🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG V. BI KỊCH TẠI DINH THỰ PONDICHERRY LODGE

Đồng hồ điểm gần mười một giờ đêm khi chúng tôi tiến đến chặng cuối của cuộc phiêu lưu đêm nay. Phía sau lưng, màn sương ẩm ướt của thành phố lớn đã lùi xa; phía trước, bầu trời đêm mở ra khá đẹp. Một cơn gió ấm từ hướng tây thổi về, xua những đám mây nặng nề chầm chậm trôi ngang vòm trời, thỉnh thoảng lại hé lộ nửa vầng trăng lấp ló sau từng khe hở. Trời đủ quang đãng để nhìn được xa, nhưng Thaddeus Sholto vẫn tháo một trong hai chiếc đèn bên thành xe ngựa xuống, soi đường cho chúng tôi thêm sáng rõ.

Pondicherry Lodge1 nép mình trong một khuôn viên riêng, bao quanh là bức tường đá cao vút, đỉnh tường cắm chi chít những mảnh kính vỡ. Lối vào duy nhất là một cánh cửa kẹp sắt hẹp. Người dẫn đường của chúng tôi gõ cửa theo một nhịp điệu đặc biệt, như cách người đưa thư gõ cửa từng nhà.

"Ai đó?" Một giọng thô lỗ vọng ra từ bên trong.

"Tôi đây, McMurdo. Hẳn anh phải nhận ra tiếng gõ cửa của tôi rồi chứ."

Bên trong vọng ra tiếng càu nhàu cùng tiếng lanh canh, va đập của chìa khóa. Cánh cửa nặng nề bật mở, để lộ một người đàn ông thấp bé, ngực nở, đứng chắn ngay lối vào. Ánh sáng vàng từ chiếc đèn lồng hắt lên khuôn mặt nhô ra cùng đôi mắt nheo lại đầy vẻ nghi ngờ của gã.

"Là ngài đó sao, Mr. Thaddeus? Nhưng những người kia là ai? Tôi không nhận được lệnh nào từ cậu chủ về họ cả."

"Không có lệnh ư, McMurdo? Anh làm tôi ngạc nhiên đấy! Tôi đã nói với anh trai tôi tối qua rằng tôi sẽ mang theo vài người bạn mà."

"Hôm nay cậu ấy chưa ra khỏi phòng, Mr. Thaddeus, và tôi không nhận được lệnh nào. Ngài thừa biết là tôi phải tuân thủ nội quy. Tôi có thể cho ngài vào, nhưng bạn của ngài phải dừng lại ở đó."

Đây quả là một trở ngại bất ngờ. Thaddeus Sholto luống cuống nhìn quanh, vẻ mặt bất lực. "Anh làm thế là quá đáng, McMurdo!" ông kêu lên. "Nếu tôi đứng ra bảo lãnh cho họ thì đủ với anh rồi. Còn có cả một quý cô ở đây nữa. Cô ấy không thể đứng đợi ngoài đường cái vào giờ này."

"Rất xin lỗi, Mr. Thaddeus," gã gác cổng đáp, giọng cứng rắn. "Họ có thể là bạn của ngài, nhưng chưa chắc đã là bạn của cậu chủ. Cậu ấy trả lương hậu hĩnh để tôi làm nhiệm vụ, và tôi sẽ làm tròn bổn phận của mình. Tôi không biết ai trong số bạn bè của ngài cả."

"Ồ, có chứ, McMurdo," Sherlock Holmes vui vẻ cất tiếng. "Tôi không nghĩ anh có thể quên tôi đâu. Anh không nhớ người đấu nghiệp dư đã đấu ba hiệp với anh tại Alison's rooms2 trong đêm đấu giao hữu của anh bốn năm về trước sao?"

"Không thể nào là ngài Sherlock Holmes!" gã võ sĩ quyền Anh gầm lên. "Lạy Chúa! Sao mà tôi có thể nhầm ngài được chứ? Nếu thay vì đứng im lặng ở đó, ngài bước lên và tung ngay cú móc ngang dưới hàm ấy vào tôi, tôi đã nhận ra ngài mà chẳng cần hỏi một lời. Chà, ngài đúng là kẻ phí phạm tài năng của mình đấy! Ngài có thể tiến rất xa nếu ngài gia nhập giới võ thuật."

"Anh thấy đấy, Watson, nếu mọi đường khác đều thất bại, tôi vẫn còn một nghề khoa học rộng mở chờ đón," Holmes cười, quay sang tôi. "Giờ thì chắc chắn anh bạn của chúng ta sẽ không để chúng ta đứng ngoài trời lạnh thêm nữa đâu."

"Mời ngài vào, thưa ngài, mời ngài vào - cả ngài và bạn bè của ngài," gã đáp. "Rất xin lỗi, Mr. Thaddeus, nhưng mệnh lệnh rất nghiêm ngặt. Tôi phải chắc chắn về bạn bè của ngài trước khi cho họ vào."

Bên trong, một con đường rải sỏi ngoằn ngoèo cắt xuyên qua khuôn viên hoang vắng, dẫn đến một khối nhà khổng lồ, vuông vức và thực dụng, toàn bộ chìm trong bóng tối ngoại trừ một góc duy nhất nơi ánh trăng chiếu xuống, le lói hắt lên ô cửa sổ gác mái. Kích thước đồ sộ của tòa nhà, hòa lẫn với vẻ u ám và sự tĩnh lặng chết chóc bao trùm, rót thẳng vào tim mỗi người một cảm giác ớn lạnh. Ngay cả Thaddeus Sholto dường như cũng cảm thấy bất an, tay ông run run đến nỗi chiếc đèn lồng rung lên lách cách.

"Tôi không thể hiểu nổi," ông nói. "Chắc chắn có sự nhầm lẫn nào đó. Tôi đã nói rõ với Bartholomew rằng chúng tôi sẽ đến, vậy mà cửa sổ phòng anh ấy không có ánh đèn. Tôi không biết phải nghĩ sao nữa."

"Anh ta luôn canh gác khu nhà theo cách này sao?" Holmes hỏi.

"Đúng vậy; anh ấy làm theo thói quen của cha tôi. Anh ấy là đứa con cưng, các ông biết đấy, và đôi khi tôi nghĩ rằng cha tôi có thể đã kể cho anh ấy nhiều điều hơn là kể cho tôi. Đó là cửa sổ phòng Bartholomew, chỗ ánh trăng chiếu vào đấy. Nó khá sáng, nhưng tôi nghĩ không có ánh đèn nào từ bên trong."

"Không có," Holmes đáp. "Nhưng tôi thấy có ánh đèn le lói ở ô cửa sổ nhỏ cạnh cửa ra vào."

"À, đó là phòng của bà quản gia. Đó là nơi bà Bernstone già ngồi. Bà ấy có thể kể cho chúng ta mọi chuyện. Nhưng có lẽ các ông không phiền khi đợi ở đây một hai phút chứ, vì nếu tất cả chúng ta cùng vào mà bà ấy không hề hay biết trước, bà ấy có thể sẽ hoảng sợ. Nhưng suỵt! Tiếng gì vậy?"

Ông ta giơ cao chiếc đèn lồng, bàn tay run rẩy đến nỗi những vòng sáng nhấp nháy và chao đảo xung quanh chúng tôi. Cô Morstan nắm chặt lấy cổ tay tôi, và tất cả chúng tôi đứng sững lại, tim đập thình thịch, căng tai lắng nghe. Từ ngôi nhà đen ngòm rộng lớn vọng ra trong màn đêm tĩnh lặng một âm thanh buồn bã và đáng thương hết mực - tiếng thút thít chói tai, đứt quãng của một người đàn bà đang hoảng sợ tột độ.

"Là bà Bernstone đấy," Sholto nói. "Bà ấy là người phụ nữ duy nhất trong nhà. Đợi ở đây. Tôi sẽ quay lại ngay." Ông ta vội vã chạy ra phía cửa, rồi gõ theo cách đặc biệt của mình. Chúng tôi nhìn thấy một bà lão cao lớn ra mở cửa đón ông, và lảo đảo vì vui sướng khi nhìn thấy ông.

"Ôi, Mr. Thaddeus, thưa ngài, tôi mừng quá vì ngài đã đến! Tôi mừng quá vì ngài đã đến, Mr. Thaddeus, thưa ngài!" Chúng tôi nghe tiếng bà không ngừng lặp lại những lời hân hoan ấy cho đến khi cánh cửa đóng sập lại và giọng bà chìm vào một âm điệu nghèn nghẹt, đứt quãng.

Người dẫn đường của chúng tôi đã để lại chiếc đèn lồng. Holmes chậm rãi vung nó thành những vòng tròn rộng, chăm chú quan sát ngôi nhà cùng vô số những đống rác thải khổng lồ chất đầy khuôn viên. Cô Morstan và tôi đứng sát bên nhau, bàn tay cô đặt gọn trong tay tôi. Tình yêu quả là một phép màu nhiệm tinh tế - bởi lẽ hai chúng tôi chưa từng gặp nhau trước ngày hôm đó, chưa từng trao nhau một lời yêu thương hay thậm chí một ánh nhìn âu yếm nào, vậy mà giờ đây, trong thời khắc hoạn nạn, đôi tay chúng tôi lại khao khát kiếm tìm nhau theo bản năng. Kể từ đó, tôi thường kinh ngạc mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc này, nhưng lúc bấy giờ, tôi chủ động bước đến bên cô dường như là điều tự nhiên nhất trên đời; và như cô thường tâm sự với tôi sau này, chính cô cũng mang trong mình một bản năng hướng về tôi để tìm lấy sự an ủi và che chở. Thế là chúng tôi đứng đó, tay trong tay, như hai đứa trẻ, và lòng tràn ngập một sự bình yên lạ lùng bất chấp tất cả những gì đen tối đang vây bủa xung quanh.

"Thật là một nơi kỳ lạ!" cô thốt lên, đưa mắt nhìn quanh.

"Trông như thể tất cả chuột chũi trên đất nước Anh đều được thả rông ở đây vậy. Tôi từng thấy cảnh tượng tương tự trên sườn đồi gần Ballarat3, nơi những người thợ mỏ đang miệt mài làm việc."

"Và cũng vì cùng một lý do," Holmes nói. "Đây là dấu vết của những kẻ săn tìm kho báu. Cô phải nhớ rằng họ đã dành sáu năm trời để lùng sục nó. Thảo nào khuôn viên trông như một bãi khai thác sỏi đá."

Ngay khoảnh khắc ấy, cánh cửa ngôi nhà bật tung, và Thaddeus Sholto lao vụt ra, hai cánh tay vung vẩy về phía trước, trong đôi mắt tràn ngập vẻ kinh hoàng.

"Có chuyện chẳng lành với Bartholomew rồi!" ông ta thốt lên. "Tôi sợ quá! Thần kinh tôi không chịu nổi nữa rồi." Quả thật, trông ông ta như sắp òa khóc vì khiếp sợ. Khuôn mặt yếu ớt co giật, thấp thoáng bên trên chiếc cổ áo lông cừu Astrakhan4, mang biểu cảm van nài bất lực hệt như một đứa trẻ đang run lên vì hoảng loạn.

"Vào nhà thôi," Holmes nói, giọng sắc gọn và cương quyết.

"Vâng, làm ơn vào đi!" Thaddeus Sholto van nài. "Tôi thực sự không còn đủ bình tĩnh để chỉ đạo nữa rồi."

Tất cả chúng tôi theo chân ông ta bước vào căn phòng của bà quản gia, nằm ở phía bên trái hành lang. Bà lão đang bước tới bước lui với gương mặt thất thần và những ngón tay bứt rứt, bồn chồn cào cấu vào nhau; thế nhưng sự xuất hiện của cô Morstan dường như có tác dụng xoa dịu lòng bà.

"Chúa phù hộ cho gương mặt điềm tĩnh, dịu ngọt của cô!" bà thốt lên trong tiếng nấc nghẹn ngào. "Được gặp cô khiến lòng tôi nhẹ nhõm biết bao. Ôi, nhưng hôm nay tôi đã phải chịu thử thách quá đỗi khủng khiếp!"

Người bạn đồng hành của chúng tôi vỗ về đôi bàn tay gầy guộc, chai sạn vì công việc của bà lão, rồi khẽ thì thầm đôi lời an ủi dịu dàng đầy nữ tính, đem sắc hồng trở lại trên đôi má tái nhợt của bà.

"Cậu chủ đã nhốt mình trong phòng và chẳng chịu trả lời tôi," bà giải thích. "Suốt cả ngày nay tôi vẫn chờ tin từ cậu ấy, vì cậu ấy vốn thường ưa ở một mình; nhưng cách đây một giờ, tôi lo sợ đã có chuyện chẳng lành, nên tôi liền đi lên lầu và nhìn trộm qua lỗ khóa. Ngài phải lên đó, ngài Thaddeus ạ, - ngài phải lên đó mà tự mình chứng kiến. Suốt mười năm trời tôi đã ở bên cậu Bartholomew Sholto, lúc vui lẫn lúc buồn, nhưng tôi chưa từng thấy cậu ấy mang bộ mặt như thế này bao giờ."

Sherlock Holmes cầm lấy ngọn đèn và dẫn đường, bởi hai hàm răng của Thaddeus Sholto đang va lập cập vào nhau. Ông ta run rẩy dữ dội đến nỗi tôi buộc phải luồn tay xuống dưới cánh tay ông mà đỡ lấy khi chúng tôi bước lên cầu thang, vì đầu gối ông ta run lẩy bẩy chẳng thể đứng vững. Hai lần trên đường đi lên, Holmes rút chiếc thấu kính trong túi ra và cẩn thận xem xét những dấu vết - thứ mà đối với mắt tôi chỉ như những vệt bụi mờ nhạt, vô định hình trên tấm thảm xơ dừa trải dọc bậc thang. Anh bước chậm rãi từng bậc một, tay cầm cao ngọn đèn, và lia những ánh mắt sắc bén sang hai bên trái phải. Cô Morstan đã nán lại phía sau cùng bà quản gia đang hoảng loạn.

Nhịp cầu thang thứ ba dẫn lên một hành lang thẳng khá dài, với một tấm thảm treo tường lớn mang họa tiết Ấn Độ treo ở phía bên phải, và ba cánh cửa nằm dọc bên trái. Holmes bước từng bước chậm rãi, bài bản dọc theo lối đi, còn chúng tôi thì bám sát gót anh, những chiếc bóng dài, sẫm màu của chúng tôi đổ ngược dài về phía sau dọc hành lang. Cánh cửa thứ ba chính là thứ chúng tôi đang tìm. Holmes gõ cửa, không có tiếng đáp, rồi thử xoay nắm đấm và dùng sức đẩy vào. Nhưng cửa đã bị khóa chặt từ bên trong, bằng một thanh chốt to và chắc nịch, như chúng tôi có thể thấy rõ khi dí chiếc đèn lồng soi vào. Tuy vậy, lúc chìa khóa đã được vặn, lỗ khóa lại không bị che kín hoàn toàn. Sherlock Holmes cúi xuống nhìn qua đó, và ngay lập tức bật thẳng dậy, hít vào một hơi thật sâu và lạnh buốt.

"Có điều gì đó hết sức quỷ quái trong chuyện này, Watson ạ," anh nói, với vẻ xúc động rõ rệt hơn bất cứ lần nào tôi từng thấy ở anh. "Anh nghĩ sao về việc này?"

Tôi cúi xuống nhìn qua lỗ khóa, rồi kinh hoàng lùi phắt lại. Ánh trăng đang tràn ngập gian phòng, làm mọi thứ sáng lên trong một thứ ánh sáng mờ ảo và hư hư thực thực. Nhìn thẳng vào tôi, lơ lửng giữa không trung - vì tất cả những gì bên dưới đều chìm trong bóng tối - là một khuôn mặt. Đó chính là khuôn mặt của người bạn đồng hành Thaddeus của chúng tôi. Vẫn cái đầu hói cao bóng nhẫy ấy, vẫn vòng lông tơ đỏ hoe quanh đỉnh đầu, vẫn sắc mặt nhợt nhạt trắng bệch không một giọt máu. Thế nhưng, những đường nét trên mặt lại đông cứng trong một nụ cười ghê rợn, một cái nhếch mép cứng đơ và méo mó lạ thường, mà trong căn phòng tĩnh lặng ngập ánh trăng kia, nó còn khiến thần kinh người ta phải khiếp đảm hơn bất kỳ nét cau có hay sự méo xệch nào. Khuôn mặt ấy quá đỗi giống người bạn nhỏ bé của chúng tôi, đến nỗi tôi buộc phải ngoái đầu nhìn lại phía ông ta để đoan chắc rằng ông vẫn đang đi cùng chúng tôi. Rồi tôi sực nhớ ông đã từng kể với chúng tôi rằng ông và người anh trai là một cặp song sinh.

"Thật quá sức khủng khiếp!" tôi thốt lên với Holmes. "Chúng ta phải làm gì bây giờ?"

"Phải phá cửa thôi," anh đáp, rồi lấy đà lao cả thân mình vào cánh cửa, dồn toàn bộ sức nặng lên ổ khóa. Cánh cửa kêu răng rắc và rên rỉ, nhưng không chịu nhượng bộ. Cả hai chúng tôi cùng hợp sức tung người vào một lần nữa, và lần này thì nó bật tung ra với một tiếng gãy đột ngột vang lên - và chúng tôi đã đứng bên trong căn phòng của Bartholomew Sholto.

Căn phòng này dường như đã được bố trí thành một phòng thí nghiệm hóa học. Một hàng đôi các chai lọ có nút thủy tinh xếp dọc theo bức tường đối diện với cửa ra vào, và trên mặt bàn thì bày la liệt đèn Bunsen5, ống nghiệm và những bình chưng cất. Ở các góc phòng là những bình đựng acid lớn được bọc trong giỏ mây. Một trong số đó xem chừng đã bị rò rỉ hoặc vỡ, bởi một dòng chất lỏng màu sẫm đang rỉ ra từ đó, và cả không khí nồng nặc một mùi hăng hắc rất đặc trưng, tựa như mùi hắc ín. Một chiếc thang gỗ được dựng ở một góc phòng, giữa một đống gỗ vụn và vữa thạch cao bừa bộn, và phía trên trần nhà là một lỗ hổng, vừa đủ rộng để một người chui lọt. Ngay dưới chân thang, một cuộn dây thừng dài vứt chỏng chơ thành một đống rối.

Bên cạnh chiếc bàn, trên một chiếc ghế bành bằng gỗ, chủ nhân của ngôi nhà đang ngồi co rúm lại, với cái đầu gục hẳn xuống vai trái, và cái nụ cười ghê rợn đầy bí ẩn ấy vẫn còn nguyên trên khuôn mặt ông ta. Cơ thể ông đã cứng đờ và lạnh ngắt, rõ ràng đã chết từ nhiều giờ trước. Đối với tôi, dường như không chỉ riêng những đường nét trên khuôn mặt, mà cả tứ chi của ông cũng đều bị vặn vẹo và uốn cong một cách hết sức kỳ quái. Ngay bên cạnh bàn tay ông, đặt trên mặt bàn, là một dụng cụ trông vô cùng lạ lẫm: một thanh gỗ màu nâu sậm với thớ gỗ mịn và khít, một đầu được gắn một hòn đá tựa như cái búa, buộc thô sơ bằng những sợi dây bện thô ráp. Kế bên đó là một mảnh giấy viết thư đã bị xé rời, với vài chữ nguệch ngoạc trên mặt giấy. Holmes lướt mắt nhìn qua nó, rồi đưa cho tôi.

"Anh thấy đấy," anh nói, khẽ nhướng đôi lông mày đầy hàm ý.

Dưới ánh sáng của chiếc đèn lồng, tôi đọc được mấy chữ ấy, và toàn thân run lên vì kinh hãi: "Dấu hiệu của Bộ Tứ."

"Lạy Chúa, tất cả những chuyện này rốt cuộc là thế nào?" tôi hỏi.

"Là giết người," anh đáp, cúi mình xuống phía thi thể. "À, tôi đã lường trước được việc này. Anh nhìn đây này!" Anh chỉ tay vào một vật trông giống như một cái gai dài và sẫm màu, cắm sâu vào lớp da ngay phía trên tai.

"Trông như một cái gai vậy," tôi nhận xét.

"Đúng là một cái gai đấy. Anh có thể rút nó ra. Nhưng hãy cẩn thận, vì nó có tẩm độc."

Tôi kẹp nó vào giữa ngón cái và ngón trỏ. Nó tuột ra khỏi da một cách dễ dàng đến mức hầu như chẳng để lại dấu vết gì. Chỉ có một chấm máu li ti là dấu hiệu duy nhất cho thấy vị trí vết chích.

"Tất cả những điều này đối với tôi chỉ là một mớ bí ẩn không cách nào lý giải nổi," tôi thú nhận. "Mọi thứ ngày càng trở nên tăm tối hơn thay vì sáng tỏ hơn."

"Ngược lại," anh đáp, "vụ án đang sáng tỏ ra từng giây từng phút. Tôi chỉ cần thêm vài mắt xích còn thiếu nữa thôi là có thể nối kết toàn bộ sợi dây."

Chúng tôi gần như đã quên bẵng đi sự hiện diện của người bạn đồng hành kể từ lúc đặt chân vào căn phòng này. Ông ta vẫn đứng ngay ở ngưỡng cửa, là hiện thân sống động của nỗi kinh hoàng tột độ, hai bàn tay vặn xoắn vào nhau không ngừng, miệng thì liên tục rên rỉ một cách đáng thương. Thế rồi, đột ngột, ông ta bật ra một tiếng kêu the thé và đầy đau đớn.

"Kho báu biến mất rồi!" ông ta la lên. "Chúng đã cướp kho báu của anh ấy! Kia kìa, cái lỗ mà chúng tôi đã dùng để hạ nó xuống! Chính tôi đã giúp anh ấy làm việc đó! Tôi là người cuối cùng nhìn thấy anh ấy còn sống! Tôi rời khỏi đây tối qua, và tôi nghe thấy tiếng anh ấy khóa cửa lại khi tôi bước xuống cầu thang."

"Khi ấy là mấy giờ?"

"Là mười giờ tối. Và giờ thì anh ấy đã chết. Cảnh sát rồi sẽ được gọi đến, và tôi sẽ bị nghi ngờ là có dính líu đến chuyện này. Ồ, vâng, tôi chắc chắn là mình sẽ bị nghi ngờ. Nhưng các ông thì không nghĩ như thế, phải không, thưa các ông? Hẳn là các ông không nghĩ chính tôi là thủ phạm chứ? Có ai lại đi dẫn các ông đến tận đây nếu tôi là kẻ đã gây ra việc này chứ? Trời ơi! Trời ơi! Tôi biết mình sẽ phát điên lên mất thôi!" Ông ta vung vẩy hai cánh tay và giậm chân điên cuồng, toàn thân co giật không kiểm soát.

"Ông không có lý do gì phải sợ hãi cả, ngài Sholto," Holmes nói với giọng trấn an, đặt bàn tay mình lên vai ông ta. "Hãy nghe lời khuyên của tôi: ông hãy bắt một chiếc xe ngựa xuống đồn cảnh sát và trình báo toàn bộ sự việc này. Hãy đề nghị hỗ trợ họ bằng mọi cách có thể. Chúng tôi sẽ đợi ở đây cho đến khi ông quay trở lại."

Người đàn ông nhỏ bé ngoan ngoãn vâng lời trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, và chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân ông ta lảo đảo khuất dần xuống những bậc cầu thang trong màn đêm.



  1. Pondicherry từng là một thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ. Việc đặt tên dinh thự là "Pondicherry Lodge" phản ánh bối cảnh thời kỳ Victoria, khi giới tinh hoa Anh Quốc thường mang những yếu tố, kỷ vật từ các thuộc địa phương Đông về nước để khẳng định sự giàu có và quyền lực. 

  2. "Alison's rooms" là một địa điểm tổ chức thi đấu và tập luyện quyền Anh (boxing) tại London vào thời kỳ đó. Quyền Anh là môn thể thao đối kháng cực kỳ phổ biến và được yêu thích ở Anh thế kỷ 19. 

  3. Ballarat là một thành phố ở bang Victoria, Úc. Nơi đây từng là tâm điểm của cơn sốt vàng (gold rush) vào giữa thế kỷ 19, thu hút hàng ngàn thợ mỏ từ khắp nơi trên thế giới đến đào xới mặt đất để tìm vàng. 

  4. Astrakhan là loại lông cừu xoăn tít, sẫm màu, lấy từ cừu non giống Karakul ở vùng Astrakhan (Nga). Vào thời Victoria, áo khoác có cổ lông Astrakhan là món đồ thời trang vô cùng đắt đỏ, tượng trưng cho sự sang trọng và địa vị xã hội của giới thượng lưu. 

  5. Đèn Bunsen là thiết bị đốt sử dụng khí gas, tạo ra ngọn lửa nóng không khói. Thiết bị này được đặt theo tên nhà hóa học người Đức Robert Bunsen và là dụng cụ rất phổ biến trong các phòng thí nghiệm khoa học từ thế kỷ 19.