CHƯƠNG VII. CHUYỆN VỀ CHIẾC THÙNG GỖ
Cảnh sát đã cho mang đến một cỗ xe ngựa, và tôi liền dùng nó để hộ tống cô Morstan trở về nhà. Mang bản tính dịu dàng tựa thiên thần, cô đã kiên cường giữ nét mặt bình thản suốt quãng thời gian còn có người yếu đuối hơn cần mình làm chỗ dựa - và tôi đã thấy cô thật tươi tỉnh, điềm đạm biết bao khi đứng cạnh bà quản gia đang hoảng loạn. Thế nhưng, khoảnh khắc bước vào trong xe, gương mặt cô thoạt tiên tái nhợt, rồi sau đó cô òa khóc nức nở - những biến cố trong đêm đã bào mòn cô đến kiệt sức. Về sau cô có kể với tôi rằng, trong suốt chuyến đi ấy, cô thấy tôi thật lạnh lùng và cách biệt. Cô làm sao ngờ được cuộc giằng xé đang diễn ra ngay trong lồng ngực tôi, hay nỗ lực tự kìm nén đã ghì tôi lại. Tình yêu và lòng đồng cảm của tôi đều hướng về cô, cũng tự nhiên như cách bàn tay tôi đã vươn đến cô trong khu vườn khi trước. Tôi cảm nhận rõ rằng, những quy chuẩn của bao năm tháng sống trên đời cũng chẳng thể dạy tôi thấu hiểu bản tính ngọt ngào và can đảm của cô bằng cái ngày duy nhất chứa đầy những trải nghiệm kỳ lạ này. Vậy mà, hai ý nghĩ đã niêm phong mọi lời yêu thương trên môi tôi. Cô đang yếu đuối và bất lực, tâm trí lẫn thần kinh đều chấn động. Ép buộc tình cảm lên cô vào lúc ấy, e rằng chẳng khác nào lợi dụng khoảnh khắc mong manh của cô. Và tệ hơn nữa - cô đang giàu có. Nếu cuộc điều tra của Holmes thành công, cô sẽ trở thành một người thừa kế. Liệu có công bằng hay danh dự chút nào không, khi một viên bác sĩ phẫu thuật chỉ sống nhờ đồng lương hưu trí lại đi lợi dụng sự thân mật có được nhờ tình cờ? Liệu cô có nhìn tôi như một kẻ tầm thường chỉ biết hám lợi hay không? Tôi không tài nào chịu đựng nổi việc để cho một ý nghĩ như thế vụt qua tâm trí cô. Cái kho báu Agra này đã len vào giữa hai chúng tôi như một rào cản không sao vượt nổi.
Đã gần hai giờ sáng khi chúng tôi về đến nhà bà Cecil Forrester. Đám gia nhân đã lui về nghỉ từ nhiều giờ trước đó, nhưng bà Forrester vì quá đỗi quan tâm đến bức thông điệp kỳ lạ mà cô Morstan nhận được, nên đã thức trắng để chờ cô về. Chính bà là người ra mở cửa - một quý bà trung niên đoan trang, dịu dàng. Và tôi thấy lòng vui sướng lạ thường khi chứng kiến cánh tay bà âu yếm vòng qua eo cô gái, cùng giọng nói chào đón mang đậm âm hưởng của tình mẫu tử. Rõ ràng cô không chỉ đơn thuần là một người phụ thuộc làm công ăn lương, mà còn là một người bạn được hết mực trân quý. Tôi được giới thiệu, và bà Forrester đã tha thiết mời tôi bước vào nhà để kể cho bà nghe về chuyến phiêu lưu của chúng tôi. Tuy vậy, tôi đành giải thích về tầm quan trọng của nhiệm vụ đang dang dở, và chân thành hứa sẽ ghé thăm để báo cáo bất kỳ tiến triển nào mà chúng tôi có thể đạt được trong vụ án. Khi xe lăn bánh rời đi, tôi lén ngoái nhìn lại - và dường như tôi vẫn còn thấy cái nhóm người nhỏ bé ấy nơi bậc thềm: hai dáng hình đoan trang đang ôm chặt lấy nhau, cánh cửa mở hé, ánh đèn từ sảnh chiếu xuyên qua tấm kính màu, qua chiếc phong vũ biểu và những thanh vịn cầu thang sáng loáng. Thật nhẹ nhõm làm sao khi bắt gặp được cái khoảnh khắc lướt qua ấy - một mái ấm nước Anh thanh bình - giữa cái bối cảnh hoang dại và tối tăm đang bủa vây chúng tôi.
Và tôi càng nghiền ngẫm về những gì đã xảy ra, mọi thứ lại càng trở nên hoang dại và tối tăm hơn. Tôi ôn lại toàn bộ chuỗi sự kiện phi thường trong lúc đánh xe lạch cạch qua những con phố im lìm dưới ánh đèn ga. Đầu tiên là vấn đề ban đầu: ít ra điều ấy giờ đã trở nên khá sáng tỏ. Cái chết của đại úy Morstan, việc gửi những viên ngọc trai, mẩu quảng cáo, bức thư - tất thảy những sự kiện ấy, chúng tôi đều đã làm sáng tỏ. Tuy nhiên, chúng chỉ dẫn chúng tôi đến một bí ẩn sâu xa và bi thảm hơn bội phần. Kho báu Ấn Độ, tấm bản đồ kỳ lạ tìm thấy trong hành lý của Morstan, cảnh tượng quái dị tại hiện trường cái chết của thiếu tá Sholto, việc tìm lại kho báu rồi ngay sau đó là vụ sát hại chính người đã tìm ra nó, những tình tiết dị thường khôn lường đi kèm với tội ác: những dấu chân, những thứ vũ khí kỳ lạ, những dòng chữ trên tấm thẻ trùng khớp với những dòng chữ trên bản đồ của đại úy Morstan - tất cả những điều ấy quả thực là một mê cung, mà một kẻ kém tài năng hơn anh bạn cùng phòng của tôi hẳn đã tuyệt vọng, không bao giờ tìm thấy manh mối.
Pinchin Lane là một dãy nhà gạch hai tầng xiêu vẹo, tồi tàn, nép mình nơi vùng trũng thấp của Lambeth. Tôi phải đập cửa hồi lâu ở căn số 3 mới mong lọt được tiếng động vào trong. Rồi cuối cùng, một ánh nến le lói lay động sau tấm rèm, và một gương mặt thò ra từ khung cửa sổ tầng trên.
"Cút đi, đồ say rượu lang thang," gương mặt ấy quát. "Nếu mày còn làm ầm lên nữa, tao sẽ mở tung chuồng và thả cả bốn mươi ba con chó ra xé xác mày."
"Nếu ông thả dù chỉ một con thôi, thì đấy chính là điều tôi đến đây để tìm đấy," tôi đáp.
"Xéo ngay!" giọng nói gầm lên. "Có trời chứng giám, trong túi tao đang có một con rắn lục, và tao sẽ quẳng nó xuống đầu mày nếu mày không cút đi."
"Nhưng tôi cần một con chó," tôi kêu lên.
"Tao không rỗi hơi cãi nhau với mày!" ông Sherman rít lên. "Giờ thì lùi ra ngay đi, vì khi tao đếm tới 'ba' là con rắn lục sẽ rơi xuống đấy."
"Ngài Sherlock Holmes-" tôi vừa cất lời, nhưng mấy tiếng ấy đã tạo nên một hiệu ứng diệu kỳ hơn bất kỳ phép lạ nào, bởi cánh cửa sổ tức thì sập xuống, và chỉ trong vòng một phút, then cài đã được rút ra và cánh cửa bật mở. Ông Sherman hóa ra là một lão già hom hem, lêu khêu, lưng còng, cổ gân guốc, và đôi mắt ẩn sau cặp kính râm màu xanh lam.
"Một người bạn của ngài Sherlock thì lúc nào cũng được tiếp đón nồng hậu," lão nói. "Mời vào, thưa ngài. Nhớ tránh xa con lửng ra đấy; nó cắn dữ lắm. Á à, hư quá, hư quá, mày toan ngoạm vị khách của tao phải không?" Câu này hướng về một con chồn ecmin đang thò cái đầu láu lỉnh cùng cặp mắt đỏ ngầu qua những thanh song sắt trong chuồng. "Ngài đừng bận tâm đến cái món ấy, thưa ngài: nó chỉ là một con thằn lằn chậm chạp vô hại thôi. Nó chẳng có răng nanh, nên tôi cho nó chạy rong khắp phòng, vì nó diệt lũ bọ cánh cứng giùm tôi. Và xin ngài rộng lượng bỏ quá cho chuyện tôi có đôi phần quạu quọ lúc nãy nhé, bởi bọn trẻ ranh cứ hay trêu ghẹo tôi, và lắm kẻ chẳng ra gì cứ lần mò xuống cái ngõ này để gõ cửa chọc phá tôi. Thế ngài Sherlock Holmes cần gì ở tôi vậy, thưa ngài?"
"Ngài ấy cần một con chó của ông."
"À! Vậy thì hẳn là Toby rồi."
"Đúng thế, Toby chính là tên của nó."
"Toby ở chuồng số 7, phía bên trái đây này." Lão chậm rãi lê bước cùng cây nến, len lỏi giữa cả một bầy gia đình thú vật quái dị mà lão đã gom nhặt quanh mình. Dưới thứ ánh sáng mờ ảo, chập chờn, tôi lờ mờ nhận ra những cặp mắt lấp lánh, lập lòe đang từ mọi ngóc ngách dõi theo chúng tôi. Thậm chí ngay trên những thanh xà ngang trên đầu chúng tôi cũng đậu đầy những con gia cầm nghiêm nghị, chúng uể oải chuyển trọng lượng thân mình từ chân này sang chân kia mỗi khi tiếng chúng tôi trò chuyện phá vỡ giấc ngủ của chúng.
Toby hóa ra là một sinh vật xấu xí, bộ lông dài, đôi tai rủ xuống, mang dòng máu lai giữa giống chó spaniel và chó lurcher1, có màu nâu pha trắng, với một dáng đi lạch bạch hết sức vụng về. Sau một thoáng ngập ngừng, nó đã chấp nhận nhận một viên đường mà lão già nhà tự nhiên học dúi cho tôi, và một khi cái liên minh ấy đã được ký kết, nó ngoan ngoãn theo tôi ra xe ngựa, chẳng hề gây ra một sự khó dễ nào trên suốt đường đi. Đồng hồ Cung điện vừa đổ ba tiếng khi tôi lại thấy mình có mặt trước cổng Pondicherry Lodge. Tôi được biết cựu võ sĩ McMurdo đã bị bắt vì tội tòng phạm, và cả hắn lẫn anh Sholto đều đã bị áp giải về đồn. Hai viên cảnh sát mặc thường phục đang canh gác ở chiếc cổng hẹp, nhưng họ vui vẻ để tôi dẫn con chó đi qua khi tôi nhắc đến tên của vị thám tử.
Holmes đang đứng trên bậc thềm cửa, hai tay đút sâu trong túi quần, miệng ngậm tẩu thuốc lơ đãng nhả khói.
"À, anh mang được nó về rồi đây!" anh reo lên. "Giỏi lắm, thật là một chú chó ngoan! Athelney Jones đã đi rồi. Chúng ta đã chứng kiến một màn phô diễn năng lượng dữ dội đáng kinh ngạc kể từ lúc anh rời khỏi đây. Hắn đã bắt giữ không chỉ riêng anh bạn Thaddeus của chúng ta, mà còn cả người gác cổng, bà quản gia, và tên hầu người Ấn Độ nữa. Giờ thì toàn bộ chỗ này thuộc về chúng ta, ngoại trừ một viên trung sĩ ở trên gác. Cột con chó vào đây đi, rồi cùng tôi lên lầu nào."
Chúng tôi cột Toby vào một chân bàn nơi tiền sảnh, rồi lại leo lên cầu thang. Căn phòng vẫn y nguyên như lúc anh bước ra, chỉ khác ở chỗ giờ đây một tấm ga trải giường đã được phủ lên thân hình nằm giữa sàn. Một viên trung sĩ cảnh sát trông mệt mỏi đang tựa lưng vào góc tường.
"Nào, cho tôi mượn chiếc đèn lồng hạt đậu2 của anh, trung sĩ," Holmes cất giọng. "Giờ thì buộc miếng bìa cứng này quanh cổ tôi, để nó lủng lẳng trước ngực tôi nhé. Cảm ơn anh. Còn bây giờ tôi phải cởi giày và tất ra đã. - Watson, phiền anh mang chúng xuống dưới giúp tôi. Tôi sắp phải leo trèo đôi chút đây. Và nhúng chiếc khăn tay của tôi vào chỗ creosote kia nữa. Được rồi. Giờ thì đi cùng tôi lên gác xép một lát nào."
Chúng tôi lần lượt trèo qua chiếc lỗ hổng trên trần. Holmes rọi đèn thêm lần nữa vào những dấu chân in trên lớp bụi.
"Tôi muốn anh đặc biệt chú ý đến mấy dấu chân này," anh nói. "Anh có nhận thấy điều gì đáng chú ý ở chúng không?"
"Tôi đoán chúng thuộc về một đứa trẻ hoặc một người phụ nữ nhỏ nhắn," tôi đáp.
"Nhưng ngoài kích thước ra thì sao? Không còn điều gì khác nữa ư?"
"Trông chúng cũng giống như mọi dấu chân khác thôi mà."
"Không hề. Anh nhìn đây này! Đây là dấu của một bàn chân phải trên bụi. Giờ tôi sẽ in dấu bàn chân trần của tôi xuống ngay bên cạnh. Điểm khác biệt chính là gì?"
"Các ngón chân của anh thì khép chặt vào nhau. Còn dấu chân kia có từng ngón tách biệt rành rọt."
"Đúng vậy. Đấy chính là mấu chốt. Xin anh hãy ghi nhớ lấy. Và bây giờ, phiền anh bước qua chỗ chiếc cửa sập đó và ngửi thử phần mép khung gỗ được không? Tôi sẽ nán lại đây, vì tôi đang cầm chiếc khăn tay này mà."
Tôi làm theo chỉ dẫn của anh, và ngay tức khắc nhận ra một mùi nhựa đường nồng nặc xộc lên.
"Đó chính là chỗ mà gã ấy đặt chân xuống khi trèo ra ngoài. Nếu tôi mà còn theo được dấu của hắn, thì tôi dám chắc Toby cũng sẽ chẳng gặp khó khăn gì đâu. Giờ anh hãy chạy xuống dưới, thả con chó ra, và nhớ để mắt tìm xem Blondin3 đâu nhé."
Đến khi tôi ra được ngoài sân thì Sherlock Holmes đã ở tít trên mái nhà, và tôi có thể thấy bóng anh như một con đom đóm khổng lồ đang chầm chậm bò dọc theo đường nóc. Tôi mất dấu anh sau một dãy ống khói; nhưng chỉ lát sau anh lại xuất hiện, rồi lại khuất bóng ở phía bên kia. Khi tôi vòng qua đó, tôi thấy anh đang ngồi trên một trong những mái hắt ở góc nhà.
"Có phải anh đấy không, Watson?" anh gọi vọng xuống.
"Đúng vậy."
"Chính là chỗ này. Cái thứ tối đen ở phía dưới kia là cái gì thế?"
"Một cái thùng nước."
"Có nắp đậy không?"
"Có."
"Không thấy dấu hiệu gì của thang à?"
"Không."
"Khốn kiếp thật! Chỗ này mà ngã thì gãy cổ như chơi. Lẽ ra tôi phải trèo xuống được ở đúng chỗ mà hắn đã leo lên mới phải. Mấy cái ống nước nom có vẻ khá chắc chắn đây. Dẫu sao thì cũng thử xem sao."
Tiếng bước chân loẹt quẹt vang lên, và chiếc đèn lồng bắt đầu trượt đều đều xuống dọc theo bức tường. Rồi bằng một cú nhảy nhẹ nhàng, anh đáp xuống nắp thùng nước, và từ đó nhảy xuống đất.
"Theo dấu hắn cũng dễ thôi," anh nói, vừa kéo giày và tất vào. "Suốt cả chặng đường, gạch ngói bị nới lỏng hết cả, và trong lúc vội vã, hắn đã đánh rơi thứ này. Nó xác nhận chẩn đoán của tôi, như cách mà mấy ông bác sĩ các anh vẫn nói ấy."
Vật mà anh giơ lên cho tôi xem là một cái túi nhỏ - hay đúng hơn là một cái bọc con con - được đan bằng những cọng cỏ nhuộm màu, có xâu thêm vài hạt cườm rẻ tiền bên ngoài. Xét về hình dáng lẫn kích thước, nó chẳng khác nào một chiếc hộp đựng thuốc lá. Bên trong chứa nửa tá cái gai làm từ một thứ gỗ sẫm màu, nhọn ở một đầu và tròn ở đầu kia, y hệt như cái đã đâm trúng Bartholomew Sholto.
"Đúng là mấy thứ chết tiệt," anh buông lời. "Coi chừng, đừng để mình bị đâm phải đấy. Tôi thật mừng vì đã lấy được chúng, bởi rất có khả năng đây là tất cả những gì hắn còn. Thế là anh và tôi đỡ phải nơm nớp lo sợ sẽ sớm tìm thấy một cái cắm phập vào da thịt mình rồi. Riêng tôi, thà đối mặt với một viên đạn súng trường Martini4 còn hơn. Watson này, anh đã sẵn sàng cho một chặng đi bộ sáu dặm chưa?"
"Dĩ nhiên rồi," tôi trả lời.
"Chân anh chịu được chứ?"
"Ồ, được chứ."
"Lại đây nào, cún con! Toby già ngoan của ta! Ngửi đi, Toby, ngửi đi!" Anh dí chiếc khăn tay tẩm creosote vào ngay dưới mũi con chó, trong lúc con vật đứng với đôi chân đầy lông dang rộng ra, cái đầu nghiêng một góc vô cùng hài hước, trông hệt như một tay sành rượu đang hít hà hương vị của một chai vang thượng hạng. Holmes sau đó quẳng chiếc khăn tay ra xa, rồi buộc một sợi thừng chắc chắn vào vòng cổ con chó lai, và dẫn nó đến chân cái thùng nước. Ngay lập tức, con vật cất lên một tràng những tiếng ăng ẳng cao vút, run rẩy, và với cái mũi dí sát mặt đất, cái đuôi vểnh thẳng lên trời, nó lạch bạch lao đi theo dấu vết với một tốc độ làm căng cứng sợi dây và buộc chúng tôi phải chạy theo hết tốc lực.
Bầu trời phía đông đã bắt đầu ửng trắng, và giờ đây chúng tôi có thể nhìn thấy một quãng rất xa dưới thứ ánh sáng xám lạnh. Ngôi nhà đồ sộ, vuông vức, với những ô cửa sổ đen ngòm trống rỗng và những bức tường cao trơ trọi, vươn lên sừng sững, ảm đạm và cô độc, ở phía sau lưng chúng tôi. Lộ trình của chúng tôi dẫn thẳng băng qua khu đất, len lỏi qua lại giữa những con rãnh và những cái hố đã cày xới và chia cắt nó. Toàn bộ nơi này, với những đống đất rải rác và những bụi cây còi cọc, mang một vẻ hoang tàn, gở lạ hòa hợp đến lạ lùng với bi kịch đen tối đang bao trùm lên nó.
Khi chạm đến bức tường ranh giới, Toby men dọc theo chân tường, sủa rền rĩ đầy háo hức trong bóng râm của nó, và cuối cùng dừng lại ở một góc khuất sau một cây dẻ gai non. Chính tại nơi hai bức tường giao nhau, một số viên gạch đã bị nới lỏng, còn những kẽ hở thì đã mòn nhẵn và bo tròn ở mặt dưới, như thể chúng thường xuyên được dùng làm bậc thang. Holmes trèo lên trước, rồi nhận lấy con chó từ tay tôi, anh thả nó qua phía bên kia.
"Có dấu tay của gã chân gỗ kia kìa," anh nhận xét khi tôi trèo lên ngồi cạnh. "Anh có thấy vết máu mờ mờ trên nền vữa trắng không? Thật may là từ hôm qua đến giờ trời không đổ mưa lớn! Mùi hương vẫn còn lưu lại trên đường, bất chấp việc chúng đã xuất phát trước chúng ta hai mươi tám tiếng đồng hồ."
Tôi thú thực rằng trong lòng tôi cũng có phần nghi ngại khi nghĩ đến lượng xe cộ và người qua lại khổng lồ trên con đường dẫn vào London trong suốt khoảng thời gian ấy. Nhưng những nỗi lo của tôi đã nhanh chóng tan biến. Toby không hề do dự hay chệch hướng lấy một lần, mà cứ lạch bạch tiến về phía trước với dáng lắc lư đặc trưng của nó. Rõ ràng, mùi hăng nồng của creosote bốc lên át hẳn mọi mùi hương tranh chấp khác.
"Anh đừng nghĩ rằng," Holmes lên tiếng, "tôi đặt toàn bộ thành công trong vụ này vào cái sự tình cờ đơn thuần là một trong những gã này đã giẫm chân vào hóa chất. Giờ đây tôi đã có trong tay kiến thức cho phép mình lần theo dấu chúng bằng nhiều cách khác nhau rồi. Tuy thế, cách này là dễ dàng nhất, và vì số phận đã đặt nó vào tay chúng ta, nên tôi sẽ thật đáng trách nếu làm ngơ. Dẫu sao đi nữa, nó cũng đã ngăn vụ án này trở thành một bài toán trí tuệ cỏn con thú vị như những gì nó hứa hẹn. Đáng lẽ chúng ta cũng đã kiếm được chút danh tiếng từ nó, nếu không có cái manh mối quá đỗi rành rành này."
"Có danh tiếng, lại còn dư dả nữa ấy chứ," tôi nói. "Tôi dám cam đoan với anh, Holmes ạ, rằng tôi còn kinh ngạc trước cách anh đạt được kết quả trong vụ này hơn cả vụ án Jefferson Hope trước đây. Với tôi, sự việc lần này dường như sâu sắc và khó lý giải hơn nhiều. Ví như, làm sao anh có thể mô tả gã đàn ông chân gỗ với sự tự tin đến thế cơ chứ?"
"Nào, nào, anh bạn thân mến của tôi ơi! Chuyện ấy đơn giản hết sức thôi. Tôi không muốn tỏ ra kịch cỡm làm gì. Mọi thứ đều rõ ràng và công khai cả. Hai người sĩ quan chỉ huy một đội lính gác tù binh biết được một bí mật quan trọng về kho báu bị chôn giấu. Một tấm bản đồ được vẽ cho họ bởi một người Anh tên là Jonathan Small. Anh còn nhớ chúng ta đã thấy cái tên ấy trên tấm bản đồ mà đại úy Morstan sở hữu chứ? Chính hắn đã ký tên thay mặt cho mình và các cộng sự - dấu hiệu của Bộ Tứ, như cách hắn gọi, hơi có phần màu mè một chút. Với sự trợ giúp của tấm bản đồ này, các vị sĩ quan - hoặc ít nhất một trong số họ - đã lấy được kho báu và mang về Anh, bỏ lại, chúng ta hãy tạm giả định như vậy, một số điều kiện vốn đi kèm với việc nhận lấy nó mà họ chưa thực hiện. Vậy thì, tại sao chính Jonathan Small lại không đoạt lấy kho báu? Câu trả lời đã quá rõ ràng rồi. Tấm bản đồ được đề ngày vào cái thời điểm mà Morstan có mối liên hệ mật thiết với các tù nhân. Jonathan Small không thể lấy được kho báu, bởi chính hắn và đồng bọn của hắn đều đang là tù nhân và không thể trốn thoát."
"Nhưng đấy mới chỉ là phỏng đoán thôi," tôi nhận xét.
"Còn hơn cả phỏng đoán nữa. Nó là giả thuyết duy nhất bao trùm được toàn bộ các sự kiện. Hãy xem nó khớp với phần tiếp theo như thế nào nhé. Thiếu tá Sholto sống bình yên trong vài năm, hạnh phúc trong sự sở hữu kho báu của mình. Rồi ông ta nhận được một lá thư từ Ấn Độ khiến ông ta hoảng sợ tột độ. Lá thư ấy viết gì?"
"Rằng những kẻ mà ông ta đã đối xử bất công nay đã được trả tự do."
"Hoặc đã trốn thoát. Khả năng này cao hơn nhiều, bởi ông ta hẳn phải biết thời hạn thụ án của chúng là bao lâu. Điều đó chẳng thể là bất ngờ đối với ông ta. Vậy sau đó ông ta làm gì? Ông ta tìm cách bảo vệ mình trước một gã đàn ông chân gỗ - một người da trắng, xin anh hãy lưu ý, vì ông ta đã nhầm một thương nhân da trắng với chính gã đó, và thực sự đã nổ súng vào người này. Mà trên tấm bản đồ chỉ có duy nhất một cái tên da trắng. Những kẻ còn lại đều là người Hindu hoặc người Hồi giáo. Không hề có một người da trắng nào khác. Vì thế, chúng ta có thể tự tin khẳng định rằng gã đàn ông chân gỗ chính là Jonathan Small. Anh có thấy lập luận này có điểm nào sai sót không?"
"Không. Nó rõ ràng và súc tích."
"Vậy thì giờ đây, chúng ta hãy thử đặt mình vào vị trí của Jonathan Small. Hãy nhìn nhận sự việc từ góc độ của hắn. Hắn đến nước Anh với hai mục đích: đoạt lại những gì hắn coi là quyền lợi của mình, và trả thù kẻ đã đối xử bất công với hắn. Hắn đã dò ra nơi Sholto sinh sống, và rất có thể hắn đã thiết lập được mối liên lạc với một kẻ nào đó bên trong ngôi nhà. Có tên quản gia Lal Rao này, kẻ mà chúng ta vẫn chưa gặp mặt. Bà Bernstone đánh giá hắn chẳng tốt đẹp gì. Tuy nhiên, Small không thể dò ra nơi cất giấu kho báu, bởi chẳng ai từng biết điều đó, ngoại trừ vị thiếu tá và một người đầy tớ tận tụy đã qua đời. Bất thình lình, Small hay tin vị thiếu tá đang nằm hấp hối. Trong cơn điên cuồng vì lo sợ bí mật về kho báu sẽ chết theo ông ta, hắn đã vượt qua hàng rào lính gác, tìm đường đến tận cửa sổ của kẻ sắp lìa trần, và chỉ bị chùn bước trước ý định xông vào vì sự xuất hiện của hai cậu con trai. Dẫu vậy, phát cuồng vì lòng căm hận người đàn ông đã chết, đêm hôm đó hắn lẻn vào căn phòng, lục lọi đống giấy tờ cá nhân với hy vọng tìm ra bất kỳ bản ghi chép nào liên quan đến kho báu, và cuối cùng để lại một kỷ vật cho chuyến viếng thăm của mình qua dòng chữ ngắn gọn trên tấm thiệp. Hẳn hắn đã lên kế hoạch từ trước rằng, nếu hắn hạ sát được vị thiếu tá, hắn sẽ để lại một dòng chữ như thế trên xác chết, như một dấu hiệu cho thấy đó không phải là một vụ giết người tầm thường, mà, dưới con mắt của bốn người cộng sự, nó mang một ý nghĩa gần với một hành động thực thi công lý. Những ý tưởng quái dị và lập dị kiểu này khá phổ biến trong biên niên sử tội phạm, và thường cung cấp những manh mối vô cùng giá trị để nhận diện hung thủ. Anh có theo kịp tất cả những điều này không?"
"Rất rõ ràng."
"Vậy thì Jonathan Small có thể làm gì đây? Hắn chỉ có thể tiếp tục âm thầm theo dõi mọi nỗ lực tìm kiếm kho báu. Có khả năng hắn đã rời khỏi nước Anh và chỉ thỉnh thoảng quay trở lại. Rồi sau đó, căn gác xép được phát hiện, và hắn lập tức nhận được tin báo. Chúng ta lại một lần nữa phát hiện ra dấu vết của một kẻ tòng phạm nào đó bên trong căn nhà. Jonathan, với cái chân gỗ của mình, hoàn toàn không thể nào với tới được căn phòng trên cao của Bartholomew Sholto. Thế nhưng, hắn đã đưa theo một tên đồng bọn hết sức kỳ quặc, kẻ đã vượt qua được cái trở ngại đó, nhưng lại để bàn chân trần của mình dính phải creosote, và từ đó mới có Toby, cùng một chặng đường đi bộ khập khiễng dài sáu dặm cho một viên sĩ quan về hưu với cái gân gót Achilles5 đã bị tổn thương."
"Nhưng chính tên đồng bọn, chứ không phải Jonathan, mới là kẻ phạm tội sát nhân."
"Đúng vậy. Và có lẽ điều đó khiến Jonathan khá chán ghét, xét theo cái cách hắn bình bịch giậm chân khi bước vào phòng. Hắn không hề có ác cảm gì với Bartholomew Sholto, và hẳn đã muốn anh ta chỉ đơn giản bị trói và bịt miệng thôi. Hắn không muốn tự chui đầu vào thòng lọng. Nhưng chẳng còn cách nào khác: bản năng man rợ của kẻ đồng hành đã bùng phát, và chất độc đã phát huy tác dụng. Thế là Jonathan Small để lại lời nhắn của mình, hạ hộp kho báu xuống đất, rồi chính hắn cũng theo nó mà tẩu thoát. Đó chính là chuỗi sự kiện như tôi đã tái dựng được. Về phần ngoại hình của hắn, dĩ nhiên hắn hẳn phải ở vào độ tuổi trung niên, và hẳn phải sạm đen vì cháy nắng sau quãng thời gian thụ án trong một cái lò thiêu như quần đảo Andaman. Chiều cao của hắn có thể dễ dàng suy ra từ chiều dài sải chân, và chúng ta biết hắn có râu. Còn độ rậm rạp của bộ râu thì đã gây ấn tượng mạnh với Thaddeus Sholto khi anh ta nhìn thấy hắn qua ô cửa sổ. Tôi không nghĩ là còn sót điều gì khác."
"Thế còn tên đồng bọn?"
"À, chà, chẳng có gì bí ẩn to tát trong chuyện đó đâu. Nhưng rồi anh sẽ sớm biết tất cả về hắn thôi. Không khí ban mai mới ngọt ngào làm sao! Anh nhìn kìa, đám mây nhỏ xíu kia trôi bồng bềnh tựa một chiếc lông vũ hồng vừa rơi ra từ cánh của một con hồng hạc khổng lồ nào đó. Kìa, viền đỏ của mặt trời đang nhô lên qua dải mây mù của London. Nó chiếu sáng cho biết bao nhiêu con người, nhưng tôi dám cá rằng chẳng có lấy một ai - không một ai - đang thực thi một nhiệm vụ kỳ lạ hơn anh và tôi lúc này. Chúng ta mới thấy mình nhỏ bé làm sao với những tham vọng và những nỗ lực vụn vặt của mình, khi đứng trước những sức mạnh nguyên sơ vĩ đại của tạo hóa! Anh có rành về Jean Paul6 của mình không?"
"Cũng tàm tạm. Tôi tìm hiểu ngược về ông ấy qua Carlyle7."
"Thế thì cũng giống như lần ngược theo dòng suối để đến với hồ mẹ vậy. Ông ấy có một nhận xét thật kỳ lạ nhưng vô cùng sâu sắc. Rằng bằng chứng chính cho sự vĩ đại đích thực của con người nằm ở nhận thức của anh ta về sự nhỏ bé của chính mình. Anh thấy đấy, nó cho thấy một năng lực so sánh và đánh giá, mà bản thân năng lực ấy đã là bằng chứng của sự cao quý rồi. Có thật nhiều điều để suy ngẫm trong Richter8. Mà anh không mang theo súng lục, đúng không?"
"Tôi chỉ có cây gậy."
"Rất có khả năng chúng ta sẽ cần đến thứ gì đó tương tự nếu tìm được đến sào huyệt của chúng. Jonathan thì tôi để phần cho anh, nhưng nếu cái tên kia giở trò hung hãn, tôi sẽ bắn chết hắn." Nói rồi, anh rút khẩu súng ổ quay ra, và sau khi nạp đạn đầy đủ vào hai ổ, anh lại nhét nó vào túi áo khoác bên phải.
Suốt quãng thời gian ấy, chúng tôi bám theo sự dẫn đường của Toby men dọc những con đường rợp bóng biệt thự vùng nửa nông thôn dẫn về phía thủ đô. Nhưng giờ đây, chúng tôi đã bắt đầu len vào những dãy phố san sát nối đuôi nhau, nơi đám lao động cùng thợ bốc vác bến tàu đang lục tục trở dậy, còn những người đàn bà nhếch nhác thì hì hụi tháo từng cánh cửa chớp và kỳ cọ bậc thềm. Nơi những quán rượu mái bằng ở góc phố, việc làm ăn chỉ vừa mới khai trương, và lũ đàn ông mặt mày cộc cằn đang lảo đảo bước ra, lấy tay áo quệt ngang bộ râu sau chầu rượu sáng sớm. Dăm con chó lạ thong dong tiến lại gần, trố mắt ngạc nhiên nhìn chúng tôi khi chúng tôi lướt qua, nhưng chú Toby có một không hai của chúng tôi thì chẳng thèm ngoái đầu ngó ngang liếc dọc, cứ thế chạy nước kiệu thẳng tiến về phía trước, mũi gí sát mặt đất và thỉnh thoảng lại cất lên một tiếng kêu đầy háo hức - tín hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy mùi hương đang trở nên cực kỳ nồng đượm.
Chúng tôi đã băng qua Streatham, Brixton, Camberwell, và giờ nhận ra mình đang đứng giữa Kennington Lane, sau khi đã len lỏi qua những con phố phụ nằm khuất ở phía đông khu Oval. Những kẻ mà chúng tôi đang đuổi theo dường như đã chọn một lộ trình ngoằn ngoèo đến kỳ quặc, có lẽ cốt để tránh bị dòm ngó. Chúng chẳng bao giờ đặt chân lên đường chính nếu như có một con phố phụ chạy song song có thể phục vụ cho mục đích của mình. Đến cuối đường Kennington Lane, chúng đã lùi dần sang phía trái, luồn qua Bond Street và Miles Street. Ngay chỗ con phố sau rẽ vào Knight's Place, Toby đột ngột khựng lại, thay vì tiến lên thì lại bắt đầu chạy tới chạy lui, một bên tai vểnh thẳng lên còn bên kia rủ xuống - đúng là bức chân dung sống động về sự lưỡng lự đến khó xử của loài chó. Rồi nó lạch bạch chạy vòng tròn, hết lần này đến lần khác ngước mắt lên nhìn chúng tôi, dường như muốn cầu xin một chút cảm thông giữa cơn bối rối tột cùng.
"Con chó làm sao thế nhỉ?" Holmes gầm gừ. "Chắc chắn bọn chúng không thể vẫy xe ngựa hay tẩu thoát bằng khinh khí cầu được."
"Có thể bọn chúng đã dừng lại ở đây một lúc," tôi gợi ý.
"A! Được rồi. Nó lại chạy tiếp rồi," người bạn đồng hành của tôi thốt lên, giọng nhẹ hẳn đi.
Quả thực nó đã chạy tiếp, vì sau khi đánh hơi loanh quanh thêm một vòng nữa, Toby bỗng nhiên đưa ra quyết định và lao vút đi với một luồng năng lượng cùng sự quyết đoán mà trước đó nó chưa từng bộc lộ. Mùi hương dường như nồng nặc hơn hẳn lúc trước, vì nó thậm chí còn chẳng buồn gí mũi xuống đất, mà cứ thế kéo căng sợi dây xích và gồng mình vùng vẫy như muốn bứt tung tất cả để chuyển sang chạy nước rút. Tôi có thể thấy qua tia sáng lấp lánh trong đôi mắt Holmes rằng anh tin chúng tôi sắp chạm đến hồi kết của cuộc truy đuổi.
Lộ trình của chúng tôi bây giờ men dọc theo Nine Elms cho đến khi chúng tôi tiến đến xưởng gỗ đồ sộ của Broderick và Nelson, nằm ngay phía sau quán rượu White Eagle. Tại đây, con chó như phát cuồng vì phấn khích, bất thần rẽ xuống qua cánh cổng phụ, lao thẳng vào khu vực rào chắn bên trong - nơi những người thợ cưa đã bắt đầu vào ca làm việc. Con chó cứ thế phóng băng băng qua những đống mùn cưa và vỏ bào, men theo một con hẻm nhỏ, vòng qua một lối đi hẹp, luồn lách giữa hai hàng gỗ chất cao ngất, và cuối cùng - với một tiếng sủa đầy vẻ chiến thắng - nó nhảy chồm lên một chiếc thùng phuy lớn vẫn còn nằm nguyên trên chiếc xe đẩy tay đã chở nó tới đây. Lưỡi thè lè, đôi mắt chớp chớp, Toby đứng hiên ngang trên nắp thùng phuy, đảo ánh nhìn từ người này sang người kia trong bọn chúng tôi như chờ đợi một lời tán thưởng xứng đáng. Những thanh gỗ của chiếc thùng phuy cùng các bánh xe của chiếc xe đẩy đều lấm lem một thứ chất lỏng sẫm màu, và cả bầu không khí quanh đó nồng nặc mùi creosote đến ngột ngạt.
Sherlock Holmes và tôi ngơ ngác nhìn nhau, rồi đồng loạt phá lên một tràng cười không sao kìm nén nổi.
-
Một loại chó lai giữa chó săn xám (greyhound) với một giống chó làm việc khác (như chó săn cừu hoặc chó sục). Chúng chạy nhanh, săn mồi giỏi và thường được dân nghèo hoặc những người săn trộm ở Anh thế kỷ 19 nuôi. ↩
-
Bản gốc là 'bull's-eye lantern', một loại đèn lồng cầm tay có thấu kính lồi để chiếu sáng tập trung vào một điểm. Đây là công cụ thường được giới cảnh sát thời Victoria sử dụng để tuần tra ban đêm. ↩
-
Charles Blondin (1824-1897) là một nghệ sĩ xiếc người Pháp nổi tiếng thế giới với màn đi trên dây thăng bằng vắt ngang qua thác Niagara. ↩
-
Ám chỉ súng trường Martini-Henry, loại súng trường tiêu chuẩn của quân đội Đế quốc Anh vào nửa cuối thế kỷ 19, nổi tiếng với sức sát thương lớn và độ giật mạnh khi bắn. ↩
-
Nghĩa đen chỉ gân gót chân (gân lớn nhất của cơ thể). Nghĩa bóng chỉ điểm yếu chí mạng của một người, bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp về người anh hùng Achilles mình đồng da sắt nhưng lại có điểm yếu duy nhất ở gót chân. ↩
-
Johann Paul Friedrich Richter (thường được biết đến với bút danh Jean Paul), là một nhà văn lãng mạn người Đức sống ở thế kỷ 18-19, nổi tiếng với các tác phẩm mang đậm tính triết lý. ↩
-
Thomas Carlyle (1795-1881), một nhà triết học, nhà sử học và nhà văn người Scotland nổi tiếng thời Victoria. Ông là người có công lớn trong việc giới thiệu văn học và triết học Đức đến độc giả Anh. ↩
-
Tên thật của nhà văn Đức Jean Paul (Johann Paul Friedrich Richter) vừa được Holmes và Watson nhắc đến ở trên. ↩
Chapter VII The Episode of the Barrel
The police had brought a cab with them, and in this I escorted Miss Morstan back to her home. After the angelic fashion of women, she had borne trouble with a calm face as long as there was some one weaker than herself to support, and I had found her bright and placid by the side of the frightened housekeeper. In the cab, however, she first turned faint, and then burst into a passion of weeping,-so sorely had she been tried by the adventures of the night. She has told me since that she thought me cold and distant upon that journey. She little guessed the struggle within my breast, or the effort of self-restraint which held me back. My sympathies and my love went out to her, even as my hand had in the garden. I felt that years of the conventionalities of life could not teach me to know her sweet, brave nature as had this one day of strange experiences. Yet there were two thoughts which sealed the words of affection upon my lips. She was weak and helpless, shaken in mind and nerve. It was to take her at a disadvantage to obtrude love upon her at such a time. Worse still, she was rich. If Holmes’s researches were successful, she would be an heiress. Was it fair, was it honourable, that a half-pay surgeon should take such advantage of an intimacy which chance had brought about? Might she not look upon me as a mere vulgar fortune-seeker? I could not bear to risk that such a thought should cross her mind. This Agra treasure intervened like an impassable barrier between us.
It was nearly two o’clock when we reached Mrs. Cecil Forrester’s. The servants had retired hours ago, but Mrs. Forrester had been so interested by the strange message which Miss Morstan had received that she had sat up in the hope of her return. She opened the door herself, a middle-aged, graceful woman, and it gave me joy to see how tenderly her arm stole round the other’s waist and how motherly was the voice in which she greeted her. She was clearly no mere paid dependant, but an honoured friend. I was introduced, and Mrs. Forrester earnestly begged me to step in and tell her our adventures. I explained, however, the importance of my errand, and promised faithfully to call and report any progress which we might make with the case. As we drove away I stole a glance back, and I still seem to see that little group on the step, the two graceful, clinging figures, the half-opened door, the hall-light shining through stained glass, the barometer, and the bright stair-rods. It was soothing to catch even that passing glimpse of a tranquil English home in the midst of the wild, dark business which had absorbed us.
And the more I thought of what had happened, the wilder and darker it grew. I reviewed the whole extraordinary sequence of events as I rattled on through the silent gas-lit streets. There was the original problem: that at least was pretty clear now. The death of Captain Morstan, the sending of the pearls, the advertisement, the letter,-we had had light upon all those events. They had only led us, however, to a deeper and far more tragic mystery. The Indian treasure, the curious plan found among Morstan’s baggage, the strange scene at Major Sholto’s death, the rediscovery of the treasure immediately followed by the murder of the discoverer, the very singular accompaniments to the crime, the footsteps, the remarkable weapons, the words upon the card, corresponding with those upon Captain Morstan’s chart,-here was indeed a labyrinth in which a man less singularly endowed than my fellow-lodger might well despair of ever finding the clue.
Pinchin Lane was a row of shabby two-storied brick houses in the lower quarter of Lambeth. I had to knock for some time at No. 3 before I could make my impression. At last, however, there was the glint of a candle behind the blind, and a face looked out at the upper window.
“Go on, you drunken vagabone,” said the face. “If you kick up any more row I’ll open the kennels and let out forty-three dogs upon you.”
“If you’ll let one out it’s just what I have come for,” said I.
“Go on!” yelled the voice. “So help me gracious, I have a wiper in the bag, an’ I’ll drop it on your ’ead if you don’t hook it.”
“But I want a dog,” I cried.
“I won’t be argued with!” shouted Mr. Sherman. “Now stand clear, for when I say ‘three,’ down goes the wiper.”
“Mr. Sherlock Holmes-” I began, but the words had a most magical effect, for the window instantly slammed down, and within a minute the door was unbarred and open. Mr. Sherman was a lanky, lean old man, with stooping shoulders, a stringy neck, and blue-tinted glasses.
“A friend of Mr. Sherlock is always welcome,” said he. “Step in, sir. Keep clear of the badger; for he bites. Ah, naughty, naughty, would you take a nip at the gentleman?” This to a stoat which thrust its wicked head and red eyes between the bars of its cage. “Don’t mind that, sir: it’s only a slow-worm. It hain’t got no fangs, so I gives it the run o’ the room, for it keeps the beetles down. You must not mind my bein’ just a little short wi’ you at first, for I’m guyed at by the children, and there’s many a one just comes down this lane to knock me up. What was it that Mr. Sherlock Holmes wanted, sir?”
“He wanted a dog of yours.”
“Ah! that would be Toby.”
“Yes, Toby was the name.”
“Toby lives at No. 7 on the left here.” He moved slowly forward with his candle among the queer animal family which he had gathered round him. In the uncertain, shadowy light I could see dimly that there were glancing, glimmering eyes peeping down at us from every cranny and corner. Even the rafters above our heads were lined by solemn fowls, who lazily shifted their weight from one leg to the other as our voices disturbed their slumbers.
Toby proved to be an ugly, long-haired, lop-eared creature, half spaniel and half lurcher, brown-and-white in colour, with a very clumsy waddling gait. It accepted after some hesitation a lump of sugar which the old naturalist handed to me, and, having thus sealed an alliance, it followed me to the cab, and made no difficulties about accompanying me. It had just struck three on the Palace clock when I found myself back once more at Pondicherry Lodge. The ex-prize-fighter McMurdo had, I found, been arrested as an accessory, and both he and Mr. Sholto had been marched off to the station. Two constables guarded the narrow gate, but they allowed me to pass with the dog on my mentioning the detective’s name.
Holmes was standing on the door-step, with his hands in his pockets, smoking his pipe.
“Ah, you have him there!” said he. “Good dog, then! Athelney Jones has gone. We have had an immense display of energy since you left. He has arrested not only friend Thaddeus, but the gatekeeper, the housekeeper, and the Indian servant. We have the place to ourselves, but for a sergeant upstairs. Leave the dog here, and come up.”
We tied Toby to the hall table, and re-ascended the stairs. The room was as he had left it, save that a sheet had been draped over the central figure. A weary-looking police-sergeant reclined in the corner.
“Lend me your bull’s-eye, sergeant,” said my companion. “Now tie this bit of card round my neck, so as to hang it in front of me. Thank you. Now I must kick off my boots and stockings.-Just you carry them down with you, Watson. I am going to do a little climbing. And dip my handkerchief into the creasote. That will do. Now come up into the garret with me for a moment.”
We clambered up through the hole. Holmes turned his light once more upon the footsteps in the dust.
“I wish you particularly to notice these footmarks,” he said. “Do you observe anything noteworthy about them?”
“They belong,” I said, “to a child or a small woman.”
“Apart from their size, though. Is there nothing else?”
“They appear to be much as other footmarks.”
“Not at all. Look here! This is the print of a right foot in the dust. Now I make one with my naked foot beside it. What is the chief difference?”
“Your toes are all cramped together. The other print has each toe distinctly divided.”
“Quite so. That is the point. Bear that in mind. Now, would you kindly step over to that flap-window and smell the edge of the wood-work? I shall stay here, as I have this handkerchief in my hand.”
I did as he directed, and was instantly conscious of a strong tarry smell.
“That is where he put his foot in getting out. If you can trace him, I should think that Toby will have no difficulty. Now run downstairs, loose the dog, and look out for Blondin.”
By the time that I got out into the grounds Sherlock Holmes was on the roof, and I could see him like an enormous glow-worm crawling very slowly along the ridge. I lost sight of him behind a stack of chimneys, but he presently reappeared, and then vanished once more upon the opposite side. When I made my way round there I found him seated at one of the corner eaves.
“That you, Watson?” he cried.
“Yes.”
“This is the place. What is that black thing down there?”
“A water-barrel.”
“Top on it?”
“Yes.”
“No sign of a ladder?”
“No.”
“Confound the fellow! It’s a most break-neck place. I ought to be able to come down where he could climb up. The water-pipe feels pretty firm. Here goes, anyhow.”
There was a scuffling of feet, and the lantern began to come steadily down the side of the wall. Then with a light spring he came on to the barrel, and from there to the earth.
“It was easy to follow him,” he said, drawing on his stockings and boots. “Tiles were loosened the whole way along, and in his hurry he had dropped this. It confirms my diagnosis, as you doctors express it.”
The object which he held up to me was a small pocket or pouch woven out of coloured grasses and with a few tawdry beads strung round it. In shape and size it was not unlike a cigarette-case. Inside were half a dozen spines of dark wood, sharp at one end and rounded at the other, like that which had struck Bartholomew Sholto.
“They are hellish things,” said he. “Look out that you don’t prick yourself. I’m delighted to have them, for the chances are that they are all he has. There is the less fear of you or me finding one in our skin before long. I would sooner face a Martini bullet, myself. Are you game for a six-mile trudge, Watson?”
“Certainly,” I answered.
“Your leg will stand it?”
“Oh, yes.”
“Here you are, doggy! Good old Toby! Smell it, Toby, smell it!” He pushed the creasote handkerchief under the dog’s nose, while the creature stood with its fluffy legs separated, and with a most comical cock to its head, like a connoisseur sniffing the bouquet of a famous vintage. Holmes then threw the handkerchief to a distance, fastened a stout cord to the mongrel’s collar, and led him to the foot of the water-barrel. The creature instantly broke into a succession of high, tremulous yelps, and, with his nose on the ground, and his tail in the air, pattered off upon the trail at a pace which strained his leash and kept us at the top of our speed.
The east had been gradually whitening, and we could now see some distance in the cold grey light. The square, massive house, with its black, empty windows and high, bare walls, towered up, sad and forlorn, behind us. Our course led right across the grounds, in and out among the trenches and pits with which they were scarred and intersected. The whole place, with its scattered dirt-heaps and ill-grown shrubs, had a blighted, ill-omened look which harmonized with the black tragedy which hung over it.
On reaching the boundary wall Toby ran along, whining eagerly, underneath its shadow, and stopped finally in a corner screened by a young beech. Where the two walls joined, several bricks had been loosened, and the crevices left were worn down and rounded upon the lower side, as though they had frequently been used as a ladder. Holmes clambered up, and, taking the dog from me, he dropped it over upon the other side.
“There’s the print of wooden-leg’s hand,” he remarked, as I mounted up beside him. “You see the slight smudge of blood upon the white plaster. What a lucky thing it is that we have had no very heavy rain since yesterday! The scent will lie upon the road in spite of their eight-and-twenty hours’ start.”
I confess that I had my doubts myself when I reflected upon the great traffic which had passed along the London road in the interval. My fears were soon appeased, however. Toby never hesitated or swerved, but waddled on in his peculiar rolling fashion. Clearly, the pungent smell of the creasote rose high above all other contending scents.
“Do not imagine,” said Holmes, “that I depend for my success in this case upon the mere chance of one of these fellows having put his foot in the chemical. I have knowledge now which would enable me to trace them in many different ways. This, however, is the readiest and, since fortune has put it into our hands, I should be culpable if I neglected it. It has, however, prevented the case from becoming the pretty little intellectual problem which it at one time promised to be. There might have been some credit to be gained out of it, but for this too palpable clue.”
“There is credit, and to spare,” said I. “I assure you, Holmes, that I marvel at the means by which you obtain your results in this case, even more than I did in the Jefferson Hope Murder. The thing seems to me to be deeper and more inexplicable. How, for example, could you describe with such confidence the wooden-legged man?”
“Pshaw, my dear boy! it was simplicity itself. I don’t wish to be theatrical. It is all patent and above-board. Two officers who are in command of a convict-guard learn an important secret as to buried treasure. A map is drawn for them by an Englishman named Jonathan Small. You remember that we saw the name upon the chart in Captain Morstan’s possession. He had signed it in behalf of himself and his associates,-the sign of the four, as he somewhat dramatically called it. Aided by this chart, the officers-or one of them-gets the treasure and brings it to England, leaving, we will suppose, some condition under which he received it unfulfilled. Now, then, why did not Jonathan Small get the treasure himself? The answer is obvious. The chart is dated at a time when Morstan was brought into close association with convicts. Jonathan Small did not get the treasure because he and his associates were themselves convicts and could not get away.”
“But that is mere speculation,” said I.
“It is more than that. It is the only hypothesis which covers the facts. Let us see how it fits in with the sequel. Major Sholto remains at peace for some years, happy in the possession of his treasure. Then he receives a letter from India which gives him a great fright. What was that?”
“A letter to say that the men whom he had wronged had been set free.”
“Or had escaped. That is much more likely, for he would have known what their term of imprisonment was. It would not have been a surprise to him. What does he do then? He guards himself against a wooden-legged man,-a white man, mark you, for he mistakes a white tradesman for him, and actually fires a pistol at him. Now, only one white man’s name is on the chart. The others are Hindoos or Mohammedans. There is no other white man. Therefore we may say with confidence that the wooden-legged man is identical with Jonathan Small. Does the reasoning strike you as being faulty?”
“No: it is clear and concise.”
“Well, now, let us put ourselves in the place of Jonathan Small. Let us look at it from his point of view. He comes to England with the double idea of regaining what he would consider to be his rights and of having his revenge upon the man who had wronged him. He found out where Sholto lived, and very possibly he established communications with some one inside the house. There is this butler, Lal Rao, whom we have not seen. Mrs. Bernstone gives him far from a good character. Small could not find out, however, where the treasure was hid, for no one ever knew, save the major and one faithful servant who had died. Suddenly Small learns that the major is on his death-bed. In a frenzy lest the secret of the treasure die with him, he runs the gauntlet of the guards, makes his way to the dying man’s window, and is only deterred from entering by the presence of his two sons. Mad with hate, however, against the dead man, he enters the room that night, searches his private papers in the hope of discovering some memorandum relating to the treasure, and finally leaves a momento of his visit in the short inscription upon the card. He had doubtless planned beforehand that should he slay the major he would leave some such record upon the body as a sign that it was not a common murder, but, from the point of view of the four associates, something in the nature of an act of justice. Whimsical and bizarre conceits of this kind are common enough in the annals of crime, and usually afford valuable indications as to the criminal. Do you follow all this?”
“Very clearly.”
“Now, what could Jonathan Small do? He could only continue to keep a secret watch upon the efforts made to find the treasure. Possibly he leaves England and only comes back at intervals. Then comes the discovery of the garret, and he is instantly informed of it. We again trace the presence of some confederate in the household. Jonathan, with his wooden leg, is utterly unable to reach the lofty room of Bartholomew Sholto. He takes with him, however, a rather curious associate, who gets over this difficulty, but dips his naked foot into creasote, whence comes Toby, and a six-mile limp for a half-pay officer with a damaged tendo Achillis.”
“But it was the associate, and not Jonathan, who committed the crime.”
“Quite so. And rather to Jonathan’s disgust, to judge by the way he stamped about when he got into the room. He bore no grudge against Bartholomew Sholto, and would have preferred if he could have been simply bound and gagged. He did not wish to put his head in a halter. There was no help for it, however: the savage instincts of his companion had broken out, and the poison had done its work: so Jonathan Small left his record, lowered the treasure-box to the ground, and followed it himself. That was the train of events as far as I can decipher them. Of course as to his personal appearance he must be middle-aged, and must be sunburned after serving his time in such an oven as the Andamans. His height is readily calculated from the length of his stride, and we know that he was bearded. His hairiness was the one point which impressed itself upon Thaddeus Sholto when he saw him at the window. I don’t know that there is anything else.”
“The associate?”
“Ah, well, there is no great mystery in that. But you will know all about it soon enough. How sweet the morning air is! See how that one little cloud floats like a pink feather from some gigantic flamingo. Now the red rim of the sun pushes itself over the London cloud-bank. It shines on a good many folk, but on none, I dare bet, who are on a stranger errand than you and I. How small we feel with our petty ambitions and strivings in the presence of the great elemental forces of nature! Are you well up in your Jean Paul?”
“Fairly so. I worked back to him through Carlyle.”
“That was like following the brook to the parent lake. He makes one curious but profound remark. It is that the chief proof of man’s real greatness lies in his perception of his own smallness. It argues, you see, a power of comparison and of appreciation which is in itself a proof of nobility. There is much food for thought in Richter. You have not a pistol, have you?”
“I have my stick.”
“It is just possible that we may need something of the sort if we get to their lair. Jonathan I shall leave to you, but if the other turns nasty I shall shoot him dead.” He took out his revolver as he spoke, and, having loaded two of the chambers, he put it back into the right-hand pocket of his jacket.
We had during this time been following the guidance of Toby down the half-rural villa-lined roads which lead to the metropolis. Now, however, we were beginning to come among continuous streets, where labourers and dockmen were already astir, and slatternly women were taking down shutters and brushing door-steps. At the square-topped corner public houses business was just beginning, and rough-looking men were emerging, rubbing their sleeves across their beards after their morning wet. Strange dogs sauntered up and stared wonderingly at us as we passed, but our inimitable Toby looked neither to the right nor to the left, but trotted onwards with his nose to the ground and an occasional eager whine which spoke of a hot scent.
We had traversed Streatham, Brixton, Camberwell, and now found ourselves in Kennington Lane, having borne away through the side-streets to the east of the Oval. The men whom we pursued seemed to have taken a curiously zigzag road, with the idea probably of escaping observation. They had never kept to the main road if a parallel side-street would serve their turn. At the foot of Kennington Lane they had edged away to the left through Bond Street and Miles Street. Where the latter street turns into Knight’s Place, Toby ceased to advance, but began to run backwards and forwards with one ear cocked and the other drooping, the very picture of canine indecision. Then he waddled round in circles, looking up to us from time to time, as if to ask for sympathy in his embarrassment.
“What the deuce is the matter with the dog?” growled Holmes. “They surely would not take a cab, or go off in a balloon.”
“Perhaps they stood here for some time,” I suggested.
“Ah! it’s all right. He’s off again,” said my companion, in a tone of relief.
He was indeed off, for after sniffing round again he suddenly made up his mind, and darted away with an energy and determination such as he had not yet shown. The scent appeared to be much hotter than before, for he had not even to put his nose on the ground, but tugged at his leash and tried to break into a run. I could see by the gleam in Holmes’s eyes that he thought we were nearing the end of our journey.
Our course now ran down Nine Elms until we came to Broderick and Nelson’s large timber-yard, just past the White Eagle tavern. Here the dog, frantic with excitement, turned down through the side-gate into the enclosure, where the sawyers were already at work. On the dog raced through sawdust and shavings, down an alley, round a passage, between two wood-piles, and finally, with a triumphant yelp, sprang upon a large barrel which still stood upon the hand-trolley on which it had been brought. With lolling tongue and blinking eyes, Toby stood upon the cask, looking from one to the other of us for some sign of appreciation. The staves of the barrel and the wheels of the trolley were smeared with a dark liquid, and the whole air was heavy with the smell of creasote.
Sherlock Holmes and I looked blankly at each other, and then burst simultaneously into an uncontrollable fit of laughter.