CHƯƠNG IV. CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẦU HÓI
Chúng tôi bước theo người Ấn Độ dọc một hành lang tồi tàn, xám xịt và thiếu ánh sáng, đồ đạc trong đó lại còn xuề xòa hơn cả vẻ ngoài. Ông ta dừng chân trước một cánh cửa phía tay phải rồi đột ngột mở toang ra. Một luồng ánh sáng vàng rực rỡ ập thẳng vào mặt chúng tôi, và giữa vùng sáng ấy hiện ra một người đàn ông nhỏ thó với cái đầu cao lêu nghêu, một vòng tóc đỏ hung dựng đứng tua tủa quanh rìa, còn phần đỉnh đầu lại hói bóng nhẵn thín, nhô lên khỏi đám tóc chẳng khác gì một ngọn núi trọc trồi lên giữa rừng thông. Ông ta đứng đó, liên tục xoa xoa hai bàn tay vào nhau, còn các đường nét trên gương mặt cứ giật giật không ngừng - khi thì nhếch lên thành nụ cười, khi thì cau có khó chịu - chẳng mấy chốc được yên. Tạo hóa ban tặng cho ông ta một bờ môi trề xuống cùng một hàm răng vàng khè, mọc lộn xộn đến mức khó mà giấu nổi, vậy mà ông ta vẫn cứ ra sức che đậy một cách vụng về bằng cách luôn tay vuốt vuốt phần cằm dưới. Dù cái đầu hói ấy rất dễ thu hút ánh nhìn, nhưng trông ông ta vẫn toát lên vẻ trẻ trung. Thực ra, ông ta chỉ vừa mới qua tuổi ba mươi.
“Chào cô, cô Morstan,” ông ta liên tục lặp đi lặp lại bằng một giọng the thé, lanh lảnh. “Chào các quý ông. Xin mời bước vào chốn tôn nghiêm nhỏ bé của tôi. Một nơi chẳng rộng rãi gì đâu, thưa cô, nhưng được bài trí theo đúng khiếu thẩm mỹ của riêng tôi. Một ốc đảo nghệ thuật giữa lòng sa mạc hoang vu của vùng Nam London.”
Tất cả chúng tôi đều sững sờ trước vẻ ngoài của căn phòng mà ông ta mời vào. Trong ngôi nhà xiêu vẹo ấy, căn phòng bỗng trở nên lạc lõng như một viên kim cương thượng hạng bị gắn vội lên một chiếc đế đồng thau rẻ tiền. Những tấm rèm và thảm trang trí tường lộng lẫy, óng ánh nhất được treo rủ xuống, thỉnh thoảng lại được vén lên để lộ ra một bức tranh đóng khung cầu kỳ hoặc một chiếc bình phương Đông quý giá. Tấm thảm trải sàn màu hổ phách pha lẫn sắc đen, dày và êm đến nỗi bàn chân lún xuống một cách dễ chịu, tựa như đang giẫm lên một lớp rêu non mềm mại. Hai tấm da hổ lớn vắt ngang mặt thảm càng tôn thêm vẻ xa hoa đượm màu phương Đông, cùng với chiếc bình hút thuốc lào khổng lồ đặt trên một tấm thảm nhỏ trong góc phòng. Một chiếc đèn mang hình hài chú chim bồ câu bằng bạc lơ lửng giữa không trung nhờ một sợi dây vàng gần như vô hình. Khi thắp lên, nó tỏa ra một mùi hương thoang thoảng, dịu dàng lan khắp căn phòng.
“Tôi là Thaddeus Sholto,” người đàn ông nhỏ bé vừa nói, vừa giật giật khuôn mặt và mỉm cười. “Đó là tên tôi. Tất nhiên cô đây hẳn là cô Morstan. Còn những quý ông này-”
“Đây là ngài Sherlock Holmes, còn đây là bác sĩ Watson.”
“Một bác sĩ ư?” ông ta reo lên, vô cùng kích động. “Ông có mang ống nghe theo không? Liệu tôi có thể nhờ ông-ông làm ơn giúp tôi một việc được chứ? Tôi đang có những nghi ngại rất nghiêm trọng về van hai lá của mình, nếu ông vui lòng. Van động mạch chủ thì tôi có thể tạm yên tâm, nhưng tôi rất muốn được nghe ý kiến của ông về van hai lá.”
Tôi nghe nhịp tim của ông ta theo lời đề nghị, nhưng chẳng phát hiện thấy điều gì bất thường, ngoại trừ việc ông ta đang chìm trong một trạng thái sợ hãi tột độ, bởi cả người ông ta run lẩy bẩy từ đầu đến chân. “Có vẻ như vẫn bình thường,” tôi đáp. “Ông chẳng có gì phải lo lắng cả.”
“Mong cô lượng thứ cho sự lo âu của tôi, cô Morstan,” ông ta cất lời với vẻ nhẹ nhõm hẳn đi. “Tôi vốn là một kẻ lắm bệnh tật, và từ lâu tôi đã luôn nghi ngờ về cái van đó. Tôi mừng lắm khi biết những nghi ngờ ấy hóa ra chẳng có căn cứ gì. Giá như cha của cô, cô Morstan, đừng tự tạo áp lực quá lớn lên trái tim mình, thì có lẽ giờ này người vẫn còn sống.”
Tôi chỉ muốn giáng thẳng vào mặt gã đàn ông này một cái tát, vì tôi phát điên lên trước cái cách hời hợt và vô tâm mà hắn nhắc đến một vấn đề tế nhị như thế. Cô Morstan ngồi xuống, sắc mặt cô trắng bệch ra đến tận môi. “Trong thâm tâm, tôi biết cha tôi đã qua đời,” cô khẽ nói.
“Tôi có thể cung cấp cho cô mọi thông tin,” ông ta nói, “và, hơn thế nữa, tôi có thể đòi lại công lý cho cô; và tôi sẽ làm điều đó, bất chấp anh trai Bartholomew có phản đối ra sao. Tôi rất mừng vì cô có bạn bè tháp tùng, không chỉ để hộ tống cô, mà còn để làm nhân chứng cho những gì tôi sắp làm và sắp nói. Ba chúng ta có thể cùng nhau đương đầu với anh trai Bartholomew. Nhưng xin đừng để người ngoài nhúng tay vào-không cảnh sát hay quan chức gì hết. Chúng ta có thể giải quyết mọi việc êm thấm trong nội bộ, chẳng cần ai can thiệp cả. Chẳng có gì khiến anh trai Bartholomew nổi cáu hơn là sự chú ý của công chúng đâu.”
Ông ta ngồi xuống một chiếc ghế băng thấp và chớp chớp đôi mắt xanh nhạt, ươn ướt nhìn chúng tôi dò xét.
“Về phần tôi,” Holmes lên tiếng, “bất cứ điều gì ông chọn để nói ra sẽ chẳng đến tai một ai khác.”
Tôi gật đầu tỏ ý đồng tình.
“Thế thì tốt quá! Tốt quá rồi!” ông ta reo lên. “Tôi có thể mời cô một ly Chianti1 chứ, cô Morstan? Hay là Tokay nhé? Tôi chẳng có loại rượu nào khác ngoài hai thứ ấy. Để tôi khui một chai nhé? Không ư? Vậy thì, tôi hy vọng cô không phiền với khói thuốc lá đấy, với cái mùi hương dịu nhẹ của thứ thuốc lá phương Đông này. Tôi hơi căng thẳng một chút, và tôi thấy chiếc bình hút này quả là một liều thuốc an thần vô giá.”
Ông ta châm lửa vào cái tẩu lớn, và khói thuốc sủi bọt lên qua làn nước hoa hồng, phát ra những tiếng ùng ục vui tai. Ba người chúng tôi ngồi quây thành hình bán nguyệt, chúi đầu về phía trước, chống cằm lên tay, trong khi gã đàn ông nhỏ bé quái dị, co giật liên hồi với cái đầu hói bóng lưỡng ấy, cứ thế nhả khói ở giữa.
“Lúc tôi vừa mới quyết định sẽ tiết lộ mọi chuyện cho cô,” ông ta bắt đầu kể, “tôi đã định gửi cho cô địa chỉ của mình, nhưng tôi sợ cô sẽ phớt lờ yêu cầu của tôi mà dẫn theo những kẻ gây rắc rối đến đây. Vì thế, tôi đành mạo muội sắp xếp cuộc gặp theo cách để người hầu Williams của tôi có thể quan sát cô trước. Tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự thận trọng của cậu ấy, và cậu ấy đã có lệnh, nếu thấy có gì bất ổn, thì sẽ không tiếp tục chuyện này nữa. Mong cô lượng thứ cho những biện pháp đề phòng ấy, nhưng tôi là người có lối sống hơi khép kín, thậm chí tôi có thể nói là tinh tế nữa, và chẳng có gì kém thẩm mỹ hơn một gã cảnh sát. Tôi có một ác cảm tự nhiên đối với mọi hình thức duy vật thô thiển. Tôi hiếm khi nào tiếp xúc với đám đông thô kệch. Tôi sống, như cô thấy đấy, trong một bầu không khí thanh lịch nho nhỏ do chính tôi tạo ra quanh mình. Tôi có thể tự nhận mình là một người bảo trợ cho nghệ thuật. Đó là niềm đam mê của tôi. Bức tranh phong cảnh đằng kia là tác phẩm chính gốc của Corot2, và dù một chuyên gia có thể nghi ngờ về bức Salvator Rosa kia, thì không thể có chút nghi ngờ nào về bức Bouguereau này. Tôi có phần thiên vị trường phái Pháp hiện đại.”
“Xin ông thứ lỗi, ngài Sholto,” cô Morstan cất tiếng, “nhưng tôi đến đây theo yêu cầu của ông để lắng nghe những điều ông muốn nói với tôi. Đêm đã khuya rồi, và tôi mong cuộc trò chuyện này sẽ diễn ra càng ngắn gọn càng tốt.”
“Muốn nhanh nhất thì cũng phải mất một lúc đấy,” ông ta đáp; “bởi lẽ chắc chắn chúng ta sẽ phải đến Norwood và gặp anh trai Bartholomew. Tất cả chúng ta sẽ cùng đi và thử xem có cách nào thuyết phục được anh ấy hay không. Anh ấy đang rất giận tôi vì tôi đã làm theo những gì mình cho là đúng. Đêm qua, tôi đã cãi nhau một trận to với anh ấy. Cô không thể hình dung nổi anh ấy đáng sợ đến mức nào mỗi khi nổi giận đâu.”
“Nếu chúng ta phải đến Norwood, thì có lẽ tốt nhất nên khởi hành ngay lập tức,” tôi mạo muội lên tiếng.
Ông ta bật cười phá lên cho đến khi hai tai đỏ lựng cả lên. “Đi ngay thì khó lắm,” ông ta kêu lên. “Tôi không biết anh ấy sẽ phản ứng ra sao nếu tôi đùng đùng dẫn mọi người đến như thế. Không, nhất định tôi phải chuẩn bị tinh thần cho cô trước đã, bằng cách vạch rõ mối liên hệ giữa tất cả chúng ta. Trước hết, tôi phải nói với cô rằng có một vài điểm trong câu chuyện mà chính tôi cũng chưa nắm thật rõ. Tôi chỉ có thể trình bày lại các sự kiện cho cô dựa trên những gì tôi được biết mà thôi.
"Cha tôi, như cô hẳn đã đoán ra, là Thiếu tá John Sholto, từng phục vụ trong quân đội Ấn Độ. Ông giải ngũ cách đây khoảng mười một năm và về sống tại điền trang Pondicherry Lodge ở vùng Upper Norwood3. Ở Ấn Độ, ông làm ăn rất phát đạt, mang về một gia tài kếch xù, cùng với đó là cả một bộ sưu tập đồ cổ quý giá khổng lồ và một nhóm người hầu bản xứ trung thành. Nhờ khối tài sản ấy, ông mua lại ngôi nhà này và sống trong cảnh xa hoa bậc nhất. Người anh sinh đôi Bartholomew và tôi là hai người con duy nhất của ông.
"Tôi còn nhớ rất rõ dư luận xôn xao lúc bấy giờ về vụ Đại úy Morstan mất tích bí ẩn. Chúng tôi đọc từng chi tiết trên mặt báo, và vì biết ông ấy từng là bạn thân của cha mình, chúng tôi thoải mái bàn luận về vụ việc ngay trước mặt cha. Ông thường tham gia cùng chúng tôi, cùng đưa ra những phỏng đoán về chuyện gì có thể đã xảy ra. Chưa một khoảnh khắc nào chúng tôi ngờ rằng chính ông - người duy nhất trên cõi đời này biết rõ số phận của Arthur Morstan - lại đang âm thầm cất giấu toàn bộ bí mật khủng khiếp ấy trong lòng.
"Thế nhưng, chúng tôi lờ mờ cảm nhận được có một bí ẩn nào đó - một mối nguy hiểm hiện hữu - luôn lơ lửng trên đầu cha mình. Ông cực kỳ sợ hãi mỗi khi phải ra ngoài một mình, và lúc nào cũng thuê hẳn hai võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp làm người gác cổng ở Pondicherry Lodge. Williams, người đã lái xe đưa mọi người đến đây tối nay, chính là một trong số họ - anh ta từng là nhà vô địch quyền Anh hạng nhẹ của nước Anh. Cha tôi không bao giờ tiết lộ điều gì khiến ông khiếp sợ, nhưng ông có một ác cảm cực độ, gần như bệnh hoạn, với những người đàn ông chân gỗ. Một lần nọ, ông thậm chí đã nổ súng bắn vào một gã chân gỗ, để rồi hóa ra đó chỉ là một người bán hàng vô hại đang đi tiếp thị lấy đơn đặt hàng. Chúng tôi phải chi ra một khoản tiền lớn để bưng bít vụ việc. Anh trai tôi và tôi từng nghĩ đây chẳng qua chỉ là một ý thích kỳ quặc của cha, cho đến khi những sự kiện về sau buộc chúng tôi phải thay đổi hoàn toàn suy nghĩ.
"Đầu năm 1882, cha tôi nhận được một lá thư từ Ấn Độ - và nó đã giáng một cú sốc khủng khiếp. Ngay tại bàn ăn sáng, khi vừa mở thư ra, ông suýt ngất xỉu ngay tại chỗ. Kể từ ngày hôm ấy, sức khỏe ông suy tàn nhanh chóng cho đến lúc qua đời. Chúng tôi không bao giờ biết được nội dung lá thư ấy là gì, nhưng tôi thoáng thấy khi ông cầm nó - một mảnh giấy ngắn, chỉ vài dòng xiêu vẹo nguệch ngoạc. Nhiều năm nay cha tôi vốn đã mang trong mình chứng lách to4, thế nhưng giờ đây bệnh tình trở nặng nhanh đến chóng mặt, và vào cuối tháng Tư, bác sĩ báo với chúng tôi rằng không còn hy vọng gì nữa. Cha tôi muốn gặp chúng tôi lần cuối để trăn trối.
"Khi chúng tôi bước vào phòng, ông đang tựa lưng trên những chiếc gối chất cao, hơi thở nặng nhọc và khó nhọc. Ông khẩn khoản yêu cầu chúng tôi khóa trái cửa lại, rồi đứng hai bên giường. Sau đó, ông nắm chặt tay chúng tôi, và bằng một giọng nói đứt quãng - vừa vì xúc động nghẹn ngào, vừa vì cơn đau giày vò - ông thốt ra một lời thú nhận đáng kinh ngạc. Tôi sẽ cố gắng thuật lại nguyên văn những lời của ông cho cô nghe.
"'Chỉ có một điều duy nhất,' ông nói, 'đang đè nặng lên tâm trí cha trong giờ phút cuối cùng này. Đó là cách cha đã đối xử với đứa con côi của Morstan tội nghiệp. Lòng tham lam khốn kiếp - tội lỗi đã đeo đẳng cha suốt cả cuộc đời - đã tước đoạt khỏi tay con bé khối kho báu mà ít nhất một nửa lẽ ra phải thuộc về nó. Vậy mà bản thân cha cũng có tiêu xài gì cho mình đâu - thật ngu ngốc và mù quáng làm sao! Chính cái cảm giác chiếm hữu đơn thuần đã trở nên quá đỗi thân thương, đến mức cha không thể chịu đựng nổi ý nghĩ phải chia sẻ nó với bất kỳ ai. Hãy nhìn chiếc vòng hoa chạm ngọc trai kia, cạnh chai thuốc quinine5 ấy xem. Ngay cả thứ đó cha cũng không đành lòng rời xa, dù đã có lần cha lấy nó ra với ý định gửi cho con bé. Các con, những đứa con trai của cha, hãy chia cho con bé một phần công bằng trong kho báu Agra6. Nhưng đừng gửi bất cứ thứ gì - kể cả chiếc vòng hoa ấy - cho đến khi cha ra đi. Dù sao thì, vẫn có những người bệnh nặng như thế này mà qua khỏi cơ mà.'
"'Cha sẽ kể cho các con nghe Morstan đã chết như thế nào,' ông nói tiếp. 'Ông ấy mắc chứng tim yếu đã nhiều năm, nhưng giấu kín không cho ai biết. Một mình cha biết mà thôi. Hồi còn ở Ấn Độ, qua một chuỗi những sự kiện hết sức đáng chú ý, chúng ta đã cùng nhau sở hữu một khối tài sản vô cùng lớn. Cha mang nó về Anh, và ngay trong cái đêm Morstan đến đây, ông ấy đi thẳng từ nhà ga tới để đòi phần của mình. Ông ấy đi bộ từ nhà ga lên, và Lal Chowdar - lão hầu già trung thành của cha, nay đã qua đời - đã mở cửa cho ông ấy vào. Morstan và cha nảy sinh bất đồng về việc phân chia kho báu, rồi chúng tôi to tiếng với nhau. Trong một cơn thịnh nộ tột độ, Morstan bật dậy khỏi ghế - và đột nhiên ông ấy ôm chặt lấy ngực, khuôn mặt chuyển sang màu tối sầm, rồi ngã ngửa ra phía sau, đập đầu vào góc rương đựng kho báu. Khi cha cúi xuống xem xét, cha kinh hoàng nhận ra ông ấy đã chết.
“'Trong một khoảng thời gian dài, cha ngồi đó, tâm trí bấn loạn, tự hỏi phải làm sao. Dĩ nhiên, thôi thúc đầu tiên là gọi người đến giúp đỡ. Nhưng cha không thể không nhận ra rằng có rất nhiều khả năng mình sẽ bị buộc tội giết người. Cái chết của Morstan ngay giữa lúc đang cãi vã, cùng với vết thương hở trên đầu - tất cả sẽ trở thành bằng chứng chống lại cha. Hơn nữa, một cuộc điều tra chính thức không thể nào diễn ra mà không phơi bày những sự thật về kho báu - thứ mà cha đặc biệt khao khát giữ kín. Ông ấy từng nói với cha rằng không một linh hồn nào trên trái đất này biết ông đã đi đâu. Thế thì chẳng có lý do gì để bất kỳ linh hồn nào phải biết chuyện này cả.
“'Cha vẫn còn đang mải cân nhắc, thì ngước lên, cha nhìn thấy người hầu của mình, Lal Chowdar, đang đứng ở ngưỡng cửa. Hắn lẻn vào và cài then cửa lại. ‘Đừng sợ, thưa Sahib,’ hắn nói. ‘Chẳng ai cần phải biết ngài đã giết ông ấy đâu. Chúng ta cùng giấu ông ấy đi, rồi ai mà biết được cơ chứ?’ ‘Ta không giết ông ấy,’ cha nói. Lal Chowdar lắc đầu và mỉm cười. ‘Tôi đã nghe thấy tất cả, thưa Sahib,’ hắn ta nói. ‘Tôi nghe hai người cãi nhau, và tôi nghe thấy tiếng va đập. Nhưng môi tôi đã bị niêm phong. Mọi người trong nhà đều đang ngủ. Chúng ta hãy cùng nhau giấu xác ông ấy đi.’ Thế là đủ để cha quyết định. Nếu ngay đến người hầu của mình còn không thể tin vào sự vô tội của mình, thì làm sao cha có hy vọng thuyết phục nổi mười hai gã thương nhân ngốc nghếch trong bồi thẩm đoàn? Ngay đêm đó, Lal Chowdar và cha đã phi tang cái xác, và chỉ trong vài ngày, các tờ báo London đã tràn ngập tin tức về sự mất tích bí ẩn của Đại úy Morstan. Từ những gì cha nói, các con sẽ thấy rằng cha khó lòng bị kết tội trong chuyện này. Lỗi lầm của cha nằm ở chỗ chúng ta không chỉ giấu đi cái xác, mà còn giấu luôn cả kho báu, và cha đã bám lấy phần của Morstan cũng như phần của chính mình. Vì thế, cha muốn các con bù đắp lại. Hãy ghé tai sát miệng cha. Kho báu được giấu ở-'
"Đúng lúc ấy, một sự thay đổi kinh khủng hiện lên trên nét mặt ông. Đôi mắt ông trừng trừng hoang dại, quai hàm trễ xuống, rồi ông thét lên bằng một giọng nói mà tôi không bao giờ có thể quên được: 'Giữ hắn ở ngoài! Vì Chúa, hãy giữ hắn ở ngoài!' Cả hai chúng tôi quay ngoắt lại nhìn về phía cửa sổ sau lưng - nơi ánh mắt cha tôi đang trừng trừng hướng tới. Một khuôn mặt đang nhìn chằm chằm vào chúng tôi từ trong bóng tối. Chúng tôi thấy cả phần chóp mũi trắng bệch của gã áp sát vào mặt kính. Đó là một khuôn mặt rậm rạp râu ria, với đôi mắt hoang dại tàn độc và biểu cảm tràn đầy ác ý. Anh trai tôi và tôi lập tức lao về phía cửa sổ, nhưng gã đàn ông ấy đã biến mất. Khi chúng tôi quay trở lại bên cha, đầu ông đã gục xuống - mạch đã ngừng đập.
"Đêm đó, chúng tôi lùng sục khắp khu vườn, nhưng không tìm thấy bất cứ dấu vết nào của kẻ đột nhập - ngoại trừ ngay bên dưới bệ cửa sổ, một dấu chân duy nhất hằn sâu trên luống hoa. Nếu không nhờ dấu vết đó, hẳn chúng tôi đã nghĩ rằng chính trí tưởng tượng của mình đã dựng lên khuôn mặt hoang dại hung tợn kia. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, chúng tôi còn có thêm một bằng chứng khác còn nổi bật hơn cho thấy có những thế lực bí mật đang vây quanh. Buổi sáng hôm sau, cửa sổ phòng cha tôi được phát hiện mở toang, toàn bộ tủ và hộp của ông đã bị lục tung lên. Và trên ngực ông, có đính một mảnh giấy rách, với dòng chữ nguệch ngoạc: 'Dấu hiệu của Bộ Tứ'. Cụm từ ấy có ý nghĩa gì, hay vị khách bí mật của chúng tôi là ai - chúng tôi không bao giờ biết được. Theo như chúng tôi có thể đánh giá, chẳng có tài sản nào của cha thực sự bị lấy đi, mặc dù mọi thứ đều đã bị đảo tung lên. Đương nhiên, anh trai tôi và tôi liên kết sự việc kỳ lạ này với nỗi sợ hãi đã ám ảnh cha suốt cuộc đời ông; nhưng nó vẫn mãi là một bí ẩn hoàn toàn đối với chúng tôi.
Gã đàn ông nhỏ thó dừng lời, châm lại bình hút thuốc lào rồi thả ra vài sợi khói, vẻ mặt đăm chiêu trong giây lát. Tất cả chúng tôi đều ngồi im như phỗng, say mê dõi theo từng lời kể phi thường của ông ta. Khi nghe đến đoạn ngắn gọn về cái chết của cha mình, gương mặt cô Morstan trở nên trắng bệch, khiến tôi có lúc lo sợ cô sắp ngất đi. May thay, sau khi nhấp một ngụm nước tôi lặng lẽ rót cho cô từ chiếc bình pha lê Venice đặt trên chiếc bàn bên cạnh, cô đã tỉnh táo trở lại. Sherlock Holmes thì ngả người ra lưng ghế, đôi mắt sáng quắc nửa khép hờ sau cặp mi buông thõng, gương mặt lộ vẻ lơ đễnh. Liếc nhìn anh, tôi chợt nhớ lại cái hôm anh đã than vãn gay gắt về sự tẻ nhạt của cuộc sống. Ít nhất thì vụ việc lần này cũng là một bài toán đủ sức thử thách trí tuệ sắc bén của anh đến tột cùng. Ông Thaddeus Sholto lần lượt nhìn từng người chúng tôi, ánh mắt hãnh diện lộ rõ trước hiệu ứng mà câu chuyện của mình mang lại, rồi lại tiếp tục kể, xen giữa những nhịp rít từ cái tẩu khổng lồ.
“Anh trai tôi và tôi,” ông ta nói, “như cô hẳn có thể hình dung, đã vô cùng háo hức trước kho báu mà cha tôi nhắc đến. Suốt bao tuần bao tháng ròng, chúng tôi đào bới từng ngóc ngách trong khu vườn mà vẫn không lần ra được tung tích của nó. Nghĩ lại mới thấy thật điên rồ, cái nơi cất giấu kho báu ấy lại nằm ngay trên đầu môi của cha tôi vào lúc ông trút hơi thở cuối cùng. Qua chiếc vòng hoa mà ông đã lấy ra, chúng tôi cũng phần nào hình dung được sự xa hoa của khối tài sản đã mất tích kia. Về chiếc vòng hoa này, anh Bartholomew và tôi đã có đôi chút bất đồng. Những viên ngọc trai hiển nhiên là có giá trị cực lớn, và anh ấy chẳng muốn chia lìa chúng chút nào, bởi lẽ, nói thật giữa những người bạn đây, bản thân anh trai tôi cũng mang đôi phần khuynh hướng của cha mình. Anh ấy còn cho rằng nếu chúng tôi chia tay chiếc vòng hoa, điều đó có thể gây nên những lời đàm tiếu và cuối cùng sẽ mang rắc rối đến cho chúng tôi. Tôi đã phải ra sức hết mức mới thuyết phục được anh ấy cho phép tôi tìm ra địa chỉ của cô Morstan, rồi gửi cho cô ấy từng viên ngọc trai rời vào những khoảng thời gian nhất định, để ít ra cô ấy cũng không bao giờ phải sống trong cảnh thiếu thốn.”
“Thật là một ý nghĩ tử tế,” người bạn đồng hành của chúng tôi cất lời, giọng chân thành. “Ông quả là vô cùng tốt bụng.”
Gã đàn ông nhỏ bé xua tay, vẻ không tán thành. “Chúng tôi là những người được ủy thác của cô mà,” ông ta nói. “Đó là cách tôi nhìn nhận vấn đề này, dù anh Bartholomew không hoàn toàn nghĩ như vậy. Riêng chúng tôi thì đã khá dư dả rồi. Tôi chẳng ham muốn gì thêm. Vả lại, đối xử với một quý cô trẻ tuổi theo cái cách đê tiện ấy thì quả thực quá đỗi khiếm nhã. Le mauvais goût mène au crime7 - Thói xấu dẫn đến tội ác. Người Pháp quả có cách diễn đạt những chuyện này thật gọn ghẽ. Sự khác biệt về quan điểm giữa chúng tôi trong vấn đề này đã nghiêm trọng đến mức tôi nghĩ tốt nhất là nên dọn ra ở riêng. Thế nên tôi đã rời khỏi Pondicherry Lodge, mang theo lão quản gia khitmutgar già và Williams. Thế nhưng, ngày hôm qua, tôi hay tin một sự kiện vô cùng trọng đại đã xảy ra. Kho báu đã được tìm thấy. Tôi liền lập tức liên lạc với cô Morstan, và giờ đây việc duy nhất chúng ta còn phải làm chỉ là lái xe đến Norwood và đòi lấy phần của mình mà thôi. Tối qua tôi đã trình bày quan điểm của mình cho anh Bartholomew nghe, thế nên chúng ta sẽ được chờ đợi, nếu không muốn nói là được hoan nghênh, như những vị khách.”
Ông Thaddeus Sholto dứt lời, rồi co rúm người lại trên chiếc ghế dài sang trọng của mình. Tất cả chúng tôi đều giữ im lặng, tâm trí ai nấy dồn cả về diễn biến mới mà vụ việc bí ẩn này vừa hé lộ. Holmes là người đầu tiên bật dậy.
“Ông đã làm rất tốt, thưa ông, từ đầu chí cuối,” anh nói. “Rất có thể chúng tôi sẽ đền đáp ông phần nào bằng cách làm sáng tỏ những điều hãy còn mờ mịt đối với ông. Tuy nhiên, như cô Morstan vừa nhận xét khi nãy, trời đã muộn rồi, và tốt nhất là chúng ta nên tiến hành vụ việc này ngay, không chậm trễ thêm nữa.”
Người quen mới của chúng tôi chậm rãi cuộn ống hút của bình thuốc lào, rồi thò tay ra sau tấm rèm lôi ra một chiếc áo choàng dài có dây cài trang trí, viền cổ và cổ tay đều bằng lông cừu Astrakhan8. Ông ta cài khuy áo kín từ trên xuống dưới, bất chấp cái oi bức đến nghẹt thở của đêm hè, và hoàn tất bộ trang phục bằng cách chụp lên đầu một chiếc mũ da thỏ với những vạt rũ che kín hai tai, chỉ chừa lại mỗi khuôn mặt xanh xao, gầy gò đang không ngừng giật giật. "Sức khỏe của tôi hơi mong manh," ông ta nhận xét trong lúc dẫn đường xuống hành lang. "Tôi đành phải cam chịu làm một kẻ bệnh hoạn yếm thế vậy."
Chiếc xe ngựa đã chờ sẵn bên ngoài, và rõ ràng mọi thứ đã được sắp đặt từ trước, bởi người đánh xe lập tức thúc ngựa lao đi với tốc độ nhanh chóng. Thaddeus Sholto nói liên hồi, giọng the thé của ông ta vút lên lấn át cả tiếng bánh xe lộc cộc trên đường.
"Bartholomew quả là một gã thông minh," ông ta lên tiếng. "Mọi người có đoán được anh ấy tìm ra kho báu bằng cách nào không? Anh ấy suy luận rằng nó phải nằm đâu đó bên trong căn nhà. Thế là anh ấy tính toán toàn bộ thể tích không gian của tòa nhà, đo đạc từng ngóc ngách, không chừa lại một inch vuông nào. Giữa bao công đoạn, anh ấy phát hiện chiều cao của tòa nhà là bảy mươi bốn feet. Ấy thế mà khi cộng dồn chiều cao từng căn phòng riêng lẻ, tính cả sai số cho những khoảng trống ngăn cách mà anh ấy xác định được nhờ khoan thăm dò, tổng cộng cũng chỉ vỏn vẹn bảy mươi feet. Còn bốn feet biến mất một cách bí ẩn. Số không gian mất hút ấy chỉ có thể nằm ở phần đỉnh của tòa nhà. Thế là anh ấy đục một lỗ xuyên qua trần nhà trát vữa của căn phòng cao nhất, và quả nhiên, anh ấy tìm thấy một căn gác xép nhỏ bên trên - một căn phòng đã bị bịt kín và hoàn toàn không ai hay biết. Ngay chính giữa căn gác, đặt vững chãi trên hai thanh xà gồ, chính là chiếc rương kho báu. Anh ấy đã hạ nó xuống qua cái lỗ khoét ấy, và giờ nó đang nằm kia. Anh ấy ước tính số trang sức trong đó có giá trị không dưới nửa triệu bảng Anh."
Nghe đến con số khổng lồ ấy, tất cả chúng tôi đều trợn tròn mắt nhìn nhau. Nếu quyền lợi của cô được bảo vệ, Miss Morstan - từ thân phận một nữ gia sư nghèo khó - sẽ trở thành người thừa kế giàu có nhất nước Anh. Lẽ ra đó phải là khoảnh khắc một người bạn trung thành vui mừng khôn xiết; thế nhưng, thật hổ thẹn mà nói, lòng ích kỷ đã choán lấy tâm hồn tôi, và trái tim tôi bỗng trĩu nặng như đeo chì. Tôi lắp bắp vài lời chúc mừng gượng gạo, rồi ngồi rũ xuống, cúi gằm mặt, mặc kệ những lời lảm nhảm của người quen mới. Rõ ràng ông ta mắc chứng nghi bệnh kinh niên, và tôi chỉ mơ hồ nhận ra ông ta đang tuôn ra một tràng dài những triệu chứng triền miên, khẩn khoản hỏi han về thành phần cùng công dụng của vô số loại thuốc lang băm - một vài thứ trong đó ông ta còn mang theo trong chiếc hộp da bỏ túi. Tôi chỉ mong ông ta không nhớ nổi bất kỳ câu trả lời nào tôi đã buột miệng thốt ra đêm hôm ấy. Holmes quả quyết rằng anh đã nghe lỏm được tôi cảnh báo ông ta về hiểm họa khôn lường khi dùng quá hai giọt dầu thầu dầu, trong khi tôi lại khuyên dùng strychnine9 liều cao như một loại thuốc an thần. Dù thế nào đi nữa, tôi thực sự thở phào nhẹ nhõm khi cỗ xe giật mạnh rồi dừng hẳn, và người đánh xe nhảy xuống mở cửa.
"Đây rồi, thưa cô Morstan - Pondicherry Lodge," ngài Thaddeus Sholto nói, vừa đưa tay đỡ cô bước xuống.
-
Chianti là một loại rượu vang đỏ nổi tiếng của vùng Tuscany, Ý, còn Tokay (hay Tokaji) là loại rượu vang ngọt trứ danh của Hungary. ↩
-
Jean-Baptiste-Camille Corot, Salvator Rosa và William-Adolphe Bouguereau là những họa sĩ nổi tiếng của Pháp và Ý thế kỷ 19. ↩
-
Upper Norwood là một khu vực nằm ở phía nam London. Vào thời Victoria, đây là một khu ngoại ô phát triển mạnh mẽ và thường được giới trung lưu hoặc những người có tài sản chọn làm nơi sinh sống nhờ vị trí cao ráo, không khí trong lành hơn trung tâm thành phố. ↩
-
Chứng lách to (enlarged spleen hay splenomegaly) thường là di chứng của căn bệnh sốt rét, một căn bệnh nhiệt đới rất phổ biến mà những quân nhân Anh phục vụ tại Ấn Độ thời bấy giờ như Thiếu tá Sholto thường mắc phải. ↩
-
Quinine (kí ninh) là một loại thuốc chiết xuất từ vỏ cây canh ki na, được sử dụng phổ biến vào thế kỷ 19 để phòng ngừa và điều trị bệnh sốt rét. ↩
-
Agra là một thành phố cổ kính ở phía bắc Ấn Độ, từng là thủ đô của Đế quốc Mughal hùng mạnh và nổi tiếng với đền Taj Mahal. ↩
-
Đây là một câu nói tiếng Pháp mang ý nghĩa 'Gu thẩm mỹ tồi tệ sẽ dẫn đến tội ác'. ↩
-
Lông cừu Astrakhan (hay lông cừu Karakul) là loại lông có nguồn gốc từ vùng Trung Á, đặc trưng bởi những lọn lông xoăn tít, đen bóng và mềm mại. Đây là một chất liệu xa xỉ vào thời Victoria, thể hiện lối sống vương giả và sự chú trọng đến từng chi tiết nhỏ của Thaddeus. ↩
-
Dầu thầu dầu thường được dùng làm thuốc nhuận tràng, trong khi strychnine là một chất kịch độc. Việc Watson (vốn là bác sĩ) bị phân tâm đến mức khuyên ngược lại hoàn toàn công dụng thực tế của chúng đã thể hiện sự bối rối và choáng váng của ông trước thông tin cô Morstan sắp trở thành người thừa kế. ↩
Chapter IV The Story of the Bald-Headed Man
We followed the Indian down a sordid and common passage, ill-lit and worse furnished, until he came to a door upon the right, which he threw open. A blaze of yellow light streamed out upon us, and in the centre of the glare there stood a small man with a very high head, a bristle of red hair all round the fringe of it, and a bald, shining scalp which shot out from among it like a mountain-peak from fir-trees. He writhed his hands together as he stood, and his features were in a perpetual jerk, now smiling, now scowling, but never for an instant in repose. Nature had given him a pendulous lip, and a too visible line of yellow and irregular teeth, which he strove feebly to conceal by constantly passing his hand over the lower part of his face. In spite of his obtrusive baldness, he gave the impression of youth. In point of fact he had just turned his thirtieth year.
“Your servant, Miss Morstan,” he kept repeating, in a thin, high voice. “Your servant, gentlemen. Pray step into my little sanctum. A small place, miss, but furnished to my own liking. An oasis of art in the howling desert of South London.”
We were all astonished by the appearance of the apartment into which he invited us. In that sorry house it looked as out of place as a diamond of the first water in a setting of brass. The richest and glossiest of curtains and tapestries draped the walls, looped back here and there to expose some richly-mounted painting or Oriental vase. The carpet was of amber-and-black, so soft and so thick that the foot sank pleasantly into it, as into a bed of moss. Two great tiger-skins thrown athwart it increased the suggestion of Eastern luxury, as did a huge hookah which stood upon a mat in the corner. A lamp in the fashion of a silver dove was hung from an almost invisible golden wire in the centre of the room. As it burned it filled the air with a subtle and aromatic odour.
“Mr. Thaddeus Sholto,” said the little man, still jerking and smiling. “That is my name. You are Miss Morstan, of course. And these gentlemen-”
“This is Mr. Sherlock Holmes, and this is Dr. Watson.”
“A doctor, eh?” cried he, much excited. “Have you your stethoscope? Might I ask you-would you have the kindness? I have grave doubts as to my mitral valve, if you would be so very good. The aortic I may rely upon, but I should value your opinion upon the mitral.”
I listened to his heart, as requested, but was unable to find anything amiss, save indeed that he was in an ecstasy of fear, for he shivered from head to foot. “It appears to be normal,” I said. “You have no cause for uneasiness.”
“You will excuse my anxiety, Miss Morstan,” he remarked, airily. “I am a great sufferer, and I have long had suspicions as to that valve. I am delighted to hear that they are unwarranted. Had your father, Miss Morstan, refrained from throwing a strain upon his heart, he might have been alive now.”
I could have struck the man across the face, so hot was I at this callous and off-hand reference to so delicate a matter. Miss Morstan sat down, and her face grew white to the lips. “I knew in my heart that he was dead,” said she.
“I can give you every information,” said he, “and, what is more, I can do you justice; and I will, too, whatever Brother Bartholomew may say. I am so glad to have your friends here, not only as an escort to you, but also as witnesses to what I am about to do and say. The three of us can show a bold front to Brother Bartholomew. But let us have no outsiders,-no police or officials. We can settle everything satisfactorily among ourselves, without any interference. Nothing would annoy Brother Bartholomew more than any publicity.” He sat down upon a low settee and blinked at us inquiringly with his weak, watery blue eyes.
“For my part,” said Holmes, “whatever you may choose to say will go no further.”
I nodded to show my agreement.
“That is well! That is well!” said he. “May I offer you a glass of Chianti, Miss Morstan? Or of Tokay? I keep no other wines. Shall I open a flask? No? Well, then, I trust that you have no objection to tobacco-smoke, to the mild balsamic odour of the Eastern tobacco. I am a little nervous, and I find my hookah an invaluable sedative.” He applied a taper to the great bowl, and the smoke bubbled merrily through the rose-water. We sat all three in a semi-circle, with our heads advanced, and our chins upon our hands, while the strange, jerky little fellow, with his high, shining head, puffed uneasily in the centre.
“When I first determined to make this communication to you,” said he, “I might have given you my address, but I feared that you might disregard my request and bring unpleasant people with you. I took the liberty, therefore, of making an appointment in such a way that my man Williams might be able to see you first. I have complete confidence in his discretion, and he had orders, if he were dissatisfied, to proceed no further in the matter. You will excuse these precautions, but I am a man of somewhat retiring, and I might even say refined, tastes, and there is nothing more unæsthetic than a policeman. I have a natural shrinking from all forms of rough materialism. I seldom come in contact with the rough crowd. I live, as you see, with some little atmosphere of elegance around me. I may call myself a patron of the arts. It is my weakness. The landscape is a genuine Corot, and, though a connoisseur might perhaps throw a doubt upon that Salvator Rosa, there cannot be the least question about the Bouguereau. I am partial to the modern French school.”
“You will excuse me, Mr. Sholto,” said Miss Morstan, “but I am here at your request to learn something which you desire to tell me. It is very late, and I should desire the interview to be as short as possible.”
“At the best it must take some time,” he answered; “for we shall certainly have to go to Norwood and see Brother Bartholomew. We shall all go and try if we can get the better of Brother Bartholomew. He is very angry with me for taking the course which has seemed right to me. I had quite high words with him last night. You cannot imagine what a terrible fellow he is when he is angry.”
“If we are to go to Norwood it would perhaps be as well to start at once,” I ventured to remark.
He laughed until his ears were quite red. “That would hardly do,” he cried. “I don’t know what he would say if I brought you in that sudden way. No, I must prepare you by showing you how we all stand to each other. In the first place, I must tell you that there are several points in the story of which I am myself ignorant. I can only lay the facts before you as far as I know them myself.
“My father was, as you may have guessed, Major John Sholto, once of the Indian army. He retired some eleven years ago, and came to live at Pondicherry Lodge in Upper Norwood. He had prospered in India, and brought back with him a considerable sum of money, a large collection of valuable curiosities, and a staff of native servants. With these advantages he bought himself a house, and lived in great luxury. My twin-brother Bartholomew and I were the only children.
“I very well remember the sensation which was caused by the disappearance of Captain Morstan. We read the details in the papers, and, knowing that he had been a friend of our father’s, we discussed the case freely in his presence. He used to join in our speculations as to what could have happened. Never for an instant did we suspect that he had the whole secret hidden in his own breast,-that of all men he alone knew the fate of Arthur Morstan.
“We did know, however, that some mystery-some positive danger-overhung our father. He was very fearful of going out alone, and he always employed two prize-fighters to act as porters at Pondicherry Lodge. Williams, who drove you to-night, was one of them. He was once light-weight champion of England. Our father would never tell us what it was he feared, but he had a most marked aversion to men with wooden legs. On one occasion he actually fired his revolver at a wooden-legged man, who proved to be a harmless tradesman canvassing for orders. We had to pay a large sum to hush the matter up. My brother and I used to think this a mere whim of my father’s, but events have since led us to change our opinion.
“Early in 1882 my father received a letter from India which was a great shock to him. He nearly fainted at the breakfast-table when he opened it, and from that day he sickened to his death. What was in the letter we could never discover, but I could see as he held it that it was short and written in a scrawling hand. He had suffered for years from an enlarged spleen, but he now became rapidly worse, and towards the end of April we were informed that he was beyond all hope, and that he wished to make a last communication to us.
“When we entered his room he was propped up with pillows and breathing heavily. He besought us to lock the door and to come upon either side of the bed. Then, grasping our hands, he made a remarkable statement to us, in a voice which was broken as much by emotion as by pain. I shall try and give it to you in his own very words.
“‘I have only one thing,’ he said, ‘which weighs upon my mind at this supreme moment. It is my treatment of poor Morstan’s orphan. The cursed greed which has been my besetting sin through life has withheld from her the treasure, half at least of which should have been hers. And yet I have made no use of it myself,-so blind and foolish a thing is avarice. The mere feeling of possession has been so dear to me that I could not bear to share it with another. See that chaplet dipped with pearls beside the quinine-bottle. Even that I could not bear to part with, although I had got it out with the design of sending it to her. You, my sons, will give her a fair share of the Agra treasure. But send her nothing-not even the chaplet-until I am gone. After all, men have been as bad as this and have recovered.
“‘I will tell you how Morstan died,’ he continued. ‘He had suffered for years from a weak heart, but he concealed it from every one. I alone knew it. When in India, he and I, through a remarkable chain of circumstances, came into possession of a considerable treasure. I brought it over to England, and on the night of Morstan’s arrival he came straight over here to claim his share. He walked over from the station, and was admitted by my faithful old Lal Chowdar, who is now dead. Morstan and I had a difference of opinion as to the division of the treasure, and we came to heated words. Morstan had sprung out of his chair in a paroxysm of anger, when he suddenly pressed his hand to his side, his face turned a dusky hue, and he fell backwards, cutting his head against the corner of the treasure-chest. When I stooped over him I found, to my horror, that he was dead.
“‘For a long time I sat half distracted, wondering what I should do. My first impulse was, of course, to call for assistance; but I could not but recognise that there was every chance that I would be accused of his murder. His death at the moment of a quarrel, and the gash in his head, would be black against me. Again, an official inquiry could not be made without bringing out some facts about the treasure, which I was particularly anxious to keep secret. He had told me that no soul upon earth knew where he had gone. There seemed to be no necessity why any soul ever should know.
“‘I was still pondering over the matter, when, looking up, I saw my servant, Lal Chowdar, in the doorway. He stole in and bolted the door behind him. “Do not fear, Sahib,” he said. “No one need know that you have killed him. Let us hide him away, and who is the wiser?” “I did not kill him,” said I. Lal Chowdar shook his head and smiled. “I heard it all, Sahib,” said he. “I heard you quarrel, and I heard the blow. But my lips are sealed. All are asleep in the house. Let us put him away together.” That was enough to decide me. If my own servant could not believe my innocence, how could I hope to make it good before twelve foolish tradesmen in a jury-box? Lal Chowdar and I disposed of the body that night, and within a few days the London papers were full of the mysterious disappearance of Captain Morstan. You will see from what I say that I can hardly be blamed in the matter. My fault lies in the fact that we concealed not only the body, but also the treasure, and that I have clung to Morstan’s share as well as to my own. I wish you, therefore, to make restitution. Put your ears down to my mouth. The treasure is hidden in-’
“At this instant a horrible change came over his expression; his eyes stared wildly, his jaw dropped, and he yelled, in a voice which I can never forget, ‘Keep him out! For Christ’s sake keep him out!’ We both stared round at the window behind us upon which his gaze was fixed. A face was looking in at us out of the darkness. We could see the whitening of the nose where it was pressed against the glass. It was a bearded, hairy face, with wild cruel eyes and an expression of concentrated malevolence. My brother and I rushed towards the window, but the man was gone. When we returned to my father his head had dropped and his pulse had ceased to beat.
“We searched the garden that night, but found no sign of the intruder, save that just under the window a single footmark was visible in the flower-bed. But for that one trace, we might have thought that our imaginations had conjured up that wild, fierce face. We soon, however, had another and a more striking proof that there were secret agencies at work all round us. The window of my father’s room was found open in the morning, his cupboards and boxes had been rifled, and upon his chest was fixed a torn piece of paper, with the words ‘The sign of the four’ scrawled across it. What the phrase meant, or who our secret visitor may have been, we never knew. As far as we can judge, none of my father’s property had been actually stolen, though everything had been turned out. My brother and I naturally associated this peculiar incident with the fear which haunted my father during his life; but it is still a complete mystery to us.”
The little man stopped to relight his hookah and puffed thoughtfully for a few moments. We had all sat absorbed, listening to his extraordinary narrative. At the short account of her father’s death Miss Morstan had turned deadly white, and for a moment I feared that she was about to faint. She rallied however, on drinking a glass of water which I quietly poured out for her from a Venetian carafe upon the side-table. Sherlock Holmes leaned back in his chair with an abstracted expression and the lids drawn low over his glittering eyes. As I glanced at him I could not but think how on that very day he had complained bitterly of the commonplaceness of life. Here at least was a problem which would tax his sagacity to the utmost. Mr. Thaddeus Sholto looked from one to the other of us with an obvious pride at the effect which his story had produced, and then continued between the puffs of his overgrown pipe.
“My brother and I,” said he, “were, as you may imagine, much excited as to the treasure which my father had spoken of. For weeks and for months we dug and delved in every part of the garden, without discovering its whereabouts. It was maddening to think that the hiding-place was on his very lips at the moment that he died. We could judge the splendour of the missing riches by the chaplet which he had taken out. Over this chaplet my brother Bartholomew and I had some little discussion. The pearls were evidently of great value, and he was averse to part with them, for, between friends, my brother was himself a little inclined to my father’s fault. He thought, too, that if we parted with the chaplet it might give rise to gossip and finally bring us into trouble. It was all that I could do to persuade him to let me find out Miss Morstan’s address and send her a detached pearl at fixed intervals, so that at least she might never feel destitute.”
“It was a kindly thought,” said our companion, earnestly. “It was extremely good of you.”
The little man waved his hand deprecatingly. “We were your trustees,” he said. “That was the view which I took of it, though Brother Bartholomew could not altogether see it in that light. We had plenty of money ourselves. I desired no more. Besides, it would have been such bad taste to have treated a young lady in so scurvy a fashion. ‘Le mauvais goût mène au crime.’ The French have a very neat way of putting these things. Our difference of opinion on this subject went so far that I thought it best to set up rooms for myself: so I left Pondicherry Lodge, taking the old khitmutgar and Williams with me. Yesterday, however, I learn that an event of extreme importance has occurred. The treasure has been discovered. I instantly communicated with Miss Morstan, and it only remains for us to drive out to Norwood and demand our share. I explained my views last night to Brother Bartholomew: so we shall be expected, if not welcome, visitors.”
Mr. Thaddeus Sholto ceased, and sat twitching on his luxurious settee. We all remained silent, with our thoughts upon the new development which the mysterious business had taken. Holmes was the first to spring to his feet.
“You have done well, sir, from first to last,” said he. “It is possible that we may be able to make you some small return by throwing some light upon that which is still dark to you. But, as Miss Morstan remarked just now, it is late, and we had best put the matter through without delay.”
Our new acquaintance very deliberately coiled up the tube of his hookah, and produced from behind a curtain a very long befrogged topcoat with Astrakhan collar and cuffs. This he buttoned tightly up, in spite of the extreme closeness of the night, and finished his attire by putting on a rabbit-skin cap with hanging lappets which covered the ears, so that no part of him was visible save his mobile and peaky face. “My health is somewhat fragile,” he remarked, as he led the way down the passage. “I am compelled to be a valetudinarian.”
Our cab was awaiting us outside, and our programme was evidently prearranged, for the driver started off at once at a rapid pace. Thaddeus Sholto talked incessantly, in a voice which rose high above the rattle of the wheels.
“Bartholomew is a clever fellow,” said he. “How do you think he found out where the treasure was? He had come to the conclusion that it was somewhere indoors: so he worked out all the cubic space of the house, and made measurements everywhere, so that not one inch should be unaccounted for. Among other things, he found that the height of the building was seventy-four feet, but on adding together the heights of all the separate rooms, and making every allowance for the space between, which he ascertained by borings, he could not bring the total to more than seventy feet. There were four feet unaccounted for. These could only be at the top of the building. He knocked a hole, therefore, in the lath-and-plaster ceiling of the highest room, and there, sure enough, he came upon another little garret above it, which had been sealed up and was known to no one. In the centre stood the treasure-chest, resting upon two rafters. He lowered it through the hole, and there it lies. He computes the value of the jewels at not less than half a million sterling.”
At the mention of this gigantic sum we all stared at one another open-eyed. Miss Morstan, could we secure her rights, would change from a needy governess to the richest heiress in England. Surely it was the place of a loyal friend to rejoice at such news; yet I am ashamed to say that selfishness took me by the soul, and that my heart turned as heavy as lead within me. I stammered out some few halting words of congratulation, and then sat downcast, with my head drooped, deaf to the babble of our new acquaintance. He was clearly a confirmed hypochondriac, and I was dreamily conscious that he was pouring forth interminable trains of symptoms, and imploring information as to the composition and action of innumerable quack nostrums, some of which he bore about in a leather case in his pocket. I trust that he may not remember any of the answers which I gave him that night. Holmes declares that he overheard me caution him against the great danger of taking more than two drops of castor oil, while I recommended strychnine in large doses as a sedative. However that may be, I was certainly relieved when our cab pulled up with a jerk and the coachman sprang down to open the door.
“This, Miss Morstan, is Pondicherry Lodge,” said Mr. Thaddeus Sholto, as he handed her out.