét. "Mấy vết này đâu phải dấu chân," tôi nhận xét.
"Nó còn có giá trị hơn dấu chân nhiều. Đây là dấu vết của một cái chân gỗ. Anh thấy đấy, trên bệ cửa sổ là dấu của một chiếc giày-giày nặng, gót bọc kim loại bản rộng-và ngay bên cạnh nó chính là dấu của cái chân gỗ."
"Vậy đó là kẻ đàn ông có chân gỗ."
"Chính xác. Nhưng còn có thêm một kẻ nữa-một đồng minh hết sức có năng lực và hiệu quả. Anh có trèo lên nổi bức tường kia không, bác sĩ?"
Tôi nhìn ra ngoài khung cửa sổ đang mở. Mặt trăng vẫn rọi sáng rực rỡ góc nhà đó. Chúng tôi đang cách mặt đất một khoảng đáng kể, chừng sáu mươi feet, và dù có nhìn đi đâu, tôi cũng chẳng thấy lấy một điểm tựa nào để đặt chân, hay thậm chí là một vết nứt nhỏ trên bức tường gạch.
"Hoàn toàn bất khả thi," tôi trả lời.
"Nếu không có sự trợ giúp thì đúng là như vậy. Nhưng giả sử anh có một người bạn trên này thả xuống cho anh sợi dây thừng to khỏe mà tôi nhìn thấy trong góc kia, rồi buộc chặt một đầu nó vào chiếc móc sắt lớn trên tường này. Khi đó, tôi cho rằng, nếu là một kẻ lanh lợi, anh hoàn toàn có thể trèo lên được, bất chấp cái chân gỗ. Và dĩ nhiên, anh sẽ rời đi theo đúng đường cũ, đồng minh của anh sẽ kéo sợi dây lên, tháo nó khỏi móc, đóng cửa sổ lại, chốt từ bên trong, rồi tẩu thoát theo con đường mà chính hắn đã vào. Có một điểm nhỏ đáng lưu ý," anh nói tiếp, tay vân vê sợi dây thừng, "rằng người bạn chân gỗ của chúng ta, tuy là tay leo trèo khá cừ, nhưng không phải dân thủy thủ chuyên nghiệp. Đôi bàn tay hắn không hề chai sạn. Kính lúp của tôi phát hiện ra hơn một vết máu, đặc biệt là ở đoạn cuối sợi dây, để từ đó tôi kết luận rằng hắn đã tụt xuống nhanh đến nỗi làm tuột cả da tay."
"Mọi chuyện đều rất hợp lý," tôi công nhận, "nhưng sự việc lại càng trở nên khó hiểu hơn bao giờ hết. Còn cái gã đồng minh bí ẩn kia thì sao? Hắn đã vào phòng bằng cách nào?"
"À phải, cái gã đồng minh ấy!" Holmes lặp lại, đầy vẻ trầm ngâm. "Có những điểm thú vị về gã đồng minh này. Chính hắn là kẻ đã nâng vụ án lên khỏi vùng của những điều tầm thường. Tôi có cảm giác rằng gã đồng minh này sẽ mở ra một chương mới trong biên niên sử tội phạm ở đất nước ta-dẫu rằng những vụ tương tự đã từng xuất hiện ở Ấn Độ, và, nếu trí nhớ của tôi không phản bội tôi, thì cả ở Senegambia1 nữa."
"Thế thì hắn đã vào bằng cách nào?" tôi nhắc lại. "Cửa thì khóa. Cửa sổ thì không thể với tới. Có phải qua đường ống khói không?"
"Lò sưởi quá nhỏ," anh đáp. "Tôi đã cân nhắc đến khả năng ấy rồi."
"Vậy thì bằng cách nào?" tôi cố nài.
"Anh vẫn không chịu áp dụng nguyên tắc của tôi," anh nói, khẽ lắc đầu. "Tôi đã nhắc anh bao nhiêu lần, rằng khi anh đã loại trừ hết những điều bất khả thi, thì điều còn lại, dù khó tin đến mấy, cũng phải là sự thật? Chúng ta biết rằng hắn không thể vào từ cửa chính, cửa sổ, hay ống khói. Chúng ta cũng biết hắn không thể ẩn nấp sẵn trong phòng, vì chẳng có chỗ nào có thể trốn được cả. Vậy thì, hắn đã đến từ đâu?"
"Hắn chui từ cái lỗ trên mái nhà xuống!" tôi thốt lên.
"Đương nhiên rồi. Hắn nhất định phải làm như thế. Nếu anh vui lòng cầm đèn giúp tôi, chúng ta sẽ mở rộng cuộc khám xét lên căn phòng phía trên-căn phòng bí mật nơi người ta đã tìm thấy kho báu."
Anh bước lên bậc thang, rồi dùng hai tay nắm chặt một thanh xà gồ, anh đu mình lên gác xép. Sau đó, nằm sấp xuống, anh với tay đỡ lấy chiếc đèn và giữ nó trong khi tôi trèo theo phía sau.
Căn phòng mà chúng tôi vừa đặt chân tới rộng chừng mười feet một chiều và sáu feet chiều kia. Sàn nhà được tạo thành từ các thanh xà gồ đan xen, với những tấm gỗ bào mỏng và thạch cao lót ở giữa, vì vậy khi di chuyển, người ta buộc phải bước từ thanh xà này sang thanh xà khác. Mái nhà dốc lên đến đỉnh và rõ ràng đây chính là lớp vỏ bên trong của mái nhà thực sự. Không có lấy một món đồ đạc nào, và lớp bụi tích tụ suốt bao năm trời nằm phủ dày đặc khắp mặt sàn.
"Đây rồi, anh thấy không," Sherlock Holmes nói, đặt tay lên bức tường dốc. "Đây là một cánh cửa sập dẫn thông ra ngoài mái nhà. Tôi có thể đẩy nó bật lên, và ngay bên ngoài chính là mái nhà, dốc thoai thoải một góc vừa phải. Vậy thì, đây chính là lối mà Kẻ Số Một đã lọt vào. Để xem liệu chúng ta còn có thể tìm thấy dấu vết nào khác về nhân dạng của hắn hay không."
Anh hạ thấp ngọn đèn xuống sàn nhà, và trong khoảnh khắc đó, tôi lại được chứng kiến lần thứ hai trong đêm nay, một vẻ mặt giật mình kinh ngạc thoáng qua trên gương mặt anh. Còn về phần tôi, khi nhìn theo hướng ánh mắt anh, da tôi lạnh toát hết cả dưới lớp quần áo. Mặt sàn chi chít những dấu chân trần-rõ nét, cân đối, hoàn hảo, nhưng chỉ bằng một nửa kích thước bàn chân của một người bình thường.
"Holmes," tôi thì thầm, "một đứa trẻ đã làm ra chuyện khủng khiếp này."
Anh đã trấn tĩnh lại chỉ trong chớp mắt. "Tôi đã bàng hoàng trong chốc lát," anh thừa nhận, "nhưng sự việc này hoàn toàn tự nhiên thôi. Trí nhớ của tôi đã phản bội tôi rồi-đáng lẽ tôi phải đoán trước được điều đó. Chẳng còn gì để thu thập ở đây nữa. Chúng ta hãy xuống dưới thôi."
"Vậy giả thuyết của anh về những dấu chân ấy là gì?" tôi háo hức hỏi khi cả hai đã quay xuống căn phòng bên dưới.
"Watson thân mến, hãy thử tự mình phân tích một chút xem nào," anh nói, pha chút sốt ruột. "Anh đã biết các phương pháp của tôi. Cứ áp dụng chúng đi, và sẽ rất bổ ích đấy khi chúng ta đối chiếu kết quả với nhau."
"Tôi không thể nào tưởng tượng ra được điều gì có thể bao quát hết tất cả những sự kiện này," tôi thú nhận.
"Rồi anh sẽ sớm nhìn ra mọi việc rõ như ban ngày thôi," anh đáp một cách hờ hững. "Tôi nghĩ chẳng còn gì quan trọng ở đây nữa, nhưng tôi vẫn sẽ lượn quanh một lát." Anh rút kính lúp và thước dây ra, rồi thoăn thoắt di chuyển khắp căn phòng trên đầu gối, đo đạc, so sánh, xem xét, với cái mũi dài nhọn của mình chỉ còn cách mặt ván sàn vài inch, và đôi mắt tinh ranh lấp lánh, sâu hút như mắt chim săn mồi. Những chuyển động của anh nhanh đến mức lặng lẽ, lén lút hệt như một con chó săn nhà nòi đang đánh hơi, đến nỗi tôi không tài nào ngăn nổi ý nghĩ rằng anh sẽ trở thành một tên tội phạm khủng khiếp nhường nào nếu anh đem năng lượng và trí tuệ ấy ra chống lại luật pháp, thay vì bảo vệ nó. Giữa cuộc săn lùng, anh không ngừng lầm bầm điều gì đó với chính mình, và cuối cùng, anh bật ra một tiếng kêu đầy vui sướng.
"Chúng ta quả thực may mắn," anh reo lên. "Giờ thì chúng ta sẽ chẳng còn gặp mấy khó khăn nữa. Kẻ Số Một đã không may dẫm phải creosote2. Anh có thể thấy hình dáng đường viền bàn chân nhỏ xíu của hắn ngay đây, bên cạnh cái đống bốc mùi hôi thối này. Lọ axit đã bị nứt, anh thấy đấy, và chất lỏng đã rỉ ra ngoài."
"Thì sao chứ?" tôi hỏi.
"Sao ư, chúng ta đã tóm được hắn rồi, chỉ đơn giản vậy thôi," anh nói. "Tôi biết một con chó có thể lần theo dấu mùi hương ấy đến tận cùng thế giới. Nếu như một bầy chó săn có thể theo dấu một con cá trích bị kéo lê qua suốt cả một vùng rộng lớn, thì một con chó săn được huấn luyện đặc biệt có thể lần theo một thứ mùi hăng nồng như thế này xa đến đâu? Nó nghe y như một bài toán quy tắc tam suất3 vậy. Câu trả lời sẽ cho chúng ta-Nhưng kìa! Các đại diện được ủy quyền của luật pháp đã tới."
Từ phía dưới vọng lên tiếng bước chân nặng nề cùng những giọng nói oang oang đầy vẻ hối hả, rồi cánh cửa sảnh đóng sầm lại với một tiếng động vang dội khắp căn nhà.
"Trước khi họ bước vào," Holmes cất tiếng, "anh hãy đặt tay lên cánh tay của con người tội nghiệp này, và lên chân ông ta nữa. Anh cảm thấy gì?"
"Các cơ bắp cứng như đá," tôi đáp.
"Chính xác. Chúng đang ở trạng thái co rút tột độ, vượt xa mức rigor mortis4 thông thường. Kết hợp với sự méo mó trên gương mặt này, nụ cười Hippocrates, hay 'risus sardonicus'5 như cách gọi của các tác gia thời cổ, điều ấy khơi gợi trong tâm trí anh kết luận gì?"
"Cái chết do một loại kiềm thực vật cực mạnh6," tôi trả lời,-"một chất tương tự strychnine, có khả năng gây ra chứng uốn ván7."
"Đó chính là ý nghĩ đã lóe lên trong đầu tôi ngay khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy những đường nét co rúm trên khuôn mặt ấy. Vừa bước vào căn phòng, tôi lập tức lùng sục cách thức mà chất độc đã xâm nhập vào cơ thể. Như anh thấy đấy, tôi đã phát hiện ra một cây gai được cắm-hay nói đúng hơn là bị bắn vào-với một lực không mấy mạnh xuyên qua da đầu. Anh hãy lưu ý rằng vị trí bị đánh trúng chính là phần sẽ hướng thẳng về phía cái lỗ trên trần nhà nếu người đàn ông này ngồi ngay ngắn trên ghế của mình. Giờ thì hãy xem xét kỹ cây gai này."
Tôi thận trọng cầm nó lên và đưa ra dưới ánh sáng của chiếc đèn lồng. Đó là một cây gai dài, nhọn và đen tuyền, với vẻ bóng loáng ở gần đầu mũi nom như thể một chất dịch dính nào đó đã khô cứng lại trên bề mặt. Đầu tù của nó đã được cắt gọt và làm tròn bằng một lưỡi dao.
"Đây có phải là một cây gai của nước Anh không?" anh hỏi.
"Không, chắc chắn là không."
"Với toàn bộ những dữ kiện này, hẳn anh đã có thể rút ra một vài suy luận chính xác. Nhưng lực lượng chính quy đã đến; do đó lực lượng trừ bị nên tạm thời rút lui."
Ngay khi anh đang nói, những tiếng bước chân nặng nề mỗi lúc một gần hơn đã vang lên ồn ào ngoài hành lang, và một người đàn ông to béo, bệ vệ trong bộ com-lê màu xám sải bước ầm ầm vào phòng. Hắn ta có khuôn mặt đỏ gay, thân hình lực lưỡng và đẫy đà, với đôi mắt nhỏ xíu, nhấp nháy, hắt ra những tia nhìn sắc lẹm từ giữa những bọng thịt sưng húp. Theo sát gót hắn là một viên thanh tra mặc đồng phục, và Thaddeus Sholto-kẻ vẫn còn đang run lên bần bật.
"Đúng là một chuyện rắc rối to!" hắn thốt lên, bằng cái giọng khàn khàn, nghèn nghẹt. "Một chuyện rắc rối thật sự đây! Nhưng mà tất cả những kẻ này là ai thế? Sao căn nhà chật ních như một cái hang thỏ thế này!"
"Tôi tin rằng ông vẫn còn nhớ tôi, ông Athelney Jones," Holmes nói bằng một giọng hết sức điềm tĩnh.
"Ồ, dĩ nhiên là tôi nhớ chứ!" hắn vừa thở khò khè vừa đáp. "Là ông Sherlock Holmes, ngài Nhà Lý Thuyết Học. Nhớ ông chứ! Đời nào tôi quên được cái lần ông lên lớp cho toàn bộ ban điều tra chúng tôi về nguyên nhân, suy luận và hệ quả trong vụ trộm đá quý ở Bishopgate8. Đúng là ông đã chỉ cho chúng tôi đúng hướng; nhưng giờ thì hẳn ông phải công nhận rằng đó là nhờ may mắn nhiều hơn là nhờ sự chỉ dẫn tài tình đi."
"Đó là một suy luận hết sức đơn giản."
"Ồ, thôi nào, thôi nào! Đừng bao giờ ngại ngùng khi phải thừa nhận điều đó. Nhưng rốt cuộc tất cả những thứ này là thế nào? Rắc rối! Rắc rối! Sự thật trần trụi đang nằm kia,-chẳng còn chỗ cho lý thuyết gì hết. Thật may làm sao khi tôi tình cờ có mặt ở Norwood vì một vụ án khác! Tôi đang ở đồn cảnh sát thì nhận được tin báo đây. Nào, ông cho rằng người đàn ông này chết vì cái gì?"
"Ồ, đây khó có thể là một vụ án để tôi đưa ra các lý thuyết," Holmes đáp, giọng khô khốc.
"Không, không, dù sao đi nữa thì chúng ta cũng chẳng thể phủ nhận rằng thỉnh thoảng ông cũng đoán trúng phóc. Trời đất ơi! Cánh cửa đã khóa, theo như tôi được biết. Những viên đá quý trị giá nửa triệu bảng đã biến mất. Còn cánh cửa sổ thì sao?"
"Cửa đóng kín; nhưng có dấu chân trên bệ cửa."
"Chà, chà, nếu nó đã đóng kín rồi thì mấy dấu chân đó chẳng có liên quan gì đến vụ này cả. Đó là lẽ thường tình. Rất có thể gã đàn ông này đã chết vì lên cơn co giật; nhưng sau đó thì những viên ngọc đã biến mất. Ha! Tôi có một giả thuyết rồi. Những tia sáng lóe lên kiểu này thỉnh thoảng vẫn bùng lên trong đầu tôi đấy-Xin mời bước ra ngoài, anh trung sĩ, và cả ông nữa, ông Sholto. Người bạn của ông có thể ở lại.-Nào, ông nghĩ sao về chuyện này, Holmes? Căn cứ vào lời tự thú của chính mình, Sholto đã ở cùng anh trai hắn vào đêm qua. Người anh trai chết vì lên cơn co giật, sau đó Sholto tẩu thoát cùng kho báu. Thế nào?"
"Và người đã chết đã rất chu đáo khi thức dậy để khóa cửa từ phía bên trong."
"Hừm! Có một lỗ hổng ở đó đấy. Hãy áp dụng lẽ thường tình vào vấn đề này xem nào. Thaddeus Sholto đã có mặt cùng với anh trai hắn; đã có một cuộc cãi vã xảy ra; đó là những gì ta đã biết. Người anh trai đã chết và những viên ngọc đã biến mất. Đó cũng là những gì ta đã biết. Không một ai nhìn thấy người anh trai kể từ lúc Thaddeus rời khỏi hắn. Giường của hắn chưa có ai ngủ. Rõ ràng Thaddeus đang ở trong trạng thái tinh thần vô cùng hoảng loạn. Vẻ ngoài của hắn thì-chà, chẳng mấy lấy làm hấp dẫn. Ông thấy đấy, tôi đang giăng lưới quanh Thaddeus. Tấm lưới đang bắt đầu siết chặt lại quanh hắn."
"Ông vẫn chưa nắm bắt được hết các dữ kiện," Holmes nói. "Mảnh gỗ nhỏ này, thứ mà tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng đã được tẩm độc, cắm thẳng vào da đầu của người đàn ông này tại vị trí mà ông vẫn còn có thể thấy dấu vết; tấm danh thiếp này, với dòng chữ được viết đúng như ông đã thấy, nằm trên mặt bàn; và bên cạnh nó là công cụ đầu bằng đá hết sức kỳ lạ này. Tất cả những thứ đó được xếp đặt làm sao để ăn khớp với giả thuyết của ông?"
"Chúng xác nhận giả thuyết của tôi về mọi phương diện," gã thám tử béo phệ đáp với vẻ vô cùng tự phụ. "Căn nhà này chứa đầy những thứ đồ kỳ quái của xứ Ấn Độ. Thaddeus đã mang thứ này lên đây, và nếu mảnh gỗ này có độc, thì Thaddeus cũng có thể dùng nó để giết người chẳng kém gì bất kỳ kẻ nào khác. Tấm danh thiếp chỉ là một trò bịp bợm,-một thứ tung hỏa mù, rất có khả năng là như vậy. Câu hỏi duy nhất là, hắn đã rời khỏi bằng lối nào? À, tất nhiên rồi, có một cái lỗ trên mái nhà." Với một sự lanh lẹn đáng kinh ngạc so với thân hình đồ sộ của mình, hắn lao vút lên các bậc thang, luồn qua cửa sập để chui lên gác xép, và ngay sau đó chúng tôi nghe thấy giọng nói đầy hân hoan của hắn vang xuống loan báo rằng hắn đã tìm thấy cánh cửa sập.
"Hắn cũng có thể tìm ra được một vài thứ," Holmes nhận xét, khẽ nhún vai. "Thỉnh thoảng hắn cũng có những tia sáng le lói của lý trí đấy. Il n'y a pas des sots si incommodes que ceux qui ont de l'esprit!9"
"Ông thấy chưa!" Athelney Jones nói, khi đã xuất hiện trở lại ở chân cầu thang. "Suy cho cùng thì, sự thật vẫn hơn hẳn những lý thuyết suông. Quan điểm của tôi về vụ án đã được xác nhận rồi. Có một cánh cửa sập thông ra mái nhà, và nó đang mở hé."
"Chính tôi là người đã mở nó."
"Ồ, thật vậy sao! Vậy là ông đã chú ý đến nó à?" Hắn có vẻ hơi hụt hẫng trước sự khám phá này. "Chà, bất kể ai đã phát hiện ra nó đi nữa, thì nó cũng chỉ ra cách mà quý ngài của chúng ta đã trốn thoát. Này, thanh tra!"
"Vâng, thưa ngài," tiếng đáp vọng lên từ ngoài hành lang.
"Xin mời ông Sholto bước vào đây.-Ông Sholto, nhiệm vụ của tôi là phải thông báo cho ông rằng bất kỳ điều gì ông nói ra đều có thể bị sử dụng để chống lại ông. Tôi bắt giữ ông nhân danh Nữ hoàng, vì có liên quan đến cái chết của anh trai ông."
"Đó, các vị thấy chưa! Tôi đã nói với các vị rồi mà!" con người nhỏ bé tội nghiệp kêu lên, dang rộng hai cánh tay và đảo ánh mắt tuyệt vọng từ người này sang người kia.
"Xin ông đừng bận tâm về chuyện đó, ông Sholto," Holmes cất lời. "Tôi nghĩ rằng mình có thể đảm bảo sẽ gỡ bỏ lời buộc tội này cho ông."
"Đừng có hứa hẹn quá nhiều thế, ngài Nhà Lý Thuyết Học ạ,-đừng có hứa hẹn quá nhiều!" viên thám tử gắt lên. "Ông có thể sẽ thấy việc này khó khăn hơn ông tưởng đấy."
"Tôi không chỉ minh oan cho ông ấy, thưa ông Jones, mà tôi còn tặng không cho ông tên tuổi và đặc điểm nhận dạng của một trong hai kẻ đã có mặt trong căn phòng này vào đêm qua. Tôi có đầy đủ cơ sở để tin rằng tên của hắn là Jonathan Small. Hắn là một kẻ ít học, vóc người nhỏ bé, nhanh nhẹn, đã mất chân phải, và mang một cái chân gỗ đã bị mòn ở mặt phía trong. Chiếc giày bên trái của hắn có đế thô và mũi vuông, với một miếng sắt bọc quanh gót. Hắn là một người đàn ông trung niên, da bị rám nắng nặng, và đã từng là một tù nhân. Những chỉ dẫn nhỏ nhặt này có thể sẽ có ích phần nào cho ông đấy, cùng với một sự thật nữa là lòng bàn tay hắn đã bị tuột mất một mảng da lớn. Còn người đàn ông thứ hai-"
"À! Người đàn ông thứ hai-?" Athelney Jones hỏi, với một giọng giễu cợt, nhưng tôi có thể dễ dàng nhận ra rằng hắn vẫn bị ấn tượng mạnh trước sự chính xác đến lạnh lùng trong thái độ của người đối diện.
"Là một kẻ khá là kỳ lạ," Sherlock Holmes nói, rồi quay gót. "Tôi hy vọng trước khi quá muộn, tôi sẽ có cơ hội được giới thiệu ông với cả hai kẻ ấy.-Tôi muốn nói chuyện riêng với anh một lát, Watson."
Anh dẫn tôi ra phía đầu cầu thang.
"Sự việc bất ngờ này," anh lên tiếng, "đã khiến chúng ta lạc khỏi mục đích ban đầu của chuyến đi tối nay."
"Tôi cũng vừa nghĩ đến điều đó," tôi đáp. "Thật chẳng phải phép khi để cô Morstan ở lại căn nhà đang có tang sự này."
"Không. Anh phải hộ tống cô ấy về nhà. Cô ấy sống cùng bà Cecil Forrester, ở Lower Camberwell, thành thử cũng chẳng xa là bao. Tôi sẽ chờ anh ở đây, nếu anh sẵn lòng quay lại thêm một chuyến. Hay là anh đã quá mệt rồi chăng?"
"Tuyệt nhiên không. Tôi nghĩ mình chẳng thể nào chợp mắt cho đến khi biết thêm được đôi điều về câu chuyện kỳ lạ này. Tôi đã từng nếm trải ít nhiều sự khắc nghiệt của cuộc đời, nhưng tôi cam đoan với anh rằng chuỗi bất ngờ nối tiếp nhau đêm nay đã khiến thần kinh tôi hoàn toàn rúng động. Dẫu sao, giờ tôi đã lỡ lún sâu đến mức này rồi, tôi muốn cùng anh theo đuổi sự việc cho đến tận cùng."
"Sự hiện diện của anh sẽ là một trợ lực vô cùng quý báu," anh đáp. "Chúng ta sẽ tự mình phá vụ án này, và cứ mặc cho gã Jones kia hả hê với bất kỳ mớ bòng bong nào mà hắn khoái dựng lên. Khi anh đã đưa cô Morstan về đến nơi, tôi muốn anh ghé qua số 3 Pinchin Lane, nằm sát mép sông bên Lambeth10. Căn nhà thứ ba phía tay phải là chỗ ở của một gã chuyên nhồi bông thú, tên Sherman. Anh sẽ trông thấy một con chồn đang ngậm thỏ con bày trên bệ cửa sổ. Hãy gõ cửa gọi lão Sherman dậy, và nhắn với lão, kèm lời thăm hỏi của tôi, rằng tôi cần Toby ngay lập tức. Anh sẽ đưa Toby trở lại đây bằng chính chiếc xe ngựa chở anh."
"Một con chó, tôi đoán thế."
"Phải - một giống chó lai hết sức kỳ dị, sở hữu khứu giác nhạy bén đến mức khó tin. Tôi thà cậy vào sự trợ giúp của Toby còn hơn là dựa dẫm vào toàn bộ lực lượng cảnh sát London."
"Vậy tôi sẽ mang nó đến," tôi nói. "Giờ này đã là một giờ sáng rồi. Tôi phải quay lại trước ba giờ, nếu có thể kiếm được một con ngựa khỏe."
"Còn tôi," Holmes nói, "sẽ xem thử có thể moi móc được điều gì từ bà Bernstone, và từ gã hầu người Ấn - kẻ mà theo lời ông Thaddeus thì ngủ ở căn gác xép ngay sát bên. Sau đó, tôi sẽ nghiên cứu cách hành xử của ngài Jones vĩ đại và lắng nghe những lời châm chọc chẳng mấy tế nhị của hắn. 'Wir sind gewohnt dass die Menschen verhöhnen was sie nicht verstehen.11' Goethe luôn luôn thâm trầm và súc tích."
-
Tên gọi lịch sử của một vùng lãnh thổ rộng lớn ở Tây Phi (nay là Senegal và Gambia). Vào thời Victoria, khu vực này mang đậm nét hoang dã, bí ẩn đối với người châu Âu. ↩
-
Một loại hợp chất hóa học dạng lỏng chiết xuất từ hắc ín hoặc nhựa cây, dùng để bảo quản gỗ. Nó có mùi hăng nồng đặc trưng, rất dễ để chó săn đánh hơi theo dấu. ↩
-
Một nguyên tắc toán học dùng để tìm một đại lượng chưa biết khi đã biết ba đại lượng có liên quan. ↩
-
Thuật ngữ y học tiếng Latinh nghĩa là "sự co cứng tử thi" - hiện tượng cơ bắp của người chết trở nên căng cứng sau khi qua đời. ↩
-
Thuật ngữ y học chỉ trạng thái co thắt cơ mặt bất thường do ngộ độc hoặc bệnh uốn ván, khiến khuôn mặt người chết nhăn nhúm lại như đang nở một nụ cười kỳ quái và đau đớn. ↩
-
Kiềm thực vật (Alkaloid) là các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật, nhiều loại chứa độc tính rất cao (như chất strychnine trong hạt mã tiền). ↩
-
Bệnh lý thần kinh nghiêm trọng làm co thắt cơ bắp liên tục. Ở đây tác giả dùng từ này để miêu tả triệu chứng co giật cơ bắp tột độ do nạn nhân bị trúng độc. ↩
-
Tên một con phố thương mại và tài chính sầm uất ở thủ đô London, nơi tập trung nhiều cửa hiệu trang sức và ngân hàng thời bấy giờ. ↩
-
Câu danh ngôn tiếng Pháp của nhà văn La Rochefoucauld, tạm dịch: "Chẳng có kẻ ngốc nào khó chịu bằng những kẻ ngốc tỏ ra thông minh!". ↩
-
Một khu dân cư nằm bên bờ nam sông Thames ở London. Vào thế kỷ 19, đây là một khu vực lao động nghèo, chật chội và phức tạp. ↩
-
Câu trích dẫn tiếng Đức từ tác phẩm "Faust" của nhà văn Goethe, tạm dịch: "Chúng ta đã quá quen với việc con người thường chế nhạo những gì họ không hiểu." ↩
Chapter VI Sherlock Holmes Gives a Demonstration
“Now, Watson,” said Holmes, rubbing his hands, “we have half an hour to ourselves. Let us make good use of it. My case is, as I have told you, almost complete; but we must not err on the side of over-confidence. Simple as the case seems now, there may be something deeper underlying it.”
“Simple!” I ejaculated.
“Surely,” said he, with something of the air of a clinical professor expounding to his class. “Just sit in the corner there, that your footprints may not complicate matters. Now to work! In the first place, how did these folk come, and how did they go? The door has not been opened since last night. How of the window?” He carried the lamp across to it, muttering his observations aloud the while, but addressing them to himself rather than to me. “Window is snibbed on the inner side. Framework is solid. No hinges at the side. Let us open it. No water-pipe near. Roof quite out of reach. Yet a man has mounted by the window. It rained a little last night. Here is the print of a foot in mould upon the sill. And here is a circular muddy mark, and here again upon the floor, and here again by the table. See here, Watson! This is really a very pretty demonstration.”
I looked at the round, well-defined muddy discs. “This is not a footmark,” said I.
“It is something much more valuable to us. It is the impression of a wooden stump. You see here on the sill is the boot-mark, a heavy boot with the broad metal heel, and beside it is the mark of the timber-toe.”
“It is the wooden-legged man.”
“Quite so. But there has been some one else,-a very able and efficient ally. Could you scale that wall, doctor?”
I looked out of the open window. The moon still shone brightly on that angle of the house. We were a good sixty feet from the ground, and, look where I would, I could see no foothold, nor as much as a crevice in the brick-work.
“It is absolutely impossible,” I answered.
“Without aid it is so. But suppose you had a friend up here who lowered you this good stout rope which I see in the corner, securing one end of it to this great hook in the wall. Then, I think, if you were an active man, You might swarm up, wooden leg and all. You would depart, of course, in the same fashion, and your ally would draw up the rope, untie it from the hook, shut the window, snib it on the inside, and get away in the way that he originally came. As a minor point it may be noted,” he continued, fingering the rope, “that our wooden-legged friend, though a fair climber, was not a professional sailor. His hands were far from horny. My lens discloses more than one blood-mark, especially towards the end of the rope, from which I gather that he slipped down with such velocity that he took the skin off his hand.”
“This is all very well,” said I, “but the thing becomes more unintelligible than ever. How about this mysterious ally? How came he into the room?”
“Yes, the ally!” repeated Holmes, pensively. “There are features of interest about this ally. He lifts the case from the regions of the commonplace. I fancy that this ally breaks fresh ground in the annals of crime in this country,-though parallel cases suggest themselves from India, and, if my memory serves me, from Senegambia.”
“How came he, then?” I reiterated. “The door is locked, the window is inaccessible. Was it through the chimney?”
“The grate is much too small,” he answered. “I had already considered that possibility.”
“How then?” I persisted.
“You will not apply my precept,” he said, shaking his head. “How often have I said to you that when you have eliminated the impossible whatever remains, however improbable, must be the truth? We know that he did not come through the door, the window, or the chimney. We also know that he could not have been concealed in the room, as there is no concealment possible. Whence, then, did he come?”
“He came through the hole in the roof,” I cried.
“Of course he did. He must have done so. If you will have the kindness to hold the lamp for me, we shall now extend our researches to the room above,-the secret room in which the treasure was found.”
He mounted the steps, and, seizing a rafter with either hand, he swung himself up into the garret. Then, lying on his face, he reached down for the lamp and held it while I followed him.
The chamber in which we found ourselves was about ten feet one way and six the other. The floor was formed by the rafters, with thin lath-and-plaster between, so that in walking one had to step from beam to beam. The roof ran up to an apex, and was evidently the inner shell of the true roof of the house. There was no furniture of any sort, and the accumulated dust of years lay thick upon the floor.
“Here you are, you see,” said Sherlock Holmes, putting his hand against the sloping wall. “This is a trap-door which leads out on to the roof. I can press it back, and here is the roof itself, sloping at a gentle angle. This, then, is the way by which Number One entered. Let us see if we can find any other traces of his individuality.”
He held down the lamp to the floor, and as he did so I saw for the second time that night a startled, surprised look come over his face. For myself, as I followed his gaze my skin was cold under my clothes. The floor was covered thickly with the prints of a naked foot,-clear, well defined, perfectly formed, but scarce half the size of those of an ordinary man.
“Holmes,” I said, in a whisper, “a child has done the horrid thing.”
He had recovered his self-possession in an instant. “I was staggered for the moment,” he said, “but the thing is quite natural. My memory failed me, or I should have been able to foretell it. There is nothing more to be learned here. Let us go down.”
“What is your theory, then, as to those footmarks?” I asked, eagerly, when we had regained the lower room once more.
“My dear Watson, try a little analysis yourself,” said he, with a touch of impatience. “You know my methods. Apply them, and it will be instructive to compare results.”
“I cannot conceive anything which will cover the facts,” I answered.
“It will be clear enough to you soon,” he said, in an off-hand way. “I think that there is nothing else of importance here, but I will look.” He whipped out his lens and a tape measure, and hurried about the room on his knees, measuring, comparing, examining, with his long thin nose only a few inches from the planks, and his beady eyes gleaming and deep-set like those of a bird. So swift, silent, and furtive were his movements, like those of a trained blood-hound picking out a scent, that I could not but think what a terrible criminal he would have made had he turned his energy and sagacity against the law, instead of exerting them in its defence. As he hunted about, he kept muttering to himself, and finally he broke out into a loud crow of delight.
“We are certainly in luck,” said he. “We ought to have very little trouble now. Number One has had the misfortune to tread in the creosote. You can see the outline of the edge of his small foot here at the side of this evil-smelling mess. The carboy has been cracked, You see, and the stuff has leaked out.”
“What then?” I asked.
“Why, we have got him, that’s all,” said he. “I know a dog that would follow that scent to the world’s end. If a pack can track a trailed herring across a shire, how far can a specially-trained hound follow so pungent a smell as this? It sounds like a sum in the rule of three. The answer should give us the-But halloa! here are the accredited representatives of the law.”
Heavy steps and the clamour of loud voices were audible from below, and the hall door shut with a loud crash.
“Before they come,” said Holmes, “just put your hand here on this poor fellow’s arm, and here on his leg. What do you feel?”
“The muscles are as hard as a board,” I answered.
“Quite so. They are in a state of extreme contraction, far exceeding the usual rigor mortis. Coupled with this distortion of the face, this Hippocratic smile, or ‘risus sardonicus,’ as the old writers called it, what conclusion would it suggest to your mind?”
“Death from some powerful vegetable alkaloid,” I answered,-“some strychnine-like substance which would produce tetanus.”
“That was the idea which occurred to me the instant I saw the drawn muscles of the face. On getting into the room I at once looked for the means by which the poison had entered the system. As you saw, I discovered a thorn which had been driven or shot with no great force into the scalp. You observe that the part struck was that which would be turned towards the hole in the ceiling if the man were erect in his chair. Now examine the thorn.”
I took it up gingerly and held it in the light of the lantern. It was long, sharp, and black, with a glazed look near the point as though some gummy substance had dried upon it. The blunt end had been trimmed and rounded off with a knife.
“Is that an English thorn?” he asked.
“No, it certainly is not.”
“With all these data you should be able to draw some just inference. But here are the regulars; so the auxiliary forces may beat a retreat.”
As he spoke, the steps which had been coming nearer sounded loudly on the passage, and a very stout, portly man in a grey suit strode heavily into the room. He was red-faced, burly and plethoric, with a pair of very small twinkling eyes which looked keenly out from between swollen and puffy pouches. He was closely followed by an inspector in uniform, and by the still palpitating Thaddeus Sholto.
“Here’s a business!” he cried, in a muffled, husky voice. “Here’s a pretty business! But who are all these? Why, the house seems to be as full as a rabbit-warren!”
“I think you must recollect me, Mr. Athelney Jones,” said Holmes, quietly.
“Why, of course I do!” he wheezed. “It’s Mr. Sherlock Holmes, the theorist. Remember you! I’ll never forget how you lectured us all on causes and inferences and effects in the Bishopgate jewel case. It’s true you set us on the right track; but you’ll own now that it was more by good luck than good guidance.”
“It was a piece of very simple reasoning.”
“Oh, come, now, come! Never be ashamed to own up. But what is all this? Bad business! Bad business! Stern facts here,-no room for theories. How lucky that I happened to be out at Norwood over another case! I was at the station when the message arrived. What d’you think the man died of?”
“Oh, this is hardly a case for me to theorise over,” said Holmes, dryly.
“No, no. Still, we can’t deny that you hit the nail on the head sometimes. Dear me! Door locked, I understand. Jewels worth half a million missing. How was the window?”
“Fastened; but there are steps on the sill.”
“Well, well, if it was fastened the steps could have nothing to do with the matter. That’s common sense. Man might have died in a fit; but then the jewels are missing. Ha! I have a theory. These flashes come upon me at times.-Just step outside, sergeant, and you, Mr. Sholto. Your friend can remain.-What do you think of this, Holmes? Sholto was, on his own confession, with his brother last night. The brother died in a fit, on which Sholto walked off with the treasure. How’s that?”
“On which the dead man very considerately got up and locked the door on the inside.”
“Hum! There’s a flaw there. Let us apply common sense to the matter. This Thaddeus Sholto was with his brother; there was a quarrel; so much we know. The brother is dead and the jewels are gone. So much also we know. No one saw the brother from the time Thaddeus left him. His bed had not been slept in. Thaddeus is evidently in a most disturbed state of mind. His appearance is-well, not attractive. You see that I am weaving my web round Thaddeus. The net begins to close upon him.”
“You are not quite in possession of the facts yet,” said Holmes. “This splinter of wood, which I have every reason to believe to be poisoned, was in the man’s scalp where you still see the mark; this card, inscribed as you see it, was on the table; and beside it lay this rather curious stone-headed instrument. How does all that fit into your theory?”
“Confirms it in every respect,” said the fat detective, pompously. “House is full of Indian curiosities. Thaddeus brought this up, and if this splinter be poisonous Thaddeus may as well have made murderous use of it as any other man. The card is some hocus-pocus,-a blind, as like as not. The only question is, how did he depart? Ah, of course, here is a hole in the roof.” With great activity, considering his bulk, he sprang up the steps and squeezed through into the garret, and immediately afterwards we heard his exulting voice proclaiming that he had found the trap-door.
“He can find something,” remarked Holmes, shrugging his shoulders. “He has occasional glimmerings of reason. Il n’y a pas des sots si incommodes que ceux qui ont de l’esprit!”
“You see!” said Athelney Jones, reappearing down the steps again. “Facts are better than mere theories, after all. My view of the case is confirmed. There is a trap-door communicating with the roof, and it is partly open.”
“It was I who opened it.”
“Oh, indeed! You did notice it, then?” He seemed a little crestfallen at the discovery. “Well, whoever noticed it, it shows how our gentleman got away. Inspector!”
“Yes, sir,” from the passage.
“Ask Mr. Sholto to step this way.-Mr. Sholto, it is my duty to inform you that anything which you may say will be used against you. I arrest you in the Queen’s name as being concerned in the death of your brother.”
“There, now! Didn’t I tell you!” cried the poor little man, throwing out his hands, and looking from one to the other of us.
“Don’t trouble yourself about it, Mr. Sholto,” said Holmes. “I think that I can engage to clear you of the charge.”
“Don’t promise too much, Mr. Theorist,-don’t promise too much!” snapped the detective. “You may find it a harder matter than you think.”
“Not only will I clear him, Mr. Jones, but I will make you a free present of the name and description of one of the two people who were in this room last night. His name, I have every reason to believe, is Jonathan Small. He is a poorly-educated man, small, active, with his right leg off, and wearing a wooden stump which is worn away upon the inner side. His left boot has a coarse, square-toed sole, with an iron band round the heel. He is a middle-aged man, much sunburned, and has been a convict. These few indications may be of some assistance to you, coupled with the fact that there is a good deal of skin missing from the palm of his hand. The other man-”
“Ah! the other man-?” asked Athelney Jones, in a sneering voice, but impressed none the less, as I could easily see, by the precision of the other’s manner.
“Is a rather curious person,” said Sherlock Holmes, turning upon his heel. “I hope before very long to be able to introduce you to the pair of them.-A word with you, Watson.”
He led me out to the head of the stair. “This unexpected occurrence,” he said, “has caused us rather to lose sight of the original purpose of our journey.”
“I have just been thinking so,” I answered. “It is not right that Miss Morstan should remain in this stricken house.”
“No. You must escort her home. She lives with Mrs. Cecil Forrester, in Lower Camberwell: so it is not very far. I will wait for you here if you will drive out again. Or perhaps you are too tired?”
“By no means. I don’t think I could rest until I know more of this fantastic business. I have seen something of the rough side of life, but I give you my word that this quick succession of strange surprises to-night has shaken my nerve completely. I should like, however, to see the matter through with you, now that I have got so far.”
“Your presence will be of great service to me,” he answered. “We shall work the case out independently, and leave this fellow Jones to exult over any mare’s-nest which he may choose to construct. When you have dropped Miss Morstan I wish you to go on to No. 3, Pinchin Lane, down near the water’s edge at Lambeth. The third house on the right-hand side is a bird-stuffer’s: Sherman is the name. You will see a weasel holding a young rabbit in the window. Knock old Sherman up, and tell him, with my compliments, that I want Toby at once. You will bring Toby back in the cab with you.”
“A dog, I suppose.”
“Yes,-a queer mongrel, with a most amazing power of scent. I would rather have Toby’s help than that of the whole detective force of London.”
“I shall bring him, then,” said I. “It is one now. I ought to be back before three, if I can get a fresh horse.”
“And I,” said Holmes, “shall see what I can learn from Mrs. Bernstone, and from the Indian servant, who, Mr. Thaddeus tell me, sleeps in the next garret. Then I shall study the great Jones’s methods and listen to his not too delicate sarcasms. ‘Wir sind gewohnt dass die Menschen verhöhnen was sie nicht verstehen.’ Goethe is always pithy.”