🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG IX. MỘT MẮT XÍCH ĐỨT ĐOẠN

Mãi đến tận chiều muộn tôi mới tỉnh giấc, cảm thấy cơ thể sảng khoái và đầu óc tỉnh táo lạ thường. Sherlock Holmes vẫn ngồi y nguyên chỗ cũ, chỉ khác là cây vĩ cầm đã được anh đặt sang một bên, thay vào đó là một cuốn sách đang mở trên tay. Nghe tiếng tôi cựa mình, anh ngước mắt lên, để lộ một gương mặt nhuốm đầy vẻ u ám và muộn phiền.

"Anh ngủ say quá đấy," anh nhận xét. "Tôi cứ sợ cuộc trò chuyện của chúng ta làm anh thức giấc."

"Tôi chẳng nghe thấy gì hết," tôi thú thật. "Thế có tin tức gì mới không?"

"Rất tiếc là không. Tôi buộc phải thừa nhận mình đang vô cùng ngạc nhiên mà cũng đầy thất vọng. Lẽ ra giờ này tôi phải nắm được tin tức rõ ràng rồi mới phải. Wiggins vừa ghé qua báo cáo. Thằng bé nói không hề tìm thấy một dấu vết nào của chiếc ca nô. Quả là một trở ngại làm người ta phát cáu, bởi mỗi giờ trôi qua lúc này đều quý hơn vàng."

"Tôi có thể giúp gì không? Hiện tôi đang rất sung sức, sẵn sàng cho một đêm ra ngoài nữa đây."

"Không, giờ mình chẳng làm được gì đâu, chỉ còn cách chờ đợi thôi. Nếu chúng ta tự tiện lên đường mà tin tức lại đến lúc vắng mặt thì mọi chuyện càng thêm chậm trễ. Anh cứ làm những gì anh thích, nhưng tôi thì phải ở lại đây túc trực."

"Vậy tôi sẽ chạy sang Camberwell một chuyến để thăm bà Cecil Forrester. Hôm qua bà ấy có dặn tôi ghé qua."

"Ồ, thăm bà Cecil Forrester ư?" Holmes hỏi vặn, trong đáy mắt lấp lánh nét cười tinh nghịch.

"Chà, thì đương nhiên là cả cô Morstan nữa chứ. Họ đang nóng lòng muốn biết chuyện gì đã xảy ra."

"Tôi sẽ chẳng kể cho họ quá nhiều đâu," Holmes đáp. "Phụ nữ ấy mà, ngay cả những người tốt nhất cũng chẳng bao giờ đáng tin hoàn toàn."

Tôi chẳng buồn dừng lại cãi nhau về quan điểm tồi tệ này. "Tôi sẽ về trong một hai giờ nữa," tôi nói.

"Được thôi! Chúc may mắn! À mà này, tiện đường qua sông thì anh trả luôn con Toby nhé, vì tôi nghĩ chúng ta sẽ chẳng còn cần đến nó nữa đâu."

Thế là tôi dắt con chó lai đi và gửi trả nó, kèm nửa đồng sovereign1, tại nhà ông lão thợ nhồi bông thú2 ở ngõ Pinchin. Tới Camberwell, tôi thấy cô Morstan trông hơi mệt mỏi sau những gì đã trải qua đêm trước, nhưng vẫn vô cùng háo hức muốn nghe tin mới. Bà Forrester cũng tò mò không kém. Tôi kể cho họ toàn bộ những gì chúng tôi đã làm, chỉ giấu đi những tình tiết rùng rợn nhất của thảm kịch. Vì thế, dù có nhắc tới cái chết của ông Sholto, tôi tuyệt nhiên không đề cập gì đến cách thức và nguyên nhân chính xác. Nhưng ngay cả khi đã được lược bỏ đi kha khá chi tiết, câu chuyện vẫn đủ sức khiến họ sửng sốt và kinh ngạc.

"Quả là một câu chuyện lãng mạn hết chỗ nói!" bà Forrester thốt lên. "Một tiểu thư bị ức hiếp, một kho báu nửa triệu bảng, một kẻ ăn thịt người da đen, và một tên ác ôn chân gỗ. Bọn họ thế chỗ cho lũ rồng với lũ bá tước gian ác trong truyện cổ rồi còn gì."

"Và lại còn hai chàng hiệp sĩ giang hồ đến giải cứu nữa," cô Morstan tiếp lời, ném về phía tôi một ánh nhìn rạng rỡ.

"Nhưng Mary này, cả tương lai của cô đều phụ thuộc vào kết quả của cuộc truy tìm đây. Tôi thấy cô có vẻ chưa đủ háo hức lắm thì phải. Thử nghĩ mà xem, trở nên giàu có đến thế, cả thế giới nằm dưới chân mình thì sẽ ra sao nhỉ!"

Tim tôi khẽ rung lên một niềm vui sướng khi nhận ra cô ấy chẳng hề phấn khích trước viễn cảnh ấy. Trái lại, cô kiêu hãnh hất nhẹ đầu, dường như đó là chuyện cô chẳng mấy bận tâm.

"Tôi chỉ lo lắng cho ông Thaddeus Sholto thôi," cô nói. "Những chuyện khác chẳng có nghĩa lý gì hết. Nhưng tôi thấy từ đầu đến cuối, ông ấy đã cư xử rất đỗi tử tế và đáng kính. Nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là phải minh oan cho ông ấy khỏi lời buộc tội khủng khiếp và hoàn toàn vô căn cứ này."

Lúc tôi rời Camberwell thì trời đã chạng vạng, và khi về tới nhà thì màn đêm đã buông hẳn. Cuốn sách và tẩu thuốc của bạn tôi vẫn còn nằm bên cạnh ghế, nhưng chủ nhân của chúng thì đã biến mất. Tôi đảo mắt nhìn quanh, hy vọng tìm thấy một mẩu giấy nhắn, song chẳng có gì hết.

"Tôi đoán là ông Sherlock Holmes đã đi ra ngoài rồi," tôi nói với bà Hudson khi bà bước vào kéo rèm.

"Không thưa ngài, cậu ấy ở trong phòng mình rồi ạ. Ngài biết không," bà hạ giọng xuống thành tiếng thì thầm đầy vẻ nghiêm trọng, "tôi đang lo cho sức khỏe của cậu ấy lắm."

"Sao thế ạ, bà Hudson?"

"Thì cậu ấy lạ lắm, thưa ngài. Sau khi ngài đi, cậu ấy cứ đi tới đi lui, đi tới đi lui mãi, tới mức tiếng bước chân làm tôi phát mệt. Rồi tôi nghe thấy cậu ấy lẩm bẩm một mình, và mỗi lần có tiếng chuông reo là cậu ấy lại phóng ra đầu cầu thang mà hỏi: 'Có chuyện gì thế, bà Hudson?'. Còn giờ thì cậu ấy đóng sầm cửa phòng lại rồi, nhưng tôi vẫn nghe tiếng cậu ấy đi đi lại lại như cũ. Tôi mong là cậu ấy không định ốm đấy chứ. Tôi có đánh bạo khuyên cậu ấy uống tí thuốc giải nhiệt, vậy mà cậu ấy quay ngoắt lại nhìn tôi, thưa ngài, bằng một ánh mắt khiến giờ nghĩ lại tôi vẫn còn chưa hiểu sao mình thoát ra khỏi phòng được nữa."

"Tôi không nghĩ bà có lý do gì để bất an đâu, bà Hudson," tôi trấn an. "Tôi đã từng thấy anh ấy như thế này rồi. Chỉ là anh ấy đang có chút chuyện bận tâm nên mới bồn chồn thế thôi."

Tôi cố nói thật nhẹ nhàng với bà chủ nhà đáng kính của chúng tôi, nhưng lòng tôi cũng không khỏi lo âu khi suốt đêm dài ấy, thỉnh thoảng tôi lại nghe vọng lên âm thanh trầm đục từ những bước chân của anh. Và tôi hiểu rằng, bộ óc nhạy bén kia đang bị cọ xát dữ dội đến nhường nào trước sự đình trệ ngoài ý muốn này.

Đến giờ điểm tâm, trông anh tiều tụy hẳn đi, hốc hác với những vệt đỏ ửng lên như người đang lên cơn sốt hằn trên hai gò má.

"Anh đang tự vắt kiệt mình đấy, anh bạn ạ," tôi lên tiếng. "Đêm qua tôi nghe thấy tiếng anh đi đi lại lại suốt."

"Tôi chẳng tài nào chợp mắt nổi," anh đáp. "Cái vấn đề khốn khổ này đang bào mòn tôi từng chút một. Thật quá sức chịu đựng khi mọi thứ đều đã được tháo gỡ, vậy mà lại bị chặn đứng bởi một chướng ngại vụn vặt đến thế. Tôi biết rõ bọn chúng là ai, biết chiếc ca-nô, biết tất tần tật mọi thứ; thế nhưng chẳng có lấy một mẩu tin tức nào lọt đến tai tôi. Tôi đã tung hết đội nhóm của mình ra, dốc toàn bộ phương tiện sẵn có vào cuộc. Cả hai bờ sông đều đã bị lùng sục kỹ càng, vậy mà chẳng thu được tin tức gì, bà Smith cũng chưa hề nhận được lời nào từ chồng. Có lẽ chẳng mấy chốc tôi sẽ buộc phải đi đến kết luận rằng bọn chúng đã đánh đắm con tàu. Nhưng chính kết luận ấy lại chứa đựng những điểm phi lý không thể nào chấp nhận nổi."

"Hay là bà Smith đã dẫn chúng ta vào một manh mối giả?"

"Không, tôi nghĩ ta có thể gạt bỏ giả thuyết ấy rồi. Tôi đã cho người dò hỏi khắp nơi, và đúng là có một chiếc ca-nô mang những đặc điểm y hệt như lời bà ta mô tả."

"Nhưng liệu nó có khả năng đã chạy ngược lên thượng nguồn hay không?"

"Tôi cũng đã nghĩ tới khả năng đó rồi, và đã cử một đội tìm kiếm tiến lên tận Richmond. Nếu hôm nay vẫn không có tin tức gì, thì ngày mai tôi sẽ đích thân lên đường, và lần này tôi sẽ truy lùng chính bọn chúng, chứ không phải chỉ tìm con thuyền nữa. Nhưng chắc chắn, chắc chắn rồi chúng ta sẽ nhận được tin."

Thế nhưng chúng tôi chẳng nhận được tin tức gì cả. Không một báo cáo nào từ Wiggins hay từ bất kỳ đội nhóm nào khác. Hầu hết các tờ báo đều đăng bài về thảm kịch ở Norwood. Tất cả dường như đều tỏ thái độ khá thù địch đối với ông Thaddeus Sholto tội nghiệp. Tuy vậy, chẳng tờ báo nào moi ra được tình tiết mới nào, ngoại trừ việc một phiên điều tra sẽ được mở ra vào ngày hôm sau. Buổi tối hôm ấy, tôi cuốc bộ sang Camberwell để báo tin thất bại cho hai người phụ nữ, và lúc trở về, tôi thấy Holmes đang chìm trong nỗi chán chường, ủ rũ khác thường. Anh hầu như chẳng buồn đáp lại những câu hỏi của tôi, mà cắm cúi suốt cả buổi tối vào một cuộc phân tích hóa học hết sức phức tạp, đòi hỏi phải nung nóng những chiếc bình thót cổ và chưng cất hơi nước liên miên, để rồi cuối cùng tỏa ra một thứ mùi hôi thối đến nỗi tống thẳng tôi ra khỏi phòng. Mãi cho đến tận những giờ đầu tiên của buổi sớm mai, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng leng keng của những ống nghiệm, báo cho tôi hay rằng anh vẫn đang mải miết với cái thí nghiệm bốc mùi kinh khủng ấy.

Vào lúc rạng đông, tôi giật mình thức giấc, và sững sờ khi thấy anh đứng ngay bên mép giường, khoác trên mình một bộ đồ thủy thủ thô kệch với chiếc áo khoác dạ, quàng quanh cổ một chiếc khăn choàng đỏ sẫm bằng vải thô.

"Tôi sắp xuống sông đây, Watson," anh nói. "Tôi đã vắt óc suy nghĩ kỹ lắm rồi, và chỉ còn thấy đúng một lối thoát duy nhất cho vụ này. Dù thế nào thì cũng đáng để thử."

"Vậy thì tôi nhất định phải đi cùng anh chứ?" tôi hỏi.

"Không; anh sẽ hữu ích hơn nhiều nếu ở lại đây làm đại diện cho tôi. Tôi cũng chẳng muốn đi chút nào, bởi rất có thể hôm nay sẽ có tin nhắn gửi về, dù tối qua Wiggins có vẻ khá bi quan về chuyện đó. Tôi muốn anh mở tất cả thư từ và điện tín, rồi cứ theo phán đoán của mình mà hành động nếu có tin tức báo về. Tôi có thể trông cậy vào anh chứ?"

"Chắc chắn rồi."

"Tôi e rằng anh sẽ không thể đánh điện cho tôi được, vì chính tôi cũng khó lòng biết trước mình sẽ ở đâu. Nhưng nếu may mắn, có lẽ tôi cũng sẽ không đi quá lâu đâu. Tôi sẽ kiếm được tin tức gì đó trước khi quay về."

Cho đến giờ điểm tâm, tôi vẫn chưa nhận được tin tức gì từ anh. Tuy nhiên, khi mở tờ Standard, tôi thấy có thêm một bài viết nhắc đến vụ việc. Bài báo viết: "Liên quan đến thảm kịch ở Upper Norwood, chúng tôi có lý do để tin rằng vụ án này hứa hẹn sẽ còn phức tạp và bí ẩn hơn những gì người ta tưởng tượng ban đầu. Bằng chứng mới đã cho thấy ông Thaddeus Sholto hoàn toàn không thể dính líu đến vụ việc dưới bất kỳ hình thức nào. Ông và bà quản gia, bà Bernstone, đều đã được thả vào tối hôm qua. Tuy nhiên, có thông tin cho rằng cảnh sát đã nắm được manh mối về những kẻ thủ ác thực sự, và ông Athelney Jones thuộc Scotland Yard3 đang tiến hành điều tra với tất cả năng lượng và sự sắc sảo vốn có của mình. Những vụ bắt giữ tiếp theo có thể diễn ra vào bất kỳ lúc nào."

"Như thế là cũng tạm ổn rồi," tôi nghĩ thầm. "Ít ra thì anh bạn Sholto cũng đã an toàn. Không biết manh mối mới có thể là gì nhỉ; mặc dù có vẻ như đó chỉ là một kiểu nói rập khuôn mỗi khi cảnh sát phạm sai lầm."

Tôi quăng tờ báo xuống bàn, nhưng đúng lúc đó mắt tôi bắt gặp một mẩu quảng cáo ở cột tìm người. Nó được viết như sau:

"Tìm người lạc. - Vì lái đò Mordecai Smith cùng con trai Jim đã rời Bến Smith vào khoảng ba giờ sáng Thứ Ba tuần trước trên chiếc ca-nô hơi nước Aurora, màu đen với hai sọc đỏ, ống khói đen có dải màu trắng, khoản tiền năm bảng Anh sẽ được trao cho bất kỳ ai có thể cung cấp thông tin cho bà Smith tại Bến Smith, hoặc tại 221b phố Baker, về tung tích của ông Mordecai Smith nói trên cùng chiếc cano Aurora."

Rõ ràng đây là việc làm của Holmes. Địa chỉ ở Baker Street đã đủ để chứng minh điều đó. Tôi thấy mưu kế này khá khéo léo, bởi vì nếu những kẻ chạy trốn có đọc được, bọn chúng cũng chỉ coi đó là sự lo lắng tự nhiên của một người vợ dành cho người chồng mất tích mà thôi.

Quả là một ngày dài đằng đẵng. Mỗi khi có tiếng gõ cửa, hoặc một bước chân dứt khoát lướt qua trên phố, tôi lại tưởng tượng ra đó là Holmes trở về, hoặc là có người đến đáp lại mẩu quảng cáo của anh. Tôi cố gắng đọc sách, nhưng tâm trí tôi lại cứ đi lang thang về nhiệm vụ kỳ lạ của chúng tôi, và về cặp bài trùng hung ác, lạc quẻ mà chúng tôi đang truy lùng. Tôi tự hỏi, liệu có thể có một lỗ hổng cơ bản nào đó trong suy luận của bạn tôi chăng. Có lẽ nào anh đang vướng vào một sự tự huyễn hoặc khổng lồ? Chẳng lẽ tâm trí nhạy bén và suy đoán của anh lại không thể xây dựng nên lý thuyết điên rồ này trên những tiền đề sai lầm sao? Tôi chưa từng thấy anh sai lầm bao giờ; thế nhưng ngay cả người suy luận sắc sảo nhất cũng có lúc bị đánh lừa. Tôi nghĩ, anh rất dễ rơi vào sai lầm thông qua sự tinh vi quá mức trong lập luận của mình - sự thiên vị của anh dành cho những lời giải thích tinh vi và kỳ quái, trong khi một lời giải thích đơn giản và phổ biến hơn đang nằm ngay trong tầm tay. Tuy nhiên, mặt khác, bản thân tôi đã tận mắt nhìn thấy các bằng chứng, và tôi đã nghe những lý lẽ cho các suy luận của anh. Khi tôi nhìn lại chuỗi dài những tình tiết kỳ lạ, mà nhiều trong số đó vốn dĩ rất tầm thường, nhưng tất cả đều hướng về cùng một phía, tôi không thể giấu giếm bản thân rằng ngay cả khi lời giải thích của Holmes không chính xác, thì lý thuyết thực sự hẳn cũng phải outré và đáng kinh ngạc không kém.

Vào lúc ba giờ chiều, một hồi chuông lớn vang lên, tiếp theo là một giọng nói đầy uy quyền ngoài sảnh, và trước sự ngạc nhiên của tôi, người xuất hiện trước mặt tôi không ai khác chính là ông Athelney Jones. Tuy nhiên, ông ta khác hẳn với vị giáo sư tự phụ và thô lỗ của lẽ thường, người đã tự tin tiếp quản vụ án tại Upper Norwood. Vẻ mặt ông ta tiu nghỉu, và thái độ thì hiền lành, thậm chí là có phần hối lỗi.

"Chào ông, thưa ông; chào ông," ông ta nói. "Tôi hiểu là ông Sherlock Holmes đã ra ngoài rồi."

"Vâng, và tôi không dám chắc khi nào anh ấy sẽ quay về. Nhưng có lẽ ông muốn ngồi đợi. Mời ông ngồi chiếc ghế kia và thử dùng một điếu xì gà này xem."

"Cảm ơn ông; vậy tôi xin phép," ông ta nói, vừa lau mặt bằng một chiếc khăn tay bandanna4 màu đỏ.

"Ông dùng thêm chút rượu whiskey pha soda nhé?"

"Vâng, cho tôi nửa ly thôi. Dạo này thời tiết nóng nực quá; mà tôi lại có bao nhiêu chuyện phải lo lắng và mệt mỏi. Ông có biết giả thuyết của tôi về vụ án Norwood này không?"

"Tôi nhớ là ông có trình bày một giả thuyết."

"Chà, tôi đã buộc phải xem xét lại giả thuyết đó. Thưa ông, tôi đã giăng lưới thật chặt quanh ông Sholto rồi, thế mà vèo một cái, ông ta lọt qua một cái lỗ hổng ngay chính giữa tấm lưới. Ông ta có một bằng chứng ngoại phạm không thể lay chuyển. Từ lúc rời khỏi phòng anh trai mình, ông ta chưa từng lọt khỏi tầm mắt của một ai đó. Vì thế, người trèo qua các mái nhà và chui qua các cửa sập không thể là ông ta được. Đây là một vụ án rất mù mịt, và uy tín nghề nghiệp của tôi đang bị đe dọa. Tôi sẽ rất vui nếu nhận được chút trợ giúp."

"Đôi khi tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ mà," tôi nói.

"Thưa ông, bạn của ông, ông Sherlock Holmes, là một con người tuyệt vời," ông ta nói, bằng một giọng khàn khàn và đầy vẻ tâm tình. "Anh ấy là một người không thể bị đánh bại. Tôi đã biết chàng trai trẻ này tham gia vào rất nhiều vụ án, nhưng tôi chưa bao giờ thấy vụ án nào mà anh ấy không thể làm sáng tỏ. Dù phương pháp của anh ấy có hơi bất thường, và có lẽ hơi vội vàng khi đưa ra các giả thuyết, nhưng nhìn chung, tôi nghĩ anh ấy sẽ trở thành một sĩ quan đầy triển vọng, và tôi chẳng ngại gì mà không nói cho mọi người biết điều đó. Sáng nay tôi có nhận được một bức điện từ anh ấy, qua đó tôi hiểu rằng anh ấy đã có được vài manh mối về vụ Sholto này. Tin nhắn đây."

Ông ta lấy bức điện từ trong túi ra và đưa cho tôi. Nó được gửi đi từ Poplar vào lúc mười hai giờ. "Hãy đến Baker Street ngay lập tức," tin nhắn viết. "Nếu tôi chưa về, hãy đợi tôi. Tôi đang bám sát dấu vết của băng đảng Sholto. Ông có thể đi cùng chúng tôi vào tối nay nếu muốn có mặt ở phần kết."

"Nghe khả quan đấy chứ. Rõ ràng là anh ấy đã bắt được mùi trở lại rồi," tôi nói.

"A, vậy ra anh ấy cũng từng bị mất dấu," Jones kêu lên, với vẻ hài lòng ra mặt. "Ngay cả những người giỏi nhất trong chúng ta cũng có lúc bị đánh lạc hướng mà. Dĩ nhiên chuyện này có thể chỉ là một lời báo động giả; nhưng với tư cách là một sĩ quan pháp luật, bổn phận của tôi là không được phép để vuột mất bất kỳ cơ hội nào. Nhưng có ai đó đang ở ngoài cửa kìa. Có lẽ là anh ấy chăng."

Những bước chân nặng nề đang đi lên cầu thang, kèm theo những tiếng khò khè và sòng sọc lớn như phát ra từ một người đang khốn khổ vật lộn để thở. Một hai lần ông ta dừng lại, như thể việc leo lên là quá sức đối với mình, nhưng cuối cùng ông ta cũng đến được cửa phòng chúng tôi và bước vào. Diện mạo của ông ta hoàn toàn tương đồng với những âm thanh mà chúng tôi đã nghe thấy. Đó là một người đàn ông lớn tuổi, mặc trang phục đi biển, với chiếc áo khoác len thô cũ kỹ cài cúc lên tận cổ. Lưng ông ta còng xuống, hai đầu gối run rẩy, và hơi thở thì mang đầy vẻ hen suyễn đau đớn. Khi ông ta chống tay lên cây gậy gỗ sồi dày cộm, hai vai ông ta nhô lên trong nỗ lực kéo không khí vào phổi. Ông ta quàng một chiếc khăn màu quanh cằm, và tôi chẳng thể nhìn thấy mấy khuôn mặt ông ta, ngoại trừ đôi mắt đen sắc sảo, bị che khuất bởi hàng lông mày trắng rậm rạp, và bộ râu xám dài hai bên má. Nhìn chung, ông ta đem đến cho tôi ấn tượng về một vị thuyền trưởng đáng kính nhưng nay đã rơi vào tuổi già và sự nghèo khó.

"Có chuyện gì thế, ông bạn?" tôi hỏi.

Ông ta nhìn quanh bằng cái điệu bộ chậm rãi, từ tốn của tuổi già.

"Ông Sherlock Holmes có ở đây không?" ông ta hỏi.

"Không; nhưng tôi đang làm đại diện cho anh ấy. Ông có thể nói lại với tôi bất kỳ tin nhắn nào ông muốn gửi cho anh ấy."

"Tôi phải nói chuyện này với chính ổng cơ," ông ta nói.

"Nhưng tôi đã nói với ông là tôi đang làm đại diện cho anh ấy rồi mà. Có phải chuyện về con thuyền của Mordecai Smith không?"

"Đúng rồi. Tôi biết rõ nó ở đâu. Và tôi biết đám người ổng đang tìm hiện đang ở chỗ nào. Và tôi biết cả kho báu ở đâu nữa. Tôi biết tất cả."

"Vậy hãy nói cho tôi biết, rồi tôi sẽ thông báo cho anh ấy hay."

"Tôi phải nói chuyện này với ổng cơ," ông ta lặp lại, với sự bướng bỉnh cáu kỉnh của một người đã rất già.

"Được rồi, vậy ông phải đợi anh ấy thôi."

"Không, không; tôi không định phí cả một ngày chỉ để làm vừa lòng người khác đâu. Nếu ông Holmes không có ở đây, thì ông Holmes phải tự mình tìm ra thôi. Tôi chẳng quan tâm đến điệu bộ của hai người, và tôi sẽ không nói một lời nào sất."

Ông ta lê bước về phía cửa, nhưng Athelney Jones đã đứng chắn ngay trước mặt.

"Đợi chút đã, ông bạn," ông ta nói. "Ông có thông tin quan trọng, và ông không được phép bỏ đi. Dù ông có thích hay không thì chúng tôi cũng sẽ giữ ông lại cho đến khi bạn của chúng tôi trở về."

Lão già chạy những bước ngắn về phía cửa, nhưng khi Athelney Jones tựa tấm lưng rộng lớn của mình vào đó, ông ta liền nhận ra sự vô ích của việc chống cự.

"Đối xử với nhau hay thật đấy!" ông ta kêu lên, gõ mạnh cây gậy xuống sàn. "Tôi đến đây để gặp một quý ông, thế mà hai người, những kẻ tôi chưa từng gặp mặt trong đời, lại tóm lấy tôi và cư xử với tôi theo cái kiểu này!"

"Ông sẽ không bị thiệt thòi gì đâu," tôi nói. "Chúng tôi sẽ bồi thường cho ông vì đã làm mất thời gian của ông. Hãy ra ngồi trên ghế sofa đằng kia đi, ông sẽ không phải chờ lâu đâu."

Ông ta bước qua với vẻ mặt khá cau có, rồi ngồi xuống và chống hai tay lên mặt. Jones và tôi lại tiếp tục hút xì gà và trò chuyện. Tuy nhiên, đột nhiên, giọng nói của Holmes cất lên cắt ngang chúng tôi.

"Tôi nghĩ ông cũng nên mời tôi một điếu xì gà thì hơn," giọng nói ấy cất lên.

Cả hai chúng tôi cùng giật bắn người trên ghế. Holmes đang ngồi ngay sát bên cạnh, gương mặt ánh lên vẻ thích thú đầy trầm tĩnh.

"Holmes!" tôi kêu lên. "Anh đấy ư! Thế còn lão già kia?"

"Lão già ở ngay đây này," anh đáp, tay chìa ra một nhúm tóc bạc trắng. "Đây, - tóc giả, râu quai nón, lông mày, tất tần tật. Tôi cứ nghĩ màn hóa trang của mình cũng khá ổn, nhưng quả thực tôi không dám mơ rằng nó lại qua mặt được đến mức ấy."

"A, đồ xảo quyệt!" Jones thốt lên, mặt mày rạng rỡ đầy thích thú. "Ông mà làm diễn viên thì phải nói là xuất chúng, một diễn viên hiếm có đấy. Cái giọng ho khàn khàn đúng chất của lũ cùng khổ, và đôi chân run rẩy yếu ớt kia của ông - đáng giá mười bảng một tuần chứ chẳng đùa. Dẫu sao thì tôi cũng đã lờ mờ nhận ra ánh chớp trong mắt ông rồi. Ông thấy chưa, chẳng dễ gì mà ông thoát khỏi tay chúng tôi được."

"Tôi đã lê lết trong bộ dạng này suốt cả ngày trời đấy," anh nói, vừa châm điếu xì gà. "Ông thấy không, trong giới tội phạm giờ đây đã có kha khá kẻ biết mặt tôi rồi, - nhất là từ khi anh bạn của chúng ta khởi sự đem mấy vụ án của tôi ra in ấn xuất bản. Thế nên tôi chỉ còn cách ra chiến trường dưới những lớp ngụy trang đơn giản thế này thôi. Ông đã nhận được điện của tôi chứ?"

"Tôi nhận được rồi. Đó là lý do tôi có mặt ở đây."

"Vụ án của ông tiến triển ra sao rồi?"

"Mọi thứ đều tan thành mây khói hết. Tôi đành phải thả hai tù nhân, và cũng chẳng có bằng chứng gì để buộc tội hai kẻ kia."

"Đừng bận tâm. Chúng tôi sẽ trao cho ông hai cái tên khác thay thế. Nhưng ông phải đặt mình dưới sự chỉ huy của tôi. Mọi vinh quang chính thức sẽ thuộc về phần ông, chỉ có điều ông phải hành động đúng theo đường hướng mà tôi đã vạch ra. Đồng ý chứ?"

"Hoàn toàn đồng ý, miễn là ông giúp tôi tóm được bọn chúng."

"Vậy thì, trước hết tôi cần một chiếc thuyền cảnh sát tốc độ cao - một chiếc ca-nô hơi nước - có mặt tại bến Westminster Stairs5 lúc bảy giờ."

"Việc ấy thì dễ như trở bàn tay. Lúc nào ở đó cũng có sẵn một chiếc; nhưng để cho chắc, tôi sẽ chạy sang bên kia đường gọi điện thoại."

"Và tôi cũng cần hai tay lính trung kiên, phòng khi bọn chúng chống cự."

"Trên thuyền sẽ có hai hoặc ba người. Còn gì nữa không?"

"Khi đã khống chế được bọn chúng, ta sẽ thu hồi kho báu. Tôi nghĩ anh bạn tôi đây sẽ lấy làm hân hoan khi được mang chiếc rương ấy đến tận tay quý cô trẻ tuổi - người xứng đáng sở hữu một nửa số của cải ấy. Cứ để cô ấy là người đầu tiên mở nó. - Phải không, Watson?"

"Đó sẽ là một niềm vinh dự vô cùng to lớn đối với tôi."

"Quả là một thủ tục có phần kỳ lạ," Jones nhận xét, khẽ lắc đầu. "Nhưng mà thôi, toàn bộ vụ này vốn đã quái lạ sẵn rồi, tôi cho là ta cũng phải nhắm mắt cho qua thôi. Sau đó, kho báu phải được giao nộp lại cho chính quyền cho đến khi có kết luận điều tra chính thức."

"Dĩ nhiên rồi. Chuyện ấy sắp xếp dễ dàng thôi. Còn một điểm nữa. Tôi rất muốn được nghe thêm vài chi tiết về vụ này từ chính miệng Jonathan Small. Ông biết đấy, tôi vốn thích làm sáng tỏ đến tận cùng từng chi tiết trong các vụ án của mình. Hẳn sẽ chẳng có trở ngại gì nếu tôi được tiến hành một cuộc thẩm vấn không chính thức với hắn, tại căn hộ của tôi ở đây hay bất cứ đâu, miễn là hắn bị canh gác cẩn mật chứ?"

"Ồ, ông mới là người làm chủ tình hình mà. Tôi còn chưa có lấy một mảnh bằng chứng nào chứng minh sự tồn tại của cái tên Jonathan Small này. Nhưng mà, nếu ông bắt được hắn, thì tôi chẳng thấy có lý do gì để từ chối cho ông thẩm vấn hắn cả."

"Vậy là mọi chuyện đã thông suốt rồi chứ?"

"Hoàn toàn thông suốt. Còn gì nữa không?"

"Chỉ một điều thôi, tôi nhất quyết đòi ông ở lại dùng bữa tối với chúng tôi. Khoảng nửa giờ nữa là xong. Tôi có hàu tươi và một đôi gà gô rừng, cùng với chút rượu vang trắng hảo hạng. - Watson này, anh vẫn chưa từng biết đến tài quán xuyến việc nhà của tôi đâu đấy."



  1. Sovereign là một loại tiền vàng của Anh thời xưa, có giá trị bằng một bảng Anh. Nửa đồng sovereign tương đương 10 shilling, một số tiền khá lớn vào thời kỳ Victoria. 

  2. Thợ nhồi bông thú (taxidermist) là người làm nghề lột da, xử lý và nhồi bông vào bên trong da động vật đã chết để tạo thành các tiêu bản trông như còn sống, thường dùng để trưng bày hoặc nghiên cứu. 

  3. Scotland Yard là tên gọi phổ biến của trụ sở Sở Cảnh sát Đô thành Luân Đôn (Anh), cơ quan chịu trách nhiệm điều tra tội phạm và duy trì an ninh trật tự tại thủ đô. 

  4. Bandanna (hay bandana) là một loại khăn tay hoặc khăn quàng cổ lớn hình vuông, thường có màu sắc sặc sỡ và in họa tiết, xuất xứ từ tiểu lục địa Ấn Độ và rất phổ biến trong thế kỷ 19. 

  5. Westminster Stairs là một trong những bến cập tàu ven bờ sông Thames ở London thời xưa, nơi hành khách có thể lên xuống các loại thuyền nhỏ và ca-nô để di chuyển trên sông.