I. Vụ Mất Tích Con Ngựa Đua Silver Blaze

"Tôi e rằng mình phải đi rồi, Watson à," Holmes cất tiếng vào một buổi sáng nọ, giữa lúc chúng tôi đang cùng nhau dùng bữa điểm tâm.

"Đi ư! Đi đâu vậy?"

"Đến Dartmoor; đến King's Pyland."

Tôi chẳng hề ngạc nhiên. Thật ra, điều duy nhất khiến tôi băn khoăn là tại sao anh vẫn chưa dính dáng gì đến vụ án quái lạ này - cái vụ án đang là đề tài bàn tán duy nhất trên khắp mọi nẻo đường của nước Anh. Suốt cả ngày hôm qua, người bạn đồng hành của tôi cứ đi đi lại lại quanh phòng, cằm gục xuống ngực, đôi lông mày nhíu chặt, tay không ngừng nhồi thứ thuốc lá đen đặc nhất vào tẩu, và tuyệt nhiên làm ngơ trước mọi câu hỏi hay nhận xét của tôi. Từng số báo mới nhất đều được người giao báo mang lên đầy đủ, vậy mà anh chỉ liếc sơ qua rồi quẳng hết vào một góc. Dẫu anh im lặng đến thế, tôi vẫn biết rõ tâm trí anh đang nghiền ngẫm điều gì. Giữa lúc này, chỉ có một vấn đề duy nhất đủ sức khuấy động công chúng và thách thức tài năng phân tích của anh: đó là sự biến mất đầy bí ẩn của con ngựa được yêu thích nhất cho giải Wessex Cup1, cùng với vụ sát hại thảm khốc người huấn luyện của nó. Vì thế, khi anh đột ngột tuyên bố sẽ lên đường đến tận hiện trường, thì đó chính là điều tôi vừa chờ đợi vừa mong mỏi.

"Tôi rất vui được đi cùng anh, nếu tôi không làm vướng chân anh," tôi đáp.

"Watson thân mến, anh sẽ ban cho tôi một đặc ân lớn đấy nếu cùng đi. Và tôi tin rằng thời gian của anh sẽ không bị phí phạm đâu, bởi có những điểm trong vụ này hứa hẹn sẽ khiến nó trở nên hoàn toàn độc nhất vô nhị. Tôi nghĩ chúng ta vừa kịp để bắt chuyến tàu ở Paddington2, và tôi sẽ nói sâu hơn về vụ việc trên đường đi. Anh sẽ giúp tôi rất nhiều nếu mang theo chiếc ống nhòm tuyệt vời của anh đấy."

Thế là chừng một giờ sau, tôi thấy mình đã yên vị trong góc một toa xe hạng nhất đang lao vun vút về phía Exeter3, còn Sherlock Holmes, với gương mặt sắc sảo và háo hức khôn nguôi, ngồi nép dưới vành chiếc mũ du lịch có nắp che tai, đang cắm cúi lật giở xấp báo mới mua ở Paddington. Mãi đến khi chúng tôi đã bỏ Reading lại phía sau khá xa, anh mới nhét tờ báo cuối cùng xuống gầm ghế rồi chìa hộp xì gà về phía tôi.

"Chúng ta đang chạy khá nhanh đấy," anh nhận xét, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ rồi liếc xuống đồng hồ. "Vận tốc hiện tại là năm mươi ba dặm rưỡi một giờ."

"Tôi chưa để ý đến mấy cột mốc một phần tư dặm4," tôi thú nhận.

"Tôi cũng vậy. Nhưng các cột điện báo dọc tuyến đường này cách nhau đúng sáu mươi thước, và phép tính thì đơn giản thôi. Tôi đoán là anh đã xem xét vụ sát hại John Straker cùng sự biến mất của Silver Blaze rồi chứ?"

"Tôi đã đọc những gì tờ Telegraph5Chronicle đăng tải."

"Đây là một trong những vụ án mà nghệ thuật suy luận nên được dùng để sàng lọc chi tiết, chứ không phải để thu thập thêm bằng chứng mới. Thảm kịch này quá đỗi bất thường, quá trọn vẹn, và có tầm quan trọng cá nhân đối với quá nhiều người, đến nỗi chúng ta đang ngập trong một biển những phỏng đoán, ước đoán và giả thuyết. Cái khó ở đây là phải tách cho được bộ khung của sự thật - cái sự thật tuyệt đối không thể chối cãi - ra khỏi những lời thêu dệt của đám nhà lý thuyết và phóng viên. Rồi sau đó, khi đã đứng vững trên nền tảng hợp lý ấy, nhiệm vụ của chúng ta mới là xem xét những suy luận nào có thể rút ra được, và đâu là những điểm đặc biệt mà toàn bộ bí ẩn xoay quanh. Tối thứ Ba vừa rồi, tôi đã nhận được điện tín từ cả Đại tá Ross, chủ nhân của con ngựa, và từ Thanh tra Gregory, người đang phụ trách vụ án - cả hai đều mời tôi hợp tác."

"Tối thứ Ba!" tôi thốt lên. "Vậy mà bây giờ đã là sáng thứ Năm rồi. Sao anh không xuống đó ngay từ hôm qua?"

"Bởi vì tôi đã phạm một sai lầm, Watson thân mến - điều mà tôi e rằng xảy ra thường xuyên hơn bất kỳ ai có thể nghĩ, nếu họ chỉ biết tôi qua những cuốn hồi ký của anh. Sự thật là, tôi không thể tin được rằng con ngựa xuất sắc nhất nước Anh lại có thể bị giấu nhẹm đi lâu đến vậy, nhất là ở một nơi thưa thớt dân cư như vùng bắc Dartmoor. Suốt từng giờ ngày hôm qua, tôi đều mong nghe tin nó đã được tìm thấy, và kẻ bắt cóc nó chính là kẻ đã giết John Straker. Thế nhưng, khi một buổi sáng nữa lại trôi qua, và tôi thấy ngoài việc bắt giữ chàng thanh niên Fitzroy Simpson ra thì chẳng có gì được thực hiện, tôi cảm thấy đã đến lúc mình phải hành động. Dù sao đi nữa, ở một vài khía cạnh, tôi vẫn thấy ngày hôm qua không hề uổng phí."

"Vậy là anh đã hình thành được một giả thuyết rồi sao?"

"Ít nhất thì tôi cũng đã nắm được các sự thật cốt lõi của vụ án. Tôi sẽ trình bày cho anh nghe; bởi chẳng có cách nào làm sáng tỏ một vụ án cho bằng việc kể lại nó cho một người khác. Và tôi khó lòng mong đợi sự hợp tác của anh, nếu tôi không cho anh thấy điểm xuất phát của chúng ta nằm ở đâu."

Tôi tựa lưng vào đệm ghế, thong thả phì phèo điếu xì gà, trong khi Holmes hơi rướn người về phía trước. Ngón trỏ dài và gầy guộc của anh gõ nhịp vào lòng bàn tay trái, đánh dấu từng điểm chính, rồi anh phác họa cho tôi toàn bộ chuỗi sự kiện đã dẫn đến chuyến đi này của chúng tôi.

"Silver Blaze," anh bắt đầu, "thuộc dòng dõi Isonomy, và thừa hưởng trọn vẹn thành tích lừng lẫy của vị tổ tiên danh tiếng ấy. Nó hiện đang ở tuổi lên năm, và đã lần lượt mang về từng giải thưởng trên đường đua cho Đại tá Ross, người chủ may mắn của nó. Cho đến trước khi thảm họa xảy ra, nó là con ngựa được yêu thích nhất cho giải Wessex Cup, với tỷ lệ cá cược ba ăn một. Ấy vậy mà nó luôn là ứng cử viên hàng đầu trong lòng công chúng mê đua ngựa, và chưa từng làm họ thất vọng; đến mức dù tỷ lệ cược chỉ có vậy, những số tiền khổng lồ vẫn được đổ dồn vào nó. Bởi thế, rõ ràng có rất nhiều kẻ mang lợi ích sâu sắc trong việc ngăn không cho Silver Blaze có mặt ở vạch xuất phát vào ngày thứ Ba tới.

"Tất nhiên, sự thật này đã được dự liệu từ trước tại King's Pyland, nơi đặt chuồng ngựa huấn luyện của Đại tá. Mọi biện pháp phòng ngừa đều đã được thực hiện để bảo vệ con ngựa cưng này. Người huấn luyện, John Straker, vốn là một nài ngựa đã giải nghệ - từng khoác áo đua của Đại tá Ross trước khi ông trở nên quá nặng cân để ngồi lên ghế cân6. Ông đã phục vụ Đại tá năm năm trên cương vị nài ngựa và bảy năm với tư cách huấn luyện viên, và luôn tỏ ra là một người hầu cần mẫn, trung thực. Dưới quyền ông là ba cậu bé giúp việc; bởi cơ ngơi này khá nhỏ, chỉ vỏn vẹn bốn con ngựa. Mỗi đêm, một trong ba cậu bé sẽ thức canh trong chuồng, trong khi hai người kia ngủ trên gác xép. Cả ba đều có tư cách đạo đức rất tốt. Bản thân John Straker là người đã có gia đình, sống trong một căn biệt thự nhỏ cách chuồng ngựa chừng hai trăm thước. Ông không có con, chỉ nuôi một người giúp việc, và cuộc sống cũng khá khẩm. Vùng nông thôn quanh đó rất vắng vẻ, nhưng cách chừng nửa dặm về phía bắc có một cụm biệt thự nhỏ do một nhà thầu ở Tavistock xây lên, dành cho những người ốm yếu cùng những ai muốn tận hưởng bầu không khí trong lành của Dartmoor. Bản thân Tavistock nằm cách hai dặm về phía tây, còn băng qua cánh đồng hoang, cũng cách chừng hai dặm, là cơ sở huấn luyện lớn hơn của Mapleton - thuộc quyền sở hữu của Lãnh chúa Backwater và do Silas Brown quản lý. Mọi hướng khác của vùng đồng hoang đều là chốn hoang vu tuyệt đối, chỉ lác đác vài người du mục lang thang sinh sống. Đó là bức tranh toàn cảnh vào buổi tối thứ Hai, khi thảm họa ập đến.

"Chiều hôm ấy, lũ ngựa đã được tập luyện và cho uống nước như thường lệ, và các chuồng ngựa đều đã khóa lại vào lúc chín giờ. Hai trong số các cậu bé đi bộ lên nhà người huấn luyện để ăn tối trong bếp, trong khi cậu thứ ba, Ned Hunter, ở lại canh gác. Vài phút sau chín giờ, cô hầu gái Edith Baxter mang bữa tối xuống chuồng ngựa cho Hunter - một đĩa thịt cừu nấu cà ri. Cô không mang theo nước, vì trong chuồng đã có sẵn vòi, và quy định là cậu bé trực ca không được uống bất cứ thứ gì khác. Cô mang theo một chiếc đèn lồng, bởi trời rất tối và con đường chạy ngang qua vùng đồng hoang trống trải.

"Edith Baxter chỉ còn cách chuồng ngựa chừng ba mươi thước, thì một người đàn ông từ trong bóng tối bước ra và gọi cô đứng lại. Khi ông ta tiến vào vầng sáng vàng hắt ra từ chiếc đèn lồng, cô thấy đó là một người có phong thái lịch thiệp, mặc bộ vest vải tuýt màu xám, đội mũ vải. Ông ta đi ghệt và cầm một cây gậy nặng có núm tròn. Thế nhưng, điều khiến cô ấn tượng nhất lại là khuôn mặt nhợt nhạt khác thường cùng thái độ đầy lo lắng của ông ta. Tuổi của ông ta, cô đoán, có lẽ ngoài ba mươi chứ không dưới.

"'Cô có thể cho tôi biết tôi đang ở đâu không?' ông ta hỏi. 'Tôi suýt nữa thì đành ngủ lại trên đồng hoang, thì nhìn thấy ánh đèn lồng của cô.'

"'Ông đang ở gần chuồng ngựa huấn luyện King's Pyland,' cô đáp.

"'Ồ, thật sao! Quả là một sự may mắn!' ông ta reo lên. 'Tôi nghe nói có một cậu bé canh chuồng ngựa ngủ một mình ở đây mỗi đêm. Có lẽ đây chính là bữa tối của cậu ta mà cô đang mang đây. Giờ thì tôi tin chắc rằng cô sẽ không quá kiêu kỳ mà từ chối kiếm thêm chút tiền để sắm một chiếc váy mới đâu, phải không nào?' Ông ta rút từ túi áo gi-lê ra một mảnh giấy trắng được gấp lại. 'Hãy đảm bảo cậu bé nhận được tờ giấy này ngay trong tối nay, và cô sẽ có được chiếc váy đẹp nhất mà tiền bạc có thể mua được.'

"Cô hoảng sợ trước thái độ thành khẩn đến kỳ lạ của ông ta, bèn chạy vụt qua mặt ông ta đến bên cửa sổ - nơi cô vẫn thường dùng để trao thức ăn. Cửa sổ đã được mở sẵn, và Hunter đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ phía trong. Cô vừa kịp bắt đầu kể cho cậu nghe về những gì vừa xảy ra, thì người lạ mặt đã lại tiến đến gần.

"'Chào buổi tối,' ông ta cất tiếng, mắt nhìn qua khung cửa sổ. 'Tôi muốn nói với cậu một lời.' Cô gái thề rằng, khi ông ta nói, cô nhìn thấy góc của một gói giấy nhỏ thò ra từ bàn tay đang nắm chặt của ông ta.

"'Ông định làm gì ở đây?' cậu bé hỏi.

"'Là công việc có thể bỏ thêm chút đỉnh vào túi cậu đấy,' người kia đáp. 'Cậu có hai con ngựa tham gia giải Wessex Cup - Silver Blaze và Bayard. Cho tôi biết chút thông tin nội bộ đi, cậu sẽ chẳng thiệt đâu. Có phải sự thật là với mức tạ đó, Bayard có thể chấp con kia cả trăm thước trong cự ly năm furlong, và phe chuồng ngựa đã đặt tiền vào nó không?'

"'À, thì ra ông là một trong những gã môi giới chết tiệt đó!' cậu bé quát lên. 'Để tôi cho ông thấy chúng tôi tiếp đón loại người như ông ở King's Pyland ra sao nhé.' Cậu bật dậy, lao băng qua chuồng ngựa để tháo xích con chó. Cô gái bỏ chạy về phía ngôi nhà, nhưng khi chạy, cô ngoái lại và thấy người lạ mặt đang rướn người qua cửa sổ. Thế nhưng, chỉ một phút sau, lúc Hunter ùa ra cùng con chó săn, thì ông ta đã biến mất tăm, và dù cậu đã chạy vòng quanh mọi tòa nhà, cậu cũng chẳng tìm thấy bất cứ dấu vết nào."

"Khoan đã," tôi ngắt lời. "Cậu bé canh chuồng ngựa, khi lao ra ngoài với con chó, có để cánh cửa mở khóa lại phía sau không?"

"Tuyệt vời, Watson, tuyệt vời!" người bạn đồng hành của tôi thì thầm. "Tầm quan trọng của chi tiết ấy đập vào tôi mạnh đến nỗi tôi đã gửi hẳn một bức điện đặc biệt đến Dartmoor hôm qua để làm rõ vấn đề. Cậu bé đã khóa cửa trước khi rời đi. Còn cửa sổ, tôi xin nói thêm, không đủ rộng để một người đàn ông trưởng thành lọt qua.

"Hunter chờ cho đến khi những người bạn đồng nghiệp trở về, rồi gửi tin báo cho người huấn luyện và kể lại toàn bộ sự việc. Straker tỏ ra rất kích động khi nghe câu chuyện, dù dường như ông chưa nhận ra hết ý nghĩa thực sự của nó. Dù vậy, nó cũng khiến ông thấp thỏm không yên, và bà Straker, lúc thức giấc vào lúc một giờ sáng, đã thấy chồng mình đang mặc quần áo. Trước những câu hỏi của bà, ông nói rằng ông không sao ngủ được vì quá lo cho lũ ngựa, và ông định đi bộ xuống chuồng để xem mọi thứ có ổn thỏa hay không. Bà van nài ông ở nhà, bởi bà có thể nghe thấy tiếng mưa rơi lộp bộp trên ô cửa kính, nhưng bất chấp những lời cầu khẩn ấy, ông vẫn khoác chiếc áo mưa rộng thùng thình và bước ra khỏi nhà.

"Bà Straker thức dậy vào lúc bảy giờ sáng thì thấy chồng mình vẫn chưa về. Bà vội vàng mặc quần áo, gọi cô hầu gái, rồi cùng nhau lên đường ra chuồng ngựa. Cánh cửa đang mở toang; bên trong, Hunter nằm co quắp trên một chiếc ghế, chìm trong trạng thái mê man hoàn toàn; chuồng của con ngựa cưng thì trống rỗng, và chẳng còn dấu vết nào của người huấn luyện nó.

"Hai cậu bé ngủ trên gác xép chất rơm, phía trên căn phòng để yên cương, nhanh chóng bị đánh thức. Họ chẳng nghe thấy gì trong đêm, bởi cả hai đều ngủ rất say. Hunter thì rõ ràng đang chịu ảnh hưởng của một loại thuốc mê cực mạnh; chẳng thể hỏi han gì được từ cậu, nên họ đành để cậu ngủ cho tỉnh thuốc, trong khi hai cậu bé kia cùng hai người phụ nữ chạy ra ngoài tìm kiếm những người mất tích. Họ vẫn còn nuôi hy vọng rằng người huấn luyện, vì một lý do nào đó, đã dắt con ngựa ra ngoài tập luyện từ sớm. Thế nhưng, khi trèo lên ngọn đồi nhỏ gần nhà - nơi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ vùng đồng hoang lân cận - họ chẳng những không thấy bóng dáng con ngựa cưng, mà còn nhận ra một điều gì đó báo hiệu rằng họ đang đối diện với một thảm kịch.

"Cách chuồng ngựa chừng một phần tư dặm, chiếc áo khoác ngoài của John Straker bay phấp phới trên một bụi kim tước. Ngay phía sau bụi cây là một chỗ trũng hình lòng chảo trên đồng hoang, và dưới đáy chỗ trũng ấy, người ta tìm thấy thi thể của người huấn luyện xấu số. Đầu ông bị đập vỡ bởi một cú đánh dã man từ một thứ hung khí nặng, và đùi ông mang một vết cắt dài, ngọt lịm - rõ ràng là do một dụng cụ vô cùng sắc bén gây ra. Dẫu vậy, có thể thấy Straker đã chống trả quyết liệt trước những kẻ tấn công mình: trong tay phải, ông nắm chặt một con dao nhỏ nhuốm đầy máu đến tận cán, còn tay trái thì siết lấy một chiếc cravat lụa đỏ đen. Cô hầu gái nhận ra đó chính là chiếc cravat mà người lạ mặt ghé thăm chuồng ngựa tối hôm trước đã đeo.

"Hunter, sau khi tỉnh lại khỏi cơn mê, cũng khá chắc chắn về chủ nhân của chiếc cravat. Cậu còn chắc chắn không kém rằng chính kẻ lạ mặt ấy, khi đứng nơi khung cửa sổ, đã bỏ thuốc vào đĩa thịt cừu cà ri của cậu, qua đó tước đi người canh gác ban đêm của chuồng ngựa.

"Về phần con ngựa mất tích, vô số dấu vết in hằn trên lớp bùn dưới đáy chỗ trũng chết chóc ấy cho thấy nó đã có mặt ở đó vào lúc cuộc giằng co diễn ra. Thế nhưng, kể từ sáng hôm đó, nó đã biến mất, và dù một khoản tiền thưởng hậu hĩnh đã được treo ra, cùng với việc tất cả những người du mục ở Dartmoor đều đang trong tình trạng cảnh giác cao độ, vẫn không có một tin tức nào về nó. Cuối cùng, kết quả phân tích cho thấy phần thức ăn thừa trong bữa tối của cậu bé canh chuồng có chứa một lượng đáng kể thuốc phiện dạng bột, trong khi những người trong nhà cũng dùng cùng món ấy vào đêm hôm đó lại không hề gặp bất kỳ triệu chứng gì.

"Đó là những sự thật chính của vụ án, đã được lột bỏ mọi suy đoán và trình bày một cách trần trụi nhất có thể. Giờ tôi sẽ tóm lược những gì phía cảnh sát đã làm.

"Thanh tra Gregory, người được giao phó vụ này, là một sĩ quan cực kỳ có năng lực. Nếu ông ấy được trời phú cho thêm chút trí tưởng tượng, hẳn ông đã có thể vươn tới những đỉnh cao trong sự nghiệp. Ngay khi có mặt, ông đã nhanh chóng tìm ra và bắt giữ người đàn ông mà mọi mối nghi ngờ đều tự nhiên đổ dồn vào. Chẳng có gì khó khăn để tìm ra ông ta, bởi ông ta đang sống trong một căn biệt thự thuộc cụm nhà tôi vừa nhắc đến. Tên ông ta, theo như người ta biết, là Fitzroy Simpson. Ông ta xuất thân danh giá, học vấn xuất sắc, nhưng đã phung phí sạch cả một gia tài vào các trường đua, và giờ kiếm sống bằng nghề ghi cá cược một cách kín đáo và lịch thiệp tại các câu lạc bộ thể thao ở London. Xem xét cuốn sổ cá cược của ông ta cho thấy ông ta đã ghi những khoản cược lên đến năm nghìn bảng Anh chống lại con ngựa cưng.

"Khi bị bắt, ông ta tình nguyện khai rằng mình đã xuống Dartmoor với hy vọng thu thập được chút thông tin về những con ngựa của King's Pyland, và cả về Desborough - con ngựa được yêu thích thứ hai, hiện do Silas Brown phụ trách tại chuồng Mapleton. Ông ta không hề tìm cách chối bỏ việc mình đã hành xử đúng như lời miêu tả vào buổi tối hôm trước, nhưng khăng khăng rằng mình không có ý đồ đen tối nào, mà chỉ đơn giản muốn thu thập thông tin tận nguồn. Khi bị đưa ra chiếc cravat của chính mình, mặt ông ta tái nhợt đi, và ông ta hoàn toàn không thể giải thích được vì sao nó lại nằm trong tay người đàn ông bị sát hại. Bộ quần áo ướt sũng của ông ta cho thấy ông ta đã ra ngoài trong cơn bão đêm trước, và cây gậy ông ta mang theo - một cây gậy luật sư Penang7 bọc chì nặng trịch - chính xác là loại hung khí có thể, bằng những cú giáng liên tiếp, gây ra vết thương khủng khiếp khiến người huấn luyện thiệt mạng.

"Ở chiều ngược lại, trên người ông ta không hề có lấy một vết thương nào, trong khi tình trạng con dao của Straker lại cho thấy ít nhất một trong những kẻ tấn công ông hẳn phải mang dấu ấn của ông trên cơ thể. Toàn bộ câu chuyện là như thế đấy, Watson, và nếu anh có thể rọi cho tôi chút ánh sáng nào, tôi sẽ vô cùng mang ơn anh."

Tôi đã lắng nghe bằng tất cả sự chú tâm lời tường thuật mà Holmes, với sự sáng rõ đặc trưng của mình, bày ra trước mắt tôi. Dù hầu hết các sự kiện đều không xa lạ gì với tôi, tôi vẫn chưa thực sự nắm bắt được tầm quan trọng tương đối của chúng, cũng như mối liên hệ giữa chúng với nhau.

"Liệu có khả năng nào," tôi gợi ý, "rằng vết cắt trên người Straker là do chính con dao của ông ta gây ra, trong lúc co giật sau khi bị chấn thương sọ não không?"

"Điều đó không chỉ khả dĩ; mà còn rất có thể xảy ra," Holmes đáp. "Trong trường hợp đó, một trong những điểm chính có lợi cho bị cáo sẽ tan biến mất."

"Nhưng," tôi tiếp lời, "ngay cả lúc này, tôi vẫn chưa hiểu nổi giả thuyết mà phía cảnh sát đang theo đuổi là gì."

"Tôi e rằng bất kỳ giả thuyết nào chúng ta đưa ra cũng đều vấp phải những phản bác hết sức nghiêm trọng," người bạn đồng hành của tôi đáp. "Cảnh sát hình dung, tôi đoán thế, rằng gã Fitzroy Simpson này, sau khi đánh thuốc mê cậu bé coi chuồng, và bằng một cách nào đó đã kiếm được chiếc chìa khóa dự phòng, đã mở cửa chuồng rồi dắt con ngựa ra ngoài, rõ ràng là với ý định mang nó đi luôn. Dây cương của nó không cánh mà bay, vậy nên Simpson hẳn đã đeo dây cương vào cho nó. Rồi sau đó, để ngỏ cánh cửa phía sau lưng, hắn đang dắt ngựa băng qua đồng hoang thì bị người huấn luyện bắt gặp, hoặc bị đuổi kịp. Một cuộc ẩu đả, tất nhiên, đã nổ ra. Simpson dùng cây gậy nặng của mình đập nát hộp sọ người huấn luyện, mà chẳng hề hấn gì trước con dao nhỏ mà Straker dùng để chống trả; và sau đó, kẻ trộm hoặc đã dắt con ngựa đến một nơi cất giấu bí mật nào đấy, hoặc con ngựa đã lồng lên trong lúc giằng co và hiện đang lang thang đâu đó trên vùng đồng hoang. Đó là cách nhìn của cảnh sát về vụ án, và dù nó nghe có vẻ khó tin đến đâu, thì mọi cách giải thích khác còn khó tin hơn nữa. Dù sao, tôi sẽ nhanh chóng xem xét vấn đề ngay khi có mặt tại hiện trường, và cho đến lúc ấy, tôi thực sự không thấy chúng ta có thể tiến xa hơn vị trí hiện tại bằng cách nào."

Chiều đã buông xuống khi chúng tôi đặt chân đến thị trấn nhỏ Tavistock, nép mình như phần nhô của một tấm khiên giữa vòng tròn khổng lồ của Dartmoor. Hai quý ông đang chờ chúng tôi ở nhà ga - một người cao lớn, tóc vàng, với mái tóc và bộ râu xồm xoàm như bờm sư tử cùng đôi mắt xanh nhạt sắc lạ thường; người kia nhỏ nhắn, lanh lợi, vô cùng chỉn chu và chải chuốt, mặc áo khoác dài, đi ghệt, tóc mai cắt tỉa gọn gàng và đeo kính một mắt. Người sau là Đại tá Ross, một tay chơi thể thao lừng danh; còn người kia là Thanh tra Gregory, một người đang nhanh chóng tạo dựng tên tuổi trong ngành thám tử Anh quốc.

"Tôi rất mừng là anh đã xuống đây, ông Holmes," Đại tá nói. "Thanh tra đây đã làm tất cả những gì có thể nghĩ ra, nhưng tôi muốn lật tung từng viên đá để trả thù cho Straker tội nghiệp và tìm lại con ngựa của tôi."

"Có tiến triển mới nào không?" Holmes hỏi.

"Tôi rất tiếc phải nói rằng chúng tôi hầu như chưa đạt được gì," vị thanh tra đáp. "Chúng tôi có một chiếc xe ngựa mui trần đợi bên ngoài, và vì chắc chắn các anh muốn xem qua hiện trường trước khi trời tối, chúng ta có thể vừa đi vừa trao đổi."

Chỉ một phút sau, tất cả chúng tôi đã an vị trong một chiếc xe ngựa mui trần êm ái, lạch cạch băng qua thị trấn Devonshire cổ kính và kỳ lạ. Thanh tra Gregory đắm mình trong vụ án, tuôn ra một tràng nhận xét liên hồi, trong khi Holmes thỉnh thoảng lại xen vào một câu hỏi hay một lời cảm thán. Đại tá Ross ngả lưng ra sau, khoanh tay, mũ kéo sụp xuống mắt, còn tôi thì say mê lắng nghe cuộc đối thoại giữa hai nhà thám tử. Gregory đang triển khai giả thuyết của mình, gần như chính xác những gì Holmes đã dự đoán trên tàu.

"Lưới đã giăng khá chặt quanh Fitzroy Simpson," ông nhận xét, "và bản thân tôi tin rằng hắn chính là thủ phạm. Đồng thời tôi cũng nhận thấy bằng chứng chỉ thuần túy là gián tiếp, và một diễn biến mới có thể dễ dàng lật ngược nó."

"Còn con dao của Straker thì sao?"

"Chúng tôi gần như đã đi đến kết luận rằng ông ấy tự làm mình bị thương khi ngã xuống."

"Bác sĩ Watson, bạn tôi, cũng đã gợi ý điều đó với tôi trên đường xuống đây. Nếu vậy, nó sẽ tống cổ Simpson vào thế bất lợi."

"Không còn nghi ngờ gì nữa. Hắn không có dao, cũng không có bất kỳ dấu hiệu thương tích nào. Bằng chứng chống lại hắn rõ ràng là rất vững chắc. Hắn có lợi ích lớn lao trong sự biến mất của con ngựa cưng. Hắn bị tình nghi đã đánh thuốc mê cậu bé giữ ngựa, hắn chắc chắn đã ở ngoài trời trong cơn bão, hắn có một cây gậy nặng trong tay, và cravat của hắn được tìm thấy trong tay người chết. Tôi thực sự nghĩ chúng ta có đủ bằng chứng để đưa ra trước bồi thẩm đoàn8 rồi."

Holmes lắc đầu. "Một luật sư khôn khéo sẽ xé tan tất cả thành từng mảnh vụn," anh nói. "Tại sao hắn lại dắt ngựa ra khỏi chuồng? Nếu hắn muốn làm hại nó, sao hắn không làm ngay tại chỗ? Có tìm thấy chìa khóa dự phòng nào trong người hắn không? Tiệm thuốc nào đã bán cho hắn thuốc phiện dạng bột? Và trên hết, một kẻ lạ nước lạ cái ở vùng này như hắn có thể giấu một con ngựa - một con ngựa như thế này - ở đâu? Lời giải thích của hắn về tờ giấy mà hắn nhờ cô hầu gái chuyển cho cậu bé giữ ngựa là gì?"

"Hắn nói đó là một tờ mười bảng. Một tờ đã được tìm thấy trong ví của hắn. Nhưng những khó khăn khác mà anh nêu ra cũng chẳng đáng gờm như vẻ ngoài của chúng đâu. Hắn đâu có lạ gì vùng này. Hắn đã hai lần trọ tại Tavistock vào mùa hè. Thuốc phiện rất có thể được mang từ London xuống. Chìa khóa, sau khi dùng xong, có thể đã bị vứt bỏ. Con ngựa rất có thể đang nằm dưới đáy một trong những cái hố hay hầm mỏ cũ trên đồng hoang."

"Vậy hắn nói gì về chiếc cravat?"

"Hắn thừa nhận đó là của hắn, và tuyên bố đã đánh rơi nó. Nhưng có một yếu tố mới xuất hiện trong vụ án, có thể giải thích việc hắn dắt ngựa ra ngoài."

Holmes vểnh tai lên.

"Chúng tôi đã phát hiện những dấu vết cho thấy một nhóm dân du mục đã cắm trại vào đêm thứ Hai, chỉ cách hiện trường vụ án mạng chưa đầy một dặm. Đến thứ Ba thì họ đã dọn đi. Bây giờ, giả sử giữa Simpson và những người du mục này có một thỏa thuận nào đó, phải chăng hắn đang dắt ngựa đến cho họ thì bị đuổi kịp, và giờ họ đang giữ nó?"

"Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra."

"Chúng tôi đang lùng sục khắp vùng đồng hoang để tìm những người du mục này. Tôi cũng đã kiểm tra mọi chuồng ngựa và nhà phụ ở Tavistock, trong bán kính mười dặm."

"Tôi hiểu là có một trại huấn luyện ngựa khác khá gần đây?"

"Đúng vậy, và đó là một yếu tố chúng ta chắc chắn không thể bỏ qua. Vì Desborough, con ngựa của họ, đang xếp thứ hai trên bảng tỷ lệ cá cược, họ có lợi ích trong sự biến mất của con ngựa cưng. Silas Brown, tay huấn luyện viên, bị đồn là đã đặt cược những khoản tiền lớn vào sự kiện này, và hắn cũng chẳng ưa gì Straker tội nghiệp. Tuy nhiên, chúng tôi đã lục soát các chuồng ngựa của hắn, và không có gì liên kết hắn với vụ việc."

"Còn có gì liên kết gã Simpson này với lợi ích của trại Mapleton không?"

"Hoàn toàn không."

Holmes ngả lưng vào thành xe, và cuộc trò chuyện chấm dứt. Vài phút sau, người đánh xe dừng lại trước một căn biệt thự nhỏ xinh xắn bằng gạch đỏ, có mái hiên nhô ra, nằm sát bên đường. Xa hơn một chút, phía bên kia bãi cỏ, là một dãy nhà phụ dài lợp ngói xám. Về mọi hướng khác, những đường cong thấp của vùng đồng hoang, nhuốm sắc đồng thau của những cây dương xỉ đang tàn, trải dài đến tận chân trời, chỉ bị cắt ngang bởi những ngọn tháp của Tavistock, và xa về phía tây là một cụm nhà đánh dấu trại huấn luyện Mapleton. Tất cả chúng tôi đều nhảy xuống, ngoại trừ Holmes - anh vẫn ngồi tựa lưng, đôi mắt dán chặt vào bầu trời phía trước, chìm đắm hoàn toàn trong dòng suy tưởng của riêng mình. Mãi đến khi tôi chạm vào cánh tay anh, anh mới giật mình tỉnh khỏi cơn mơ và bước xuống xe.

"Xin lỗi," anh nói, quay sang Đại tá Ross, người đang nhìn anh với chút ngạc nhiên. "Tôi mơ màng giữa ban ngày mất rồi." Trong mắt anh lóe lên một tia sáng, và thái độ của anh ẩn chứa một niềm phấn khích bị kiềm nén, khiến tôi - vốn đã quá quen với cách hành xử của anh - tin chắc rằng anh đã nắm được một manh mối nào đó, dù tôi không tài nào đoán nổi anh tìm thấy nó ở đâu.

"Có lẽ ông muốn đến thẳng hiện trường vụ án, ông Holmes?" Gregory nói.

"Tôi nghĩ tôi muốn nán lại đây một lát và tìm hiểu sâu hơn một hai chi tiết. Straker đã được đưa về đây rồi, tôi đoán vậy?"

"Đúng vậy; ông ấy đang nằm trên lầu. Cuộc thẩm tra của tòa sẽ diễn ra vào ngày mai."

"Ông ấy đã phục vụ ngài được vài năm rồi, Đại tá Ross?"

"Tôi luôn thấy ông ấy là một người hầu tuyệt hảo."

"Tôi đoán ngài đã lập danh sách những vật dụng trong túi ông ấy lúc tử vong, thưa thanh tra?"

"Tôi có những thứ đó trong phòng khách, nếu anh muốn xem qua."

"Rất sẵn lòng." Tất cả chúng tôi nối đuôi nhau vào phòng khách và ngồi quanh chiếc bàn trung tâm trong khi vị thanh tra mở khóa một chiếc hộp thiếc vuông và bày ra trước mặt chúng tôi một đống vật dụng nhỏ. Ở đó có một hộp diêm sáp, một mẩu nến mỡ dài hai inch, một chiếc tẩu rễ thạch nam khắc chữ A.D.P., một túi da hải cẩu đựng nửa ounce thuốc lá Cavendish sợi dài, một chiếc đồng hồ quả quýt bằng bạc kèm dây chuyền vàng, năm đồng sovereign9 vàng, một ống bút chì bằng nhôm, vài tờ giấy, và một con dao cán ngà voi với lưỡi dao cực kỳ thanh mảnh và không thể uốn cong, có đóng dấu Weiss & Co., London.

"Con dao này thật kỳ lạ," Holmes nói, nhấc nó lên và xem xét tỉ mỉ. "Tôi thấy có vết máu trên đó, nên tôi đoán đây chính là con dao được tìm thấy trong tay người chết. Watson, con dao này hẳn thuộc lĩnh vực chuyên môn của anh?"

"Đó là thứ chúng tôi gọi là dao mổ đục thủy tinh thể," tôi nói.

"Tôi cũng nghĩ thế. Một lưỡi dao rất thanh mảnh, được thiết kế cho những thao tác cực kỳ tinh vi. Thật kỳ quặc khi một người đàn ông lại mang theo thứ này trong một chuyến đi lặn lội như vậy, nhất là khi nó không gập lại được để bỏ vào túi."

"Đầu mũi dao được bảo vệ bởi một miếng bần mà chúng tôi tìm thấy bên cạnh thi thể ông ấy," vị thanh tra nói. "Vợ ông ấy cho biết con dao vốn nằm trên bàn trang điểm, và ông ấy đã cầm nó lên khi rời khỏi phòng. Đúng là một vũ khí tồi tàn, nhưng có lẽ là thứ tốt nhất ông ấy có thể chộp được vào lúc đó."

"Rất có thể. Còn những giấy tờ này thì sao?"

"Ba tờ là hóa đơn mua cỏ khô đã thanh toán. Một tờ là thư ủy nhiệm của Đại tá Ross. Còn tờ này là hóa đơn của một tiệm may nón, trị giá ba mươi bảy bảng mười lăm shilling, do bà Lesurier ở phố Bond10 lập cho William Derbyshire. Bà Straker nói với chúng tôi rằng Derbyshire là bạn của chồng bà và thỉnh thoảng thư từ của ông ta được gửi về đây."

"Bà Derbyshire có vẻ có gu thời trang hơi đắt đỏ đây," Holmes nhận xét, liếc nhìn tờ hóa đơn. "Hai mươi hai guinea11 cho một bộ trang phục thì quả là cao đấy. Nhưng dường như chẳng còn gì để khai thác thêm, và giờ chúng ta có thể xuống hiện trường vụ án."

Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng khách, một người phụ nữ đang đợi sẵn ngoài hành lang bước tới một bước và đặt tay lên tay áo vị thanh tra. Khuôn mặt bà hốc hác, gầy guộc và háo hức, hằn sâu dấu vết của nỗi kinh hoàng mới xảy ra.

"Các ông đã bắt được chúng chưa? Các ông đã tìm thấy chúng chưa?" bà hổn hển.

"Chưa, bà Straker ạ. Nhưng ông Holmes đây đã từ London xuống để giúp chúng tôi, và chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể."

"Tôi chắc chắn đã từng gặp bà ở Plymouth, trong một bữa tiệc ngoài vườn cách đây không lâu, bà Straker?" Holmes nói.

"Không, thưa ngài; ngài nhầm rồi ạ."

"Trời ơi! Sao nhỉ, tôi có thể thề là đúng thế. Bà mặc một bộ váy lụa màu xám nhạt viền lông đà điểu."

"Tôi chưa bao giờ có bộ váy nào như vậy, thưa ngài," bà đáp.

"A, thế thì rõ rồi," Holmes nói. Và với một lời xin lỗi, anh theo chân vị thanh tra ra ngoài. Một quãng đi bộ ngắn băng qua đồng hoang đưa chúng tôi đến chỗ trũng nơi thi thể được phát hiện. Ngay mép chỗ trũng là bụi kim tước - nơi chiếc áo khoác đã được treo lên.

"Tôi hiểu là đêm đó không có gió," Holmes nói.

"Không có; nhưng mưa rất to."

"Nếu vậy thì chiếc áo khoác ngoài không phải bị gió thổi bay vào bụi kim tước, mà đã được đặt ở đó."

"Vâng, nó được trải ngang qua bụi cây."

"Điều này làm tôi rất thích thú. Tôi để ý thấy mặt đất đã bị giẫm nát khá nhiều. Không nghi ngờ gì, vô số bàn chân đã qua lại đây kể từ đêm thứ Hai."

"Một tấm thảm đã được trải ở góc bên kia, và tất cả chúng tôi đều đứng trên đó."

"Tuyệt."

"Trong chiếc túi này, tôi có một chiếc ủng của Straker, một chiếc giày của Fitzroy Simpson, và một chiếc móng sắt của Silver Blaze bị rơi ra."

"Thanh tra thân mến, anh đã vượt cả chính mình rồi đấy!" Holmes cầm lấy chiếc túi, bước xuống chỗ trũng, rồi đẩy tấm thảm vào một vị trí trung tâm hơn. Sau đó, anh nằm sấp xuống, tựa cằm lên hai tay, và cẩn thận nghiên cứu vũng bùn bị giẫm nát trước mặt. "Chà!" anh bỗng kêu lên. "Cái gì thế này?" Đó là một que diêm sáp đã cháy dở, bị bùn phủ dày đến mức thoạt nhìn như một mảnh gỗ nhỏ.

"Tôi không thể hiểu nổi làm sao tôi lại bỏ sót nó," vị thanh tra nói, giọng bực bội.

"Nó vô hình, bị chôn vùi trong bùn. Tôi chỉ thấy nó vì tôi đang tìm kiếm nó."

"Cái gì! Anh đã đoán trước sẽ tìm thấy nó sao?"

"Tôi đã nghĩ rằng điều đó không phải là không thể."

Anh lấy những đôi ủng ra khỏi túi, và so sánh dấu vết của từng chiếc với những dấu vết trên mặt đất. Sau đó, anh trèo lên mép chỗ trũng và bò lồm ngồm giữa những bụi dương xỉ và bụi cây.

"Tôi e rằng chẳng còn dấu vết nào khác đâu," vị thanh tra nói. "Tôi đã lùng sục mặt đất rất kỹ trong phạm vi một trăm thước về mọi hướng."

"Thật vậy sao!" Holmes nói, đứng thẳng dậy. "Tôi sẽ không trơ trẽn đến mức làm lại điều đó sau những gì anh nói đâu. Nhưng tôi muốn tản bộ một vòng trên đồng hoang trước khi trời tối, để có thể nắm rõ địa hình cho ngày mai, và tôi nghĩ tôi sẽ bỏ chiếc móng ngựa này vào túi để lấy may."

Đại tá Ross, người đã bắt đầu lộ rõ dấu hiệu sốt ruột trước phương pháp làm việc trầm lặng và có hệ thống của người bạn đồng hành của tôi, liếc nhìn đồng hồ. "Tôi mong là anh sẽ cùng tôi về nhà, thưa thanh tra," ông nói. "Có vài điểm tôi muốn xin lời khuyên của anh, nhất là việc liệu chúng ta có nên rút tên con ngựa của mình khỏi danh sách tham gia tranh Cúp hay không."

"Chắc chắn là không," Holmes kêu lên, giọng đầy quả quyết. "Tôi sẽ để tên nó lại."

Đại tá cúi đầu. "Tôi rất vui khi có được ý kiến của anh, thưa ngài," ông nói. "Anh sẽ thấy chúng tôi ở nhà Straker tội nghiệp sau khi anh kết thúc cuộc tản bộ, rồi chúng ta có thể cùng nhau lái xe vào Tavistock."

Ông quay lại cùng với vị Thanh tra, trong khi Holmes và tôi thong thả sánh bước băng qua đồng hoang. Mặt trời đã bắt đầu khuất sau dãy chuồng ngựa của Mapleton, và dải bình nguyên dốc dài trước mặt chúng tôi nhuốm một màu vàng rực, đậm dần thành sắc nâu đỏ tươi rói nơi những bụi dương xỉ úa và đám gai góc hứng lấy ánh chiều tà. Nhưng bao vẻ đẹp lộng lẫy ấy của phong cảnh hoàn toàn trôi qua vô ích trước mắt người bạn đồng hành của tôi, kẻ đang chìm ngập trong những suy tư sâu thẳm nhất.

"Này Watson," cuối cùng anh cất tiếng. "Tạm thời ta hãy gác câu hỏi ai đã giết John Straker sang một bên, và chỉ tập trung vào việc con ngựa đã biến đi đâu. Nào, giả sử nó đã trốn thoát trong lúc hoặc ngay sau thảm kịch, thì nó có thể đã đi về đâu? Ngựa vốn là loài sống theo bầy đàn. Nếu bị bỏ mặc, bản năng sẽ thôi thúc nó quay về King's Pyland, hoặc chạy sang Mapleton. Tại sao nó lại lang thang vô định trên đồng hoang? Đến giờ này đáng lẽ phải có người trông thấy nó rồi mới phải. Và tại sao đám dân du mục lại bắt cóc nó? Bọn họ luôn rút đi ngay khi nghe động đến rắc rối, vì chẳng ai trong số chúng muốn bị cảnh sát sờ gáy. Họ không thể hy vọng bán được một con ngựa như thế. Gánh rủi ro thì lớn mà lợi lộc chẳng được gì. Điều đó chắc chắn là hiển nhiên."

"Vậy thì nó đang ở đâu?"

"Tôi đã nói rồi, nó nhất định phải đến King's Pyland hoặc Mapleton. Nó không có ở King's Pyland. Vậy thì nó ở Mapleton. Ta hãy lấy đó làm giả thuyết hành động và xem nó dẫn ta đến đâu. Phần đồng hoang này, như vị Thanh tra đã nhận xét, rất cứng và khô. Nhưng nó thoai thoải thấp dần về phía Mapleton, và anh có thể thấy từ đây rằng đằng kia có một chỗ trũng dài, hẳn là đã rất lầy lội vào cái đêm thứ Hai ấy. Nếu giả định của chúng ta là đúng, thì con ngựa ắt đã phải băng qua đó, và đó chính là nơi chúng ta nên tìm kiếm dấu vết của nó."

Suốt cuộc trò chuyện này, chúng tôi đã bước đi thoăn thoắt, và chỉ vài phút sau đã đặt chân đến chỗ trũng vừa nhắc tới. Theo yêu cầu của Holmes, tôi men xuống sườn dốc bên phải, còn anh đi sang bên trái, nhưng tôi chưa bước được năm mươi bước thì đã nghe thấy anh hét lên một tiếng, và nhìn thấy anh đang vẫy tay ra hiệu về phía tôi. Dấu vết móng ngựa in rành rành trên nền đất mềm trước mặt anh, và chiếc móng sắt mà anh lấy từ trong túi ra vừa như in với vết hằn.

"Anh thấy giá trị của trí tưởng tượng chưa," Holmes nói. "Đó chính là phẩm chất duy nhất mà Gregory còn thiếu. Chúng ta đã hình dung ra những gì có thể đã xảy ra, hành động dựa trên giả định ấy, và nhận ra mình đã đúng. Tiến lên nào."

Chúng tôi băng qua vùng đáy sình lầy và tiếp tục đi gần nửa dặm trên nền cỏ khô cứng. Rồi mặt đất lại dốc xuống, và một lần nữa chúng tôi bắt gặp những dấu vết. Sau đó chúng mất hút trong khoảng nửa dặm, nhưng chỉ để rồi lại hiện ra khi chúng tôi đã ở khá gần Mapleton. Chính Holmes là người trông thấy chúng trước, và anh đứng đó, chỉ tay với vẻ mặt đắc thắng. Dấu chân của một người đàn ông hiện rõ bên cạnh dấu móng ngựa.

"Trước đó con ngựa chỉ đi một mình," tôi kêu lên.

"Đúng thế. Trước đó nó chỉ có một mình. Khoan, cái gì đây?"

Dấu vết đôi bất ngờ ngoặt gắt và quay ngược về hướng King's Pyland. Holmes huýt sáo, và cả hai chúng tôi cùng men theo. Mắt anh dán chặt vào dấu vết, nhưng tôi tình cờ liếc sang bên cạnh, và sửng sốt nhận ra những dấu vết y hệt đang quay trở lại theo chiều ngược lại.

"Cho anh một điểm, Watson," Holmes nói, khi tôi chỉ cho anh thấy. "Anh đã cứu chúng ta khỏi một chuyến đi bộ dài vô ích, thứ sẽ dẫn ta quay lại đúng dấu vết của chính mình. Hãy đi theo dấu quay về."

Chúng tôi không phải đi xa. Dấu vết kết thúc ngay tại lối đi trải nhựa đường dẫn lên cổng chuồng ngựa Mapleton. Khi chúng tôi đến gần, một người chăn ngựa chạy ùa ra từ bên trong.

"Chúng tôi không muốn có kẻ lảng vảng quanh đây," cậu ta nói.

"Tôi chỉ muốn hỏi một câu thôi," Holmes đáp, ngón trỏ và ngón cái của anh thọc trong túi áo gi-lê. "Liệu tôi có đến quá sớm để gặp chủ của cậu, ông Silas Brown, nếu tôi ghé thăm vào lúc năm giờ sáng mai không?"

"Lạy Chúa, thưa ngài, nếu có ai đó còn thức vào giờ ấy thì đó chính là ông ấy, vì ông ấy luôn là người dậy đầu tiên. Nhưng ông ấy kia rồi, thưa ngài, ngài có thể tự mình hỏi ông ấy. Không, thưa ngài, không; chỗ làm của tôi còn đáng giá hơn là để ông ấy bắt gặp tôi chạm vào tiền của ngài. Để sau vậy, nếu ngài cho phép."

Khi Sherlock Holmes cất lại đồng nửa crown mà anh vừa rút ra khỏi túi, một người đàn ông lớn tuổi với vẻ mặt hung dữ sải bước ra khỏi cổng, tay phe phẩy chiếc roi ngựa.

"Cái gì thế này, Dawson!" lão gầm lên. "Không được tán gẫu! Quay lại làm việc của cậu đi! Còn các anh, các anh muốn cái quái gì ở đây?"

"Mười phút nói chuyện với ông thôi, thưa ông bạn tốt của tôi," Holmes nói bằng cái giọng ngọt xớt nhất.

"Tôi không có thời gian nói chuyện với lũ ăn không ngồi rồi. Chúng tôi không muốn có người lạ lai vãng ở đây. Cút ngay đi, nếu không các người sẽ được nếm mùi răng chó đấy."

Holmes rướn người về phía trước và thì thầm điều gì đó vào tai lão huấn luyện ngựa. Lão ta giật bắn mình dữ dội và đỏ bừng mặt đến tận mang tai.

"Đó là một lời nói dối!" lão gào lên, "một lời nói dối trắng trợn!"

"Rất tốt. Chúng ta sẽ tranh cãi về chuyện đó ngay tại đây, trước mắt thiên hạ, hay là thảo luận trong phòng khách của ông?"

"Ồ, vào đi nếu ông muốn."

Holmes mỉm cười. "Tôi sẽ không để anh phải đợi quá vài phút đâu, Watson," anh nói. "Nào, ông Brown, tôi hoàn toàn tùy ông định đoạt."

Hai mươi phút trôi qua, và những ráng đỏ rực cuối chân trời đã phai hẳn thành sắc xám trước khi Holmes và lão huấn luyện ngựa xuất hiện trở lại. Chưa bao giờ tôi chứng kiến một sự thay đổi nào ghê gớm như những gì đã xảy ra với Silas Brown trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Khuôn mặt lão tái nhợt như tro tàn, những giọt mồ hôi lấm tấm trên vầng trán, và hai bàn tay lão run lẩy bẩy đến nỗi chiếc roi ngựa đung đưa như một cành cây trước gió. Cái vẻ hống hách, ngạo mạn lúc trước đã biến mất hoàn toàn, và lão ta khép nép lẽo đẽo theo chân người bạn đồng hành của tôi y như một con chó đi bên cạnh chủ.

"Những chỉ thị của ông sẽ được thực hiện. Mọi thứ sẽ được làm đúng như vậy," lão nói.

"Không được có bất kỳ sai sót nào," Holmes nói, mắt nhìn chằm chằm vào lão. Lão ta nao núng trước vẻ đe dọa trong ánh mắt anh.

"Ồ không, sẽ không có sai sót nào hết. Nó sẽ ở đó. Tôi có nên thay đổi nó trước hay không?"

Holmes suy nghĩ một thoáng rồi bật cười. "Không, đừng làm thế," anh nói; "Tôi sẽ viết thư cho ông về việc đó. Không được giở trò, nhớ đấy, nếu không-"

"Ồ, ông có thể tin tôi, ông có thể tin tôi mà!"

"Phải, tôi nghĩ là tôi có thể. Nào, ông sẽ nhận được tin từ tôi vào ngày mai." Anh quay gót, phớt lờ bàn tay run rẩy mà lão kia chìa ra, và chúng tôi lên đường trở về King's Pyland.

"Một sự pha trộn hoàn hảo hơn giữa kẻ bắt nạt, đồ hèn nhát và kẻ lén lút so với lão Silas Brown này thì tôi hiếm khi gặp trong đời," Holmes nhận xét khi chúng tôi cùng lê bước dọc theo con đường.

"Vậy lão ta đang giữ con ngựa?"

"Lão đã cố gân cổ chối bay chối biến, nhưng tôi đã mô tả cho lão chính xác đến từng chi tiết những hành động của lão vào buổi sáng hôm đó, đến mức lão tin chắc rằng tôi đã theo dõi lão từng bước. Tất nhiên anh đã để ý thấy những đầu mũi giày vuông đặc trưng trong các dấu chân, và rằng chính đôi ủng của lão ta vừa khít với chúng. Hơn nữa, đương nhiên là chẳng có tên thuộc hạ nào dám làm một việc như vậy. Tôi đã mô tả cho lão việc, theo thói quen thường lệ, lão là kẻ xuống chuồng đầu tiên, và đã nhận ra một con ngựa lạ đang lang thang ngoài đồng hoang. Lão đã tiến ra chỗ nó như thế nào, và nỗi kinh ngạc của lão khi nhận ra, từ cái đốm trắng trên trán - thứ đã đặt tên cho con ngựa cưng - rằng vận may đã đặt vào tay lão con ngựa duy nhất có thể đánh bại con ngựa mà lão đã đặt cược. Rồi tôi mô tả việc thôi thúc đầu tiên của lão là dẫn nó về King's Pyland, và việc lòng tham đã xui khiến lão giấu con ngựa cho đến khi cuộc đua kết thúc ra sao, và việc lão đã dắt nó về rồi cất giấu nó ở Mapleton thế nào. Khi tôi kể cho lão nghe mọi chi tiết, lão đã bỏ cuộc và chỉ còn biết nghĩ đến việc cứu lấy cái mạng của chính mình."

"Nhưng chuồng ngựa của lão đã bị khám xét rồi cơ mà?"

"Ồ, một tay chơi ngựa già đời như lão ta có vô khối mánh khóe để qua mặt thiên hạ."

"Nhưng anh không sợ khi để con ngựa trong tay lão ta lúc này sao, khi lão có đủ mọi lý do để làm hại nó?"

"Bạn thân mến của tôi ơi, lão ta sẽ bảo vệ nó như chính con ngươi của mắt mình vậy. Lão biết rằng hy vọng duy nhất để được khoan hồng chính là phải giao nộp nó nguyên vẹn."

"Đại tá Ross chẳng gây cho tôi ấn tượng là một người dễ dàng khoan hồng trong bất kỳ hoàn cảnh nào."

"Vấn đề không nằm ở Đại tá Ross. Tôi theo đuổi phương pháp riêng của mình, và tiết lộ nhiều hay ít là tùy ý tôi. Đó là cái lợi của việc không mang danh nghĩa chính thức. Tôi không biết anh có để ý không, Watson, nhưng thái độ của vị Đại tá có phần hơi kẻ cả với tôi. Giờ đây tôi đang có ý định trêu ngươi ông ta một chút. Đừng nói gì với ông ta về con ngựa."

"Chắc chắn là không rồi, trừ khi có sự cho phép của anh."

"Và tất nhiên, tất cả những chuyện này chỉ là tiểu tiết so với câu hỏi thực sự: ai đã giết John Straker."

"Và anh sẽ dồn toàn tâm toàn lực cho việc đó chứ?"

"Ngược lại, chúng ta sẽ cùng nhau trở về London bằng chuyến tàu đêm."

Tôi chết lặng trước những lời của bạn mình. Chúng tôi mới chỉ đặt chân đến Devonshire được vài tiếng đồng hồ, và việc anh định từ bỏ một cuộc điều tra mà anh đã khởi đầu rực rỡ đến vậy đối với tôi là điều hoàn toàn không thể lý giải nổi. Tôi không thể moi thêm được lời nào từ anh cho đến khi chúng tôi quay lại dinh thự của vị huấn luyện ngựa. Đại tá và vị Thanh tra đang đợi chúng tôi trong phòng khách.

"Bạn tôi và tôi sẽ trở về thành phố bằng chuyến tàu tốc hành đêm nay," Holmes nói. "Chúng tôi đã được hít thở chút không khí Dartmoor tuyệt vời của các ngài."

Vị Thanh tra mở to mắt sửng sốt, còn khóe môi Đại tá nhếch lên thành một nụ cười khẩy.

"Vậy là anh đã tuyệt vọng trong việc bắt giữ kẻ sát hại Straker tội nghiệp," ông ta nói.

Holmes nhún vai. "Có những trở ngại nghiêm trọng trên con đường phía trước," anh đáp. "Tuy nhiên, tôi hoàn toàn hy vọng rằng con ngựa của ngài sẽ xuất phát đúng vào thứ Ba, và tôi xin ngài hãy chuẩn bị sẵn nài ngựa cho nó. Tôi có thể xin một tấm ảnh của ông John Straker chăng?"

Vị Thanh tra rút một tấm ảnh từ trong phong bì và trao cho anh.

"Gregory thân mến, anh đoán trước được mọi yêu cầu của tôi. Nếu tôi có thể yêu cầu anh đợi ở đây một lát, tôi có một câu hỏi muốn hỏi cô hầu gái."

"Tôi phải nói rằng tôi khá thất vọng với vị chuyên gia tư vấn đến từ London của chúng ta," Đại tá Ross buông lời thẳng thừng, khi bạn tôi rời khỏi phòng. "Tôi không thấy chúng ta tiến thêm được bước nào so với lúc anh ta vừa mới đến."

"Ít nhất thì ngài cũng có được sự đảm bảo của anh ấy rằng con ngựa của ngài sẽ chạy đua," tôi nói.

"Phải, tôi có sự đảm bảo của anh ta," Đại tá đáp, kèm theo một cái nhún vai. "Tôi thà có con ngựa còn hơn."

Tôi đang định nói vài lời bênh vực bạn mình thì anh bước vào phòng.

"Nào, thưa các quý ông," anh nói, "Tôi đã hoàn toàn sẵn sàng lên đường đến Tavistock."

Khi chúng tôi bước lên xe, một trong những cậu bé trông coi chuồng ngựa đã giữ cửa mở cho chúng tôi. Một ý nghĩ bất chợt dường như vụt đến với Holmes, bởi anh rướn người về phía trước và chạm nhẹ vào tay áo cậu bé.

"Cậu có một đàn cừu trong bãi cỏ phải không," anh nói. "Ai chăm sóc chúng?"

"Cháu làm, thưa ngài."

"Cậu có nhận thấy điều gì bất thường với chúng trong thời gian gần đây không?"

"Dạ, thưa ngài, cũng không có gì to tát lắm đâu ạ; nhưng ba con trong số chúng bị què, thưa ngài."

Tôi có thể thấy Holmes vô cùng mãn nguyện, bởi anh khúc khích cười và xoa hai tay vào nhau.

"Một cú bắn xa đấy, Watson; một cú bắn rất xa," anh nói, nhéo nhẹ cánh tay tôi. "Gregory, tôi đề nghị anh chú ý đến dịch bệnh kỳ lạ này trong đàn cừu. Đánh xe đi!"

Đại tá Ross vẫn giữ nguyên vẻ mặt biểu lộ sự đánh giá thấp kém mà ông ta dành cho năng lực của người bạn đồng hành cùng tôi, nhưng tôi nhận thấy qua nét mặt của vị Thanh tra rằng sự chú ý của ông đã được khơi dậy một cách sắc bén.

"Anh coi chuyện đó là quan trọng sao?" ông hỏi.

"Cực kỳ quan trọng."

"Có điểm cụ thể nào anh muốn tôi để tâm không?"

"Hãy chú ý đến sự kiện kỳ lạ về con chó trong đêm."

"Nhưng con chó có làm gì trong đêm đâu."

"Đó chính là sự kiện kỳ lạ đấy," Sherlock Holmes nhận định.

Bốn ngày sau, Holmes và tôi lại lên tàu đi Winchester để theo dõi cuộc đua giành giải Wessex Cup. Đại tá Ross đón chúng tôi ngay bên ngoài nhà ga, đúng như lịch hẹn, và chiếc xe ngựa bốn bánh của ông lăn bánh đưa cả ba đến trường đua, nằm ở rìa thị trấn. Gương mặt Đại tá nặng trĩu ưu tư, và thái độ của ông thì lạnh nhạt đến tột cùng.

"Tôi chẳng thấy tăm hơi con ngựa của mình đâu," ông buông lời.

"Tôi cho rằng ngài sẽ nhận ra nó khi nhìn thấy nó chứ?" Holmes đáp.

Đại tá giận tím mặt. "Tôi đã lăn lộn trên trường đua suốt hai mươi năm trời, và chưa từng có ai dám hỏi tôi một câu như thế," ông gằn giọng. "Một đứa trẻ con cũng nhận ra Silver Blaze, với cái trán trắng muốt và cái chân trước bên phải lốm đốm của nó."

"Tỷ lệ cá cược thế nào rồi ạ?"

"À, đó mới là chuyện kỳ lạ. Hôm qua anh còn có thể bắt được tỷ lệ mười lăm ăn một, nhưng rồi nó cứ tụt dần, tụt dần, cho đến lúc này thì khó mà bắt nổi ba ăn một."

"Hừm!" Holmes khẽ nhướn mày. "Có kẻ nào đó đã biết được điều gì đó, rành rành ra đấy."

Khi chiếc xe ngựa dừng hẳn trong khu vực khép kín gần khán đài chính, tôi lướt mắt nhìn tấm thẻ để đọc danh sách ngựa tham gia. Trên đó ghi:-

Wessex Plate. 50 sovereign cho mỗi con, cộng thêm 1000 sovereign cho ngựa bốn và năm tuổi. Về nhì, £300. Về ba, £200. Đường đua mới (một dặm và năm furlong). 1. The Negro của ông Heath Newton (mũ đỏ, áo khoác màu quế). 2. Pugilist của Đại tá Wardlaw (mũ hồng, áo khoác màu xanh và đen). 3. Desborough của Lãnh chúa Backwater (mũ vàng và tay áo vàng). 4. Silver Blaze của Đại tá Ross (mũ đen, áo khoác đỏ). 5. Iris của Công tước Balmoral (sọc vàng và đen). 6. Rasper của Lãnh chúa Singleford (mũ tím, tay áo đen).

"Chúng tôi đã rút con ngựa kia ra rồi," Đại tá cất giọng. "Giờ thì dồn hết hy vọng vào lời hứa của anh đấy. Nhưng mà, chuyện gì đây? Silver Blaze lại đang là ứng cử viên sáng giá nhất ư?"

"Năm ăn bốn chống lại Silver Blaze!" tiếng rao từ trường đua vang lên inh ỏi. "Năm ăn bốn chống lại Silver Blaze! Năm ăn mười lăm chống lại Desborough! Năm ăn bốn cho phần còn lại!"

"Các con số đã lên kìa," tôi buột miệng. "Cả sáu con đều có mặt."

"Cả sáu đều có mặt ư? Thế thì ngựa của tôi đang chạy," Đại tá kêu lên, giọng run lên vì phấn khích tột độ. "Nhưng tôi chẳng thấy nó. Màu áo của tôi vẫn chưa đi ngang qua đây."

"Mới chỉ có năm con đi qua thôi. Con này ắt hẳn là nó."

Tôi vừa dứt lời thì một con ngựa màu hồng sẫm dũng mãnh từ khu vực cân đo lao vụt ra, phi nước đại sải dài ngang qua chỗ chúng tôi. Trên lưng nó là hai màu đen và đỏ lừng danh của Đại tá.

"Đó không phải ngựa của tôi," người chủ ngựa hét lên. "Con thú kia không có một sợi lông trắng nào trên mình. Ông đã chơi trò quỷ quái gì thế này, ông Holmes?"

"Nào, nào, cứ xem nó chạy thế nào đã," bạn tôi thản nhiên đáp, không một chút nao núng. Trong mấy phút liền, anh chăm chú dán mắt qua ống nhòm của tôi. "Tuyệt vời! Một cú xuất phát tuyệt hảo!" anh bất chợt kêu lên. "Chúng kia rồi, đang vòng qua khúc cua!"

Từ trên xe ngựa, chúng tôi có một góc nhìn bao quát tuyệt đẹp khi bầy ngựa lao vào đoạn đường thẳng. Sáu con bám sát nhau đến mức chỉ cần một tấm thảm cũng đủ phủ kín tất cả. Nhưng khi chạy được nửa đường, sắc vàng của chuồng Mapleton bắt đầu vươn lên dẫn trước. Ấy vậy mà chưa kịp đến chỗ chúng tôi, cú bứt phá của Desborough đã cạn hết sức. Con ngựa của Đại tá vọt lên với một cú lao tới đầy uy lực, băng qua vạch đích trước đối thủ trọn sáu chiều dài thân ngựa. Iris của Công tước Balmoral về thứ ba một cách thê thảm cách xa phía sau.

"Dù sao thì đó vẫn là cuộc đua của tôi," Đại tá thở hổn hển, tay đưa lên xoa xoa đôi mắt. "Tôi thú thực là tôi không hiểu mô tê gì hết. Anh không nghĩ mình đã giữ bí mật đủ lâu rồi sao, ông Holmes?"

"Chắc chắn rồi, thưa Đại tá. Ngài sẽ được biết tất cả. Nào, tất cả chúng ta hãy cùng đi vòng qua và xem xét con ngựa nhé. Nó đây rồi," anh nói tiếp khi cả ba tiến vào khu vực cân đo, nơi vốn chỉ dành riêng cho những người chủ ngựa và bằng hữu của họ. "Ngài chỉ cần rửa mặt và chân nó bằng cồn, rồi ngài sẽ thấy nó chính là con Silver Blaze già cỗi như thuở nào."

"Anh khiến tôi sững sờ quá đỗi!"

"Tôi đã tìm thấy nó trong tay một kẻ lừa đảo, và đã mạn phép cho nó chạy đua y nguyên như lúc nó được gửi đến."

"Ngài thân mến ơi, anh đã làm nên những điều kỳ diệu. Con ngựa trông thật khỏe khoắn và tràn trề sinh lực. Cả đời nó chưa bao giờ chạy hay hơn thế. Tôi nợ anh hàng ngàn lời xin lỗi vì đã nghi ngờ tài năng của anh. Anh đã ban cho tôi một đặc ân lớn lao khi tìm lại được con ngựa. Và anh sẽ còn ban cho tôi một đặc ân lớn lao hơn nữa, nếu anh tóm được kẻ đã sát hại John Straker."

"Tôi đã làm điều đó rồi," Holmes lặng lẽ đáp.

Đại tá và tôi cùng trợn tròn mắt nhìn anh trong nỗi kinh ngạc tột cùng. "Anh đã tóm được hắn ư? Hắn đang ở đâu thế?"

"Hắn ở ngay đây."

"Ở đây! Ở đâu cơ?"

"Trước mặt tôi, vào chính lúc này."

Mặt Đại tá đỏ bừng lên vì giận dữ. "Tôi hoàn toàn nhận thức được rằng mình đang mang ơn anh, ông Holmes ạ," ông rít lên, "nhưng tôi buộc phải coi những lời anh vừa nói hoặc là một trò đùa hết sức tồi tệ, hoặc là một sự xúc phạm trắng trợn."

Sherlock Holmes bật cười. "Tôi cam đoan với ngài rằng tôi không hề gán ghép ngài với tội ác ấy, thưa Đại tá," anh ôn tồn. "Kẻ sát nhân thực sự đang đứng ngay sau lưng ngài." Anh bước tới và đặt bàn tay mình lên chiếc cổ bóng mượt của con ngựa thuần chủng.

"Con ngựa!" cả Đại tá và tôi cùng đồng thanh thốt lên.

"Đúng vậy, con ngựa. Và tội của nó cũng có thể được giảm nhẹ phần nào, nếu tôi nói rằng hành động ấy là để tự vệ, và rằng John Straker là một kẻ hoàn toàn không xứng đáng với lòng tin của ngài. Nhưng chuông đã điểm rồi, và vì tôi đang định kiếm chút đỉnh trong cuộc đua tiếp theo này, tôi xin phép hoãn lời giải thích cặn kẽ đến một thời điểm thích hợp hơn vậy."

Tối hôm ấy, chúng tôi ngồi thu mình trong góc một toa xe lửa kiểu Pullman12, lao vun vút trên đường trở về London. Tôi hình dung chuyến đi này ngắn ngủi đối với Đại tá Ross cũng như đối với chính mình, khi cả hai cùng chăm chú lắng nghe người bạn đồng hành tường thuật lại những sự kiện đã diễn ra tại trường đua ngựa ở Dartmoor vào đêm thứ Hai, và cách thức mà anh đã làm sáng tỏ tất cả.

"Tôi phải thú nhận," anh nói, "rằng bất kỳ giả thuyết nào tôi từng xây dựng dựa trên các bản tin trên báo chí đều hoàn toàn sai lệch. Ấy vậy mà manh mối vẫn ở đó, chỉ tiếc rằng chúng đã bị vùi lấp dưới những chi tiết khác, khiến ý nghĩa thực sự bị che khuất. Tôi đến Devonshire với niềm tin vững chắc rằng Fitzroy Simpson chính là thủ phạm, dẫu tất nhiên tôi cũng nhận thấy bằng chứng chống lại hắn chưa hề trọn vẹn. Phải đến khi tôi còn ngồi trong xe ngựa, ngay lúc chúng ta vừa đến nhà người huấn luyện viên, thì ý nghĩa to lớn của món thịt cừu nấu cà ri mới chợt lóe lên trong đầu tôi. Có lẽ các anh còn nhớ lúc đó tôi hơi lơ đãng, và vẫn nán lại trong xe sau khi mọi người đã xuống. Tôi đang tự vấn trong lòng, làm sao mình lại có thể bỏ qua một manh mối hiển nhiên đến nhường ấy."

"Tôi thú thực," Đại tá nói, "rằng ngay cả bây giờ tôi vẫn chưa thấy món đó giúp ích được gì cho chúng ta."

"Đó chính là mắt xích đầu tiên trong chuỗi suy luận của tôi. Thuốc phiện dạng bột không phải là hoàn toàn không có vị. Mùi vị của nó không đến nỗi khó chịu, nhưng vẫn đủ để nhận ra. Nếu bị trộn lẫn vào bất kỳ món ăn thông thường nào, người ăn chắc chắn sẽ phát hiện ra và rất có thể sẽ bỏ dở. Nhưng một món cà ri lại chính là phương tiện hoàn hảo để che giấu mùi vị ấy. Không một giả định nào có thể cho rằng kẻ lạ mặt Fitzroy Simpson lại có thể khiến món cà ri được dọn lên trong bữa tối ở nhà người huấn luyện viên vào chính cái đêm hôm ấy. Và nếu giả định rằng hắn tình cờ mang theo thuốc phiện dạng bột vào đúng buổi tối mà người ta cũng tình cờ dọn lên một món ăn có thể ngụy trang được mùi vị thuốc - thì quả là một sự trùng hợp kỳ dị đến mức phi lý. Điều đó là bất khả thi. Thế là Simpson bị loại khỏi vụ án, và mọi nghi ngờ của chúng ta liền đổ dồn về phía Straker cùng vợ ông ta - hai người duy nhất có quyền chọn món thịt cừu nấu cà ri cho bữa tối hôm ấy. Thuốc phiện đã được bỏ vào sau khi phần thức ăn được để riêng cho cậu bé chăn ngựa, vì những người khác đều đã dùng đúng món ấy trong bữa tối mà không hề gặp phải tác dụng phụ nào. Vậy thì ai trong số họ đã có thể tiếp cận đĩa thức ăn đó mà không bị cô hầu gái nhìn thấy?

"Trước khi giải đáp câu hỏi ấy, tôi đã nắm bắt được ý nghĩa của sự im lặng của con chó - một suy luận đúng đắn luôn dẫn dắt đến những suy luận khác. Vụ việc của Simpson đã cho tôi biết rằng trong chuồng ngựa có nuôi một con chó, ấy thế mà khi có kẻ lẻn vào và dắt ngựa ra, nó lại không sủa đủ lớn để đánh thức hai cậu bé đang ngủ trên gác xép phía trên. Rõ ràng, vị khách nửa đêm hôm ấy là một người mà con chó đã vô cùng quen thuộc.

"Tôi đã bị thuyết phục - hay gần như bị thuyết phục - rằng John Straker đã mò xuống chuồng ngựa lúc nửa đêm và dắt Silver Blaze ra ngoài. Để làm gì? Dĩ nhiên là vì một mục đích không mấy lương thiện, bằng không thì hà cớ gì ông ta phải đánh thuốc mê chính cậu bé chăn ngựa của mình? Nhưng động cơ thực sự thì lúc đó tôi vẫn chưa rõ. Xưa nay từng có những trường hợp các huấn luyện viên kiếm được những khoản tiền khổng lồ bằng cách đặt cược chống lại chính con ngựa của mình thông qua người đại diện, rồi sau đó dùng thủ đoạn gian lận để ngăn nó chiến thắng. Đôi khi chỉ đơn giản là kéo ghìm của nài ngựa. Nhưng cũng có khi là những chiêu trò tinh vi và chắc chắn hơn. Ở đây thì đó là thủ đoạn gì? Tôi đã hy vọng những món đồ trong túi áo ông ta có thể giúp tôi đi đến một kết luận.

"Và chúng quả thực đã làm được điều đó. Ngài hẳn không thể quên con dao kỳ lạ được tìm thấy trong tay người chết - một con dao mà chẳng một người tỉnh táo nào lại chọn làm vũ khí. Như Bác sĩ Watson đã cho chúng ta biết, đó là loại dao được dùng cho những ca phẫu thuật tinh vi bậc nhất trong y học. Và đúng vào đêm hôm đó, nó đã được sử dụng cho một ca phẫu thuật rất tinh vi. Với kinh nghiệm dày dạn về giới trường đua, thưa Đại tá Ross, ngài ắt hẳn phải biết rằng người ta hoàn toàn có thể rạch một đường nhỏ vào gân khoeo của ngựa, khéo léo luồn lưỡi dao ngay dưới lớp da, đến mức không để lại bất cứ dấu vết nào. Một con ngựa bị đối xử như vậy rồi sẽ dần dần nảy sinh một tật đi hơi khập khiễng - thứ mà người ta sẽ dễ dàng gán cho việc bong gân trong lúc tập luyện, hay một chút thấp khớp nào đó, chứ không bao giờ bị nghi ngờ là một trò chơi bẩn."

"Tên khốn kiếp! Quân vô lại!" Đại tá thốt lên.

"Tới đây thì chúng ta đã có lời giải thích vì sao John Straker lại muốn dắt con ngựa ra khỏi đồng cỏ. Một sinh vật dũng mãnh như thế, khi cảm nhận được mũi dao đâm vào, ắt hẳn sẽ hí vang đến mức đánh thức cả những kẻ ngủ say nhất. Buộc phải làm việc đó ở ngoài trời mới mong kín đáo được."

"Tôi quả thật mù quáng!" Đại tá kêu lên. "Tất nhiên rồi - đó chính là lý do ông ta cần đến ngọn nến và phải quẹt que diêm!"

"Không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng trong lúc kiểm tra đồ đạc của ông ta, tôi đã may mắn khám phá ra không chỉ phương thức gây án, mà còn cả động cơ đằng sau đó. Là một người từng trải, thưa Đại tá, ngài thừa biết rằng chẳng mấy người đàn ông lại mang theo hóa đơn của kẻ khác trong túi mình. Đa số chúng ta đã có quá đủ hóa đơn của chính mình để mà lo liệu rồi. Tôi liền kết luận ngay rằng Straker đang sống một cuộc đời hai mặt và duy trì một cơ ngơi thứ hai nào đó. Bản chất của tờ hóa đơn cho thấy có một người phụ nữ dính líu trong vụ này, lại là người có gu thẩm mỹ khá đắt đỏ. Dù ngài có hào phóng với những người hầu cận của mình đến đâu, cũng thật khó mà tưởng tượng họ có thể sắm cho phụ nữ của mình những bộ váy dạo phố giá tới hai mươi guinea. Tôi đã hỏi bà Straker về chiếc váy mà bà ấy hoàn toàn không hề hay biết. Sau khi tự thuyết phục mình rằng chiếc váy đó chưa từng đến tay bà, tôi liền ghi lại địa chỉ của tiệm may nón và cảm thấy rằng, chỉ cần tìm đến đó cùng bức ảnh của Straker, tôi có thể dễ dàng hạ bệ cái tên Derbyshire thần thoại kia.

"Kể từ giây phút ấy, mọi thứ đều trở nên sáng rõ. Straker đã dắt con ngựa đến một chỗ trũng, nơi ánh sáng từ ngọn nến của ông ta sẽ không bị ai nhìn thấy. Trong lúc tẩu thoát, Simpson đã đánh rơi chiếc cravat của mình, và Straker đã nhặt nó lên - có lẽ với ý nghĩ rằng ông ta có thể dùng nó để buộc chân con ngựa. Khi đã xuống tới chỗ trũng, ông ta lẻn ra phía sau lưng Silver Blaze và quẹt sáng một ngọn lửa; thế nhưng con vật bất chợt hoảng sợ trước luồng sáng chói lòa đột ngột, và bằng bản năng kỳ lạ của loài vật, nó cảm nhận được có một ý đồ xấu xa nào đó, liền tung cú đá hậu dữ dội. Chiếc móng sắt giáng trúng ngay vào trán Straker. Bất chấp cơn mưa, ông ta đã cởi áo khoác ngoài để tiện cho công việc tinh vi của mình, và chính vì thế, khi ngã vật xuống, con dao trong tay đã cứa một đường sâu vào đùi ông. Tôi giải thích như vậy có rõ ràng chưa ạ?"

"Tuyệt vời!" Đại tá thốt lên. "Tuyệt hảo! Cứ như thể anh đã tận mắt chứng kiến mọi chuyện vậy!"

"Cú suy đoán cuối cùng, tôi phải thú thực là một phát bắn khá xa. Tôi chợt nhận ra rằng một kẻ khôn ngoan như Straker sẽ không dám thực hiện công việc cắt gân tinh vi ấy mà chưa hề qua luyện tập chút nào. Ông ta đã thực hành trên cái gì? Mắt tôi rơi vào bầy cừu, và tôi đã đặt ra một câu hỏi - hơi đường đột một chút - nhưng nó đã cho thấy dự đoán của tôi là hoàn toàn chính xác.

"Khi về đến London, tôi đã ghé thăm tiệm may nón. Bà chủ tiệm nhận ra Straker chính là một vị khách hàng trứ danh mang tên Derbyshire - một người có một bà vợ vô cùng phô trương, với sở thích mãnh liệt dành cho những bộ váy đắt tiền. Tôi không chút nghi ngờ rằng chính người đàn bà ấy đã đẩy ông ta lún sâu vào vũng nợ nần, và từ đó xô ông ta vào âm mưu khốn khổ này."

"Anh đã giải thích được mọi điều, ngoại trừ một thứ duy nhất," Đại tá kêu lên. "Con ngựa - nó đang ở đâu?"

"À, nó đã bỏ chạy thục mạng, và được một trong những người hàng xóm của ngài chăm sóc. Tôi nghĩ phải tính đến chuyện khoan hồng trong vấn đề ấy. Kìa, kia là ngã ba Clapham, nếu tôi không nhầm. Chúng ta sẽ tới Victoria trong vòng chưa đầy mười phút nữa. Nếu ngài muốn thưởng thức một điếu xì gà trong khoang của chúng tôi, thưa Đại tá, tôi sẽ rất vui lòng cung cấp thêm cho ngài bất kỳ chi tiết nào khác mà ngài có thể quan tâm."



  1. Giải đua ngựa hư cấu do Arthur Conan Doyle sáng tạo, dựa trên các giải đua ngựa danh giá ngoài đời thực ở Anh. Đua ngựa là môn thể thao rất được tầng lớp quý tộc và thượng lưu Anh thời bấy giờ ưa chuộng. 

  2. Một trong những nhà ga xe lửa chính ở trung tâm London, khánh thành năm 1838. Nơi đây là điểm xuất phát của các tuyến tàu chạy về phía tây và tây nam nước Anh, hướng đi đến Devon và Dartmoor. 

  3. Một thành phố cổ nằm ở hạt Devon, Tây Nam nước Anh. Nó đóng vai trò như một trạm trung chuyển quan trọng trên tuyến đường sắt từ London đi về vùng hoang dã Dartmoor. 

  4. Ở Anh, đơn vị đo khoảng cách phổ biến là dặm (mile, khoảng 1.6km). Các cột mốc nhỏ thường được đặt dọc tuyến đường sắt để đánh dấu khoảng cách một phần tư dặm (quarter-mile), giúp ước lượng vận tốc tàu. 

  5. The Daily Telegraph và News Chronicle là hai tờ nhật báo nổi tiếng và có thật ở Anh vào cuối thế kỷ 19. Conan Doyle thường đưa tên các tờ báo thật vào truyện để tăng tính thời sự. 

  6. Trong đua ngựa, nài ngựa (jockey) phải trải qua thủ tục cân trọng lượng (weighing-in) trước và sau cuộc đua để đảm bảo ngựa mang đúng số tạ quy định. Ghế cân (weighing chair) là thiết bị dùng cho việc này. 

  7. "Penang lawyer" là một loại gậy ba-toong làm từ giống cọ đặc biệt ở đảo Penang (Malaysia). Nó thường có phần đầu rất nặng, đôi khi bọc chì, nên vừa là gậy chống vừa được dùng như một vũ khí tự vệ sát thương cao. 

  8. Trong hệ thống pháp luật Anh quốc, bồi thẩm đoàn (jury) là một nhóm người dân bình thường được triệu tập để lắng nghe bằng chứng tại tòa và đưa ra phán quyết về việc bị cáo có tội hay vô tội. 

  9. Sovereign là loại tiền xu bằng vàng của Anh, có mệnh giá bằng đúng 1 bảng Anh. Mang theo nhiều đồng sovereign trong người là dấu hiệu của sự dư dả về tài chính. 

  10. Phố Bond (Bond Street) là con phố mua sắm lừng danh ở West End, London, nổi tiếng từ thế kỷ 18 như trung tâm của các cửa hàng thời trang xa xỉ và đắt tiền bậc nhất nước Anh. 

  11. Guinea là đồng tiền vàng cũ của Anh, có giá trị bằng 21 shilling (1 bảng Anh và 1 shilling). Đồng guinea thường được dùng để định giá những món đồ xa xỉ hoặc chi phí của giới quý tộc. 

  12. Pullman là loại toa xe lửa sang trọng được thiết kế bởi George Pullman vào thế kỷ 19, nổi tiếng với nội thất xa hoa, ghế ngồi thoải mái và chất lượng phục vụ cao cấp dành cho hành khách hạng nhất.