🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG VIII. ĐỘI QUÂN BẤT QUY TẮC PHỐ BAKER

“Thế nào rồi?” tôi cất tiếng hỏi. “Có vẻ như Toby vừa đánh mất danh hiệu bách phát bách trúng của mình rồi.”

“Nó đã làm hết sức có thể,” Holmes đáp, vừa bế con chó xuống khỏi thùng phuy, vừa dắt nó bước ra khỏi xưởng gỗ. “Nếu anh nghĩ mà xem, mỗi ngày có bao nhiêu creosote được chuyên chở khắp London, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi dấu vết của chúng ta bị cắt ngang. Thứ này hiện được dùng rất nhiều, nhất là để tẩm gỗ. Tội nghiệp Toby, đây đâu phải lỗi của nó.”

“Tôi đoán giờ ta phải quay lại dấu vết chính thôi.”

“Đúng vậy. Và may thay, chúng ta chẳng phải đi đâu xa. Rõ ràng, thứ khiến con chó bối rối ở góc đường Knight’s Place chính là có hai dấu vết khác nhau chạy về hai hướng đối nghịch. Chúng ta đã đi nhầm đường. Bây giờ chỉ còn việc đi theo hướng còn lại.”

Việc này chẳng có gì khó. Khi dắt Toby quay lại đúng chỗ nó đã nhầm lẫn, nó đánh hơi một vòng thật rộng, rồi cuối cùng lao vút đi theo một hướng hoàn toàn mới.

“Chúng ta phải cẩn thận, kẻo nó lại dẫn ta đến chỗ xuất phát của cái thùng phuy creosote,” tôi lên tiếng.

“Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó. Nhưng anh thấy đấy, nó đang chạy trên vỉa hè, trong khi chiếc thùng phuy thì lăn dưới lòng đường. Không, lần này chúng ta đang đi đúng dấu vết rồi.”

Dấu vết chạy dọc xuôi theo bờ sông, băng qua Belmont Place rồi đến Prince’s Street. Đến cuối đường Broad Street, nó đâm thẳng xuống sát mép nước, nơi có một bến tàu nhỏ lát gỗ. Toby dẫn chúng tôi ra tận rìa mép bờ rồi đứng đó rên rỉ, mắt nhìn ra dòng nước đen ngòm hun hút phía xa.

“Xem ra chúng ta kém may mắn rồi,” Holmes nói. “Bọn chúng đã xuống một chiếc thuyền ngay tại đây.” Vài chiếc đò và xuồng nhỏ đang đậu lênh đênh trên mặt nước và dọc theo mép bến. Chúng tôi dắt Toby đi lần lượt qua từng chiếc, nhưng dù nó có ra sức đánh hơi thế nào, nó cũng chẳng biểu lộ một phản ứng gì.

Nằm sát bên bến đỗ thô sơ ấy là một ngôi nhà gạch nhỏ, với tấm biển gỗ treo lủng lẳng bên ngoài khung cửa sổ tầng hai. Dòng chữ “Mordecai Smith” được in ngang mặt biển bằng những con chữ lớn, và bên dưới là dòng chữ nhỏ hơn: “Cho thuê thuyền theo giờ hoặc theo ngày.” Một dòng chữ khác phía trên cửa ra vào cho chúng tôi biết nơi đây còn có một chiếc cano chạy bằng hơi nước - lời khẳng định ấy được chứng thực bởi đống than cốc chất cao lù lù trên bến. Sherlock Holmes chậm rãi đưa mắt quan sát quanh mình, và nét mặt anh dần phủ một vẻ đầy điềm gở.

“Tình hình trông chẳng khả quan chút nào,” anh nói. “Những gã này ranh ma hơn tôi tưởng. Có vẻ như chúng đã xóa sạch dấu vết. Tôi e rằng mọi chuyện đã được dàn xếp từ trước ở đây rồi.”

Anh vừa tiến lại gần cửa nhà thì cánh cửa bỗng bật tung, và một cậu bé chừng sáu tuổi với mái tóc xoăn bù xù chạy ùa ra, theo sát phía sau là một người đàn bà mập mạp, mặt đỏ gay, tay lăm lăm một miếng bọt biển lớn.

“Quay vào đây rửa ráy ngay, Jack!” bà ta gào lên. “Quay lại đây, đồ quỷ sứ ranh con! Để cha mày về mà thấy mày nhếch nhác thế này, ông ấy sẽ cho cả mẹ lẫn con biết tay!”

“Cậu nhóc đáng yêu quá!” Holmes cất tiếng, đầy toan tính. “Một thằng quỷ nhỏ má hồng thật dễ thương! Nào, Jack, cháu có thích thứ gì không?”

Cậu nhóc ngẫm nghĩ một lát. “Cháu thích một đồng shilling ạ,” cậu đáp.

“Không có thứ gì cháu thích hơn sao?”

“Cháu thích hai đồng shilling hơn ạ,” vị thần đồng đáp, sau một hồi suy tính.

“Của cháu đây! Bắt lấy nào! - Một đứa trẻ thật kháu khỉnh, thưa bà Smith!”

“Chúa phù hộ cho ngài, vâng, thưa ngài, nó lém lỉnh lắm. Nhiều lúc tôi chẳng quản nổi nó, nhất là những khi ông nhà tôi đi vắng cả mấy ngày liền.”

“Ông ấy đi vắng rồi sao?” Holmes cất giọng thất vọng. “Tôi rất lấy làm tiếc, vì tôi đang muốn được nói chuyện với ông Smith.”

“Ông ấy đã đi từ sáng hôm qua rồi, thưa ngài, và thành thật mà nói, tôi bắt đầu thấy lo cho ông ấy quá. Nhưng nếu ngài muốn hỏi về thuyền, thì tôi cũng có thể giúp được phần nào.”

“Tôi muốn thuê chiếc cano hơi nước của ông ấy.”

“Ôi, lạy Chúa, thưa ngài, ông ấy đã đi bằng chính chiếc cano hơi nước đó rồi! Đó mới chính là điều khiến tôi thắc mắc đây; vì tôi biết than trong thuyền chỉ đủ để chạy đến Woolwich rồi quay về thôi. Nếu ông ấy đi bằng sà lan thì tôi đã chẳng nghĩ ngợi gì, bởi nhiều khi công việc bắt ông ấy phải đi xa tận Gravesend, và nếu ngoài đó có nhiều việc thì ông ấy có thể nán lại đôi chút. Nhưng một chiếc cano hơi nước mà không có than thì làm nên trò trống gì cơ chứ?”

“Có thể ông ấy đã mua thêm than ở một bến nào đó dưới hạ lưu sông.”

“Cũng có thể lắm, thưa ngài, nhưng ông ấy thường không làm thế. Tôi đã nghe ổng than phiền không biết bao nhiêu lần về cái giá người ta chém cho mấy bao than lẻ. Hơn nữa, tôi chẳng ưa gì cái gã đàn ông chân gỗ ấy, với bộ mặt xấu xí cùng lối ăn nói kỳ quặc của hắn. Hắn cứ lảng vảng quanh đây mãi, chẳng biết để làm gì?”

“Một gã đàn ông chân gỗ à?” Holmes nói, với vẻ ngạc nhiên đầy điềm tĩnh.

“Vâng, thưa ngài, một gã da nâu, mặt khỉ, đã gọi ông nhà tôi mấy lần rồi. Chính hắn là kẻ đã gọi ổng dậy vào đêm qua, và hơn thế, ông nhà tôi còn biết trước là hắn sẽ đến, vì ổng đã đun sẵn hơi nước trong cano. Tôi nói thật với ngài, tôi chẳng thấy yên tâm chút nào về chuyện này.”

“Nhưng, bà Smith thân mến của tôi ơi,” Holmes nói, khẽ nhún vai, “bà đang tự làm mình lo sợ vì những điều vu vơ đấy thôi. Làm sao bà có thể dám chắc rằng đó chính là gã đàn ông chân gỗ đến vào ban đêm? Tôi chưa thực sự hiểu vì sao bà lại quả quyết đến thế.”

“Giọng nói của hắn đấy, thưa ngài. Tôi nhận ra giọng hắn ngay, cái thứ giọng khàn khàn và đặc sệt ấy. Hắn gõ vào cửa sổ - lúc đó chắc khoảng ba giờ sáng. ‘Dậy đi ông bạn,’ hắn nói, ‘tới giờ đổi gác rồi.’ Ông nhà tôi bèn gọi Jim dậy - đó là thằng con trai lớn của tôi - rồi họ đi mất, chẳng nói với tôi lấy một lời. Tôi còn nghe rõ tiếng chân gỗ của hắn gõ lộc cộc trên mặt đá nữa.”

“Thế gã đàn ông chân gỗ đó có đi một mình không?”

“Tôi không dám chắc đâu, thưa ngài. Tôi không nghe thấy ai khác ngoài hắn.”

“Tôi rất tiếc, bà Smith, vì tôi đang rất cần một chiếc cano hơi nước, mà tôi lại được nghe không ít lời khen ngợi về chiếc của ông nhà - Để tôi xem nào, tên nó là gì nhỉ?”

“Chiếc Aurora, thưa ngài.”

“À! Có phải nó là chiếc cano cũ màu xanh lá cây, có một vạch vàng, lườn thuyền rất rộng không?”

“Không, chắc chắn không phải đâu ạ. Nó là chiếc thuyền nhỏ gọn gàng và đẹp đẽ nhất trên khúc sông này. Mới được sơn lại đấy ạ, màu đen với hai đường sọc đỏ.”

“Cảm ơn bà. Tôi hy vọng bà sẽ sớm có tin tức của ông Smith. Tôi đang định đi xuôi dòng về phía hạ lưu, và nếu có trông thấy chiếc Aurora, tôi sẽ nhắn với ông ấy rằng bà đang rất lo lắng. Ống khói màu đen, bà nói phải không?”

“Không, thưa ngài. Màu đen với một dải trắng.”

“À, phải rồi. Còn hai bên lườn thuyền thì màu đen. Chúc bà một buổi sáng tốt lành, bà Smith. - Watson này, có một người lái đò ở đằng kia. Chúng ta sẽ thuê ông ấy chở qua sông.”

“Nguyên tắc cốt lõi khi giao thiệp với hạng người ấy,” Holmes lên tiếng, lúc chúng tôi đã yên vị trên băng ghế chiếc thuyền đò, “là tuyệt đối đừng bao giờ để họ ngờ rằng thông tin của họ có thể có chút giá trị nào trong mắt anh. Chỉ cần anh lộ ra một thoáng quan tâm thôi, là họ sẽ lập tức ngậm miệng như trai. Trái lại, nếu anh cứ tỏ ra miễn cưỡng mà nghe, thì rất có khả năng anh sẽ moi ra được điều mình muốn.”

“Lối đi của chúng ta lúc này xem ra đã khá rõ ràng rồi,” tôi nhận xét.

“Thế anh định làm gì?”

“Tôi sẽ thuê một chiếc xuồng máy, xuôi theo hạ lưu con sông để lần theo dấu vết chiếc Aurora.”

“Anh bạn thân mến của tôi ơi, đó sẽ là một nhiệm vụ khổng lồ đấy. Nó có thể đã cập vào bất kỳ bến đỗ nào dọc hai bên bờ sông, từ tận đây cho đến Greenwich. Phía dưới chân cầu là cả một mê cung bến bãi trải dài hàng dặm. Nếu tự mình lao vào kiểm tra từng cái một, anh sẽ mất đến mấy ngày trời.”

“Vậy thì nhờ đến cảnh sát.”

“Không đâu. Có lẽ tôi sẽ gọi Athelney Jones vào phút chót. Anh ta cũng không phải tay tồi, và tôi chẳng muốn làm điều gì tổn hại đến sự nghiệp của anh ta. Nhưng tôi có cái thú là tự mình gỡ rối mọi chuyện, nhất là khi chúng ta đã tiến xa đến mức này rồi.”

“Thế còn việc đăng quảng cáo, nhờ những người quản lý bến tàu cung cấp tin tức?”

“Lại càng tệ hơn! Bọn chúng sẽ biết ngay cuộc truy lùng đang sát gót, và sẽ tẩu thoát khỏi đất nước. Dù sao đi nữa, rất có khả năng chúng cũng sẽ rời đi thôi, nhưng chừng nào chúng còn nghĩ mình hoàn toàn an toàn, chúng sẽ không vội vã gì. Cái sự hăng hái của Jones lại hóa ra có ích cho ta trong chuyện đó, vì quan điểm của anh ta về vụ án thể nào cũng xuất hiện trên mặt báo hằng ngày, và lũ tội phạm đang trốn chạy sẽ tin rằng mọi người đều đang đi sai hướng.”

“Vậy chúng ta phải làm gì?” tôi hỏi, khi con đò cập bến gần Trại giam Millbank.

“Bắt lấy chiếc xe ngựa hansom1 này, thẳng tiến về nhà, dùng chút điểm tâm rồi chợp mắt một tiếng. Rất có khả năng tối nay chúng ta lại phải lên đường. Dừng ở trạm điện tín nhé, bác tài! Chúng ta sẽ giữ Toby lại đấy, vì nó có thể còn hữu ích.”

Chúng tôi dừng chân tại bưu điện phố Great Peter, và Holmes gửi đi bức điện tín của mình. “Anh có đoán ra tôi vừa đánh điện cho ai không?” anh hỏi khi chúng tôi lại tiếp tục lăn bánh.

“Tôi chịu.”

“Anh còn nhớ cái đội cảnh sát thám tử phố Baker mà tôi từng thuê trong vụ Jefferson Hope2 chứ?”

“Nhớ chứ,” tôi đáp, bật cười.

“Vụ này chính là dịp mà chúng có thể tỏ ra vô giá. Nếu chúng thất bại, tôi vẫn còn những nguồn lực khác; nhưng tôi muốn thử chúng trước đã. Bức điện tôi vừa gửi là cho cậu trung úy nhỏ thó lấm lem của tôi, Wiggins, và tôi đoán cậu nhóc ấy cùng băng đảng của mình sẽ có mặt ở chỗ chúng ta trước khi ta dùng xong bữa sáng.”

Lúc ấy đã vào khoảng tám, chín giờ sáng, và tôi cảm nhận rất rõ một phản ứng dữ dội sau những sự kiện dồn dập và đầy kịch tính của đêm qua. Người tôi rã rời, mệt mỏi rũ ra, đầu óc mụ mị và thân thể kiệt quệ. Tôi không có được cái niềm say mê nghề nghiệp đã thôi thúc người bạn đồng hành của mình, và tôi cũng chẳng thể nhìn nhận vấn đề thuần túy như một bài toán trí tuệ trừu tượng. Nói gì thì nói, về cái chết của Bartholomew Sholto, tôi chưa từng nghe được điều gì tốt đẹp về hắn, và cũng chẳng thấy có ác cảm gì sâu sắc với những kẻ đã ra tay sát hại hắn. Nhưng kho báu lại là một chuyện hoàn toàn khác. Thứ đó, hoặc một phần của nó, đích thị thuộc về cô Morstan. Chừng nào vẫn còn cơ hội lấy lại được nó, tôi sẵn lòng hiến dâng cả cuộc đời mình cho mục tiêu duy nhất ấy. Đúng là, nếu tôi có tìm thấy nó, thì có lẽ chính nó sẽ đặt cô ấy mãi mãi ngoài tầm với của tôi. Nhưng sẽ là một tình yêu nhỏ nhen và ích kỷ biết bao nếu để một ý nghĩ như thế chi phối mình. Nếu Holmes có thể dốc sức truy tìm thủ phạm, thì tôi lại có động lực mạnh mẽ gấp mười lần để đi tìm kho báu.

Một bồn tắm ở phố Baker và một bộ quần áo mới toanh đã khiến tôi sảng khoái hẳn lên. Lúc tôi bước xuống phòng khách, bữa sáng đã được dọn sẵn và Holmes đang nghiêng bình rót cà phê.

“Đây rồi,” anh nói, cười lớn, chỉ tay vào một tờ báo đang mở sẵn. “Anh bạn Jones đầy nhiệt huyết cùng tay phóng viên có mặt khắp mọi nơi đã êm thấm thu xếp xong chuyện này rồi. Nhưng anh đã chịu đựng quá đủ với vụ án này. Tốt hơn hết là anh cứ dùng món giăm bông và trứng của mình trước đi đã.”

Tôi cầm lấy tờ báo từ tay anh và đọc mẩu tin ngắn, mang tiêu đề “Vụ Án Bí Ẩn Tại Upper Norwood.”

“Vào khoảng mười hai giờ đêm qua,” tờ Standard viết, “Ông Bartholomew Sholto, cư ngụ tại Pondicherry Lodge, Upper Norwood, đã được phát hiện tử vong trong phòng riêng, trong những tình huống cho thấy có dấu hiệu của tội phạm. Theo những gì chúng tôi đã tìm hiểu, không hề có dấu vết bạo lực thực sự nào trên thi thể ông Sholto, tuy nhiên một bộ sưu tập đá quý Ấn Độ giá trị - tài sản mà vị quý ông quá cố được thừa kế từ cha mình - đã bị mang đi mất. Những người đầu tiên phát hiện ra sự việc là ông Sherlock Holmes cùng Bác sĩ Watson, những người đã đến thăm căn nhà cùng với ông Thaddeus Sholto, anh trai của người đã khuất. Nhờ một sự tình cờ may mắn đến lạ kỳ, ông Athelney Jones, một thành viên xuất sắc của lực lượng cảnh sát thám tử, lúc ấy đang có mặt tại Đồn cảnh sát Norwood, và đã có mặt tại hiện trường chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ kể từ tiếng chuông báo động đầu tiên. Những năng lực đã được đào tạo bài bản cùng bề dày kinh nghiệm của ông lập tức được dồn hết vào cuộc truy lùng tội phạm, và kết quả đáng khích lệ là người anh trai, Thaddeus Sholto, đã bị bắt giữ, cùng với bà quản gia Bernstone, một gia nhân người Ấn tên Lal Rao, và người gác cổng tên McMurdo. Có một điều đã được xác lập một cách hoàn toàn chắc chắn, đó là kẻ trộm - hoặc những kẻ trộm - đã rất thông thuộc ngôi nhà, bởi nhờ kiến thức chuyên môn lừng danh cùng khả năng quan sát tinh tường, ông Jones đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng những kẻ bất lương kia không thể đột nhập bằng cửa chính hay cửa sổ, mà ắt hẳn đã leo qua phần mái của tòa nhà, rồi từ đó chui qua một cánh cửa sập dẫn xuống một gian phòng thông với căn phòng nơi thi thể được tìm thấy. Sự thật này, vốn đã được phơi bày vô cùng sáng tỏ, chứng minh một cách chắc chắn rằng đây không đơn thuần chỉ là một vụ đột nhập ngẫu nhiên. Hành động mau lẹ và đầy năng lực của các sĩ quan thực thi pháp luật đã cho thấy lợi thế to lớn của việc có mặt một bộ óc sắc bén và quyết đoán trong những tình huống như thế này. Người ta không khỏi nghĩ rằng sự việc vừa qua đã cung cấp thêm một lý lẽ thuyết phục cho những ai mong muốn các thám tử của chúng ta được phân quyền về địa phương, để nhờ đó họ có thể tiếp cận gần gũi và hiệu quả hơn với những vụ án mà họ mang trọng trách điều tra.”

“Tuyệt vời làm sao!” Holmes thốt lên, nhoẻn miệng cười qua tách cà phê. “Anh nghĩ sao về chuyện vừa rồi?”

“Tôi cho rằng chính chúng ta cũng suýt soát bị bắt vì tội ác này đấy.”

“Tôi cũng đồng ý như vậy. Và giờ đây, tôi không dám bảo đảm cho sự an toàn của chúng ta nếu ông bạn ấy tình cờ lại bùng nổ thêm một cơn hăng hái nữa.”

Ngay khoảnh khắc ấy, một hồi chuông vang dội vọng lên, và tôi nghe thấy bà Hudson, bà chủ nhà của chúng tôi, cất giọng vừa phàn nàn vừa hoảng hốt.

“Lạy Chúa tôi, Holmes,” tôi nói, nửa nhỏm dậy khỏi ghế, “tôi tin chắc là họ đang thực sự đuổi theo chúng ta rồi.”

“Không, sự việc chưa đến mức tệ hại như thế đâu. Đấy chỉ là lực lượng không chính thức của chúng ta thôi - Đội quân bất quy tắc phố Baker đấy mà.”

Khi anh đang nói, một tràng âm thanh lạch cạch nhanh nhẹn của những bàn chân trần vọng lên từ cầu thang, tiếp đó là tiếng xôn xao của những giọng nói lanh lảnh, và chừng một tá đứa trẻ lang thang đầu đường xó chợ, mặt mũi lem luốc, quần áo rách rưới, đồng loạt ùa vào phòng. Dẫu xuất hiện đầy náo nhiệt, song giữa chúng vẫn có một chút kỷ luật nhất định, bởi lũ trẻ lập tức xếp thành hàng ngay ngắn và đứng đối diện với chúng tôi, những khuôn mặt ánh lên vẻ chờ đợi. Một đứa trong số đó, cao lớn và nhiều tuổi hơn hẳn những đứa còn lại, bước lên phía trước với dáng điệu bề trên thong dong, một điệu bộ trông hết sức buồn cười nơi một con bù nhìn nhỏ bé, tồi tàn đến vậy.

“Bọn con đã nhận được tin nhắn của ông chủ ạ,” nó cất tiếng, “và đã đưa tất cả chúng nó đến ngay lập tức. Tiền vé hết ba đồng bob và một đồng tanner3 ạ.”

“Của các cháu đây,” Holmes nói, lấy ra vài đồng bạc. “Từ nay trở đi, chúng có thể báo cáo với cháu, Wiggins, và cháu sẽ báo cáo lại với tôi. Tôi không thể để căn nhà bị xâm nhập theo kiểu ồ ạt thế này được. Nhưng dẫu sao, tốt nhất là tất cả các cháu đều nên nghe chỉ thị ngay lúc này. Tôi muốn tìm ra tung tích của một chiếc cano hơi nước mang tên Aurora, chủ sở hữu là Mordecai Smith, sơn màu đen với hai đường sọc đỏ, ống khói màu đen có một dải trắng chạy quanh. Nó hiện đang ở đâu đó dưới hạ lưu dòng sông. Tôi cần một cậu bé túc trực tại bến đỗ của Mordecai Smith đối diện Millbank để báo tin tức khắc con thuyền quay trở lại. Các cháu phải tự phân chia công việc với nhau, và lùng sục thật kỹ cả hai bên bờ sông. Phải báo cho tôi ngay tức khắc khoảnh khắc các cháu có được tin tức gì. Tất cả đã rõ chưa?”

“Rõ, thưa ông chủ ạ,” Wiggins đáp.

“Tiền công vẫn như mọi lần, và thưởng thêm một guinea4 cho đứa nào tìm ra con thuyền. Đây là tiền ứng trước cho một ngày. Nào, đi đi!” Anh đưa cho mỗi đứa trẻ một đồng shilling, và chúng lập tức ùa xuống cầu thang ầm ầm như ong vỡ tổ, và chỉ một thoáng sau tôi đã thấy lũ trẻ túa ra đường.

“Nếu chiếc cano còn nổi trên mặt nước, chắc chắn bọn trẻ sẽ tìm thấy nó,” Holmes nói khi đứng dậy khỏi bàn và châm tẩu thuốc. “Chúng có thể len lỏi đến mọi ngóc ngách, nhìn thấy mọi thứ và nghe lỏm được đủ điều. Tôi hy vọng trước khi trời tối sẽ nhận được tin chúng đã tìm ra con thuyền. Trong lúc chờ đợi, chúng ta chẳng thể làm gì hơn ngoài việc kiên nhẫn đợi kết quả. Chúng ta không thể lần theo dấu vết đã bị đứt đoạn này cho đến khi tìm thấy chiếc Aurora hoặc ông Mordecai Smith.”

“Tôi dám chắc Toby có thể xử lý đống thức ăn thừa này. Anh có định đi ngủ không, Holmes?”

“Không, tôi chẳng thấy mệt chút nào. Tôi có một thể trạng thật lạ lùng. Tôi chưa bao giờ nhớ là mình từng cảm thấy mệt mỏi vì công việc, thế nhưng sự nhàn rỗi lại khiến tôi kiệt quệ hoàn toàn. Tôi sẽ hút thuốc và nghiền ngẫm về vụ án kỳ quặc này, cái vụ mà nữ thân chủ xinh đẹp của chúng ta đã mang đến. Nếu trên đời này từng có ai đó được giao một nhiệm vụ dễ dàng, thì hẳn phải là vụ án của chúng ta lúc này. Những gã đàn ông với cái chân gỗ thì không đến nỗi hiếm gặp lắm đâu; nhưng gã đồng bọn kia, tôi cho rằng, hẳn phải là độc nhất vô nhị trên thế gian này.”

“Lại cái gã đồng bọn bí ẩn kia nữa sao!”

“Tôi không có ý định giấu giếm anh điều gì - chỉ riêng với anh thôi. Nhưng tôi tin rằng anh hẳn cũng đã hình thành những suy luận của riêng mình rồi. Bây giờ, hãy cùng nhau xem xét lại các dữ liệu. Những dấu chân nhỏ xíu, những ngón chân chưa từng bị gò bó bởi giày ống, bàn chân trần, chiếc chùy gỗ đầu đính đá, sự nhanh nhẹn phi thường, và những mũi tiêu tẩm độc nhỏ li ti. Anh nghĩ sao về tất cả những manh mối này?”

“Một tên man rợ!” tôi buột miệng thốt lên. “Có lẽ là một trong những kẻ người Ấn từng cộng tác với Jonathan Small.”

“Không hẳn là như vậy,” anh đáp. “Khi lần đầu nhìn thấy dấu vết của những thứ vũ khí kỳ lạ ấy, tôi cũng có khuynh hướng suy nghĩ như anh; thế nhưng chính những đặc điểm đáng chú ý của các dấu chân đã buộc tôi phải cân nhắc lại quan điểm của mình. Một số cư dân trên Bán đảo Ấn Độ đúng là những người thấp bé, nhưng không một ai trong số họ có thể để lại những dấu chân như thế này. Người Hindu chính gốc có bàn chân dài và mảnh. Người Hồi giáo mang dép sandal thì ngón chân cái tách biệt hẳn với những ngón còn lại, bởi quai dép thường được xỏ qua kẽ ngón ấy. Hơn nữa, những mũi tiêu nhỏ xíu này chỉ có thể được phóng ra bằng một phương thức duy nhất. Chúng được bắn ra từ một chiếc ống xì đồng. Vậy thì, chúng ta sẽ tìm kiếm tên man rợ của mình ở đâu đây?”

“Nam Mỹ,” tôi phỏng đoán.

Anh đưa tay lên kệ và lấy xuống một cuốn sách dày cộp. “Đây là tập đầu tiên của một bộ từ điển địa lý hiện đang được xuất bản. Có thể xem đây là nguồn tư liệu uy tín mới nhất hiện nay. Nào, chúng ta có gì ở đây? ‘Quần đảo Andaman, nằm cách Sumatra 340 dặm về phía bắc, trong Vịnh Bengal.’ Hừm! hừm! Tất cả những thứ này là thế nào đây? Khí hậu ẩm thấp, rạn san hô, cá mập, Cảng Blair, trại tù, Đảo Rutland, cây bông - À, đây rồi. ‘Thổ dân Quần đảo Andaman có lẽ xứng đáng được trao danh hiệu là chủng người nhỏ bé nhất trên địa cầu này, mặc dù một vài nhà nhân chủng học vẫn ưu ái dành danh hiệu ấy cho người Bushmen ở châu Phi, người Digger ở châu Mỹ, hay người Tierra del Fuego. Chiều cao trung bình của họ thấp hơn bốn feet đáng kể, dù người ta vẫn có thể tìm thấy nhiều cá nhân trưởng thành hoàn toàn mà vóc dáng còn thấp hơn thế rất nhiều. Họ là một dân tộc hung dữ, lầm lì và ngoan cố, mặc dù họ có khả năng hình thành những mối gắn bó vô cùng sâu sắc một khi đã giành được lòng tin của họ.’ Hãy lưu ý đến điểm này nhé, Watson. Nào, bây giờ hãy lắng nghe đoạn tiếp theo. ‘Họ sở hữu một ngoại hình bẩm sinh gớm ghiếc, với những chiếc đầu to dị dạng, đôi mắt nhỏ mà hung dữ, cùng những đường nét méo mó, kỳ quái. Tuy nhiên, bàn tay và bàn chân của họ lại đặc biệt nhỏ nhắn. Họ cứng đầu và tàn bạo đến mức mọi nỗ lực của giới chức chính quyền Anh nhằm thu phục họ đều thất bại, dù chỉ ở mức độ nhỏ nhất. Họ luôn là nỗi kinh hoàng đối với những thủy thủ đoàn bị đắm tàu, vì họ sẽ đập nát đầu những người sống sót bằng những chiếc chùy gỗ đầu đính đá, hoặc bắn hạ họ bằng những mũi tên tẩm độc. Những cuộc tàn sát ấy luôn luôn kết thúc bằng một bữa tiệc ăn thịt người.’ Những con người đáng mến làm sao, phải không, Watson! Nếu như gã này được thả lỏng mà hành động theo bản năng man rợ của hắn, vụ án này hẳn đã rẽ sang một hướng còn rùng rợn hơn nhiều. Theo tôi suy đoán, dù thế nào đi nữa, Jonathan Small hẳn cũng sẵn sàng đánh đổi rất nhiều thứ để không phải thuê mướn một kẻ như hắn.”

“Nhưng làm thế quái nào mà hắn lại có được một người bạn đồng hành kỳ dị đến như vậy?”

“À, điều đó thì hiện vượt quá tầm hiểu biết của tôi. Tuy vậy, bởi chúng ta đã xác định được rằng Small từng có mặt tại quần đảo Andaman, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tên đảo dân này đi theo hắn ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, rồi chúng ta sẽ biết được toàn bộ câu chuyện đó vào thời điểm thích hợp. Nhìn này, Watson, trông anh có vẻ đã thực sự kiệt sức rồi. Hãy nằm xuống chiếc sô-pha kia đi, và để xem tôi có thể ru anh vào giấc ngủ được không.”

Anh cầm lấy cây vĩ cầm từ trong góc phòng, và khi tôi duỗi dài người ra, anh bắt đầu kéo lên một giai điệu du dương, mơ màng và trầm ấm - chắc chắn đó là một sáng tác ngẫu hứng của chính anh, bởi anh sở hữu một năng khiếu bẩm sinh đáng kinh ngạc trong nghệ thuật ứng tác. Tôi còn lưu lại một ký ức mơ hồ về đôi bàn tay gân guốc của anh, về khuôn mặt nghiêm nghị đầy tập trung, và về những chuyển động lên xuống nhịp nhàng của cây vĩ. Rồi sau đó, tôi dường như trôi đi một cách bình yên trên một đại dương êm ái của âm thanh, cho đến khi tôi nhận ra mình đã chìm vào cõi mộng, với gương mặt ngọt ngào của Mary Morstan đang dịu dàng nhìn xuống tôi.



  1. Loại xe ngựa hai bánh, do một ngựa kéo, có thiết kế đặc biệt với chỗ ngồi của người điều khiển (xà ích) nằm tít trên cao ở phía sau xe. Đây là phương tiện di chuyển nhanh chóng giống như 'taxi' vô cùng phổ biến ở London thời Victoria. 

  2. Chi tiết nhắc lại tên hung thủ trong 'Hồ Sơ Vụ Án Màu Đỏ Thẫm' (A Study in Scarlet) - cuốn tiểu thuyết đầu tiên giới thiệu nhân vật Sherlock Holmes. Ở vụ án đó, Holmes cũng đã mướn đám trẻ lang thang này để giúp sức. 

  3. Tiếng lóng đường phố của người London thời Victoria. 'Bob' là từ lóng chỉ đồng 1 shilling, còn 'tanner' chỉ đồng 6 xu (sixpence). 

  4. Một đồng tiền vàng cũ của Anh, có giá trị bằng 21 shilling (cao hơn một chút so với 1 bảng Anh là 20 shilling). Đồng guinea thường mang sắc thái sang trọng, được dùng khi muốn thưởng hậu hĩnh hoặc thanh toán các dịch vụ cao cấp.