CHƯƠNG XII. CÂU CHUYỆN KỲ LẠ CỦA JONATHAN SMALL
Viên thanh tra ngồi đợi trong xe ngựa quả thực là một con người kiên nhẫn hiếm có, bởi tôi đã để ông ta chờ một khoảng thời gian khá dài mới quay trở lại. Khi tôi đưa chiếc hộp rỗng ra, gương mặt ông ta xịu hẳn xuống.
"Thế là công toi rồi!" ông ta rầu rĩ thốt lên. "Không có kho báu thì làm gì có thù lao. Đêm nay đáng lẽ Sam Brown và tôi mỗi người được một tờ mười bảng, nếu đống của cải ấy vẫn còn nguyên."
"Anh Thaddeus Sholto vốn giàu có mà," tôi đáp. "Anh ấy thế nào cũng sẽ đền bù xứng đáng cho các anh, dù có tìm thấy kho báu hay không."
Viên thanh tra chỉ lắc đầu ngao ngán. "Thật là tệ hại," ông ta lẩm bẩm; "và ông Athelney Jones cũng sẽ nghĩ y như vậy thôi."
Lời ông ta tiên đoán hóa ra chẳng sai chút nào. Khi tôi trở lại phố Baker và đưa chiếc hộp rỗng cho viên thám tử xem, trông mặt ông ta cứ như vừa hụt mất một món hời. Cả bọn vừa mới đến nơi - Holmes, tên tù nhân, và ông ta - bởi họ có thay đổi kế hoạch đôi chút để ghé báo cáo tại một đồn cảnh sát trên đường đi. Holmes, anh bạn của tôi, nằm ườn ra ghế bành với dáng vẻ bơ phờ thường thấy. Còn Small thì ngồi lầm lì đối diện, vắt cái chân gỗ lên trên chân lành một cách thản nhiên. Lúc tôi giơ chiếc hộp trống không ra, hắn ngửa người ra sau ghế và cười phá lên.
"Trò này là của mày chứ gì, Small," Athelney Jones giận dữ quát.
"Đúng thế, chính tôi đã giấu nó ở một nơi mà các ông chẳng đời nào mó tay vào được," hắn réo lên đầy khoái trá. "Đó là kho báu của tôi; và nếu tôi không được hưởng chiến lợi phẩm ấy, thì tôi cũng sẽ lo liệu thật chu đáo để chẳng một ai khác được hưởng. Tôi nói cho các ông rõ: trên cõi đời này, không một kẻ sống nào có quyền đụng đến nó, ngoại trừ ba người bạn hiện đang ở trại giam Andaman và bản thân tôi đây. Giờ thì tôi biết mình chẳng thể dùng được nó, và tôi cũng biết họ cũng vậy. Từ trước đến giờ, tôi hành động là vì họ cũng như vì chính mình. Vẫn luôn là ký hiệu của bốn người chúng tôi. Tôi biết rõ họ cũng sẽ muốn tôi làm đúng như những gì tôi đã làm - thà quẳng cả đống kho báu xuống lòng sông Thames còn hơn để nó lọt vào tay bè lũ nhà Sholto hay họ hàng của Morstan. Chúng tôi giết Achmet không phải để làm giàu cho bọn họ. Kho báu đang ở đâu ư? Các ông cứ tìm đến nơi cất chiếc chìa khóa, và cũng là nơi thằng Tonga tội nghiệp đang nằm lại. Khi tôi nhận ra ca nô của các ông thế nào cũng đuổi kịp, tôi đã giấu chiến lợi phẩm vào một chỗ an toàn. Phen này các ông chẳng vớ được lấy một đồng rupee đâu."
"Mày định qua mặt bọn tao đấy à, Small," Athelney Jones nghiêm giọng. "Nếu mày thực sự muốn quẳng kho báu xuống sông Thames, thì ném luôn cả cái hộp đi cho rảnh nợ, có phải dễ hơn không?"
"Dễ cho tôi ném, nhưng cũng dễ cho các ông tìm lại," hắn đáp trả, kèm theo một cái nhìn láu lỉnh, liếc xéo sang một bên. "Kẻ nào đủ thông minh để lần ra dấu vết của tôi, thì cũng thừa thông minh để mò được một cái hộp sắt dưới đáy sông. Giờ đây, lũ ngọc quý ấy đã vương vãi suốt một quãng đường chừng năm dặm, có lẽ việc tìm kiếm sẽ gian nan hơn đôi chút. Dẫu sao, làm vậy cũng khiến tôi đau lòng lắm. Lúc các ông đuổi kịp, tôi gần như phát điên lên được. Nhưng mà, buồn đau vì chuyện đã rồi thì có ích gì. Đời tôi từng trải qua những bước thăng trầm dữ dội, thế nhưng tôi đã học được một điều - đừng bao giờ khóc than cho những thứ đã vuột mất."
"Đây là một việc hết sức nghiêm trọng đấy, Small," viên thám tử lên tiếng. "Nếu mày chịu hợp tác với công lý, thay vì chống đối theo kiểu này, mày đã có cơ hội khá hơn nhiều khi ra trước tòa."
"Công lý!" gã cựu tù nhân gầm lên. "Công lý tốt đẹp làm sao! Kho báu này là của ai, nếu không phải của chúng tôi? Công lý ở chỗ nào mà lại bắt tôi phải dâng nộp nó cho những kẻ chưa từng động một ngón tay để giành lấy? Các ông hãy nhìn xem tôi đã kiếm được nó như thế nào! Hai mươi năm trời ròng rã nơi khu đầm lầy ngập ngụa bệnh tật ấy, ban ngày còng lưng làm việc dưới những tán cây đước, ban đêm bị xiềng xích trong những túp lều tù nhân hôi hám. Muỗi đốt như kim châm, những cơn sốt rét hành hạ thân thể, và đám cai ngục mặt đen đáng nguyền rủa - những kẻ khoái trá trút giận lên một gã da trắng - luôn tìm mọi cách ức hiếp tôi. Đó là cái giá tôi đã trả để có được kho báu Agra đấy! Thế mà các ông lại dám nói với tôi về công lý, chỉ vì tôi không cam lòng nhìn kẻ khác hưởng thụ thành quả mà tôi đã đánh đổi bằng cả tuổi thanh xuân! Tôi thà bị treo cổ hai mươi lần, hay để một mũi tiêu của Tonga cắm vào da thịt mình, còn hơn là ngồi trong xà lim và hình dung ra có một gã nào đó đang sống nhởn nhơ trong nhung lụa, bằng thứ tiền đáng lẽ thuộc về tôi."
Small đã hoàn toàn trút bỏ lớp mặt nạ cam chịu. Tất cả những lời ấy tuôn ra thành một tràng cuồng nộ, đôi mắt hắn rực lửa căm hờn, và cặp còng tay kêu lách cách theo từng cử động giận dữ của đôi bàn tay. Chứng kiến nỗi phẫn uất sôi sục ấy, tôi chợt hiểu ra rằng không phải ngẫu nhiên hay vô cớ mà Thiếu tá Sholto đã mang một nỗi khiếp sợ sâu sắc đến thế, ngay khi ông ta hay tin gã tù nhân từng bị mình phản bội đang lần theo dấu vết của mình.
"Anh quên mất rằng chúng tôi chưa hề biết gì về tất cả những chuyện này," Holmes điềm nhiên cất tiếng. "Chúng tôi chưa từng nghe câu chuyện của anh, và chúng tôi không thể phán xét rằng ban đầu công lý có thể đứng về phía anh đến mức nào."
"Vâng, thưa ông, ông đối đãi với tôi rất công bằng, mặc dù chính tôi cũng thấy mình phải cảm ơn ông vì món đồ mới tinh này trên cổ tay đây," hắn nói, khẽ lắc cặp còng. "Nhưng tôi chẳng oán trách gì đâu. Mọi chuyện đều rõ ràng và sòng phẳng cả. Nếu ông muốn nghe câu chuyện của tôi, tôi không có ý định giấu giếm điều gì. Những gì tôi kể sẽ là sự thật như đinh đóng cột, từng câu từng chữ một. Cảm ơn ông; ông có thể đặt ly nước bên cạnh tôi đây, tôi sẽ nhấp một ngụm khi nào thấy khát.
"
Bản thân tôi là người gốc Worcestershire, sinh ra gần Pershore. Tôi dám nói rằng nếu các ông chịu khó tìm, thế nào cũng sẽ thấy hàng đống người nhà Small vẫn đang sống ở đó ngay lúc này. Tôi cũng từng nghĩ đến chuyện ghé về thăm một chuyến, nhưng sự thật là tôi chưa bao giờ trở thành niềm tự hào của gia đình, và tôi ngờ rằng họ cũng chẳng mấy vui vẻ gì khi thấy tôi đâu. Họ hàng nhà tôi ai cũng đứng đắn, ngoan đạo - những tá điền nhỏ được cả vùng biết tiếng và kính nể. Còn tôi, tôi luôn thuộc hạng lêu lổng. Rồi đến năm mười tám tuổi, tôi thôi không gây thêm phiền toái gì cho họ nữa, bởi vướng vào một mớ rắc rối với một cô gái, và cách duy nhất để thoát ra là phải nhận đồng shilling của Nữ hoàng1 mà gia nhập trung đoàn 3rd Buffs2 - đơn vị ấy khi ấy vừa mới khởi hành đến Ấn Độ.
Nhưng mà, tôi cũng chẳng có số làm lính tráng gì cho cam. Vừa mới vượt qua bài tập duyệt binh cơ bản, học được cách cầm khẩu súng hỏa mai, thì tôi lại ngu ngốc đi bơi ở sông Hằng. May cho tôi làm sao, trung sĩ đại đội của tôi, John Holder, lúc đó cũng đang ở dưới nước. Anh ta là một trong những tay bơi cừ khôi nhất quân đội. Tôi đang bơi ra giữa dòng thì một con cá sấu ngoạm lấy tôi. Nó cắn đứt lìa chân phải của tôi, ngay phía trên đầu gối, gọn gàng chẳng khác gì một bác sĩ phẫu thuật. Vì quá sốc và mất máu quá nhiều, tôi ngất lịm đi. Chắc chắn tôi đã chết đuối rồi, nếu Holder không kịp túm lấy tôi mà chèo vào bờ. Tôi phải nằm viện suốt năm tháng trời vì vụ đó. Đến khi cuối cùng có thể khập khiễng bước ra, với cái chân gỗ buộc vào mỏm cụt này, thì tôi nhận ra mình đã bị giải ngũ - không còn phù hợp với bất kỳ công việc năng động nào nữa.
Các ông thử tưởng tượng mà xem, lúc ấy tôi suy sụp đến nhường nào. Chưa đầy hai mươi tuổi đầu mà đã trở thành một phế nhân vô dụng rồi. Thế nhưng, điều bất hạnh ấy chẳng bao lâu sau lại hóa ra là một phước lành ẩn giấu. Có một người tên là Abel White, đến vùng ấy làm chủ một đồn điền trồng chàm. Ông ta đang cần một người giám thị để trông coi đám cu li và đốc thúc họ làm việc. Tình cờ làm sao, ông ta lại là bạn của vị đại tá chỉ huy của chúng tôi - người vẫn luôn quan tâm đến tôi kể từ sau tai nạn. Nói ngắn gọn, đại tá đã hết sức tiến cử tôi cho vị trí ấy. Mà công việc chủ yếu là làm trên lưng ngựa, nên cái chân què của tôi cũng chẳng phải là trở ngại lớn lao gì, bởi tôi vẫn còn đủ phần đầu gối để bám chặt vào yên. Việc của tôi là cưỡi ngựa đi vòng quanh đồn điền, để mắt đến những người đàn ông khi họ làm việc, và báo cáo những kẻ lười biếng. Lương bổng cũng khá, chỗ ở thoải mái. Nhìn chung tôi hài lòng với ý nghĩ sẽ dành nốt phần đời còn lại cho nghề trồng chàm. Ông Abel White là một người tử tế. Ông thường tạt vào căn lều nhỏ của tôi, cùng tôi hút một điếu thuốc; bởi ngoài xứ ấy, người da trắng với nhau cảm thấy lòng mình ấm áp theo một cách chẳng bao giờ có được ở quê nhà.
Ấy thế mà, tôi chưa bao giờ gặp may được lâu. Đột nhiên, chẳng một lời cảnh báo, cuộc đại binh biến3 ập xuống đầu chúng tôi. Mới một tháng trước thôi, Ấn Độ còn nằm yên ả, bình lặng như Surrey hay Kent vậy, theo mọi biểu hiện bề ngoài. Sang tháng sau, đã có đến hai trăm nghìn con quỷ dữ da đen được thả rông, và cả xứ sở biến thành một địa ngục trần gian. Hẳn các ông biết rành về chuyện ấy hơn tôi nhiều, thưa các ông, vì đọc sách không phải là sở thích của tôi. Tôi chỉ biết những gì tôi tận mắt nhìn thấy. Đồn điền của chúng tôi nằm ở một nơi gọi là Muttra, gần biên giới các tỉnh Tây Bắc. Đêm này qua đêm khác, toàn bộ bầu trời rực sáng vì những căn nhà gỗ bốc cháy. Ngày này qua ngày khác, chúng tôi thấy từng nhóm nhỏ người châu Âu cùng vợ con đi qua điền trang của mình, tìm đường đến Agra - nơi đồn trú quân đội gần nhất. Nhưng ông Abel White là một người ngoan cố. Ông cứ đinh ninh trong đầu rằng sự việc đã bị thổi phồng, và rồi nó sẽ tan biến nhanh như khi nó bùng lên. Ông ta cứ thế ngồi ngoài mái hiên, uống whiskey và hút xì gà, trong khi cả đất nước chìm trong biển lửa chung quanh. Tất nhiên, chúng tôi - tôi và Dawson, người cùng vợ lo việc sổ sách quản lý - vẫn gắn bó với ông ấy. Và rồi, vào một ngày đẹp trời, thảm họa đã ập đến. Tôi đang đi vắng ở một đồn điền xa, và đang chầm chậm cưỡi ngựa về nhà lúc chiều tối, thì mắt tôi bắt gặp một vật gì đó cuộn tròn dưới đáy một khe núi dốc. Tôi thúc ngựa xuống xem, và sống lưng lạnh buốt khi nhận ra đó là vợ của Dawson. Toàn thân cô ấy bị chém thành từng mảnh, và đã bị chó rừng cùng chó hoang ăn mất một nửa. Đi thêm một quãng lên phía trước, chính Dawson cũng nằm sấp mặt ở đó, đã chết cứng, tay vẫn cầm khẩu súng lục rỗng đạn, còn trước mặt anh ta là bốn tên lính Sepoy4 nằm chồng đè lên nhau. Tôi ghì cương ngựa, tự hỏi nên rẽ hướng nào. Nhưng ngay lúc đó, tôi thấy khói đen bốc lên cuồn cuộn từ căn nhà gỗ của Abel White, và ngọn lửa bắt đầu bùng qua mái nhà. Khi ấy tôi hiểu rằng mình chẳng thể làm gì hơn cho ông ta, và mạng sống của chính tôi cũng đang lơ lửng. Từ chỗ đứng, tôi có thể thấy hàng trăm tên quỷ dữ da đen, với những chiếc áo choàng đỏ, đang nhảy múa la hét xung quanh ngôi nhà đang cháy. Một vài tên chỉ tay về phía tôi, và hai viên đạn bay vèo qua đầu. Tôi quay ngựa phi nước đại băng qua những cánh đồng lúa, và chỉ tìm được sự an toàn khi màn đêm buông xuống và tôi đã ở trong những bức tường thành của Agra.
Tuy nhiên, hóa ra ở đó cũng chẳng an toàn gì cho cam. Cả xứ nổi dậy như một bầy ong vỡ tổ. Bất cứ nơi nào người Anh có thể tập hợp thành những nhóm nhỏ, họ đều giữ được những khu vực mà súng của họ kiểm soát. Còn ở mọi nơi khác, họ chỉ còn là những kẻ chạy trốn bất lực. Đấy là cuộc chiến của hàng triệu người chống lại hàng trăm người. Và điều tàn nhẫn nhất là - những kẻ mà chúng tôi đang chiến đấu chống lại, bộ binh, kỵ binh, và pháo binh - lại chính là những đội quân tinh nhuệ của chúng tôi, những con người mà chúng tôi đã dạy dỗ và huấn luyện, sử dụng chính vũ khí của chúng tôi và thổi những hồi kèn của chúng tôi. Tại Agra có trung đoàn bộ binh 3rd Bengal, một ít lính Sikh, hai đội kỵ binh, và một khẩu đội pháo. Một đội quân tình nguyện gồm những viên thư ký và thương nhân được thành lập, và tôi đã gia nhập đội ấy, mang theo cả chiếc chân gỗ. Chúng tôi kéo ra nghênh chiến với quân phiến loạn ở Shahgunge vào đầu tháng Bảy. Chúng tôi đẩy lùi được chúng một thời gian, nhưng rồi thuốc súng cạn kiệt, và chúng tôi buộc phải rút lui về thành phố.
Tin tức dồn về từ mọi phía, không có gì ngoài những điều tồi tệ nhất - và điều ấy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi nếu các ông nhìn vào bản đồ, các ông sẽ thấy chúng tôi nằm ngay chính giữa trung tâm của nó. Lucknow cách hơn một trăm dặm về phía đông, và Cawnpore cũng cách khoảng chừng ấy về phía nam. Từ mọi hướng trên la bàn, chẳng có gì khác ngoài tra tấn, giết chóc, và bạo hành.
Thành phố Agra là một nơi rộng lớn, nhung nhúc những kẻ cuồng tín và những phường thờ quỷ dữ tợn đủ mọi loại. Nhóm người ít ỏi của chúng tôi như lạc lõng hẳn đi giữa những con phố chật hẹp ngoằn ngoèo. Bởi vậy, viên chỉ huy của chúng tôi đã quyết định di chuyển qua sông, và chiếm lĩnh pháo đài cổ ở Agra. Tôi không biết có vị nào trong các ông từng đọc hay nghe điều gì về cái pháo đài cổ ấy chưa. Đó quả là một nơi hết sức kỳ lạ - kỳ lạ nhất mà tôi từng đặt chân đến, mà tôi cũng đã từng ở qua không ít những xó xỉnh quái dị rồi. Trước hết, kích thước của nó lớn đến khó tin. Tôi nghĩ khu vực rào chắn phải rộng đến hàng mẫu Anh. Có một khu vực hiện đại, đã chứa toàn bộ đồn trú - phụ nữ, trẻ em, kho dự trữ, và đủ mọi thứ khác - vậy mà vẫn còn thừa thãi chỗ. Nhưng khu vực hiện đại ấy chẳng thấm vào đâu so với quy mô của khu cũ. Chẳng ai lui tới nơi đó; nó bị bỏ mặc cho bò cạp và rết. Bên trong chất đầy những đại sảnh hoang phế, những lối đi ngoằn ngoèo, và những hành lang dài uốn lượn quanh co, đến mức người ta rất dễ lạc đường trong đó. Chính vì lẽ ấy, hiếm khi có ai dám vào, trừ thỉnh thoảng một tốp nhỏ mang theo đuốc vào thám hiểm cho vui.
Dòng sông chảy dọc mặt trước của pháo đài cổ, và nhờ vậy bảo vệ nó. Nhưng ở hai bên sườn và phía sau, có vô số những cánh cổng, và tất nhiên toàn bộ những cổng ấy đều cần được canh gác - ở khu cũ cũng như ở khu vực mà quân đội chúng tôi đang thực sự chiếm giữ. Chúng tôi thiếu người trầm trọng, hầu như không đủ lính để canh các góc của tòa nhà và vận hành súng. Thế nên, không thể nào bố trí một đội canh gác hùng hậu ở mỗi cánh cổng trong số vô vàn những cánh cổng ấy. Cái cách chúng tôi làm là tổ chức một trạm gác trung tâm ngay giữa lòng pháo đài, rồi giao mỗi cổng cho một người da trắng cùng hai hoặc ba người bản xứ phụ trách. Tôi được chọn để đứng gác một số giờ nhất định trong đêm ở một cánh cửa nhỏ biệt lập, nằm ở phía tây nam của tòa nhà. Hai lính kỵ binh Sikh được đặt dưới quyền chỉ huy của tôi. Tôi được chỉ thị rằng, nếu có sự cố gì thì cứ bắn súng hỏa mai, rồi sẽ có viện binh từ trạm gác trung tâm đến ngay lập tức. Chỉ có điều, trạm gác cách chỗ tôi đến hai trăm bước chân, mà khoảng không ở giữa thì bị chia cắt thành một mê cung các lối đi và hành lang. Tôi thực sự nghi ngờ không biết liệu họ có đến kịp để làm nên trò trống gì, trong trường hợp có một cuộc tấn công thật sự hay không.
Chà, tôi khá tự hào vì cái trọng trách nhỏ bé ấy được giao cho mình, dù tôi chỉ là một lính mới toanh, lại còn thọt một chân. Suốt hai đêm, tôi gác cùng hai người lính Punjab của mình. Họ là những gã cao lớn, mặt mày dữ tợn, tên Mahomet Singh và Abdullah Khan, đều là lính kỳ cựu đã từng cầm vũ khí chống lại chúng tôi ở Chilian-wallah. Họ nói tiếng Anh khá khá, nhưng tôi hiếm khi nào cạy được miệng họ. Họ thích đứng bên nhau, lầm bầm suốt đêm bằng cái thứ tiếng Sikh quái dị của họ. Về phần mình, tôi thường đứng bên ngoài cổng, nhìn xuống dòng sông rộng lớn uốn lượn và những ánh đèn nhấp nháy của thành phố mênh mông. Tiếng trống thùng thùng, tiếng tomtom lục lạc, và những tiếng la hét, tru tréo của bọn phiến quân - say sưa với thuốc phiện và cần sa - suốt đêm rền vang, đủ để không ngừng nhắc nhở chúng tôi về những kẻ láng giềng hiểm nguy bên kia bờ sông. Cứ hai giờ một lần, viên sĩ quan trực đêm lại đi dạo một vòng qua tất cả các chốt canh, đảm bảo mọi sự vẫn bình yên.
Đêm gác thứ ba của tôi tối tăm và tồi tệ, với một cơn mưa nhỏ quất tới tấp. Đứng ở cổng canh hết giờ này sang giờ khác trong thời tiết như vậy quả thực buồn thảm. Hết lần này đến lần khác tôi cố bắt chuyện với hai người lính Sikh của mình, nhưng chẳng mấy thành công. Khoảng hai giờ sáng, đội tuần tra ghé qua, phá tan sự mệt mỏi của đêm đen trong chốc lát. Thấy hai người bạn đồng hành chẳng chịu trò chuyện gì, tôi bèn móc tẩu thuốc ra, đặt súng hỏa mai xuống để quẹt diêm. Trong một chớp mắt, hai tên Sikh đồng loạt lao vào tôi. Một tên chộp lấy khẩu súng và dí thẳng vào đầu tôi; tên kia kề một con dao găm lạnh ngắt vào cổ họng, nghiến răng thề rằng nếu tôi nhúc nhích nửa bước, hắn sẽ đâm xuyên qua.
Ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong tôi là bọn chúng đã thông đồng với quân phiến loạn, và đây là khởi đầu cho một cuộc tấn công. Nếu cánh cổng này rơi vào tay quân Sepoy, cả pháo đài ắt sẽ thất thủ, và phụ nữ cùng trẻ em sẽ phải chịu cảnh đối xử như những gì đã xảy ra ở Cawnpore. Có lẽ các ông nghĩ tôi chỉ cố bịa ra một cái cớ để thanh minh cho mình. Nhưng tôi xin thề với các ông - khi tôi nghĩ đến điều đó, dù cảm nhận rõ mũi dao kề ngay nơi yết hầu, tôi vẫn mở miệng ra, định hét lên một tiếng. Dù cho đó có là tiếng hét cuối cùng, tôi vẫn phải hét, để báo động cho đội gác chính. Gã đang giữ tôi hình như đọc được suy nghĩ ấy; bởi ngay khi tôi vừa kịp trấn tĩnh để làm điều đó, hắn đã thì thầm: "Đừng làm ồn. Pháo đài vẫn an toàn. Có bầy chó phiến loạn nào bên này sông đâu." Lời hắn nói có một sự thật hiển nhiên, và tôi biết nếu mình cất giọng lên thì sẽ mất mạng. Tôi đọc được điều đó trong đôi mắt nâu của gã. Thế nên tôi im lặng, chờ xem họ muốn gì ở mình.
"Hãy nghe tôi nói đây, Sahib," gã cao to và hung tợn hơn trong hai tên lên tiếng - chính là kẻ được gọi là Abdullah Khan. "Lúc này ông phải theo chúng tôi, hoặc là ông sẽ phải im lặng mãi mãi. Chuyện này quá hệ trọng để chúng tôi có thể chần chừ. Một là ông toàn tâm toàn ý theo chúng tôi, trên lời thề trước thập tự giá của những người theo đạo Cơ Đốc; hai là đêm nay xác của ông sẽ bị quẳng xuống mương, và chúng tôi sẽ vượt sông mà gia nhập với những người anh em bên phe phiến loạn. Không có con đường giữa. Chết hay sống? Chúng tôi chỉ có thể cho ông ba phút để quyết định, vì thời gian đang trôi, và mọi chuyện phải xong trước khi đội tuần tra quay lại."
"Làm sao tôi quyết định được?" tôi nói. "Các anh còn chưa cho tôi biết các anh muốn gì ở tôi. Nhưng tôi nói cho các anh biết ngay lúc này: nếu có bất cứ điều gì chống lại sự an toàn của pháo đài, thì tôi không dây dưa gì hết. Các anh cứ việc đâm dao vào người tôi đi, xin mời."
"Chẳng có gì chống lại pháo đài cả," hắn đáp. "Chúng tôi chỉ yêu cầu ông làm cái việc mà đồng bào của ông đã tìm đến vùng đất này để mà làm. Chúng tôi muốn ông làm giàu. Nếu đêm nay ông là một trong số chúng tôi, chúng tôi sẽ thề với ông trên lưỡi dao trần - bằng lời thề thiêng liêng gấp ba lần, thứ lời thề mà chưa một người Sikh nào từng phá vỡ - rằng ông sẽ có phần chiến lợi phẩm công bằng của mình. Một phần tư kho báu sẽ thuộc về ông. Đề nghị nào còn công bằng hơn thế được nữa?"
"Nhưng rốt cuộc kho báu là cái gì?" tôi hỏi. "Tôi cũng sẵn lòng trở nên giàu có như các anh thôi, miễn là các anh chỉ cho tôi cách làm."
"Vậy thì, ông có thề không," hắn nói, "bằng xương cốt của cha ông, bằng danh dự của mẹ ông, bằng thập tự giá đức tin của ông, rằng sẽ không giơ tay hay hé môi chống lại chúng tôi - dù là bây giờ hay về sau?"
"Tôi thề," tôi đáp, "miễn là pháo đài không bị đe dọa."
"Vậy thì đồng đội của tôi và tôi xin thề rằng ông sẽ nhận được một phần tư kho báu, chia đều cho bốn người chúng ta."
"Nhưng mới chỉ có ba người thôi mà," tôi nói.
"Không; Dost Akbar phải có phần của anh ấy. Chúng tôi có thể kể cho ông nghe đầu đuôi câu chuyện trong lúc chờ họ. Mahomet Singh, anh ra canh cổng đi, và báo hiệu khi họ đến. Sự việc là thế này, Sahib, và tôi kể cho ông nghe bởi tôi biết rằng lời thề có sức ràng buộc với người Feringhee5, và chúng tôi có thể tin tưởng ông. Nếu ông là một tên đạo Hindu dối trá, thì dù ông có thề độc trước tất cả thần thánh trong những ngôi đền gian trá của chúng đi nữa, máu ông cũng đã dính trên lưỡi dao và xác ông đã chìm dưới nước rồi. Nhưng người Sikh thì hiểu người Anh, và người Anh thì hiểu người Sikh. Vậy nên, hãy lắng nghe những gì tôi sắp nói đây.
"Có một vị vương công ở những tỉnh phía bắc sở hữu rất nhiều của cải, dù lãnh địa thì nhỏ bé. Phần lớn tài sản là của cha ông ta để lại, nhưng bản thân ông ta còn tự tay tích cóp được nhiều hơn thế nữa, bởi bản tính ông ta thấp hèn và chỉ thích tích trữ vàng thay vì tiêu xài. Khi cuộc nổi loạn bùng lên, ông ta muốn làm bạn với cả hai bên - với cả sư tử lẫn hổ, với phe Sepoy lẫn vương triều của Công ty6. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, có vẻ như ông ta đã nghĩ rằng thời của người da trắng đã tận rồi, bởi khắp mọi miền đất nước ông ta chỉ còn nghe thấy nào là chết chóc, nào là sụp đổ của họ. Dẫu sao, là một kẻ cẩn thận, ông ta đã lập ra những kế hoạch để - dù cho có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa - ít nhất một nửa kho báu vẫn sẽ được giữ lại. Những gì là vàng và bạc, ông ta giữ bên mình trong những hầm mộ ở cung điện. Nhưng những viên đá quý giá nhất và những viên ngọc trai tinh xảo nhất mà ông ta có, ông ta lại cất vào một chiếc hộp sắt, rồi giao cho một người hầu đáng tin cậy - dưới vỏ bọc một thương gia - mang đến pháo đài ở Agra, cất đó cho đến khi đất nước yên bình trở lại. Làm cách này, nếu quân phiến loạn thắng, ông ta sẽ có tiền; nhưng nếu Công ty thắng, những món đồ trang sức kia vẫn được giữ. Sau khi phân tán kho báu của mình như thế, ông ta dấn thân theo phe Sepoy, vì chúng đang lớn mạnh ngay trên biên giới lãnh địa của ông ta. Hãy nhớ kỹ điều này, Sahib: bằng cách làm như thế, tài sản của ông ta trở thành phần thưởng xứng đáng cho những ai trung thành với lời thề của mình.
"Kẻ thương gia giả mạo ấy, kẻ đi lại dưới cái tên Achmet, hiện đang ở thành phố Agra, và đang khao khát tìm đường vào pháo đài. Hắn đi cùng với một người bạn đồng hành - chính là người anh em nuôi của tôi, Dost Akbar, người biết rõ bí mật của hắn. Dost Akbar đã hứa đêm nay sẽ dẫn hắn đến một cánh cửa phụ của pháo đài, và đã chọn chính cánh cửa này cho mục đích của mình. Chốc nữa thôi, hắn sẽ đến đây. Và tại đây, hắn sẽ thấy Mahomet Singh cùng tôi đang chờ sẵn. Nơi này hết sức vắng vẻ, sẽ chẳng ai hay biết việc hắn đến. Thế giới này sẽ không còn biết đến cái tên thương gia Achmet nữa, nhưng kho báu khổng lồ của vị vương công sẽ được chia đều cho chúng ta. Ông nghĩ sao về chuyện đó, Sahib?"
Ở Worcestershire, mạng sống của một con người là điều gì đó lớn lao và thiêng liêng. Nhưng mọi chuyện lại rất khác, khi xung quanh ông toàn là lửa và máu, và ông đã quá quen với việc nhìn thẳng vào cái chết ở mọi ngóc ngách. Với tôi lúc ấy, việc gã thương gia Achmet sống hay chết nhẹ tựa lông hồng. Nhưng khi nghe đến kho báu, tim tôi rung lên. Tôi nghĩ về những gì mình có thể làm ở quê nhà với số của cải ấy. Nghĩ đến cảnh người nhà tôi sẽ sửng sốt đến nhường nào khi thấy đứa con hư hỏng quay về, túi đầy những đồng moidore vàng. Thế là tôi quyết định. Nhưng Abdullah Khan, tưởng tôi còn do dự, đã thúc ép vấn đề thêm gắt gao.
"Hãy nghĩ mà xem, Sahib," hắn nói. "Nếu gã này bị viên chỉ huy tóm được, hắn sẽ bị treo cổ hay bị bắn, và chính quyền sẽ tịch thu toàn bộ đồ trang sức. Rốt cuộc, chẳng ai được lợi lấy một đồng rupee nào từ chúng. Đằng nào chúng ta cũng tóm được hắn rồi, sao không làm nốt phần còn lại luôn? Đám đồ trang sức ấy nằm trong tay chúng ta cũng tốt chẳng kém gì nằm trong két sắt của Công ty. Của cải sẽ đủ để biến mỗi người chúng ta thành những kẻ giàu có và những thủ lĩnh vĩ đại. Chẳng ai có thể biết được chuyện này, vì chúng ta đang bị cắt đứt hoàn toàn với mọi người. Còn gì thuận lợi hơn cho mục đích ấy nữa? Nói một lần nữa đi, thưa Sahib: ông có tham gia cùng chúng tôi không, hay chúng tôi phải coi ông như kẻ thù?"
"Tôi toàn tâm toàn ý đứng về phía các anh," tôi đáp.
"Tốt lắm," hắn nói, và đưa trả khẩu súng hỏa mai lại cho tôi. "Ông thấy đấy, chúng tôi tin tưởng ông, vì lời nói của ông - cũng như của chúng tôi - là thứ không thể đem ra phá vỡ. Giờ chúng ta chỉ còn việc chờ người anh em của tôi và tên thương gia kia nữa thôi."
"Thế người anh em của anh có biết các anh định làm gì không?" tôi hỏi.
"Kế hoạch này là của anh ấy. Chính anh ấy đã bày ra. Chúng ta ra cổng, cùng canh gác với Mahomet Singh thôi."
Mưa vẫn rơi đều đặn, bởi đây mới chỉ là khởi đầu của mùa mưa. Những đám mây nâu nặng nề lững lờ trôi qua nền trời, khó mà nhìn xa hơn một tầm ném đá. Trước cổng của chúng tôi là một con hào sâu, nhưng nước ở vài chỗ gần như cạn kiệt, người ta có thể dễ dàng lội qua. Thật kỳ lạ xiết bao, cái cảnh tôi đứng đó, cùng hai tên Punjab hoang dại, chờ đợi gã đàn ông sắp sửa phải nộp mạng.
Bỗng nhiên, mắt tôi bắt gặp ánh sáng lấp lánh của một chiếc đèn lồng có chụp che ở phía bên kia con hào. Ánh sáng ấy biến mất giữa những đống đất, rồi lại xuất hiện, đang chầm chậm tiến về phía chúng tôi.
"Họ đến rồi!" tôi kêu lên.
"Sahib, ông sẽ hỏi khẩu lệnh như thường lệ," Abdullah thì thầm. "Đừng làm hắn hoảng sợ. Ông hãy đưa chúng tôi vào cùng với hắn, rồi chúng tôi sẽ làm nốt phần còn lại, trong khi ông ở đây canh gác. Cứ chuẩn bị sẵn đèn lồng mà mở chụp ra, để chúng tôi có thể chắc chắn rằng đó đúng là hắn."
Ánh sáng đã chập chờn tiến tới, lúc dừng, lúc tiến, cho đến khi tôi trông thấy hai bóng đen bên kia bờ hào. Tôi để mặc họ chật vật tụt xuống bờ dốc, lội qua vũng bùn lầy, và leo lên được nửa đường đến cổng, rồi mới cất tiếng gọi họ dừng lại mà hỏi khẩu lệnh.
"Ai qua đó?" tôi hỏi, bằng một giọng trầm đục.
"Bạn đấy," tiếng đáp lại vang lên. Tôi mở chụp chiếc đèn lồng và rọi một luồng sáng về phía họ. Người đi đầu là một gã Sikh khổng lồ, bộ râu đen phủ dài gần xuống đến tận thắt lưng. Trừ những lúc đi xem biểu diễn, tôi chưa từng thấy ai cao đến thế. Người thứ hai là một gã nhỏ nhắn, béo tròn, đầu quấn chiếc khăn xếp lớn màu vàng, tay ôm một chiếc bọc được gói trong tấm khăn choàng. Gã run lên vì sợ hãi - đôi tay gã co giật như thể đang lên cơn sốt rét, và cái đầu thì ngoáy sang trái sang phải, hai con mắt tí xíu nhấp nháy ánh lên, chẳng khác gì con chuột lúc vừa thò mặt ra khỏi hang. Nghĩ đến việc phải giết hắn làm tôi ớn lạnh. Nhưng rồi nghĩ đến kho báu, lòng tôi cứng lại như đá sỏi. Khi gã nhìn thấy khuôn mặt trắng bệch của tôi, gã khẽ reo lên mừng rỡ và chạy lại phía tôi.
"Xin ông che chở cho, Sahib," gã thở hổn hển. "Xin che chở cho thương gia bất hạnh Achmet. Tôi đã băng qua khắp Rajpootana chỉ để tìm được nơi trú ẩn trong pháo đài Agra này. Tôi đã bị cướp bóc, đánh đập và lăng mạ, chỉ vì tôi là bạn của Công ty. Đêm nay quả là một đêm hạnh phúc xiết bao, khi tôi lại được an toàn một lần nữa - cả tôi và những tài sản tội nghiệp của tôi."
"Trong bọc có gì vậy?" tôi hỏi.
"Một chiếc hộp sắt," gã đáp. "Trong đó có vài món đồ gia truyền lặt vặt thôi, chẳng có giá trị gì đối với ai khác, nhưng tôi sẽ rất tiếc nếu để mất. Tuy nhiên, tôi không phải là kẻ ăn mày đâu. Tôi sẽ thưởng cho ông, hỡi người Sahib trẻ tuổi, và cả vị chỉ huy của ông nữa, nếu ông ấy cho tôi nơi trú ẩn mà tôi yêu cầu."
Tôi không tin mình có thể nói chuyện lâu hơn với gã đàn ông này. Càng nhìn vào khuôn mặt béo ú, thất kinh ấy, tôi càng cảm thấy thật khó mà sát hại hắn một cách máu lạnh. Tốt nhất là kết thúc chuyện này cho xong.
"Đưa hắn đến trạm gác chính," tôi nói. Hai người Sikh lập tức áp sát hai bên hắn, còn gã khổng lồ đi đằng sau. Chúng hành quân qua cánh cổng tối tăm. Chưa bao giờ có người đàn ông nào bị cái chết bao vây chặt chẽ đến thế. Tôi ở lại ngoài cổng với chiếc đèn lồng.
Tôi lắng nghe tiếng bước chân hành quân đều đặn của họ vang vọng xuyên qua những hành lang vắng lặng. Bỗng dưng, tiếng bước chân dừng lại. Rồi tôi nghe thấy những giọng nói, một cuộc ẩu đả, và âm thanh của những cú đánh. Một khoảnh khắc sau, tôi kinh hoàng khi nghe thấy tiếng bước chân lao vùn vụt về phía mình, xen lẫn tiếng thở hổn hển của một người đàn ông đang chạy thục mạng. Tôi rọi đèn lồng dọc theo hành lang dài và thẳng tắp - và kia rồi, chính là gã béo! Hắn chạy nhanh như gió, một vệt máu vắt ngang mặt. Sát ngay sau gót hắn, lao vút tới như một con hổ, là tên Sikh râu đen to lớn, tay lăm lăm con dao sáng loáng. Đời tôi chưa từng thấy ai chạy nhanh được như cái gã thương gia nhỏ bé ấy. Hắn đang bỏ xa tên Sikh. Tôi thấy rõ rằng nếu hắn vượt qua được tôi mà chạy thoát ra ngoài trời, hắn vẫn có thể tự cứu được mình. Lòng tôi chợt mềm ra. Nhưng một lần nữa, ý nghĩ về kho báu của hắn lại khiến tôi trở nên tàn nhẫn và cay độc. Tôi ném khẩu súng hỏa mai của mình vào giữa hai chân hắn ngay khi hắn lao ngang qua. Hắn lộn nhào hai vòng, như một con thỏ bị trúng đạn. Trước khi hắn kịp loạng choạng đứng lên, tên Sikh đã ập tới, đâm ngập lưỡi dao hai nhát vào mạng sườn hắn. Người đàn ông ấy chẳng hề rên rỉ một tiếng, cũng chẳng nhúc nhích một thớ cơ, chỉ nằm im lìm tại chỗ hắn ngã xuống. Riêng tôi thì nghĩ rằng, có lẽ cú ngã đã làm gãy cổ hắn rồi. Các ông thấy đấy, thưa các ông, tôi đang giữ đúng lời hứa của mình. Tôi kể cho các ông từng chi tiết của vụ này, y nguyên như những gì đã xảy ra, cho dù điều ấy có lợi hay bất lợi cho tôi.
Hắn dừng lời, và chìa đôi tay bị còng ra nhận ly rượu whiskey pha nước mà Holmes vừa pha cho hắn. Về phần tôi, tôi thú nhận rằng lúc này đây, tôi đã cảm thấy một nỗi kinh tởm tột cùng đối với gã đàn ông này. Không chỉ vì cái hành vi máu lạnh mà hắn đã nhúng tay vào, mà hơn thế, còn vì cái thái độ có phần cợt nhả và hờ hững mà hắn dùng để thuật lại toàn bộ câu chuyện. Dù bản án nào đang chờ đợi hắn phía trước, tôi cảm thấy hắn không thể trông mong bất kỳ sự xót thương nào từ tôi. Sherlock Holmes và Jones ngồi đó, hai tay đặt trên đầu gối, say mê theo dõi câu chuyện, nhưng trên gương mặt họ cũng hiện rõ cùng một vẻ ghê tởm. Có lẽ hắn đã nhận thấy điều ấy, bởi trong giọng điệu và thái độ của hắn khi nói tiếp, phảng phất một chút gì đó như thách thức.
"Không còn nghi ngờ gì nữa, mọi chuyện đều hết sức tồi tệ," hắn nói. "Nhưng tôi muốn biết, trong hoàn cảnh của tôi, có bao nhiêu người lại dám từ chối phần chiến lợi phẩm ấy, khi biết rằng nếu từ chối thì mình sẽ bị cắt cổ. Vả lại, khi hắn đã vào trong pháo đài rồi, thì chỉ còn là mạng tôi hay mạng hắn mà thôi. Nếu hắn thoát ra được, mọi chuyện sẽ bị phanh phui, và rất có thể tôi sẽ bị đưa ra tòa án binh rồi bị xử bắn; bởi vào cái thời điểm như thế, người ta chẳng mấy khoan dung đâu."
"Hãy kể tiếp câu chuyện của anh đi," Holmes nói, cộc lốc.
"Vâng, chúng tôi - Abdullah, Akbar, và tôi - khiêng hắn vào trong. Khối lượng cũng khá nặng đấy, dù hắn thấp bé. Mahomet Singh thì bị bỏ lại để canh cửa. Chúng tôi đưa hắn đến một nơi mà những người lính Sikh đã chuẩn bị sẵn từ trước. Cách đó một quãng, nơi một lối đi quanh co dẫn đến một đại sảnh trống rỗng, mênh mông, với những bức tường gạch đang vỡ vụn ra thành từng mảnh. Nền đất ở một góc bị sụt lún, tạo thành một cái huyệt tự nhiên. Thế là chúng tôi để thương gia Achmet nằm lại đó, rồi phủ kín người hắn bằng những viên gạch rời. Xong xuôi, cả bọn quay trở lại chỗ kho báu.
"Nó vẫn nằm ở ngay chỗ hắn đánh rơi khi bị tấn công lần đầu. Chiếc hộp vẫn chính là cái hộp đang nằm mở trên bàn của các ông đây. Một chiếc chìa khóa được treo bằng sợi dây lụa vào cái quai chạm khắc trên nắp. Chúng tôi mở nắp ra, và ánh sáng từ chiếc đèn lồng rọi xuống, bừng lên lấp lánh trên cả một bộ sưu tập đá quý - thứ mà khi còn là một cậu bé ở Pershore, tôi chỉ dám đọc và mơ tưởng đến. Ánh sáng chói lòa từ chúng khiến chúng tôi lóa hết cả mắt. Sau khi no mắt nhìn ngắm, chúng tôi lấy tất cả ra và lập một bản danh sách. Có một trăm bốn mươi ba viên kim cương thượng hạng, trong số ấy có một viên được gọi là 'Đại Mogul'7, được đồn là viên đá lớn thứ hai còn tồn tại trên đời. Rồi chín mươi bảy viên ngọc lục bảo cực kỳ tuyệt đẹp, và một trăm bảy mươi viên hồng ngọc, tuy vài viên trong số ấy khá nhỏ. Thêm bốn mươi viên ngọc thạch lựu, hai trăm mười viên ngọc bích, sáu mươi mốt viên mã não, cùng với vô số đá beryl, mã não vân, ngọc mắt mèo, ngọc lam và đủ các loại đá khác mà lúc đó tôi chưa biết gọi tên chính xác là gì - dù sau này thì tôi đã quen thuộc với chúng hơn nhiều. Ngoài ra, còn có gần ba trăm viên ngọc trai cực kỳ tuyệt mỹ, trong đó mười hai viên được khảm trên một chiếc vương miện bằng vàng. Nhân tiện mà nói, số ngọc trai cuối cùng này về sau đã bị lấy ra khỏi rương, và không còn ở đó khi tôi tìm lại được.
"Sau khi đếm xong kho báu, chúng tôi xếp tất cả trở lại vào rương rồi mang ra cổng cho Mahomet Singh xem. Sau đó, chúng tôi trịnh trọng lặp lại lời thề: sát cánh bên nhau và trung thành với bí mật của mình. Chúng tôi nhất trí sẽ giấu chiến lợi phẩm ở một nơi an toàn, đợi đến khi đất nước trở lại yên bình thì sẽ chia đều cho nhau. Chia lúc này thật vô ích, vì nếu ai phát hiện ra trên người chúng tôi có những viên đá quý giá trị như thế, ắt sẽ sinh nghi. Mà trong pháo đài này cũng chẳng có nơi nào riêng tư để chúng tôi có thể cất giấu riêng phần của mình. Bởi vậy, chúng tôi mang chiếc rương vào đúng cái đại sảnh mà chúng tôi vừa chôn xác, rồi ở đó, dưới mấy viên gạch trên mảng tường còn nguyên vẹn nhất, chúng tôi khoét một cái lỗ và cất giấu kho báu vào. Chúng tôi cẩn thận ghi nhớ nơi cất giấu. Ngay ngày hôm sau, tôi vẽ ra bốn tấm bản đồ, mỗi người giữ một tấm, và vẽ ký hiệu của bốn người chúng tôi ở phía dưới. Chúng tôi đã thề rằng mỗi người sẽ luôn hành động vì tất cả, để không ai có thể trục lợi riêng. Đó là một lời thề mà tôi có thể đặt tay lên tim và thề rằng tôi chưa bao giờ phá vỡ.
Chà, tôi có kể cho các ông nghe về kết cục của cuộc binh biến Ấn Độ cũng chẳng ích gì. Sau khi Wilson chiếm được Delhi và Ngài Colin giải vây cho Lucknow, thì về cơ bản mọi việc đã ngã ngũ. Quân tiếp viện tràn vào, và Nana Sahib đã nhanh chóng bỏ trốn qua biên giới. Một đạo quân cơ động dưới quyền chỉ huy của Đại tá Greathed đã đến Agra và quét sạch đám phiến quân Pandy8 khỏi đó. Hòa bình dường như đang dần trở lại trên đất nước, và bốn người chúng tôi bắt đầu hy vọng rằng thời điểm chúng tôi có thể an toàn rời đi với phần chiến lợi phẩm của mình đã đến gần. Tuy nhiên, trong nháy mắt, hy vọng của chúng tôi đã tan vỡ khi chúng tôi bị bắt giữ vì tội giết Achmet.
Mọi chuyện xảy ra như thế này. Khi vị vương công giao tài sản của mình cho Achmet, ông ta làm vậy vì ông ta biết đó là một kẻ trung thành. Ấy thế nhưng, người phương Đông vốn là những kẻ hay đa nghi: thế nên vị vương công này đã làm gì nếu không phải là chọn thêm một người hầu trung thành thứ hai và giao cho hắn nhiệm vụ làm gián điệp theo dõi kẻ thứ nhất? Người thứ hai này được lệnh không bao giờ để Achmet rời khỏi tầm mắt, và hắn đã bám theo Achmet như hình với bóng. Hắn đã lẽo đẽo theo Achmet suốt đêm hôm ấy và thấy Achmet bước qua cánh cổng. Đương nhiên, hắn nghĩ Achmet đã vào tị nạn trong pháo đài, và liền tự mình xin vào đó vào ngày hôm sau, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào của Achmet. Hắn thấy điều này thật kỳ lạ nên đã nói chuyện với một viên trung sĩ hoa tiêu, người này sau đó bẩm báo lên viên chỉ huy. Một cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng nhanh chóng được tiến hành, và thi thể đã bị phát hiện. Thế là ngay lúc chúng tôi tưởng mọi chuyện đã êm xuôi thì cả bốn chúng tôi đều bị tóm gọn và đưa ra xét xử với tội danh giết người - ba người chúng tôi vì đã gác cổng trong đêm hôm đó, và người thứ tư vì được biết là đã đi cùng nạn nhân. Trong phiên tòa không có một lời nào nhắc đến những viên đá quý, bởi vị vương công đã bị phế truất và đuổi khỏi Ấn Độ: do đó chẳng ai còn hứng thú đặc biệt gì với chúng nữa. Tuy nhiên, tội giết người đã được làm rõ, và hiển nhiên là tất cả chúng tôi đều dính líu đến chuyện đó. Ba người Sikh bị kết án khổ sai chung thân, và tôi bị kết án tử hình, mặc dù sau đó bản án của tôi cũng được giảm xuống giống hệt như những người kia.
Hoàn cảnh lúc bấy giờ của chúng tôi quả là trớ trêu. Cả bốn người chúng tôi bị xích chân lại với nhau và có rất ít cơ hội để bao giờ thoát ra được, trong khi mỗi người đều nắm giữ một bí mật có thể đưa mỗi người vào sống trong cung điện nếu chúng tôi có cơ hội tận dụng nó. Điều đó đủ khiến một kẻ ăn không ngon ngủ không yên khi phải chịu sự đá đấm, mắng chửi của từng tên quan chức quèn, phải ăn cơm hẩm uống nước lã, trong khi cả một gia tài kếch xù đang bày sẵn ngoài kia, chỉ chờ được nhặt lên. Nó có thể khiến tôi phát điên; nhưng tôi vốn là một kẻ khá cứng đầu, nên tôi cứ kiên nhẫn chịu đựng mà chờ đợi thời cơ.
Cuối cùng, dường như thời cơ ấy cũng đến. Tôi bị chuyển từ Agra đến Madras, và từ đó đến Đảo Blair ở quần đảo Andaman. Có rất ít tù nhân da trắng tại khu định cư này, và, nhờ tôi đã cư xử đàng hoàng ngay từ đầu, tôi nhanh chóng nhận thấy mình trở thành một kiểu người được hưởng đặc quyền. Tôi được cấp một túp lều ở Hope Town, một nơi nhỏ nhắn nằm trên sườn đồi Mount Harriet, và tôi khá tự do muốn làm gì thì làm. Nơi đó buồn tẻ, đầy rẫy bệnh sốt rét, và ngoài những khoảnh đất trồng trọt nhỏ bé của chúng tôi ra thì toàn là nơi sinh sống của những người bản địa ăn thịt người hoang dã, luôn sẵn sàng thổi một mũi tiêu tẩm độc vào chúng tôi nếu họ thấy có cơ hội. Nào là đào bới, đào mương, trồng khoai mỡ, và hàng tá công việc khác phải làm, vì vậy chúng tôi đủ bận rộn suốt cả ngày; dẫu vậy, vào buổi tối chúng tôi cũng có đôi chút thời gian cho riêng mình. Ngoài những việc khác, tôi còn học cách pha chế thuốc cho bác sĩ phẫu thuật, và cũng nắm bắt được chút ít kiến thức của ông ấy. Trong suốt khoảng thời gian đó, tôi luôn để mắt tìm kiếm một cơ hội trốn thoát; nhưng nơi đó cách xa đất liền hàng trăm dặm, và ở những vùng biển ấy ít khi có gió: do đó việc trốn thoát vô cùng khó khăn.
Vị bác sĩ phẫu thuật, Bác sĩ Somerton, là một gã trai trẻ sành sỏi, đam mê thể thao, và những sĩ quan trẻ khác thường tụ tập trong phòng anh ta vào buổi tối để chơi bài. Phòng y tế, nơi tôi hay bào chế thuốc, nằm kế bên phòng khách của anh ta, chỉ ngăn cách bởi một ô cửa sổ nhỏ. Thông thường, nếu cảm thấy cô đơn, tôi sẽ tắt đèn trong phòng y tế, rồi đứng nép ở đó, lắng nghe họ nói chuyện và xem họ chơi bài. Bản thân tôi cũng thích đánh bài, và xem người khác chơi cũng gần như là được tham dự một ván vậy. Có Thiếu tá Sholto, Đại úy Morstan, và Trung úy Bromley Brown, những người chỉ huy lực lượng quân đội bản địa, và có cả bác sĩ phẫu thuật cùng hai hoặc ba quản ngục, những kẻ xảo quyệt chuyên chơi thứ bài ma lanh. Bọn họ thường tạo thành một nhóm nhỏ chơi rất ăn ý với nhau.
Thế rồi, có một điều rất nhanh chóng khiến tôi chú ý, và đó là những người lính luôn thua, còn dân sự thì thắng. Xin lưu ý, tôi không nói là có sự gian lận nào ở đây, nhưng sự thật là như vậy. Mấy tên quản ngục ấy từ khi đến Andamans chẳng làm gì khác ngoài đánh bài, và họ thuộc lòng lối chơi của nhau đến từng chân tơ kẽ tóc, trong khi những người kia chỉ chơi để giết thời gian và ném bài một cách bừa bãi. Đêm này qua đêm khác, những người lính ra về tay không, và càng thua họ lại càng ham gỡ. Thiếu tá Sholto là người bị nặng nhất. Lúc đầu ông ta thường trả bằng tiền giấy và tiền vàng, nhưng chẳng bao lâu sau ông ta phải ghi nợ và nợ những khoản kếch xù. Đôi khi ông ta thắng được vài ván, chỉ để lấy lại tinh thần, và rồi vận đen sẽ ập đến với ông ta còn tệ hơn bao giờ hết. Suốt ngày ông ta sẽ lang thang với vẻ mặt sầm sì như sấm sét, và ông ta bắt đầu uống rượu nhiều hơn mức bình thường.
Một đêm nọ, ông ta thua còn nặng nề hơn mọi khi. Tôi đang ngồi trong túp lều của mình thì ông ta và Đại úy Morstan loạng choạng đi ngang qua trên đường về chỗ ở. Hai người họ là bạn nối khố, chẳng bao giờ rời xa nhau. Thiếu tá đang lảm nhảm về những mất mát của mình.
"Tiêu tùng rồi, Morstan ạ," ông ta nói, khi họ đi ngang qua túp lều của tôi. "Tôi sẽ phải nộp đơn từ chức. Tôi đã là một kẻ tay trắng rồi."
"Vớ vẩn, ông bạn cũ!" người kia đáp, vỗ vai ông ta. "Tôi cũng gặp một đòn đau đấy, nhưng - " Tôi chỉ nghe được chừng đó, nhưng chừng đó cũng đủ để khiến tôi suy tính.
Vài ngày sau, Thiếu tá Sholto đang đi dạo trên bãi biển: thế là tôi chớp lấy cơ hội bắt chuyện với ông ta.
"Tôi muốn xin lời khuyên của ngài, thưa thiếu tá," tôi nói.
"Chuyện gì vậy, Small?" ông ta hỏi, rút điếu xì gà ra khỏi môi.
"Tôi muốn hỏi ngài, thưa ngài," tôi nói, "ai mới là người phù hợp để giao nộp kho báu cất giấu. Tôi biết nơi chôn giấu số của cải trị giá nửa triệu bảng, và vì bản thân tôi không thể sử dụng nó, tôi nghĩ có lẽ điều tốt nhất tôi có thể làm là giao nó cho chính quyền, biết đâu sau đó họ sẽ giảm án cho tôi."
"Nửa triệu bảng hả, Small?" ông ta thở hổn hển, và nhìn tôi chằm chằm để xem thử tôi có đùa hay không.
"Khá chắc chắn đấy, thưa ngài, - bằng ngọc ngà châu báu. Nó nằm đó, sẵn sàng chờ bất kỳ ai đến lấy. Và điều kỳ lạ là chủ nhân thực sự của nó đang bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và không thể giữ tài sản, do đó nó thuộc về người đầu tiên tìm được."
"Giao cho chính quyền đi, Small," ông ta lắp bắp, - "cho chính quyền ấy." Nhưng ông ta nói với một vẻ do dự, và tôi biết trong thâm tâm rằng tôi đã nắm thóp được ông ta.
"Vậy ngài nghĩ, thưa ngài, rằng tôi nên cung cấp thông tin cho Toàn quyền chăng?" tôi bình thản hỏi.
"Từ từ đã, anh không được làm bất cứ điều gì vội vàng, kẻo sau này phải hối hận. Kể cho tôi nghe mọi chuyện đi, Small. Đưa tôi xem các bằng chứng."
Tôi kể cho ông ta toàn bộ câu chuyện, có sửa đổi đôi chút để ông ta không thể nhận diện được địa điểm chính xác. Khi tôi kể xong, ông ta đứng sững lại và suy nghĩ đăm chiêu. Qua cái nhếch mép, tôi có thể thấy một cuộc đấu tranh đang diễn ra trong lòng ông ta.
"Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, Small," cuối cùng ông ta lên tiếng. "Anh không được nói một lời nào với bất kỳ ai về chuyện này, và tôi sẽ sớm gặp lại anh."
Hai đêm sau, ông ta cùng người bạn là Đại úy Morstan mang theo một chiếc đèn lồng đến túp lều của tôi vào lúc nửa đêm.
"Tôi muốn Đại úy Morstan nghe câu chuyện đó từ chính miệng anh, Small," ông ta nói.
Tôi lặp lại câu chuyện y như lần trước.
"Nghe có vẻ có lý đấy chứ nhỉ?" ông ta nói. "Đủ để chúng ta hành động chứ?"
Đại úy Morstan gật đầu.
"Nghe này, Small," thiếu tá lên tiếng. "Bạn tôi và tôi đã bàn bạc với nhau, và chúng tôi đã đi đến kết luận rằng rốt cuộc bí mật này của anh hầu như không phải là chuyện của chính quyền, mà là việc riêng của cá nhân anh, đương nhiên anh có toàn quyền định đoạt như thế nào tùy ý. Bây giờ, câu hỏi đặt ra là anh sẽ đòi cái giá nào cho bí mật đó? Chúng tôi có thể sẽ có ý muốn tiếp nhận nó, và ít nhất là xem xét, nếu chúng ta có thể đạt được một thỏa thuận." Ông ta cố gắng nói bằng giọng lạnh lùng, dửng dưng, nhưng đôi mắt lại sáng rực lên vì phấn khích và tham lam.
"Vâng, về vấn đề đó, thưa các ngài," tôi đáp, cũng cố tỏ ra bình thản, nhưng trong lòng cũng phấn khích không kém gì ông ta, "chỉ có một thỏa thuận duy nhất mà một người ở vị trí của tôi có thể đưa ra. Tôi muốn các ngài giúp tôi được tự do, và giúp ba người bạn đồng hành của tôi được tự do. Sau đó chúng tôi sẽ cho các ngài tham gia như những đối tác, và chia cho hai ngài một phần năm để hai ngài tự chia nhau."
"Hừm!" ông ta nói. "Một phần năm! Nghe không hấp dẫn cho lắm."
"Mỗi người sẽ được năm mươi nghìn bảng," tôi nói.
"Nhưng làm sao chúng tôi có thể mang lại tự do cho các anh? Anh thừa biết rằng anh đang yêu cầu một điều không thể."
"Không hề," tôi đáp. "Tôi đã suy tính mọi việc cẩn thận đến từng chi tiết cuối cùng. Trở ngại duy nhất cho việc trốn thoát của chúng tôi là chúng tôi không thể kiếm được một chiếc thuyền phù hợp cho chuyến đi, và cũng chẳng có lương thực để duy trì đường dài. Có rất nhiều du thuyền và thuyền buồm cỡ nhỏ ở Calcutta hoặc Madras hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của chúng tôi. Các ngài hãy mua một chiếc mang qua đây. Chúng tôi hứa sẽ lén lên tàu vào ban đêm, và nếu các ngài thả chúng tôi xuống bất kỳ bờ biển nào của Ấn Độ thì các ngài đã hoàn thành phần nghĩa vụ trong thỏa thuận của mình rồi."
"Nếu chỉ có mỗi một mình anh thôi," ông ta nói.
"Hoặc không ai cả, hoặc là tất cả," tôi đáp. "Chúng tôi đã thề độc rồi. Bốn người chúng tôi phải luôn hành động cùng nhau."
"Ông thấy đấy, Morstan," ông ta nói, "Small là người biết giữ lời. Anh ta không chùn bước trước bạn bè. Tôi nghĩ chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng anh ta."
"Đây là một vụ làm ăn bẩn thỉu," người kia đáp. "Tuy nhiên, như ông nói, số tiền đó sẽ cứu vớt đống huê hồng của chúng ta một cách ngoạn mục."
"Thôi được, Small," thiếu tá nói, "Tôi nghĩ chúng tôi phải cố gắng đáp ứng yêu cầu của anh. Đương nhiên, trước tiên chúng tôi phải kiểm chứng tính chân thực của câu chuyện anh kể. Hãy nói cho tôi biết chiếc hộp được giấu ở đâu, và tôi sẽ xin nghỉ phép về Ấn Độ bằng chuyến tàu cứu trợ hàng tháng để điều tra chuyện này."
"Chưa vội được," tôi nói, càng ngày càng lạnh nhạt hơn khi thấy ông ta nôn nóng. "Tôi còn phải có sự đồng ý của ba người đồng chí của tôi. Tôi nói với ngài rồi, chúng tôi là bốn người cùng đi, bằng không thì chẳng có ai cả."
"Vớ vẩn!" ông ta chen ngang. "Ba gã da đen kia thì có liên quan gì đến thỏa thuận của chúng ta chứ?"
"Bất kể trắng hay đen," tôi nói, "họ đi cùng tôi, và tất cả chúng tôi cùng đi."
Cuối cùng, vấn đề đã ngã ngũ bằng một cuộc họp thứ hai, với sự tham dự của Mahomet Singh, Abdullah Khan và Dost Akbar. Chúng tôi đã thảo luận lại mọi chuyện, và sau cùng đã đi đến một thỏa thuận. Chúng tôi sẽ cung cấp cho cả hai sĩ quan sơ đồ khu vực pháo đài Agra và đánh dấu vị trí cất giấu kho báu trên tường. Thiếu tá Sholto sẽ tới Ấn Độ để kiểm chứng câu chuyện của chúng tôi. Nếu ông ta tìm thấy chiếc hộp thì cứ để nó ở đó, rồi chuẩn bị một chiếc du thuyền nhỏ có trang bị đầy đủ lương thực cho một chuyến đi, thả neo ngoài khơi Đảo Rutland, và chúng tôi sẽ tự tìm đường ra đó. Sau cùng, ông ta sẽ quay trở lại làm nhiệm vụ. Kế đó, Đại úy Morstan sẽ nộp đơn xin nghỉ phép, để tới gặp chúng tôi ở Agra, và tại đó chúng tôi sẽ tiến hành chia chác kho báu lần cuối - ông ta nhận phần của mình cùng với phần của thiếu tá. Chúng tôi đóng dấu mọi thỏa thuận bằng những lời thề thiêng liêng nhất mà tâm trí có thể nghĩ ra hoặc môi miệng có thể thốt lên. Tôi thức trắng đêm với giấy và mực, và đến sáng tôi đã có sẵn hai tấm bản đồ, ký tên bằng dấu hiệu của bốn người, - đó là của Abdullah, Akbar, Mahomet và chính tôi.
Thưa các ông, tôi đã làm các ông chán ngấy với câu chuyện dài dòng của mình, và tôi biết anh bạn Jones của tôi đang sốt ruột muốn tống tôi vào tù. Tôi sẽ kể thật ngắn gọn nhất có thể. Tên khốn Sholto đã tới Ấn Độ, nhưng hắn không bao giờ quay trở lại. Rất nhanh sau đó, Đại úy Morstan đã chỉ cho tôi thấy tên hắn trong danh sách hành khách của một chuyến tàu đưa thư. Chú của hắn đã qua đời, để lại cho hắn một gia tài, và hắn đã rời khỏi quân ngũ; vậy mà hắn vẫn có thể hạ mình để đối xử với năm con người theo cái cách hắn đã làm với chúng tôi. Ít lâu sau, Morstan đến Agra, và phát hiện ra rằng, đúng như chúng tôi dự đoán, kho báu đã biến mất. Tên vô lại ấy đã cuỗm hết tất cả, mà không hề thực hiện bất kỳ điều kiện nào khi chúng tôi bán bí mật đó cho hắn. Kể từ ngày hôm ấy, tôi sống chỉ vì sự trả thù. Tôi nghĩ về nó vào ban ngày và nuôi dưỡng nó vào ban đêm. Nó trở thành một niềm đam mê mãnh liệt, ngấu nghiến toàn bộ con người tôi. Tôi chẳng màng đến pháp luật, - cũng chẳng quan tâm đến giá treo cổ. Vượt ngục, săn lùng Sholto, tự tay bóp cổ hắn, - đó là suy nghĩ duy nhất trong đầu tôi. Ngay cả kho báu Agra cũng trở nên nhỏ bé trong tâm trí tôi so với việc giết Sholto.
Trong cuộc đời này, tôi đã quyết tâm làm rất nhiều điều, và chưa bao giờ có điều gì mà tôi không thực hiện được. Nhưng nhiều năm mệt mỏi đã trôi qua trước khi thời cơ của tôi đến. Tôi đã nói với các ông rằng tôi có học được một số kiến thức y khoa. Một ngày nọ, khi Bác sĩ Somerton lên cơn sốt, một thổ dân đảo Andaman nhỏ bé đã được một toán tù nhân nhặt được trong rừng rậm. Nó ốm thập tử nhất sinh, và đã lết đến một nơi vắng vẻ để chờ chết. Tôi đã tự tay chăm sóc nó, dù nó độc ác chẳng khác gì một con rắn non, và sau vài tháng tôi đã chữa khỏi cho nó và nó có thể đi lại được. Thế rồi nó bắt đầu quý mến tôi, gần như chẳng muốn quay lại rừng nữa, mà cứ luẩn quẩn quanh túp lều của tôi suốt ngày. Tôi học được đôi chút ngôn ngữ của nó, và điều này càng khiến nó quý mến tôi hơn.
Tonga - vì đó là tên của nó - là một tay chèo thuyền xuất sắc, và sở hữu một chiếc ca nô lớn, rộng rãi của riêng mình. Khi thấy nó hết lòng với tôi và sẵn sàng làm mọi thứ để phục vụ tôi, tôi liền nhìn thấy cơ hội vượt ngục của mình. Tôi đã bàn bạc với nó. Nó sẽ chèo thuyền đến một bến tàu cũ không bao giờ có người canh gác vào một đêm nhất định, và nó sẽ đón tôi ở đó. Tôi chỉ dẫn cho nó chuẩn bị vài quả bầu đựng nước cùng thật nhiều khoai mỡ, dừa và khoai lang.
Thằng bé Tonga nhỏ bé ấy quả thực vững vàng và trung thành. Chưa một gã đàn ông nào từng có một người bạn đồng hành trung thành hơn thế. Vào cái đêm đã hẹn, nó đã mang thuyền đến bến tàu. Thế nhưng, thật không may, lại có một tên lính canh tù nhân ở dưới đó, - một gã Pathan hèn hạ, kẻ chẳng bao giờ bỏ lỡ cơ hội lăng mạ và hãm hại tôi. Tôi luôn thề sẽ trả thù, và giờ thì cơ hội đã đến. Cứ như thể số phận đã đặt hắn trên đường tôi để tôi có thể trả món nợ ấy trước khi rời hòn đảo. Hắn đứng trên bờ, quay lưng về phía tôi, khẩu súng kẹp trên vai. Tôi nhìn quanh tìm một hòn đá để đập vỡ sọ hắn, nhưng chẳng thấy hòn nào. Thế rồi một suy nghĩ kỳ quặc lóe lên trong đầu, chỉ cho tôi nơi có thể chạm tay vào vũ khí. Tôi ngồi xuống trong bóng tối và tháo chiếc chân gỗ của mình ra. Chỉ với ba bước nhảy dài, tôi đã áp sát hắn. Hắn vội đưa súng lên vai, nhưng tôi đã giáng một đòn trực diện, đánh vỡ toàn bộ phần trước hộp sọ của hắn. Bây giờ các ông có thể thấy vết nứt trên gỗ ở chỗ tôi đánh hắn. Cả hai chúng tôi cùng ngã xuống, vì tôi không thể giữ thăng bằng; nhưng khi tôi đứng lên, tôi thấy hắn vẫn nằm im thin thít. Tôi lao xuống thuyền, và một giờ sau chúng tôi đã lênh đênh ngoài biển khơi. Tonga mang theo toàn bộ tài sản trần gian của mình, vũ khí và thần linh của nó. Ngoài những thứ khác, nó có một ngọn giáo dài bằng tre, và một ít chiếu làm từ vỏ dừa Andaman, nhờ đó tôi chế ra được một loại buồm. Trong mười ngày, chúng tôi lênh đênh trên biển, phó mặc cho số phận, và đến ngày thứ mười một, chúng tôi được một chiếc tàu buôn trên đường từ Singapore đến Jiddah chở đầy tín đồ Hồi giáo Mã Lai vớt lên. Bọn họ là một lũ người quái dị, và Tonga cùng tôi nhanh chóng tìm cách hòa nhập với họ. Họ có một đức tính rất tốt: họ để bạn yên và chẳng hỏi han gì sất.
Thà tôi không kể cho các ông nghe thì hơn, chứ nếu kể hết mọi cuộc phiêu lưu mà thằng bé bạn tôi và tôi đã trải qua, các ông sẽ chẳng muốn cảm ơn tôi đâu, bởi vì tôi sẽ giữ các ông ở đây cho đến tận khi mặt trời mọc mất. Hết chỗ này đến chỗ nọ, chúng tôi trôi dạt khắp thế giới, và luôn có thứ gì đó xảy ra ngăn cản chúng tôi đến được London. Thế nhưng, trong suốt ngần ấy thời gian, tôi không bao giờ quên đi mục đích của mình. Đêm đêm tôi mơ thấy Sholto. Trong giấc ngủ, tôi đã giết hắn hàng trăm lần. Để rồi cuối cùng, khoảng ba hay bốn năm trước, chúng tôi đã đặt chân đến nước Anh. Tôi chẳng gặp mấy khó khăn trong việc tìm ra nơi ở của Sholto, và tôi liền bắt tay vào việc khám phá xem liệu hắn đã tiêu xài kho báu chưa, hay hắn vẫn còn giữ nó. Tôi kết bạn với một người có thể giúp tôi, - tôi không muốn nêu tên, vì tôi chẳng muốn dồn thêm ai khác vào bước đường cùng, - và tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng hắn vẫn còn giữ những viên đá quý. Sau đó, tôi cố gắng tiếp cận hắn bằng nhiều cách khác nhau; nhưng hắn khá ranh ma, và luôn có hai võ sĩ quyền Anh, ngoài mấy đứa con trai và gã hầu cận khitmutgar9 của hắn, canh gác bảo vệ nghiêm ngặt.
Ấy thế mà, một ngày nọ, tôi nhận được tin hắn đang hấp hối. Tôi lập tức lao đến khu vườn, điên tiết vì nghĩ hắn sắp trượt khỏi nanh vuốt của tôi như thế. Và rồi, qua ô cửa sổ, tôi thấy hắn đang nằm trên giường, với mấy đứa con trai đứng ở hai bên. Đáng lẽ tôi đã xông vào và thử vận may với ba người bọn họ, nhưng ngay khoảnh khắc tôi nhìn hắn, cằm hắn đã trễ xuống, và tôi biết hắn đã ra đi. Tuy nhiên, đêm hôm ấy tôi vẫn đột nhập vào phòng hắn, và tôi lục lọi đống giấy tờ của hắn, mong tìm thấy bất kỳ ghi chép nào về nơi hắn đã giấu đá quý của chúng tôi. Nhưng chẳng có lấy một dòng: thế là tôi rời đi, trong lòng cay đắng và cuồng nộ hơn bao giờ hết. Trước khi rời khỏi, tôi nghĩ rằng nếu tôi có bao giờ gặp lại những người bạn Sikh của mình, thì sẽ là một niềm an ủi khi biết rằng tôi đã để lại một dấu ấn nào đó cho mối căm thù của chúng tôi; vì vậy tôi đã nguệch ngoạc vẽ dấu hiệu của bốn người chúng tôi, giống hệt như nó đã từng có trên tấm bản đồ, và ghim nó lên ngực hắn. Thật là quá đáng nếu hắn được đưa xuống mồ mà không có một dấu hiệu nào từ những kẻ mà hắn đã cướp bóc và lừa dối.
Vào thời điểm ấy, chúng tôi kiếm sống bằng cách để tôi đưa Tonga tội nghiệp đi triển lãm ở các hội chợ và những nơi tương tự như một kẻ ăn thịt người da đen. Nó ăn thịt sống và nhảy điệu nhảy chiến tranh của mình: thế nên chúng tôi luôn có một chiếc mũ đầy ắp những đồng xu sau một ngày làm việc. Tôi vẫn thường xuyên nghe ngóng mọi tin tức từ Pondicherry Lodge, và suốt mấy năm trời chẳng có tin tức gì đáng kể để nghe, ngoại trừ việc họ đang săn lùng kho báu. Thế rồi, cuối cùng, thứ mà chúng tôi đã chờ đợi bấy lâu cũng đã đến. Kho báu đã được tìm thấy. Nó nằm ở tầng trên cùng của ngôi nhà, trong phòng thí nghiệm hóa học của anh Bartholomew Sholto. Tôi lập tức tìm đến và quan sát nơi đó, nhưng với cái chân gỗ này, tôi không biết làm cách nào để leo lên được. Tuy nhiên, tôi đã phát hiện ra một cái cửa sập trên mái nhà, và cũng biết được giờ ăn tối của anh Sholto. Dường như tôi có thể xoay xở chuyện đó một cách dễ dàng thông qua Tonga. Tôi mang nó ra ngoài cùng với tôi, thắt một sợi dây thừng dài quanh eo nó. Nó có thể leo trèo như một con mèo, và nó nhanh chóng tìm được đường qua mái nhà. Nhưng, thật không may làm sao, Bartholomew Sholto vẫn còn ở trong phòng, và thế là hắn đã tự chuốc lấy cái chết cho bản thân mình. Tonga nghĩ rằng nó đã làm một việc hết sức khôn ngoan khi giết người, bởi vì khi tôi đu dây thừng lên, tôi thấy nó đang vênh váo đi lại, kiêu hãnh như một con công. Nó vô cùng ngạc nhiên khi tôi lấy đầu dây quất nó và chửi nó là đồ tiểu yêu khát máu. Tôi chộp lấy rương kho báu và thả nó xuống, sau đó tự mình trượt xuống theo. Nhưng trước khi rời đi, tôi đã để lại dấu hiệu của bộ tứ trên mặt bàn, để cho thấy rằng cuối cùng đá quý đã trở về với những con người có quyền sở hữu chúng nhất. Sau đó Tonga kéo dây lên, đóng cửa sổ lại, và tẩu thoát theo đúng con đường nó đã đến.
Tôi không biết mình còn điều gì khác để kể cho các ông nghe hay không. Tôi có nghe một người lái thuyền nói về tốc độ của chiếc ca nô Aurora của Smith, nên tôi nghĩ nó sẽ là một con tàu tiện dụng cho cuộc tẩu thoát của chúng tôi. Tôi đã giao kèo với lão già Smith, và hứa sẽ đưa cho lão một khoản tiền lớn nếu lão đưa chúng tôi lên tàu an toàn. Hẳn là lão biết có điều gì đó mờ ám, nhưng lão không nằm trong vòng bí mật của chúng tôi. Tất cả những điều này đều là sự thật, và nếu tôi kể ra cho các ông nghe, thưa các ông, không phải là để mua vui cho các ông, - vì các ông đâu có mang lại cho tôi một kết cục tốt đẹp gì, - mà là vì tôi tin rằng cách biện hộ tốt nhất mà tôi có thể đưa ra đơn giản là không giấu giếm điều gì, mà để cho cả thế giới biết bản thân tôi đã bị Thiếu tá Sholto đối xử tệ bạc đến nhường nào, và tôi vô tội biết bao trước cái chết của con trai ông ta.
"Một câu chuyện thật phi thường," Sherlock Holmes nhận xét. "Quả là cái kết hoàn mỹ cho một vụ án đặc biệt lôi cuốn. Nửa sau lời kể của anh chẳng có gì mới mẻ đối với tôi cả, ngoại trừ chi tiết anh mang theo chính dây thừng của mình. Chuyện đó thì tôi không biết. Nhân tiện, tôi đã hy vọng Tonga làm rơi sạch đám tiêu độc của nó rồi; thế mà nó vẫn kịp bắn một mũi về phía chúng tôi trên thuyền."
"Nó đã rơi hết rồi, thưa ông, trừ mũi tiêu đã nằm sẵn trong ống xì đồng lúc bấy giờ."
"À, ra vậy," Holmes nói. "Tôi chưa từng nghĩ tới chuyện đó."
"Ông còn muốn hỏi gì thêm nữa không?" người tù hỏi, giọng hết sức hòa nhã.
"Tôi nghĩ là không, cảm ơn anh," bạn tôi đáp.
"Nào, Holmes," Athelney Jones lên tiếng, "Anh là kẻ ưa được chiều chuộng, và tất cả chúng ta đều biết anh là bậc sành sỏi về tội phạm, nhưng bổn phận là bổn phận, và tôi đã chiều theo những gì anh cùng bạn anh yêu cầu đến quá mức cho phép rồi. Tôi sẽ thấy yên tâm hơn khi người kể chuyện của chúng ta được nhốt kỹ sau song sắt. Xe ngựa vẫn đang chờ, còn hai thanh tra thì ở dưới nhà. Tôi hết sức biết ơn sự giúp đỡ của hai anh. Đương nhiên là người ta sẽ cần đến hai anh trước tòa. Chúc hai anh ngủ ngon."
"Chúc cả hai ngài ngủ ngon," Jonathan Small nói.
"Mày đi trước đi, Small," viên thanh tra thận trọng Jones bảo khi họ rời khỏi căn phòng. "Tao sẽ đặc biệt cảnh giác để mày khỏi phang tao bằng cái chân gỗ của mày, bất kể mày đã từng làm gì với gã ở quần đảo Andaman."
"Chà, vậy là vở kịch nhỏ của chúng ta đã đi đến hồi kết," tôi nhận xét, sau khi cả hai đã ngồi hút thuốc trong yên lặng hồi lâu. "Tôi e rằng đây có lẽ là cuộc điều tra cuối cùng mà tôi có cơ hội nghiên cứu phương pháp của anh. Cô Morstan đã ban cho tôi vinh dự chấp nhận lời cầu hôn của tôi."
Anh ấy buông một tiếng rên thê lương thảm thiết. "Tôi đã e là như vậy," anh nói. "Tôi thực sự không thể chúc mừng anh được."
Tôi thoáng chạnh lòng. "Anh có lý do gì để không vừa ý với sự lựa chọn của tôi chăng?" tôi hỏi.
"Không hề. Tôi nghĩ cô ấy là một trong những quý cô duyên dáng nhất tôi từng gặp, và lẽ ra cô ấy đã có thể vô cùng hữu ích trong những công việc kiểu chúng ta vẫn làm. Cô ấy sở hữu một thiên hướng quyết đoán đáng kể: cứ nhìn cách cô ấy giữ riêng tờ bản đồ kho báu Agra giữa hàng đống giấy tờ khác của cha mình thì rõ. Nhưng tình yêu là thứ thuộc về xúc cảm, mà bất cứ điều gì thuộc về xúc cảm đều đối chọi với thứ lý trí lạnh lùng thuần khiết mà tôi đặt lên trên hết thảy mọi thứ. Riêng tôi, tôi sẽ chẳng bao giờ kết hôn, kẻo khiến phán đoán của mình bị sai lệch mất."
"Tôi tin," tôi vừa cười vừa nói, "rằng phán đoán của tôi có thể sống sót qua thử thách ấy. Nhưng trông anh có vẻ mệt mỏi."
"Đúng thế, cơn phản ứng đã ập xuống tôi rồi. Tôi sẽ ủ rũ như một mảnh giẻ rách suốt cả tuần mất."
"Thật kỳ lạ," tôi nói, "làm sao những khoảng thời gian mà nếu ở một người khác tôi sẽ gọi là lười biếng ấy, ở anh lại luân phiên thay đổi với những cơn bùng nổ năng lượng và sinh lực đáng kinh ngạc."
"Phải," anh đáp, "trong tôi mang sẵn tố chất của một kẻ lêu lổng vô tích sự nhưng cũng đồng thời là một gã khá lanh lẹ. Tôi thường nghĩ tới mấy dòng thơ của lão Goethe,-
Schade dass die Natur nur einen Mensch aus Dir schuf,
Denn zum würdigen Mann war und zum Schelmen der Stoff.
"Nhân tiện, à propos về vụ Norwood này, anh thấy đấy, đúng như tôi suy đoán, bọn chúng có một đồng phạm trong nhà, không ai khác ngoài Lal Rao, gã quản gia: thành thử Jones thực sự có được cái vinh dự độc quyền vì đã tóm được một con cá trong mẻ lưới lớn của anh ta."
"Sự phân chia này xem ra bất công quá," tôi nhận xét. "Anh đã làm tất cả mọi công việc trong vụ án này. Tôi có được một người vợ từ đó, Jones nhận được công trạng, vậy thì thử hỏi, còn lại gì cho anh?"
"Đối với tôi," Sherlock Holmes nói, "vẫn còn lọ thuốc trắng kia." Rồi anh vươn bàn tay trắng dài của mình ra với lấy nó.
-
Cụm từ lóng 'nhận đồng shilling của Nữ hoàng' (take the Queen's shilling) là cách nói thời xưa chỉ việc tình nguyện gia nhập quân đội Hoàng gia Anh. Tân binh khi nhập ngũ sẽ được trao một đồng xu shilling như khoản tiền ứng trước tượng trưng. ↩
-
Trung đoàn Bộ binh số 3 của Quân đội Hoàng gia Anh, một trong những trung đoàn có lịch sử lâu đời nhất, thường được gọi là 'The Buffs' vì màu áo đồng phục viền màu da bò (buff) đặc trưng. ↩
-
Cuộc nổi dậy của người Ấn Độ năm 1857 (Indian Rebellion of 1857), một cuộc bạo động vũ trang lớn nhằm chống lại sự cai trị của Công ty Đông Ấn Anh tại Ấn Độ, dẫn đến những thay đổi lớn trong lịch sử thuộc địa. ↩
-
Sepoy là thuật ngữ chỉ những người lính bộ binh bản xứ Ấn Độ phục vụ trong quân đội của Công ty Đông Ấn Anh, lực lượng nòng cốt tham gia cuộc đại binh biến năm 1857. ↩
-
Feringhee (hoặc Firanghi) là từ gốc Ba Tư dùng phổ biến ở châu Á để gọi những người da trắng châu Âu, ban đầu xuất phát từ chữ 'Frank' (người Frank). ↩
-
Ám chỉ Công ty Đông Ấn Anh (British East India Company) - tập đoàn thương mại mang quyền lực cai trị như một nhà nước độc lập, kiểm soát phần lớn lãnh thổ Ấn Độ trước khi Nữ hoàng Anh tiếp quản quyền lực trực tiếp. ↩
-
Ám chỉ viên kim cương Great Mogul, một viên kim cương khổng lồ nổi tiếng trong lịch sử Ấn Độ thế kỷ 17, được đặt theo tên của triều đại Mogul vĩ đại. ↩
-
'Pandy' là tiếng lóng quân đội Anh dùng để gọi những người lính nổi dậy Ấn Độ. Bắt nguồn từ tên Mangal Pandey, người lính tiên phong nổ súng châm ngòi cho cuộc binh biến năm 1857. ↩
-
Một từ tiếng Hindi (khitmatgar) chỉ người hầu nam chuyên phụ trách phục vụ phòng ăn và bàn tiệc trong các gia đình quý tộc hoặc quan chức Anh thời thuộc địa Ấn Độ. ↩
Chapter XII The Strange Story of Jonathan Small
A very patient man was that inspector in the cab, for it was a weary time before I rejoined him. His face clouded over when I showed him the empty box.
“There goes the reward!” said he, gloomily. “Where there is no money there is no pay. This night’s work would have been worth a tenner each to Sam Brown and me if the treasure had been there.”
“Mr. Thaddeus Sholto is a rich man,” I said. “He will see that you are rewarded, treasure or no.”
The inspector shook his head despondently, however. “It’s a bad job,” he repeated; “and so Mr. Athelney Jones will think.”
His forecast proved to be correct, for the detective looked blank enough when I got to Baker Street and showed him the empty box. They had only just arrived, Holmes, the prisoner, and he, for they had changed their plans so far as to report themselves at a station upon the way. My companion lounged in his arm-chair with his usual listless expression, while Small sat stolidly opposite to him with his wooden leg cocked over his sound one. As I exhibited the empty box he leaned back in his chair and laughed aloud.
“This is your doing, Small,” said Athelney Jones, angrily.
“Yes, I have put it away where you shall never lay hand upon it,” he cried, exultantly. “It is my treasure; and if I can’t have the loot I’ll take darned good care that no one else does. I tell you that no living man has any right to it, unless it is three men who are in the Andaman convict-barracks and myself. I know now that I cannot have the use of it, and I know that they cannot. I have acted all through for them as much as for myself. It’s been the sign of four with us always. Well I know that they would have had me do just what I have done, and throw the treasure into the Thames rather than let it go to kith or kin of Sholto or of Morstan. It was not to make them rich that we did for Achmet. You’ll find the treasure where the key is, and where little Tonga is. When I saw that your launch must catch us, I put the loot away in a safe place. There are no rupees for you this journey.”
“You are deceiving us, Small,” said Athelney Jones, sternly. “If you had wished to throw the treasure into the Thames it would have been easier for you to have thrown box and all.”
“Easier for me to throw, and easier for you to recover,” he answered, with a shrewd, sidelong look. “The man that was clever enough to hunt me down is clever enough to pick an iron box from the bottom of a river. Now that they are scattered over five miles or so, it may be a harder job. It went to my heart to do it, though. I was half mad when you came up with us. However, there’s no good grieving over it. I’ve had ups in my life, and I’ve had downs, but I’ve learned not to cry over spilled milk.”
“This is a very serious matter, Small,” said the detective. “If you had helped justice, instead of thwarting it in this way, you would have had a better chance at your trial.”
“Justice!” snarled the ex-convict. “A pretty justice! Whose loot is this, if it is not ours? Where is the justice that I should give it up to those who have never earned it? Look how I have earned it! Twenty long years in that fever-ridden swamp, all day at work under the mangrove-tree, all night chained up in the filthy convict-huts, bitten by mosquitoes, racked with ague, bullied by every cursed black-faced policeman who loved to take it out of a white man. That was how I earned the Agra treasure; and you talk to me of justice because I cannot bear to feel that I have paid this price only that another may enjoy it! I would rather swing a score of times, or have one of Tonga’s darts in my hide, than live in a convict’s cell and feel that another man is at his ease in a palace with the money that should be mine.” Small had dropped his mask of stoicism, and all this came out in a wild whirl of words, while his eyes blazed, and the handcuffs clanked together with the impassioned movement of his hands. I could understand, as I saw the fury and the passion of the man, that it was no groundless or unnatural terror which had possessed Major Sholto when he first learned that the injured convict was upon his track.
“You forget that we know nothing of all this,” said Holmes quietly. “We have not heard your story, and we cannot tell how far justice may originally have been on your side.”
“Well, sir, you have been very fair-spoken to me, though I can see that I have you to thank that I have these bracelets upon my wrists. Still, I bear no grudge for that. It is all fair and above-board. If you want to hear my story I have no wish to hold it back. What I say to you is God’s truth, every word of it. Thank you; you can put the glass beside me here, and I’ll put my lips to it if I am dry.
“I am a Worcestershire man myself,-born near Pershore. I dare say you would find a heap of Smalls living there now if you were to look. I have often thought of taking a look round there, but the truth is that I was never much of a credit to the family, and I doubt if they would be so very glad to see me. They were all steady, chapel-going folk, small farmers, well-known and respected over the country-side, while I was always a bit of a rover. At last, however, when I was about eighteen, I gave them no more trouble, for I got into a mess over a girl, and could only get out of it again by taking the Queen’s shilling and joining the 3rd Buffs, which was just starting for India.
“I wasn’t destined to do much soldiering, however. I had just got past the goose-step, and learned to handle my musket, when I was fool enough to go swimming in the Ganges. Luckily for me, my company sergeant, John Holder, was in the water at the same time, and he was one of the finest swimmers in the service. A crocodile took me, just as I was half-way across, and nipped off my right leg as clean as a surgeon could have done it, just above the knee. What with the shock and the loss of blood, I fainted, and should have drowned if Holder had not caught hold of me and paddled for the bank. I was five months in hospital over it, and when at last I was able to limp out of it with this timber toe strapped to my stump I found myself invalided out of the army and unfitted for any active occupation.
“I was, as you can imagine, pretty down on my luck at this time, for I was a useless cripple though not yet in my twentieth year. However, my misfortune soon proved to be a blessing in disguise. A man named Abel White, who had come out there as an indigo-planter, wanted an overseer to look after his coolies and keep them up to their work. He happened to be a friend of our colonel’s, who had taken an interest in me since the accident. To make a long story short, the colonel recommended me strongly for the post and, as the work was mostly to be done on horseback, my leg was no great obstacle, for I had enough knee left to keep good grip on the saddle. What I had to do was to ride over the plantation, to keep an eye on the men as they worked, and to report the idlers. The pay was fair, I had comfortable quarters, and altogether I was content to spend the remainder of my life in indigo-planting. Mr. Abel White was a kind man, and he would often drop into my little shanty and smoke a pipe with me, for white folk out there feel their hearts warm to each other as they never do here at home.
“Well, I was never in luck’s way long. Suddenly, without a note of warning, the great mutiny broke upon us. One month India lay as still and peaceful, to all appearance, as Surrey or Kent; the next there were two hundred thousand black devils let loose, and the country was a perfect hell. Of course you know all about it, gentlemen,-a deal more than I do, very like, since reading is not in my line. I only know what I saw with my own eyes. Our plantation was at a place called Muttra, near the border of the Northwest Provinces. Night after night the whole sky was alight with the burning bungalows, and day after day we had small companies of Europeans passing through our estate with their wives and children, on their way to Agra, where were the nearest troops. Mr. Abel White was an obstinate man. He had it in his head that the affair had been exaggerated, and that it would blow over as suddenly as it had sprung up. There he sat on his veranda, drinking whiskey-pegs and smoking cheroots, while the country was in a blaze about him. Of course we stuck by him, I and Dawson, who, with his wife, used to do the book-work and the managing. Well, one fine day the crash came. I had been away on a distant plantation, and was riding slowly home in the evening, when my eye fell upon something all huddled together at the bottom of a steep nullah. I rode down to see what it was, and the cold struck through my heart when I found it was Dawson’s wife, all cut into ribbons, and half eaten by jackals and native dogs. A little further up the road Dawson himself was lying on his face, quite dead, with an empty revolver in his hand and four Sepoys lying across each other in front of him. I reined up my horse, wondering which way I should turn, but at that moment I saw thick smoke curling up from Abel White’s bungalow and the flames beginning to burst through the roof. I knew then that I could do my employer no good, but would only throw my own life away if I meddled in the matter. From where I stood I could see hundreds of the black fiends, with their red coats still on their backs, dancing and howling round the burning house. Some of them pointed at me, and a couple of bullets sang past my head; so I broke away across the paddy-fields, and found myself late at night safe within the walls at Agra.
“As it proved, however, there was no great safety there, either. The whole country was up like a swarm of bees. Wherever the English could collect in little bands they held just the ground that their guns commanded. Everywhere else they were helpless fugitives. It was a fight of the millions against the hundreds; and the cruellest part of it was that these men that we fought against, foot, horse, and gunners, were our own picked troops, whom we had taught and trained, handling our own weapons, and blowing our own bugle-calls. At Agra there were the 3rd Bengal Fusiliers, some Sikhs, two troops of horse, and a battery of artillery. A volunteer corps of clerks and merchants had been formed, and this I joined, wooden leg and all. We went out to meet the rebels at Shahgunge early in July, and we beat them back for a time, but our powder gave out, and we had to fall back upon the city.
“Nothing but the worst news came to us from every side,-which is not to be wondered at, for if you look at the map you will see that we were right in the heart of it. Lucknow is rather better than a hundred miles to the east, and Cawnpore about as far to the south. From every point on the compass there was nothing but torture and murder and outrage.
“The city of Agra is a great place, swarming with fanatics and fierce devil-worshippers of all sorts. Our handful of men were lost among the narrow, winding streets. Our leader moved across the river, therefore, and took up his position in the old fort at Agra. I don’t know if any of you gentlemen have ever read or heard anything of that old fort. It is a very queer place,-the queerest that ever I was in, and I have been in some rum corners, too. First of all, it is enormous in size. I should think that the enclosure must be acres and acres. There is a modern part, which took all our garrison, women, children, stores, and everything else, with plenty of room over. But the modern part is nothing like the size of the old quarter, where nobody goes, and which is given over to the scorpions and the centipedes. It is all full of great deserted halls, and winding passages, and long corridors twisting in and out, so that it is easy enough for folk to get lost in it. For this reason it was seldom that any one went into it, though now and again a party with torches might go exploring.
“The river washes along the front of the old fort, and so protects it, but on the sides and behind there are many doors, and these had to be guarded, of course, in the old quarter as well as in that which was actually held by our troops. We were short-handed, with hardly men enough to man the angles of the building and to serve the guns. It was impossible for us, therefore, to station a strong guard at every one of the innumerable gates. What we did was to organise a central guard-house in the middle of the fort, and to leave each gate under the charge of one white man and two or three natives. I was selected to take charge during certain hours of the night of a small isolated door upon the southwest side of the building. Two Sikh troopers were placed under my command, and I was instructed if anything went wrong to fire my musket, when I might rely upon help coming at once from the central guard. As the guard was a good two hundred paces away, however, and as the space between was cut up into a labyrinth of passages and corridors, I had great doubts as to whether they could arrive in time to be of any use in case of an actual attack.
“Well, I was pretty proud at having this small command given me, since I was a raw recruit, and a game-legged one at that. For two nights I kept the watch with my Punjaubees. They were tall, fierce-looking chaps, Mahomet Singh and Abdullah Khan by name, both old fighting-men who had borne arms against us at Chilian-wallah. They could talk English pretty well, but I could get little out of them. They preferred to stand together and jabber all night in their queer Sikh lingo. For myself, I used to stand outside the gateway, looking down on the broad, winding river and on the twinkling lights of the great city. The beating of drums, the rattle of tomtoms, and the yells and howls of the rebels, drunk with opium and with bang, were enough to remind us all night of our dangerous neighbours across the stream. Every two hours the officer of the night used to come round to all the posts, to make sure that all was well.
“The third night of my watch was dark and dirty, with a small, driving rain. It was dreary work standing in the gateway hour after hour in such weather. I tried again and again to make my Sikhs talk, but without much success. At two in the morning the rounds passed, and broke for a moment the weariness of the night. Finding that my companions would not be led into conversation, I took out my pipe, and laid down my musket to strike the match. In an instant the two Sikhs were upon me. One of them snatched my firelock up and levelled it at my head, while the other held a great knife to my throat and swore between his teeth that he would plunge it into me if I moved a step.
“My first thought was that these fellows were in league with the rebels, and that this was the beginning of an assault. If our door were in the hands of the Sepoys the place must fall, and the women and children be treated as they were in Cawnpore. Maybe you gentlemen think that I am just making out a case for myself, but I give you my word that when I thought of that, though I felt the point of the knife at my throat, I opened my mouth with the intention of giving a scream, if it was my last one, which might alarm the main guard. The man who held me seemed to know my thoughts; for, even as I braced myself to it, he whispered, ‘Don’t make a noise. The fort is safe enough. There are no rebel dogs on this side of the river.’ There was the ring of truth in what he said, and I knew that if I raised my voice I was a dead man. I could read it in the fellow’s brown eyes. I waited, therefore, in silence, to see what it was that they wanted from me.
“‘Listen to me, Sahib,’ said the taller and fiercer of the pair, the one whom they called Abdullah Khan. ‘You must either be with us now or you must be silenced forever. The thing is too great a one for us to hesitate. Either you are heart and soul with us on your oath on the cross of the Christians, or your body this night shall be thrown into the ditch and we shall pass over to our brothers in the rebel army. There is no middle way. Which is it to be, death or life? We can only give you three minutes to decide, for the time is passing, and all must be done before the rounds come again.’
“‘How can I decide?’ said I. ‘You have not told me what you want of me. But I tell you now that if it is anything against the safety of the fort I will have no truck with it, so you can drive home your knife and welcome.’
“‘It is nothing against the fort,’ said he. ‘We only ask you to do that which your countrymen come to this land for. We ask you to be rich. If you will be one of us this night, we will swear to you upon the naked knife, and by the threefold oath which no Sikh was ever known to break, that you shall have your fair share of the loot. A quarter of the treasure shall be yours. We can say no fairer.’
“‘But what is the treasure, then?’ I asked. ‘I am as ready to be rich as you can be, if you will but show me how it can be done.’
“‘You will swear, then,’ said he, ‘by the bones of your father, by the honour of your mother, by the cross of your faith, to raise no hand and speak no word against us, either now or afterwards?’
“‘I will swear it,’ I answered, ‘provided that the fort is not endangered.’
“‘Then my comrade and I will swear that you shall have a quarter of the treasure which shall be equally divided among the four of us.’
“‘There are but three,’ said I.
“‘No; Dost Akbar must have his share. We can tell the tale to you while we await them. Do you stand at the gate, Mahomet Singh, and give notice of their coming. The thing stands thus, Sahib, and I tell it to you because I know that an oath is binding upon a Feringhee, and that we may trust you. Had you been a lying Hindoo, though you had sworn by all the gods in their false temples, your blood would have been upon the knife, and your body in the water. But the Sikh knows the Englishman, and the Englishman knows the Sikh. Hearken, then, to what I have to say.
“‘There is a rajah in the northern provinces who has much wealth, though his lands are small. Much has come to him from his father, and more still he has set by himself, for he is of a low nature and hoards his gold rather than spend it. When the troubles broke out he would be friends both with the lion and the tiger,-with the Sepoy and with the Company’s Raj. Soon, however, it seemed to him that the white men’s day was come, for through all the land he could hear of nothing but of their death and their overthrow. Yet, being a careful man, he made such plans that, come what might, half at least of his treasure should be left to him. That which was in gold and silver he kept by him in the vaults of his palace, but the most precious stones and the choicest pearls that he had he put in an iron box, and sent it by a trusty servant who, under the guise of a merchant, should take it to the fort at Agra, there to lie until the land is at peace. Thus, if the rebels won he would have his money, but if the Company conquered his jewels would be saved to him. Having thus divided his hoard, he threw himself into the cause of the Sepoys, since they were strong upon his borders. By doing this, mark you, Sahib, his property becomes the due of those who have been true to their salt.
“‘This pretended merchant, who travels under the name of Achmet, is now in the city of Agra, and desires to gain his way into the fort. He has with him as travelling-companion my foster-brother Dost Akbar, who knows his secret. Dost Akbar has promised this night to lead him to a side-postern of the fort, and has chosen this one for his purpose. Here he will come presently, and here he will find Mahomet Singh and myself awaiting him. The place is lonely, and none shall know of his coming. The world shall know of the merchant Achmet no more, but the great treasure of the rajah shall be divided among us. What say you to it, Sahib?’
“In Worcestershire the life of a man seems a great and a sacred thing; but it is very different when there is fire and blood all round you and you have been used to meeting death at every turn. Whether Achmet the merchant lived or died was a thing as light as air to me, but at the talk about the treasure my heart turned to it, and I thought of what I might do in the old country with it, and how my folk would stare when they saw their ne’er-do-well coming back with his pockets full of gold moidores. I had, therefore, already made up my mind. Abdullah Khan, however, thinking that I hesitated, pressed the matter more closely.
“‘Consider, Sahib,’ said he, ‘that if this man is taken by the commandant he will be hung or shot, and his jewels taken by the government, so that no man will be a rupee the better for them. Now, since we do the taking of him, why should we not do the rest as well? The jewels will be as well with us as in the Company’s coffers. There will be enough to make every one of us rich men and great chiefs. No one can know about the matter, for here we are cut off from all men. What could be better for the purpose? Say again, then, Sahib, whether you are with us, or if we must look upon you as an enemy.’
“‘I am with you heart and soul,’ said I.
“‘It is well,’ he answered, handing me back my firelock. ‘You see that we trust you, for your word, like ours, is not to be broken. We have now only to wait for my brother and the merchant.’
“‘Does your brother know, then, of what you will do?’ I asked.
“‘The plan is his. He has devised it. We will go to the gate and share the watch with Mahomet Singh.’
“The rain was still falling steadily, for it was just the beginning of the wet season. Brown, heavy clouds were drifting across the sky, and it was hard to see more than a stone-cast. A deep moat lay in front of our door, but the water was in places nearly dried up, and it could easily be crossed. It was strange to me to be standing there with those two wild Punjaubees waiting for the man who was coming to his death.
“Suddenly my eye caught the glint of a shaded lantern at the other side of the moat. It vanished among the mound-heaps, and then appeared again coming slowly in our direction.
“‘Here they are!’ I exclaimed.
“‘You will challenge him, Sahib, as usual,’ whispered Abdullah. ‘Give him no cause for fear. Send us in with him, and we shall do the rest while you stay here on guard. Have the lantern ready to uncover, that we may be sure that it is indeed the man.’
“The light had flickered onwards, now stopping and now advancing, until I could see two dark figures upon the other side of the moat. I let them scramble down the sloping bank, splash through the mire, and climb half-way up to the gate, before I challenged them.
“‘Who goes there?’ said I, in a subdued voice.
“‘Friends,’ came the answer. I uncovered my lantern and threw a flood of light upon them. The first was an enormous Sikh, with a black beard which swept nearly down to his cummerbund. Outside of a show I have never seen so tall a man. The other was a little, fat, round fellow, with a great yellow turban, and a bundle in his hand, done up in a shawl. He seemed to be all in a quiver with fear, for his hands twitched as if he had the ague, and his head kept turning to left and right with two bright little twinkling eyes, like a mouse when he ventures out from his hole. It gave me the chills to think of killing him, but I thought of the treasure, and my heart set as hard as a flint within me. When he saw my white face he gave a little chirrup of joy and came running up towards me.
“‘Your protection, Sahib,’ he panted,-‘your protection for the unhappy merchant Achmet. I have travelled across Rajpootana that I might seek the shelter of the fort at Agra. I have been robbed and beaten and abused because I have been the friend of the Company. It is a blessed night this when I am once more in safety,-I and my poor possessions.’
“‘What have you in the bundle?’ I asked.
“‘An iron box,’ he answered, ‘which contains one or two little family matters which are of no value to others, but which I should be sorry to lose. Yet I am not a beggar; and I shall reward you, young Sahib, and your governor also, if he will give me the shelter I ask.’
“I could not trust myself to speak longer with the man. The more I looked at his fat, frightened face, the harder did it seem that we should slay him in cold blood. It was best to get it over.
“‘Take him to the main guard,’ said I. The two Sikhs closed in upon him on each side, and the giant walked behind, while they marched in through the dark gateway. Never was a man so compassed round with death. I remained at the gateway with the lantern.
“I could hear the measured tramp of their footsteps sounding through the lonely corridors. Suddenly it ceased, and I heard voices, and a scuffle, with the sound of blows. A moment later there came, to my horror, a rush of footsteps coming in my direction, with the loud breathing of a running man. I turned my lantern down the long, straight passage, and there was the fat man, running like the wind, with a smear of blood across his face, and close at his heels, bounding like a tiger, the great black-bearded Sikh, with a knife flashing in his hand. I have never seen a man run so fast as that little merchant. He was gaining on the Sikh, and I could see that if he once passed me and got to the open air he would save himself yet. My heart softened to him, but again the thought of his treasure turned me hard and bitter. I cast my firelock between his legs as he raced past, and he rolled twice over like a shot rabbit. Ere he could stagger to his feet the Sikh was upon him, and buried his knife twice in his side. The man never uttered moan nor moved muscle, but lay were he had fallen. I think myself that he may have broken his neck with the fall. You see, gentlemen, that I am keeping my promise. I am telling you every work of the business just exactly as it happened, whether it is in my favour or not.”
He stopped, and held out his manacled hands for the whiskey-and-water which Holmes had brewed for him. For myself, I confess that I had now conceived the utmost horror of the man, not only for this cold-blooded business in which he had been concerned, but even more for the somewhat flippant and careless way in which he narrated it. Whatever punishment was in store for him, I felt that he might expect no sympathy from me. Sherlock Holmes and Jones sat with their hands upon their knees, deeply interested in the story, but with the same disgust written upon their faces. He may have observed it, for there was a touch of defiance in his voice and manner as he proceeded.
“It was all very bad, no doubt,” said he. “I should like to know how many fellows in my shoes would have refused a share of this loot when they knew that they would have their throats cut for their pains. Besides, it was my life or his when once he was in the fort. If he had got out, the whole business would come to light, and I should have been court-martialled and shot as likely as not; for people were not very lenient at a time like that.”
“Go on with your story,” said Holmes, shortly.
“Well, we carried him in, Abdullah, Akbar, and I. A fine weight he was, too, for all that he was so short. Mahomet Singh was left to guard the door. We took him to a place which the Sikhs had already prepared. It was some distance off, where a winding passage leads to a great empty hall, the brick walls of which were all crumbling to pieces. The earth floor had sunk in at one place, making a natural grave, so we left Achmet the merchant there, having first covered him over with loose bricks. This done, we all went back to the treasure.
“It lay where he had dropped it when he was first attacked. The box was the same which now lies open upon your table. A key was hung by a silken cord to that carved handle upon the top. We opened it, and the light of the lantern gleamed upon a collection of gems such as I have read of and thought about when I was a little lad at Pershore. It was blinding to look upon them. When we had feasted our eyes we took them all out and made a list of them. There were one hundred and forty-three diamonds of the first water, including one which has been called, I believe, ‘the Great Mogul’ and is said to be the second largest stone in existence. Then there were ninety-seven very fine emeralds, and one hundred and seventy rubies, some of which, however, were small. There were forty carbuncles, two hundred and ten sapphires, sixty-one agates, and a great quantity of beryls, onyxes, cats’-eyes, turquoises, and other stones, the very names of which I did not know at the time, though I have become more familiar with them since. Besides this, there were nearly three hundred very fine pearls, twelve of which were set in a gold coronet. By the way, these last had been taken out of the chest and were not there when I recovered it.
“After we had counted our treasures we put them back into the chest and carried them to the gateway to show them to Mahomet Singh. Then we solemnly renewed our oath to stand by each other and be true to our secret. We agreed to conceal our loot in a safe place until the country should be at peace again, and then to divide it equally among ourselves. There was no use dividing it at present, for if gems of such value were found upon us it would cause suspicion, and there was no privacy in the fort nor any place where we could keep them. We carried the box, therefore, into the same hall where we had buried the body, and there, under certain bricks in the best-preserved wall, we made a hollow and put our treasure. We made careful note of the place, and next day I drew four plans, one for each of us, and put the sign of the four of us at the bottom, for we had sworn that we should each always act for all, so that none might take advantage. That is an oath that I can put my hand to my heart and swear that I have never broken.
“Well, there’s no use my telling you gentlemen what came of the Indian mutiny. After Wilson took Delhi and Sir Colin relieved Lucknow the back of the business was broken. Fresh troops came pouring in, and Nana Sahib made himself scarce over the frontier. A flying column under Colonel Greathed came round to Agra and cleared the Pandies away from it. Peace seemed to be settling upon the country, and we four were beginning to hope that the time was at hand when we might safely go off with our shares of the plunder. In a moment, however, our hopes were shattered by our being arrested as the murderers of Achmet.
“It came about in this way. When the rajah put his jewels into the hands of Achmet he did it because he knew that he was a trusty man. They are suspicious folk in the East, however: so what does this rajah do but take a second even more trusty servant and set him to play the spy upon the first? This second man was ordered never to let Achmet out of his sight, and he followed him like his shadow. He went after him that night and saw him pass through the doorway. Of course he thought he had taken refuge in the fort, and applied for admission there himself next day, but could find no trace of Achmet. This seemed to him so strange that he spoke about it to a sergeant of guides, who brought it to the ears of the commandant. A thorough search was quickly made, and the body was discovered. Thus at the very moment that we thought that all was safe we were all four seized and brought to trial on a charge of murder,-three of us because we had held the gate that night, and the fourth because he was known to have been in the company of the murdered man. Not a word about the jewels came out at the trial, for the rajah had been deposed and driven out of India: so no one had any particular interest in them. The murder, however, was clearly made out, and it was certain that we must all have been concerned in it. The three Sikhs got penal servitude for life, and I was condemned to death, though my sentence was afterwards commuted into the same as the others.
“It was rather a queer position that we found ourselves in then. There we were all four tied by the leg and with precious little chance of ever getting out again, while we each held a secret which might have put each of us in a palace if we could only have made use of it. It was enough to make a man eat his heart out to have to stand the kick and the cuff of every petty jack-in-office, to have rice to eat and water to drink, when that gorgeous fortune was ready for him outside, just waiting to be picked up. It might have driven me mad; but I was always a pretty stubborn one, so I just held on and bided my time.
“At last it seemed to me to have come. I was changed from Agra to Madras, and from there to Blair Island in the Andamans. There are very few white convicts at this settlement, and, as I had behaved well from the first, I soon found myself a sort of privileged person. I was given a hut in Hope Town, which is a small place on the slopes of Mount Harriet, and I was left pretty much to myself. It is a dreary, fever-stricken place, and all beyond our little clearings was infested with wild cannibal natives, who were ready enough to blow a poisoned dart at us if they saw a chance. There was digging, and ditching, and yam-planting, and a dozen other things to be done, so we were busy enough all day; though in the evening we had a little time to ourselves. Among other things, I learned to dispense drugs for the surgeon, and picked up a smattering of his knowledge. All the time I was on the lookout for a chance of escape; but it is hundreds of miles from any other land, and there is little or no wind in those seas: so it was a terribly difficult job to get away.
“The surgeon, Dr. Somerton, was a fast, sporting young chap, and the other young officers would meet in his rooms of an evening and play cards. The surgery, where I used to make up my drugs, was next to his sitting-room, with a small window between us. Often, if I felt lonesome, I used to turn out the lamp in the surgery, and then, standing there, I could hear their talk and watch their play. I am fond of a hand at cards myself, and it was almost as good as having one to watch the others. There was Major Sholto, Captain Morstan, and Lieutenant Bromley Brown, who were in command of the native troops, and there was the surgeon himself, and two or three prison-officials, crafty old hands who played a nice sly safe game. A very snug little party they used to make.
“Well, there was one thing which very soon struck me, and that was that the soldiers used always to lose and the civilians to win. Mind, I don’t say that there was anything unfair, but so it was. These prison-chaps had done little else than play cards ever since they had been at the Andamans, and they knew each other’s game to a point, while the others just played to pass the time and threw their cards down anyhow. Night after night the soldiers got up poorer men, and the poorer they got the more keen they were to play. Major Sholto was the hardest hit. He used to pay in notes and gold at first, but soon it came to notes of hand and for big sums. He sometimes would win for a few deals, just to give him heart, and then the luck would set in against him worse than ever. All day he would wander about as black as thunder, and he took to drinking a deal more than was good for him.
“One night he lost even more heavily than usual. I was sitting in my hut when he and Captain Morstan came stumbling along on the way to their quarters. They were bosom friends, those two, and never far apart. The major was raving about his losses.
“‘It’s all up, Morstan,’ he was saying, as they passed my hut. ‘I shall have to send in my papers. I am a ruined man.’
“‘Nonsense, old chap!’ said the other, slapping him upon the shoulder. ‘I’ve had a nasty facer myself, but-’ That was all I could hear, but it was enough to set me thinking.
“A couple of days later Major Sholto was strolling on the beach: so I took the chance of speaking to him.
“‘I wish to have your advice, major,’ said I.
“‘Well, Small, what is it?’ he asked, taking his cheroot from his lips.
“‘I wanted to ask you, sir,’ said I, ‘who is the proper person to whom hidden treasure should be handed over. I know where half a million worth lies, and, as I cannot use it myself, I thought perhaps the best thing that I could do would be to hand it over to the proper authorities, and then perhaps they would get my sentence shortened for me.’
“‘Half a million, Small?’ he gasped, looking hard at me to see if I was in earnest.
“‘Quite that, sir,-in jewels and pearls. It lies there ready for any one. And the queer thing about it is that the real owner is outlawed and cannot hold property, so that it belongs to the first comer.’
“‘To government, Small,’ he stammered,-‘to government.’ But he said it in a halting fashion, and I knew in my heart that I had got him.
“‘You think, then, sir, that I should give the information to the Governor-General?’ said I, quietly.
“‘Well, well, you must not do anything rash, or that you might repent. Let me hear all about it, Small. Give me the facts.’
“I told him the whole story, with small changes so that he could not identify the places. When I had finished he stood stock still and full of thought. I could see by the twitch of his lip that there was a struggle going on within him.
“‘This is a very important matter, Small,’ he said, at last. ‘You must not say a word to any one about it, and I shall see you again soon.’
“Two nights later he and his friend Captain Morstan came to my hut in the dead of the night with a lantern.
“‘I want you just to let Captain Morstan hear that story from your own lips, Small,’ said he.
“I repeated it as I had told it before.
“‘It rings true, eh?’ said he. ‘It’s good enough to act upon?’
“Captain Morstan nodded.
“‘Look here, Small,’ said the major. ‘We have been talking it over, my friend here and I, and we have come to the conclusion that this secret of yours is hardly a government matter, after all, but is a private concern of your own, which of course you have the power of disposing of as you think best. Now, the question is, what price would you ask for it? We might be inclined to take it up, and at least look into it, if we could agree as to terms.’ He tried to speak in a cool, careless way, but his eyes were shining with excitement and greed.
“‘Why, as to that, gentlemen,’ I answered, trying also to be cool, but feeling as excited as he did, ‘there is only one bargain which a man in my position can make. I shall want you to help me to my freedom, and to help my three companions to theirs. We shall then take you into partnership, and give you a fifth share to divide between you.’
“‘Hum!’ said he. ‘A fifth share! That is not very tempting.’
“‘It would come to fifty thousand apiece,’ said I.
“‘But how can we gain your freedom? You know very well that you ask an impossibility.’
“‘Nothing of the sort,’ I answered. ‘I have thought it all out to the last detail. The only bar to our escape is that we can get no boat fit for the voyage, and no provisions to last us for so long a time. There are plenty of little yachts and yawls at Calcutta or Madras which would serve our turn well. Do you bring one over. We shall engage to get aboard her by night, and if you will drop us on any part of the Indian coast you will have done your part of the bargain.’
“‘If there were only one,’ he said.
“‘None or all,’ I answered. ‘We have sworn it. The four of us must always act together.’
“‘You see, Morstan,’ said he, ‘Small is a man of his word. He does not flinch from his friend. I think we may very well trust him.’
“‘It’s a dirty business,’ the other answered. ‘Yet, as you say, the money would save our commissions handsomely.’
“‘Well, Small,’ said the major, ‘we must, I suppose, try and meet you. We must first, of course, test the truth of your story. Tell me where the box is hid, and I shall get leave of absence and go back to India in the monthly relief-boat to inquire into the affair.’
“‘Not so fast,’ said I, growing colder as he got hot. ‘I must have the consent of my three comrades. I tell you that it is four or none with us.’
“‘Nonsense!’ he broke in. ‘What have three black fellows to do with our agreement?’
“‘Black or blue,’ said I, ‘they are in with me, and we all go together.’
“Well, the matter ended by a second meeting, at which Mahomet Singh, Abdullah Khan, and Dost Akbar were all present. We talked the matter over again, and at last we came to an arrangement. We were to provide both the officers with charts of the part of the Agra fort and mark the place in the wall where the treasure was hid. Major Sholto was to go to India to test our story. If he found the box he was to leave it there, to send out a small yacht provisioned for a voyage, which was to lie off Rutland Island, and to which we were to make our way, and finally to return to his duties. Captain Morstan was then to apply for leave of absence, to meet us at Agra, and there we were to have a final division of the treasure, he taking the major’s share as well as his own. All this we sealed by the most solemn oaths that the mind could think or the lips utter. I sat up all night with paper and ink, and by the morning I had the two charts all ready, signed with the sign of four,-that is, of Abdullah, Akbar, Mahomet, and myself.
“Well, gentlemen, I weary you with my long story, and I know that my friend Mr. Jones is impatient to get me safely stowed in chokey. I’ll make it as short as I can. The villain Sholto went off to India, but he never came back again. Captain Morstan showed me his name among a list of passengers in one of the mail-boats very shortly afterwards. His uncle had died, leaving him a fortune, and he had left the army, yet he could stoop to treat five men as he had treated us. Morstan went over to Agra shortly afterwards, and found, as we expected, that the treasure was indeed gone. The scoundrel had stolen it all, without carrying out one of the conditions on which we had sold him the secret. From that day I lived only for vengeance. I thought of it by day and I nursed it by night. It became an overpowering, absorbing passion with me. I cared nothing for the law,-nothing for the gallows. To escape, to track down Sholto, to have my hand upon his throat,-that was my one thought. Even the Agra treasure had come to be a smaller thing in my mind than the slaying of Sholto.
“Well, I have set my mind on many things in this life, and never one which I did not carry out. But it was weary years before my time came. I have told you that I had picked up something of medicine. One day when Dr. Somerton was down with a fever a little Andaman Islander was picked up by a convict-gang in the woods. He was sick to death, and had gone to a lonely place to die. I took him in hand, though he was as venomous as a young snake, and after a couple of months I got him all right and able to walk. He took a kind of fancy to me then, and would hardly go back to his woods, but was always hanging about my hut. I learned a little of his lingo from him, and this made him all the fonder of me.
“Tonga-for that was his name-was a fine boatman, and owned a big, roomy canoe of his own. When I found that he was devoted to me and would do anything to serve me, I saw my chance of escape. I talked it over with him. He was to bring his boat round on a certain night to an old wharf which was never guarded, and there he was to pick me up. I gave him directions to have several gourds of water and a lot of yams, cocoa-nuts, and sweet potatoes.
“He was stanch and true, was little Tonga. No man ever had a more faithful mate. At the night named he had his boat at the wharf. As it chanced, however, there was one of the convict-guard down there,-a vile Pathan who had never missed a chance of insulting and injuring me. I had always vowed vengeance, and now I had my chance. It was as if fate had placed him in my way that I might pay my debt before I left the island. He stood on the bank with his back to me, and his carbine on his shoulder. I looked about for a stone to beat out his brains with, but none could I see. Then a queer thought came into my head and showed me where I could lay my hand on a weapon. I sat down in the darkness and unstrapped my wooden leg. With three long hops I was on him. He put his carbine to his shoulder, but I struck him full, and knocked the whole front of his skull in. You can see the split in the wood now where I hit him. We both went down together, for I could not keep my balance, but when I got up I found him still lying quiet enough. I made for the boat, and in an hour we were well out at sea. Tonga had brought all his earthly possessions with him, his arms and his gods. Among other things, he had a long bamboo spear, and some Andaman cocoa-nut matting, with which I made a sort of sail. For ten days we were beating about, trusting to luck, and on the eleventh we were picked up by a trader which was going from Singapore to Jiddah with a cargo of Malay pilgrims. They were a rum crowd, and Tonga and I soon managed to settle down among them. They had one very good quality: they let you alone and asked no questions.
“Well, if I were to tell you all the adventures that my little chum and I went through, you would not thank me, for I would have you here until the sun was shining. Here and there we drifted about the world, something always turning up to keep us from London. All the time, however, I never lost sight of my purpose. I would dream of Sholto at night. A hundred times I have killed him in my sleep. At last, however, some three or four years ago, we found ourselves in England. I had no great difficulty in finding where Sholto lived, and I set to work to discover whether he had realised the treasure, or if he still had it. I made friends with someone who could help me,-I name no names, for I don’t want to get any one else in a hole,-and I soon found that he still had the jewels. Then I tried to get at him in many ways; but he was pretty sly, and had always two prize-fighters, besides his sons and his khitmutgar, on guard over him.
“One day, however, I got word that he was dying. I hurried at once to the garden, mad that he should slip out of my clutches like that, and, looking through the window, I saw him lying in his bed, with his sons on each side of him. I’d have come through and taken my chance with the three of them, only even as I looked at him his jaw dropped, and I knew that he was gone. I got into his room that same night, though, and I searched his papers to see if there was any record of where he had hidden our jewels. There was not a line, however: so I came away, bitter and savage as a man could be. Before I left I bethought me that if I ever met my Sikh friends again it would be a satisfaction to know that I had left some mark of our hatred; so I scrawled down the sign of the four of us, as it had been on the chart, and I pinned it on his bosom. It was too much that he should be taken to the grave without some token from the men whom he had robbed and befooled.
“We earned a living at this time by my exhibiting poor Tonga at fairs and other such places as the black cannibal. He would eat raw meat and dance his war-dance: so we always had a hatful of pennies after a day’s work. I still heard all the news from Pondicherry Lodge, and for some years there was no news to hear, except that they were hunting for the treasure. At last, however, came what we had waited for so long. The treasure had been found. It was up at the top of the house, in Mr. Bartholomew Sholto’s chemical laboratory. I came at once and had a look at the place, but I could not see how with my wooden leg I was to make my way up to it. I learned, however, about a trap-door in the roof, and also about Mr. Sholto’s supper-hour. It seemed to me that I could manage the thing easily through Tonga. I brought him out with me with a long rope wound round his waist. He could climb like a cat, and he soon made his way through the roof, but, as ill luck would have it, Bartholomew Sholto was still in the room, to his cost. Tonga thought he had done something very clever in killing him, for when I came up by the rope I found him strutting about as proud as a peacock. Very much surprised was he when I made at him with the rope’s end and cursed him for a little blood-thirsty imp. I took the treasure-box and let it down, and then slid down myself, having first left the sign of the four upon the table, to show that the jewels had come back at last to those who had most right to them. Tonga then pulled up the rope, closed the window, and made off the way that he had come.
“I don’t know that I have anything else to tell you. I had heard a waterman speak of the speed of Smith’s launch the Aurora, so I thought she would be a handy craft for our escape. I engaged with old Smith, and was to give him a big sum if he got us safe to our ship. He knew, no doubt, that there was some screw loose, but he was not in our secrets. All this is the truth, and if I tell it to you, gentlemen, it is not to amuse you,-for you have not done me a very good turn,-but it is because I believe the best defence I can make is just to hold back nothing, but let all the world know how badly I have myself been served by Major Sholto, and how innocent I am of the death of his son.”
“A very remarkable account,” said Sherlock Holmes. “A fitting wind-up to an extremely interesting case. There is nothing at all new to me in the latter part of your narrative, except that you brought your own rope. That I did not know. By the way, I had hoped that Tonga had lost all his darts; yet he managed to shoot one at us in the boat.”
“He had lost them all, sir, except the one which was in his blow-pipe at the time.”
“Ah, of course,” said Holmes. “I had not thought of that.”
“Is there any other point which you would like to ask about?” asked the convict, affably.
“I think not, thank you,” my companion answered.
“Well, Holmes,” said Athelney Jones, “You are a man to be humoured, and we all know that you are a connoisseur of crime, but duty is duty, and I have gone rather far in doing what you and your friend asked me. I shall feel more at ease when we have our story-teller here safe under lock and key. The cab still waits, and there are two inspectors downstairs. I am much obliged to you both for your assistance. Of course you will be wanted at the trial. Good-night to you.”
“Good-night, gentlemen both,” said Jonathan Small.
“You first, Small,” remarked the wary Jones as they left the room. “I’ll take particular care that you don’t club me with your wooden leg, whatever you may have done to the gentleman at the Andaman Isles.”
“Well, and there is the end of our little drama,” I remarked, after we had set some time smoking in silence. “I fear that it may be the last investigation in which I shall have the chance of studying your methods. Miss Morstan has done me the honour to accept me as a husband in prospective.”
He gave a most dismal groan. “I feared as much,” said he. “I really cannot congratulate you.”
I was a little hurt. “Have you any reason to be dissatisfied with my choice?” I asked.
“Not at all. I think she is one of the most charming young ladies I ever met, and might have been most useful in such work as we have been doing. She had a decided genius that way: witness the way in which she preserved that Agra plan from all the other papers of her father. But love is an emotional thing, and whatever is emotional is opposed to that true cold reason which I place above all things. I should never marry myself, lest I bias my judgment.”
“I trust,” said I, laughing, “that my judgment may survive the ordeal. But you look weary.”
“Yes, the reaction is already upon me. I shall be as limp as a rag for a week.”
“Strange,” said I, “how terms of what in another man I should call laziness alternate with your fits of splendid energy and vigour.”
“Yes,” he answered, “there are in me the makings of a very fine loafer and also of a pretty spry sort of fellow. I often think of those lines of old Goethe,-
Schade dass die Natur nur einen Mensch aus Dir schuf,
Denn zum würdigen Mann war und zum Schelmen der Stoff.
“By the way, à propos of this Norwood business, you see that they had, as I surmised, a confederate in the house, who could be none other than Lal Rao, the butler: so Jones actually has the undivided honour of having caught one fish in his great haul.”
“The division seems rather unfair,” I remarked. “You have done all the work in this business. I get a wife out of it, Jones gets the credit, pray what remains for you?”
“For me,” said Sherlock Holmes, “there still remains the cocaine-bottle.” And he stretched his long white hand up for it.