VIII. Người Đàn Ông Lưng Gù

Vào một đêm hè, ít lâu sau khi tôi cưới vợ, tôi đang lặng lẽ ngồi bên lò sưởi, tay cầm tẩu thuốc cuối cùng trong ngày, đầu gật gù trước trang sách của một cuốn tiểu thuyết - bởi cả một ngày dài làm việc đã khiến tôi rã rời. Vợ tôi đã lui lên gác từ lâu, và tiếng then cửa chính vừa cài ban nãy mách với tôi rằng bọn người hầu cũng đã an giấc. Tôi vừa đứng dậy khỏi ghế, đang khẽ gõ tàn thuốc ra ngoài, thì bất thần tiếng chuông cửa vang lên lanh lảnh.

Tôi liếc nhìn đồng hồ. Mười một giờ bốn mươi lăm phút. Chẳng đời nào lại có khách viếng thăm vào giờ này. Hẳn phải là một bệnh nhân cấp cứu, và thế là có khi tôi sẽ phải thức trắng đêm. Nén một tiếng thở dài, tôi bước ra tiền sảnh mở cửa. Thật không sao ngờ được - người đứng nơi bậc thềm trước mặt tôi lại chính là Sherlock Holmes.

“À, Watson,” anh cất tiếng, “mong là tôi không tới muộn quá để gặp anh.”

“Anh bạn thân mến ơi, vào đi nào.”

“Anh có vẻ ngạc nhiên, và cũng phải thôi! Và tôi đoán, anh còn thấy nhẹ cả người nữa chứ! Chà! Thì ra anh vẫn hút giống thuốc Arcadia1 từ hồi còn độc thân! Không thể nào nhầm được lớp tro tàn mịn màng vương lại trên ve áo của anh. Rất dễ để nhận ra anh vốn quen mặc quân phục đấy, Watson ạ. Anh sẽ chẳng bao giờ đánh lừa được ai để trở thành một thường dân thực thụ, chừng nào còn giữ thói quen nhét khăn tay vào ống tay áo như thế. Đêm nay cho tôi tá túc được chứ?”

“Vô cùng sẵn lòng.”

“Trước đây anh từng nói với tôi anh có phòng dành riêng cho khách lẻ, và tôi thấy hiện thời chẳng có vị khách nam nào cả. Cây treo mũ của anh đã nói cho tôi biết điều đó.”

“Tôi sẽ rất vui nếu anh chịu ở lại.”

“Cảm ơn anh. Vậy thì tôi sẽ treo mũ lên cái móc còn trống đây. Rất tiếc khi thấy anh phải gọi thợ đến sửa nhà. Cái việc ấy chẳng bao giờ báo hiệu điềm lành cả. Hy vọng không phải là hệ thống thoát nước đấy chứ?”

“Không, là ống dẫn ga.”

“À! Gã thợ đã để lại hai vết gót giày trên thảm trải sàn của anh rồi kìa, ngay chỗ ánh sáng rọi vào ấy. Thôi, cảm ơn anh, tôi đã dùng bữa tối ở Waterloo rồi, nhưng rất sẵn lòng cùng anh hút một tẩu thuốc.”

Tôi chìa túi thuốc lá về phía anh. Anh ngồi xuống đối diện tôi và im lặng nhả khói hồi lâu. Tôi thừa hiểu chỉ có công việc hệ trọng mới có thể đưa anh tìm đến tôi vào cái giờ khắc muộn mằn này, thế nên tôi kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi anh tự mở lời.

“Dạo này trông anh có vẻ bận rộn công việc khám bệnh lắm thì phải,” anh buông một câu, cặp mắt sắc lẹm liếc nhìn tôi.

“Đúng đấy, suốt cả ngày hôm nay tôi luôn chân không nghỉ,” tôi đáp. “Có lẽ trong mắt anh điều này thật ngớ ngẩn,” tôi nói thêm, “nhưng quả tình tôi chẳng tài nào hiểu nổi làm sao anh lại suy ra được.”

Holmes khẽ bật cười khan.

“Tôi có lợi thế là quá rành thói quen của anh, Watson thân mến ạ,” anh nói. “Mỗi khi lộ trình khám bệnh của anh ngắn, anh sẽ cuốc bộ. Còn lúc lộ trình dài, anh gọi xe ngựa. Vì đôi giày của anh, tuy có dấu hiệu đã sử dụng nhưng không hề lấm bụi đất, thì tôi đoan chắc rằng hiện thời anh đủ bận bịu để phải đi xe.”

“Tuyệt vời!” tôi buột miệng thốt lên.

“Quá hiển nhiên thôi,” anh đáp. “Đây là một trong những tình huống mà kẻ suy luận có thể tạo ra ấn tượng thần kỳ trước mắt người khác, đơn giản chỉ bởi người kia đã bỏ lỡ một chi tiết li ti - thứ vốn là nền tảng của suy luận đó. Anh bạn ạ, điều tương tự cũng có thể nói về hiệu ứng trong mấy câu chuyện nho nhỏ mà anh viết ra đấy. Chúng hào nhoáng là nhờ anh cố tình giấu nhẹm đi vài mắt xích của vấn đề mà không bao giờ tiết lộ cho người đọc. Và giờ đây, chính tôi cũng đang ở trong tình thế của những độc giả đó, bởi tôi đang nắm trong tay mấy sợi dây của một trong những vụ án kỳ quặc nhất từng khiến con người phải vò đầu bứt tóc, nhưng tôi lại thiếu mất một hoặc hai mắt nối cần thiết để khép lại giả thuyết của mình. Nhưng tôi sẽ tìm ra chúng thôi, Watson ạ, tôi sẽ tìm ra cho bằng được!” Đôi mắt anh rực sáng và hai gò má gầy guộc thoáng ửng hồng. Nhưng chỉ trong phút chốc. Khi tôi nhìn lại, sắc mặt anh đã trở về vẻ điềm tĩnh đến lạnh lùng của một chiến binh da đỏ2 - cái vẻ khiến không ít kẻ xem anh như một cỗ máy hơn là một con người.

“Vấn đề lần này sở hữu những nét rất độc đáo,” anh nói. “Tôi thậm chí còn dám nói là những nét hiếm có khác thường. Tôi đã tham gia điều tra, và tôi tin mình đã thấy được manh mối giải quyết. Nếu anh có thể đồng hành cùng tôi trong bước cuối cùng này, anh sẽ giúp tôi rất nhiều.”

“Tôi sẵn lòng.”

“Ngày mai anh có thể đi xa đến tận Aldershot3 không?”

“Tôi tin chắc Jackson sẽ trực khám thay tôi.”

“Tuyệt. Tôi định bắt chuyến tàu lúc mười một giờ mười từ Waterloo.”

“Vậy thì thừa thời gian cho tôi sắp xếp.”

“Thế thì, nếu anh chưa thấy buồn ngủ, tôi sẽ kể tóm tắt cho anh nghe chuyện gì đã xảy ra, và những gì chúng ta phải làm.”

“Trước khi anh đến thì tôi còn buồn ngủ đấy. Nhưng giờ thì tôi tỉnh như sáo rồi.”

“Tôi sẽ thu gọn câu chuyện hết sức có thể, nhưng không để lọt bất kỳ tình tiết cốt tử nào. Rất có thể anh đã đọc được tin tức về vụ này. Đó là nghi án giết đại tá Barclay, chỉ huy trưởng trung đoàn Royal Mallows ở Aldershot, và chính là vụ mà tôi đang theo đuổi.”

“Tôi chưa nghe bất cứ điều gì về chuyện đó.”

“Vụ này chưa gây được bao nhiêu chú ý ngoài phạm vi địa phương. Sự việc mới diễn ra cách đây hai ngày. Sơ lược là thế này:

“Như anh đã biết, Royal Mallows là một trong những trung đoàn Ireland nức tiếng nhất của quân đội Anh. Họ đã lập nên nhiều chiến công lẫy lừng ở cả Crimea4 lẫn trong cuộc Khởi nghĩa Ấn Độ5, và rồi từ đó đến nay chưa từng phụ lòng kỳ vọng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Cho đến tận đêm thứ Hai vừa rồi, vị chỉ huy trung đoàn vẫn là James Barclay - một cựu binh gan dạ, xuất thân từ hàng binh nhì, được phong cấp sĩ quan nhờ lòng dũng cảm xuất chúng trong thời kỳ Khởi nghĩa, và cuối cùng đã sống để chỉ huy chính cái trung đoàn mà xưa kia ông từng khoác súng trường.

“Đại tá Barclay kết hôn khi ông còn mang lon trung sĩ, và vợ ông, tên thời con gái là Nancy Devoy, là con của một cựu thượng sĩ cầm cờ trong cùng đơn vị. Vì thế, như anh có thể hình dung, đã có đôi chút xích mích về đẳng cấp xã hội khi cặp vợ chồng trẻ - vì thời ấy họ đều còn rất trẻ - bước chân vào môi trường mới. Thế nhưng họ dường như đã nhanh chóng xoay xở để hòa nhập, và tôi được cho biết rằng bà Barclay luôn được các phu nhân trong trung đoàn yêu mến, cũng giống như chồng bà được các sĩ quan đồng nghiệp trọng vọng. Tôi có thể nói thêm rằng bà là một phụ nữ sở hữu nhan sắc tuyệt mỹ, và ngay đến bây giờ, sau hơn ba mươi năm chung sống, bà vẫn giữ được vẻ ngoài vô cùng ấn tượng và cao quý.

“Cuộc sống gia đình của đại tá Barclay xem ra chưa từng có một vết rạn. Thiếu tá Murphy - người đã cung cấp cho tôi hầu hết các thông tin - quả quyết với tôi rằng ông ta chưa bao giờ nghe nói đến bất kỳ sự bất hòa nào giữa hai vợ chồng. Nhìn chung, thiếu tá nhận định tình yêu của Barclay dành cho vợ còn lớn hơn tình yêu của vợ dành cho ông. Hễ phải xa bà dù chỉ một ngày thôi, ông liền trở nên vô cùng khắc khoải. Ngược lại, bà ấy thì tận tụy và chung thủy, nhưng ít biểu lộ tình cảm ra bên ngoài hơn. Dẫu sao, cả trung đoàn vẫn coi họ là hình mẫu lý tưởng của một đôi vợ chồng trung niên. Tuyệt đối chẳng có gì trong mối quan hệ giữa họ để người ta có thể tiên liệu được tấn bi kịch sắp giáng xuống.

“Bản thân đại tá Barclay có vẻ sở hữu một vài nét cá tính kỳ lạ. Bình thường, ông là một người lính già hoạt bát, vui tính, nhưng cũng có những lúc ông bộc lộ một khả năng bạo lực và tính thù dai đáng kể. Tuy vậy, mặt này trong bản chất của ông dường như chưa bao giờ nhắm về phía vợ mình. Một sự thật khác gây chú ý cho thiếu tá Murphy cùng ba trong số năm sĩ quan khác mà tôi từng chuyện trò, đó là những cơn trầm uất quái lạ thỉnh thoảng giáng xuống ông. Như lời thiếu tá mô tả, nụ cười trên môi ông thường xuyên bị dập tắt như thể bị một bàn tay vô hình gạt phăng đi, ngay khi đang tham gia những cuộc vui nhộn nhịp nơi bàn tiệc. Có những ngày lúc cơn tồi tệ ập đến, ông chìm sâu trong một vực thẳm u ám tột cùng. Điều này, cùng với một chút thiên hướng mê tín, là hai nét bất thường duy nhất trong tính cách mà các sĩ quan đồng nghiệp từng nhận thấy ở ông. Còn sự kỳ quặc thứ hai thể hiện ở việc ông không hề thích bị bỏ lại một mình, nhất là sau khi trời sập tối. Nét tính cách trẻ con này trong một bản chất nam tính rõ rệt như vậy đã hằng thường xuyên gây ra bao lời bàn tán và đồn đoán.

“Tiểu đoàn Một của trung đoàn Royal Mallows - tức trung đoàn 117 cũ - đã đồn trú ở Aldershot vài năm nay. Các sĩ quan có gia đình đều sống bên ngoài doanh trại, và trong suốt thời gian đó, đại tá cư trú tại một căn biệt thự mang tên Lachine, tọa lạc cách khu trại về phía bắc chừng nửa dặm. Ngôi nhà nằm trong một khu vườn riêng, thế nhưng mặt phía tây của nó chỉ cách đường cái chưa đầy ba mươi thước. Gia nhân gồm một người xà ích và hai cô hầu gái. Cùng với ông bà chủ, họ là tất thảy những con người cư ngụ tại Lachine, vì nhà Barclay không có con cái, và cũng rất hiếm khi có khách đến tá túc.”

“Giờ thì để tôi kể cho anh nghe những gì đã xảy ra tại Lachine, vào khoảng từ chín đến mười giờ tối thứ Hai tuần trước.

“Bà Barclay vốn là một tín hữu của Giáo hội Công giáo, và bà rất nhiệt tâm với công việc của Hội Thánh George - một tổ chức trực thuộc Nhà nguyện phố Watt, chuyên lo việc quyên góp quần áo cũ cho người nghèo. Tối hôm ấy, Hội có một buổi họp vào lúc tám giờ, và bà Barclay đã vội vàng dùng bữa tối để kịp đến dự. Lúc rời khỏi nhà, người xà ích nghe thấy bà trao đổi với chồng vài câu bình thường, và cam đoan rằng mình sẽ về sớm. Rồi bà ghé qua đón cô Morrison - một thiếu nữ sống ở biệt thự kế bên - và hai người cùng nhau đến chỗ họp. Cuộc họp kéo dài chừng bốn mươi phút. Đến chín giờ mười lăm, bà Barclay trở về nhà, sau khi đã để cô Morrison ngay trước cửa nhà nàng.

“Ở Lachine có một gian phòng được dùng làm phòng khách ban ngày. Căn phòng này nhìn thẳng ra mặt đường, với một cánh cửa kính gập lớn mở ra bãi cỏ. Bãi cỏ rộng chừng ba mươi thước, chỉ ngăn cách với lộ chính bởi một bức tường thấp có hàng rào sắt chạy dọc bên trên. Và chính vào gian phòng này, bà Barclay đã bước chân vào lúc trở về. Rèm cửa đêm ấy không được kéo xuống, bởi căn phòng vốn ít khi dùng đến vào buổi tối. Nhưng chính tay bà Barclay đã thắp đèn lên, rồi bấm chuông gọi Jane Stewart - cô hầu gái - mang cho mình một tách trà. Điều này hoàn toàn trái ngược với những thói quen thường nhật của bà. Đại tá lúc ấy đang ngồi trong phòng ăn, nhưng nghe tin vợ đã về, ông bèn sang phòng khách cùng bà. Người xà ích trông thấy ông băng ngang qua sảnh để bước vào đó. Và kể từ giây phút ấy, không một ai còn nhìn thấy ông bước ra lúc còn sống nữa.

“Mười phút sau, tách trà được mang lên. Nhưng khi cô hầu gái đến gần cánh cửa, cô sững sờ vì nghe thấy tiếng ông bà chủ đang cãi vã nhau dữ dội. Cô gõ cửa, nhưng không có tiếng đáp lại. Đến lúc vặn thử tay nắm, cô mới tá hỏa phát hiện ra cánh cửa đã bị khóa chặt từ bên trong. Hoảng hồn, cô chạy vội xuống báo cho người đầu bếp. Thế rồi hai người đàn bà cùng với người xà ích ùa lên sảnh, nín thở lắng tai nghe cuộc tranh cãi vẫn đang sôi sục ở bên trong. Cả ba đều xác nhận rằng chỉ vang lên đúng hai giọng nói - giọng của Barclay và giọng của vợ ông. Giọng Barclay thì trầm đục và cụt lủn, khiến những người đứng ngoài chẳng tài nào nghe rõ ông nói gì. Trái lại, giọng của người vợ thì cao vút và đẫm vẻ cay đắng, đến nỗi mỗi khi bà lên giọng, từng lời phát ra đều rành rọt đến não lòng. ‘Đồ hèn nhát!’ - bà cứ gào đi gào lại mãi. ‘Đến nước này thì còn làm gì được nữa đây? Còn làm gì được nữa đây? Trả lại cuộc đời cho tôi đi. Tôi thề tôi sẽ không bao giờ còn chung một bầu không khí với ông nữa! Đồ hèn nhát! Đồ hèn nhát!’ Đó là những mảnh vỡ của cuộc đối thoại mà họ nghe lỏm được, và tất cả kết thúc bằng một tiếng rú kinh hoàng đột ngột thốt ra từ cổ họng người đàn ông, cùng một tiếng động lớn, rồi một tiếng thét chói tai của người đàn bà. Tin chắc rằng một tấn thảm kịch đã xảy ra, người xà ích liều mạng lao vào cánh cửa, cố sức phá toang nó, trong khi những tiếng hét vẫn tiếp tục vọng ra từ bên trong. Nhưng anh ta bất lực. Còn hai cô hầu gái thì đã quá kinh hãi nên chẳng giúp được gì. Bỗng một ý nghĩ lóe lên: anh ta chạy vòng qua cửa chính, lao ra bãi cỏ - nơi có những ô cửa sổ kiểu Pháp dài mở rộng ra thảm xanh ấy. Một bên cửa sổ đang mở. Tôi hiểu rằng vào mùa hè thì đó là chuyện hết sức bình thường. Và thế là anh ta lách được vào phòng mà không gặp trở ngại gì. Bà chủ anh ta đã ngừng la hét, và đang nằm bất tỉnh trên trường kỷ. Còn người lính bất hạnh kia - đôi chân ông vắt ngang thành ghế bành, tấm thân nằm đổ vật ra sàn, còn cái đầu thì gục ngay bên góc lò sưởi - đã chết cứng trong vũng máu của chính mình.

“Lẽ tự nhiên, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu người xà ích, khi thấy mình chẳng thể làm gì được cho ông chủ, là chạy đi mở toang cánh cửa phòng. Nhưng chính ở đây, một trở ngại hết sức bất ngờ và kỳ quặc đã xuất hiện. Chìa khóa không hề cắm ở mặt trong của ổ khóa, và lùng sục khắp căn phòng cũng chẳng thấy bóng dáng nó đâu. Cuối cùng, anh ta đành lại chui ra ngoài qua cửa sổ, đi tìm sự trợ giúp của một cảnh sát và một vị bác sĩ, rồi mới quay trở lại. Người đàn bà - đối tượng bị tình nghi nặng nhất - đã được đưa về phòng riêng, vẫn mê man bất tỉnh. Thi thể của đại tá sau đó được đặt lên ghế sô-pha, và một cuộc khám nghiệm tỉ mỉ đã diễn ra ngay tại hiện trường của tấn thảm kịch.

“Vết thương cướp đi sinh mạng của người cựu binh đen đủi ấy là một vết rách nham nhở, dài chừng hai inch, nằm ở phía sau đầu - hiển nhiên do một cú giáng mạnh bằng một loại hung khí cùn nào đó gây ra. Và cũng chẳng khó khăn gì để đoán ra thứ hung khí ấy là gì. Ngay trên sàn nhà, kề cận thi thể nạn nhân, là một chiếc gậy kỳ lạ - được tạc bằng thứ gỗ cứng với những hoa văn chạm khắc, phần tay cầm làm bằng xương. Đại tá sở hữu cả một bộ sưu tập vũ khí linh tinh mà ông mang về từ những miền đất ông từng chinh chiến, và cảnh sát phỏng đoán rằng chiếc gậy này cũng nằm trong số những chiến lợi phẩm đó. Bọn người hầu một mực phủ nhận đã từng trông thấy nó trước kia, nhưng giữa vô vàn thứ đồ vật kỳ dị chất chứa trong nhà, rất có thể nó đã bị lãng quên. Ngoài ra, cảnh sát chẳng phát hiện thêm điều gì thực sự đáng kể trong căn phòng, ngoại trừ một sự thật không sao lý giải nổi: chiếc chìa khóa mất tích kia không hề được tìm thấy trên người bà Barclay, cũng không trên người nạn nhân, hay ở bất cứ xó xỉnh nào trong phòng. Rốt cuộc, cánh cửa đành phải chờ một người thợ khóa từ Aldershot đến để phá ra.

“Tình hình đại khái là như vậy đấy, Watson ạ. Và vào sáng thứ Ba, theo đề nghị của thiếu tá Murphy, tôi đã có mặt tại Aldershot để hỗ trợ phía cảnh sát. Tôi nghĩ anh cũng phải thừa nhận rằng vụ việc này vốn dĩ đã hết sức thú vị; nhưng những quan sát của tôi chẳng mấy chốc đã khiến tôi ngộ ra rằng sự thật còn phi thường hơn rất nhiều so với những gì nó thể hiện ra bề ngoài lúc ban đầu.

“Trước khi khám nghiệm căn phòng, tôi đã lần lượt tra hỏi đám người hầu, nhưng chỉ thu thập thêm được đúng những chi tiết mà tôi vừa kể cho anh nghe. Tuy nhiên, có một điều đặc biệt thú vị khác lại được Jane Stewart, cô hầu gái, nhớ ra. Anh nên biết là, lúc vừa nghe tiếng cãi vã, cô ta đã chạy xuống nhà và quay trở lên cùng với những người hầu khác. Nhưng ở cái lần đầu tiên đó, khi chỉ có một mình mình, cô ta bảo rằng giọng của ông bà chủ trầm đến mức cô ta hầu như chẳng nghe rõ gì, và chỉ phán đoán qua giọng điệu rằng họ đang cãi nhau. Ấy vậy mà lúc tôi gặng hỏi kỹ hơn, cô ta lại chợt nhớ ra mình đã nghe thấy cái tên ‘David’ được chính miệng người đàn bà thốt lên - tới những hai lần. Điểm này mang một tầm quan trọng tối hậu trong việc dẫn dắt chúng ta tới căn nguyên của cuộc cãi vã bất thình lình đó. Tên của đại tá, anh hẳn còn nhớ, là James.

“Có một chi tiết trong vụ án này đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho cả bọn người hầu lẫn phía cảnh sát. Đó chính là sự biến dạng khủng khiếp trên gương mặt của viên đại tá. Theo như lời họ thuật lại, nét mặt ông đã đông cứng lại trong một biểu cảm sợ hãi và kinh hoàng tột bậc - đến mức người ta khó lòng tin nổi một khuôn mặt con người lại có thể hiển lộ ra như thế. Không chỉ một người đã ngất xỉu chỉ vì vô tình trông thấy ông; tác động của nó quả là khủng khiếp. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, ông ta đã linh cảm thấy số phận mình, và chính điều đó đã gieo vào lòng ông nỗi hãi hùng tê dại. Điều này, tất nhiên, rất phù hợp với giả thuyết của cảnh sát - rằng đại tá đã trông thấy vợ mình lao vào tấn công ông với ý đồ giết người. Còn việc vết thương nằm ở phía sau đầu cũng chẳng phải là một sự bác bỏ có tính quyết định gì, bởi lẽ ông ta hoàn toàn có thể đã quay mặt đi để né tránh cú đánh. Về phần người đàn bà, chẳng thể moi được thêm thông tin gì từ bà ta, bởi bà đang rơi vào tình trạng mất trí tạm thời do một cơn sốt não cấp tính.

“Từ phía cảnh sát, tôi còn được biết thêm rằng cô Morrison - người đã cùng ra ngoài với bà Barclay vào tối hôm đó - một mực phủ nhận việc biết bất cứ điều gì có thể lý giải cho tâm trạng tồi tệ của người bạn đồng hành khi trở về nhà.

“Sau khi thu thập xong ngần ấy dữ kiện, Watson thân mến, tôi rít liền mấy tẩu thuốc để tĩnh tâm suy ngẫm, cố gắng tách bạch những sợi chỉ cốt lõi của vụ án ra khỏi những thứ chỉ thuần túy mang tính ngẫu nhiên. Không còn nghi ngờ gì nữa, điểm đặc biệt nhất và nhiều gợi mở nhất trong toàn bộ vụ việc, chính là sự biến mất quái dị của chiếc chìa khóa cửa phòng. Một cuộc lùng sục kỹ lưỡng hết mức đã thất bại trong việc tìm ra nó ở bên trong căn phòng. Vậy thì hẳn nó đã bị ai đó lấy đi. Nhưng cả đại tá lẫn vợ ông ta đều không thể là kẻ đã đem nó đi. Điều ấy quá rõ rành rành. Do đó, ắt phải có một người thứ ba đã bước chân vào căn phòng. Và kẻ thứ ba ấy chỉ có thể đột nhập qua lối cửa sổ. Tôi ngờ rằng một cuộc khám xét tỉ mỉ căn phòng và bãi cỏ có thể sẽ phơi bày ra đôi chút dấu vết của nhân vật bí ẩn này. Anh biết rõ phương pháp của tôi rồi đấy, Watson. Chẳng có phép suy luận nào mà tôi lại không đem áp dụng vào cuộc điều tra này. Và cuối cùng thì tôi đã tìm ra những dấu vết - nhưng chúng lại rất khác xa so với những gì tôi dự liệu ban đầu. Quả thực đã có một gã đàn ông ở trong phòng, và hắn đã băng ngang qua bãi cỏ từ ngoài đường để tiến vào. Tôi đã thu được năm dấu vết hết sức rõ ràng từ những bước chân của hắn: một dấu in trên mặt đường cái, ngay tại vị trí hắn trèo qua bức tường thấp; hai dấu trên bãi cỏ; và hai dấu hằn mờ mờ trên những tấm ván sàn lấm bẩn cạnh ô cửa sổ nơi hắn chui vào. Có vẻ như hắn ta đã ba chân bốn cẳng phóng qua thảm cỏ, bởi dấu mũi giày sâu hơn hẳn dấu gót. Nhưng không phải người đàn ông này đã khiến tôi kinh ngạc. Mà chính là kẻ bạn đồng hành của hắn ta kia.”

“Bạn đồng hành của hắn ta á!”

Holmes thò tay vào túi, rút ra một tờ giấy lụa lớn, rồi cẩn thận trải rộng nó trên đầu gối.

“Anh nghĩ sao về cái này?” anh hỏi.

Tờ giấy dày đặc những bản can dấu chân của một sinh vật nhỏ bé nào đó. Nó có năm đệm thịt in rõ mồn một, dấu tích của những chiếc móng vuốt dài ngoằng, và kích cỡ toàn bộ dấu chân thì lớn cỡ gần bằng một cái thìa ăn tráng miệng.

“Đây là một con chó,” tôi buột miệng.

“Thế anh đã bao giờ nghe nói đến chuyện một con chó lại chạy dọc lên màn rèm cửa sổ chưa? Tôi đã tìm thấy những dấu vết không thể nhầm lẫn cho thấy sinh vật này đã làm điều đó.”

“Vậy thì là khỉ ư?”

“Nhưng dấu chân này không phải của khỉ.”

“Vậy thì nó có thể là cái thứ quái quỷ gì cơ chứ?”

“Không phải chó. Cũng chẳng phải mèo. Cũng không là khỉ. Lại càng không phải bất cứ sinh vật nào mà chúng ta quen thuộc. Tôi đã thử dựng lại hình dáng của nó dựa trên những số đo thu thập được. Đây là bốn dấu chân lúc con vật đứng yên. Anh thấy đấy, khoảng cách từ chân trước đến chân sau không dưới mười lăm inch. Cộng thêm chiều dài của cổ và đầu, anh sẽ có được một sinh vật dài ít nhất là hai feet - hoặc có thể hơn thế, nếu nó có đuôi. Nhưng giờ hãy xem xét số đo khác này. Con vật đã di chuyển, và ta có chiều dài sải chân của nó ở đây. Trong từng trường hợp, nó chỉ vỏn vẹn khoảng ba inch. Anh thấy đấy, đó chính là đặc điểm của một cơ thể dài được gắn kết với những cặp chân cực ngắn. Nó không đủ ‘tử tế’ để bỏ lại bất kỳ sợi lông nào. Nhưng hình dạng đại thể của nó chắc hẳn phải đúng như những gì tôi đã chỉ ra, và nó có thể leo lên rèm cửa, và nó là loài ăn thịt.”

“Làm sao anh dám chắc như vậy?”

“Bởi vì nó đã chạy lên rèm cửa. Có một chiếc lồng chim hoàng yến đang treo ngay bên cửa sổ, và mục tiêu của nó dường như chính là để bắt con chim.”

“Vậy thì cuối cùng, nó là giống loài gì?”

“À, nếu tôi có thể gọi đích danh nó ra, thì điều đó sẽ giúp ích vô cùng cho việc giải quyết vụ án. Nói chung, nó có thể thuộc về một sinh vật trong họ nhà chồn - chồn ecmin gì đó - và lớn hơn bất cứ con nào mà tôi từng mục kích.”

“Nhưng nó thì liên quan gì đến tội ác này?”

“Điểm đó thì vẫn còn bao phủ trong màn sương mờ mịt. Nhưng ta cũng đã biết được kha khá điều rồi đấy, anh có thấy không. Chúng ta biết rằng đã có một người đàn ông đứng ở ngoài đường, nhìn thấy cuộc cãi vã giữa vợ chồng nhà Barclay - rèm cửa đang vén lên và căn phòng thì sáng trưng ánh đèn. Chúng ta cũng biết rằng hắn ta đã băng qua bãi cỏ, lẻn vào trong phòng, cùng với một con vật kỳ dị, và rằng chính hắn đã giáng đòn vào vị đại tá - hoặc, cũng có thể, vị đại tá đã ngã gục xuống vì quá kinh hoàng khi trông thấy hắn, rồi đập đầu vào góc lò sưởi. Cuối cùng, chúng ta còn có một sự thật hết sức kỳ quặc, đó là tên đột nhập đã cuỗm theo chiếc chìa khóa lúc rời đi.”

“Những phát hiện của anh dường như chỉ khiến vụ việc càng lúc càng trở nên rối ren hơn trước mà thôi,” tôi nhận xét.

“Chính xác. Chúng cho thấy vụ việc này có một chiều sâu lớn hơn rất nhiều so với những gì người ta suy đoán lúc ban đầu. Tôi đã nghiền ngẫm toàn bộ vấn đề, và đi đến kết luận rằng mình phải tiếp cận vụ án từ một khía cạnh hoàn toàn khác. Nhưng thực sự đấy, Watson à, tôi đang bắt anh phải thức đến tận giờ này. Tất cả những chuyện này tôi có thể kể cho anh nghe trên đường đến Aldershot vào ngày mai cũng được.”

“Cảm ơn anh, nhưng anh đã dẫn tôi đi quá xa rồi, không thể dừng lại lúc này được nữa đâu.”

“Có một điều chắc chắn: khi bà Barclay rời nhà lúc bảy giờ rưỡi, quan hệ giữa bà và chồng vẫn rất tốt đẹp. Như tôi đã nói, bà chưa bao giờ là người thể hiện tình cảm thái quá, nhưng người đánh xe đã nghe thấy bà trò chuyện với đại tá bằng giọng điệu hết sức thân mật. Thế nhưng, một điều cũng chắc chắn không kém là, ngay khoảnh khắc bà trở về, bà liền đi thẳng vào căn phòng mà bà ít có khả năng gặp chồng mình nhất, vội vàng rót trà uống như một người đàn bà đang sôi sục tột độ, và cuối cùng, khi ông ấy bước vào cùng bà, bà đã bùng nổ những lời trách móc dữ dội. Vậy thì, trong khoảng thời gian từ bảy giờ rưỡi đến chín giờ, ắt hẳn đã xảy ra một chuyện gì đó khiến tình cảm của bà dành cho chồng đảo lộn hoàn toàn. Nhưng cô Morrison lại ở bên bà suốt một tiếng rưỡi đồng hồ ấy. Bởi thế, dù cô ấy phủ nhận, song chắc chắn cô ấy phải biết điều gì đó về sự việc này.

“Giả thuyết đầu tiên của tôi là, có lẽ đã xảy ra chuyện gì đó giữa cô gái trẻ này và người lính già, và giờ đây cô ta đã thú nhận với vợ ông ta. Điều đó sẽ cắt nghĩa được cơn giận dữ khi bà ấy trở về, đồng thời cũng lý giải được việc cô gái phủ nhận mọi chuyện. Nó cũng không hề mâu thuẫn với phần lớn những lời mà người ta đã nghe thấy. Nhưng còn có một chi tiết - lời kể của David, cùng với tình yêu mà ai nấy đều biết đại tá dành cho vợ mình - buộc chúng ta phải cân nhắc lại, chưa kể đến màn đột nhập đầy bi kịch của người đàn ông kia, một sự kiện mà dĩ nhiên có thể hoàn toàn chẳng liên quan gì đến những gì đã xảy ra trước đó. Thật khó mà chọn được hướng đi rõ ràng, nhưng nhìn chung, tôi nghiêng về việc gạt bỏ ý nghĩ rằng giữa đại tá và cô Morrison đã xảy ra chuyện gì, song tôi lại càng tin chắc rằng cô gái trẻ ấy đang nắm giữ manh mối về điều gì đã khiến bà Barclay sinh lòng căm hận chồng. Thế nên, tôi đã chọn cách làm hiển nhiên nhất: đến gặp cô Morrison, giải thích với cô ấy rằng tôi hoàn toàn tin chắc cô ấy biết rõ sự thật, và cam đoan với cô rằng người bạn của cô, bà Barclay, có thể sẽ phải ra hầu tòa với một tội danh chết người, trừ khi mọi chuyện được làm sáng tỏ.

“Cô Morrison là một thiếu nữ nhỏ nhắn, thanh mảnh như làn sương, với đôi mắt e dè và mái tóc vàng óng, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra cô không hề thiếu sự sắc sảo và óc thực tế. Cô ngồi lặng suy nghĩ một lát sau khi tôi dứt lời, rồi quay sang tôi với vẻ mặt cương quyết đầy nhanh nhẹn, cô kể cho tôi nghe một câu chuyện đáng chú ý mà tôi xin lược thuật lại cho anh như sau.

“‘Tôi đã hứa với bạn mình là sẽ không hé răng nửa lời về chuyện này, và đã hứa thì phải giữ lời,’ cô nói; ‘nhưng nếu tôi thực sự có thể giúp chị ấy - trong lúc chị ấy đang phải đối mặt với một lời cáo buộc nghiêm trọng đến thế, và khi miệng chị ấy, tội nghiệp thay, đã bị chứng bạo bệnh khóa chặt - thì tôi nghĩ mình đã được giải phóng khỏi lời hứa đó. Tôi sẽ kể cho ngài nghe chính xác những gì đã xảy ra vào tối thứ Hai.

“‘Chúng tôi đang trên đường trở về từ Hội Truyền giáo phố Watt thì đồng hồ điểm khoảng chín giờ kém mười lăm. Đường về buộc chúng tôi phải đi qua phố Hudson, một con đường hết sức vắng lặng. Dọc phố chỉ có mỗi một ngọn đèn đường, nằm bên tay trái, và khi chúng tôi đến gần ngọn đèn ấy, tôi trông thấy một người đàn ông đang bước về phía chúng tôi, lưng ông ta còng hẳn xuống, và trên vai đeo một thứ gì đó trông như một cái hộp. Dáng vẻ ông ta nom có vẻ tàn tật, bởi ông ta cúi gập đầu và bước đi với đôi đầu gối khuỵu xuống. Chúng tôi vừa sắp đi ngang qua ông ta thì ông ta ngẩng mặt lên nhìn chúng tôi giữa vòng ánh sáng tỏa ra từ ngọn đèn, và ngay lúc ấy ông ta khựng lại, thốt lên bằng một giọng kinh hoàng: “Lạy Chúa, là Nancy!” Bà Barclay tái nhợt như xác chết, và có lẽ đã đổ gục xuống nếu cái sinh vật trông gớm ghiếc ấy không kịp đỡ lấy chị ấy. Tôi định gọi cảnh sát, nhưng trước sự ngỡ ngàng của tôi, chị ấy lại nói chuyện với gã ấy bằng một giọng khá nhã nhặn.

“‘“Tôi cứ ngỡ anh đã chết từ ba mươi năm nay rồi, Henry à,” chị ấy nói, giọng run run.

“‘“Tôi đúng là đã chết rồi,” ông ta đáp, và giọng điệu của ông ta lúc đó nghe thật rợn người. Ông ta có một khuôn mặt sạm đen đáng sợ, với một tia sáng trong mắt cứ ám ảnh tôi mãi trong những cơn mơ về sau. Tóc và râu ông ta lốm đốm bạc, còn khuôn mặt thì nhăn nheo, rúm ró như một quả táo héo queo.

“‘“Em cứ đi trước một đoạn nhé, cưng ạ,” bà Barclay nói với tôi; “chị muốn nói với người đàn ông này vài lời. Không có gì phải sợ đâu.” Chị ấy gắng nói bằng vẻ can đảm hết sức, nhưng vẫn nhợt nhạt đến mức chết người và gần như không thể thốt nên lời vì đôi môi run lẩy bẩy.

“‘Tôi làm theo lời chị ấy dặn, và họ đứng đó trò chuyện với nhau trong vài phút. Rồi chị ấy bước xuôi theo con phố, đôi mắt rực lửa, và tôi thấy cái gã tàn tật kia đứng tựa lưng vào cột đèn, vung vẩy hai nắm tay siết chặt trong không trung như thể ông ta đang nổi điên lên vì tức giận. Chị ấy không nói lấy một lời cho đến khi chúng tôi về đến ngay trước cửa ngôi nhà này, chị mới nắm lấy tay tôi và cầu xin tôi đừng kể cho bất kỳ ai về những gì đã xảy ra.

“‘“Đó là một người quen cũ của chị, nay đã sa sút rồi,” chị ấy bảo tôi. Khi tôi hứa sẽ không nói gì, chị ấy hôn tôi, và từ lúc ấy cho đến giờ tôi không còn gặp lại chị nữa. Bây giờ tôi đã kể cho ngài toàn bộ sự thật rồi, và nếu tôi đã từng giấu cảnh sát, ấy là vì lúc đó tôi chưa nhận ra được mối hiểm nguy mà người bạn thân yêu của mình đang gặp phải. Tôi biết rằng chỉ có lợi cho chị ấy nếu mọi chuyện được phơi bày ra ánh sáng thôi.’

“Đó là lời khai của cô ấy, Watson ạ, và với tôi, như anh có thể hình dung, nó sáng rực lên như một tia chớp giữa đêm đen. Mọi mảnh vỡ vốn rời rạc trước đó bắt đầu khớp vào đúng vị trí của chúng ngay tức khắc, và tôi đã lờ mờ hình dung ra được toàn bộ chuỗi sự kiện. Bước đi kế tiếp của tôi rõ ràng là phải tìm cho ra người đàn ông đã gây nên ấn tượng mạnh mẽ đến vậy đối với bà Barclay. Nếu ông ta vẫn còn lẩn quất đâu đó ở Aldershot thì việc này hẳn không quá khó khăn. Dân thường ở cái thị trấn này vốn chẳng đông đúc gì, và một kẻ dị dạng thì chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý. Tôi đã bỏ ra cả một ngày trời để săn tìm, và đến tối - chính là tối nay đây, Watson ạ - tôi đã tìm thấy ông ta. Tên người đàn ông đó là Henry Wood, và ông ta thuê trọ ngay tại con phố mà hai người phụ nữ kia đã gặp ông ta. Ông ta mới chỉ đến vùng này được năm ngày. Đóng giả làm một nhân viên đăng ký dân cư, tôi đã có một cuộc trò chuyện hết sức thú vị với bà chủ nhà. Người đàn ông này hành nghề ảo thuật và biểu diễn rong; ông ta đi quanh các căng-tin quân đội sau khi trời tối, diễn một vài trò ở mỗi nơi. Ông ta mang theo bên mình một sinh vật gì đó trong cái hộp kia; cái sinh vật mà bà chủ nhà có vẻ khá sợ hãi, vì bà ta nói rằng mình chưa từng thấy con vật nào giống như thế. Theo lời bà ấy, ông ta dùng nó trong một vài trò biểu diễn của mình. Người đàn bà ấy chỉ kể cho tôi được bấy nhiêu thôi, rồi bà ta nói thêm rằng thật là kỳ diệu khi một người đàn ông lại có thể sống sót với một thân hình vặn vẹo như thế, và rằng đôi lúc ông ta nói năng bằng một thứ ngôn ngữ lạ lùng, và rằng trong hai đêm vừa qua bà đã nghe thấy ông ta rên rỉ và khóc lóc trong phòng ngủ của mình. Về mặt tiền bạc thì ông ta rất sòng phẳng, nhưng trong khoản tiền đặt cọc, ông ta đã đưa cho bà chủ nhà một đồng xu nom giống hệt một đồng florin6 giả. Bà ấy đưa nó cho tôi xem đấy, Watson ạ, và đó chính là một đồng rupee7 của Ấn Độ.

“Vậy thì giờ đây, anh bạn thân mến của tôi ơi, anh đã thấy rõ chúng ta đang đứng ở đâu, và tại sao tôi lại cần có anh ở đây rồi chứ. Hoàn toàn rõ ràng là, sau khi hai người phụ nữ chia tay với người đàn ông này, ông ta đã lặng lẽ bám theo họ. Ông ta đã chứng kiến cuộc cãi vã giữa hai vợ chồng qua khung cửa sổ, rồi xông thẳng vào, và con vật mà ông ta mang trong chiếc hộp đã sổng ra. Mọi thứ đã quá rành rành rồi. Nhưng ông ta là kẻ duy nhất trên cõi đời này có thể cho chúng ta biết chính xác những gì đã diễn ra trong căn phòng đó.”

“Vậy anh định đến hỏi ông ta sao?”

“Chắc chắn rồi - nhưng phải có mặt một nhân chứng đã.”

“Và tôi chính là cái nhân chứng ấy?”

“Nếu anh vui lòng. Nếu ông ta có thể làm sáng tỏ mọi chuyện, thì tốt. Còn nếu ông ta từ chối, chúng ta chẳng còn cách nào khác ngoài việc xin một lệnh bắt giữ.”

“Nhưng làm sao anh biết chắc ông ta sẽ vẫn ở đó khi chúng ta quay lại?”

“Anh có thể yên tâm rằng tôi đã áp dụng một vài biện pháp phòng ngừa. Tôi đã cử một trong những đứa trẻ ở phố Baker đi canh chừng ông ta, và nó sẽ bám dính lấy ông ta như đỉa đói, bất kể ông ta có đi đâu. Ngày mai chúng ta sẽ tìm thấy ông ta ở phố Hudson thôi, Watson ạ, và trong lúc này thì tôi sẽ mang cái tội tày đình nếu còn bắt anh phải thức khuya hơn nữa.”

Vào giữa trưa ngày hôm sau, chúng tôi đã đặt chân đến hiện trường của vụ thảm kịch, và dưới sự dẫn lối của người bạn đồng hành, chúng tôi thẳng đường tiến về phố Hudson. Dẫu Holmes vốn là bậc thầy trong việc giấu kín cảm xúc, tôi vẫn chẳng mấy khó khăn mà nhận ra anh đang ở trong trạng thái hưng phấn đến tột cùng; còn riêng tôi, từng thớ thịt trong người cũng rần rật cái cảm giác phấn khích pha trộn giữa phiêu lưu và trí tuệ - thứ cảm giác mà tôi chưa từng thiếu vắng trong bất kỳ cuộc điều tra nào sánh vai cùng anh.

“Con phố đây rồi,” anh cất tiếng, lúc chúng tôi rẽ vào một lối đi ngắn, dọc hai bên là những dãy nhà gạch hai tầng mộc mạc, khiêm nhường. “À, Simpson đến báo cáo kia rồi.”

“Ông ấy vẫn còn ở trong nhà, thưa ngài Holmes,” một đứa trẻ lang thang chạy ùa đến chỗ chúng tôi và reo lên.

“Tốt lắm, Simpson!” Holmes vừa nói vừa khẽ vỗ đầu cậu nhỏ. “Đi thôi, Watson. Chính căn nhà này đây.” Anh gửi tấm danh thiếp của mình vào, kèm theo lời nhắn rằng anh đến vì một công việc hết sức quan trọng, và chỉ một thoáng sau, chúng tôi đã đứng đối diện với người đàn ông mà mình tìm đến. Dẫu tiết trời đang rất ấm áp, ông ta vẫn ngồi thu lu bên lò sưởi, khiến căn phòng nhỏ hầm hập chẳng khác gì một cái lò nung. Thân hình ông ta xoắn vặn và rúm ró trên ghế, toát lên một vẻ dị dạng khó gọi thành tên; nhưng khuôn mặt ông ta, dẫu đã hốc hác và sạm đen, hẳn đã từng có thời rất đẹp trai. Ông ta hướng về phía chúng tôi đôi mắt vàng khè bệnh hoạn, chất chứa đầy vẻ ngờ vực, rồi chẳng nói chẳng rằng, cũng chẳng buồn đứng dậy, chỉ khẽ vẫy tay ra hiệu về phía hai chiếc ghế.

“Ông Henry Wood, cựu quân nhân từng phục vụ ở Ấn Độ, tôi tin là vậy,” Holmes mở lời bằng một giọng hết sức nhã nhặn. “Tôi đến đây là vì cái chết của đại tá Barclay.”

“Thì tôi biết gì về chuyện đó cơ chứ?”

“Đó chính là điều tôi muốn xác minh. Tôi cho rằng ông hiểu rất rõ: nếu vụ việc này không được làm sáng tỏ, thì bà Barclay, một người bạn cũ của ông, rất có khả năng sẽ phải hầu tòa với tội danh giết người.”

Người đàn ông giật bắn mình, vẻ kinh hoàng hiện rõ trên mặt.

“Tôi không biết ngài là ai,” ông ta thốt lên, “cũng chẳng rõ bằng cách nào ngài biết được những điều ngài vừa nói, nhưng ngài có dám thề rằng những lời ấy là sự thật không?”

“Chà, người ta chỉ đang chờ bà ấy tỉnh lại để tiến hành bắt giữ thôi.”

“Lạy Chúa! Ngài có phải là cảnh sát không?”

“Không.”

“Vậy thì chuyện này có liên can gì đến ngài?”

“Bảo đảm cho công lý được thực thi là bổn phận của mọi người.”

“Ngài có thể tin lời tôi, em ấy vô tội.”

“Vậy thì ông chính là kẻ có tội.”

“Không, tôi không có tội.”

“Vậy thì ai đã giết đại tá James Barclay?”

“Sự trừng phạt công minh của Chúa đã giết chết hắn ta. Nhưng ngài nhớ cho điều này: dù tôi có đập vỡ sọ hắn, như lòng tôi hằng khao khát, thì hắn cũng chẳng phải chịu đựng gì hơn ngoài sự trừng phạt thích đáng mà bàn tay tôi dành cho hắn. Nếu lương tâm tội lỗi của hắn không quật ngã được hắn, thì rất có thể linh hồn tôi đã phải vấy máu hắn rồi. Ngài muốn tôi kể lại câu chuyện ư? Chà, tôi chẳng biết tại sao mình lại không kể nữa, bởi tôi có gì phải hổ thẹn về chuyện đó đâu.”

“Chuyện là thế này, thưa ngài. Giờ đây ngài nhìn tôi với tấm lưng gù như lạc đà và bộ xương sườn lệch lạc thế này, nhưng đã từng có thời, hạ sĩ Henry Wood là kẻ bảnh bao bậc nhất trong trung đoàn 117. Hồi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Ấn Độ, tại một nơi mà tôi xin gọi là Bhurtee. Còn Barclay - kẻ vừa mới chết cách đây mấy hôm - là trung sĩ trong cùng đại đội với tôi. Và bông hoa đẹp nhất của trung đoàn - phải, người con gái tuyệt vời nhất từng hít thở bầu không khí trên cõi đời này - chính là Nancy Devoy, con gái của ngài thượng sĩ cầm cờ. Có hai gã đàn ông cùng yêu nàng, nhưng nàng chỉ yêu duy nhất một người. Hẳn ngài sẽ bật cười khi nhìn cái sinh vật thảm hại đang co ro trước lò sưởi đây, rồi nghe tôi nói rằng chính nhờ vẻ ngoài bảnh bao của mình mà nàng đã yêu tôi.”

“Ấy vậy mà, dù tôi đã chiếm được trái tim nàng, cha nàng lại nhất mực muốn nàng kết hôn với Barclay. Tôi chỉ là một thằng nhóc bốc đồng, liều lĩnh; còn hắn thì có học thức hẳn hoi, và đã được nhắm sẵn cho chiếc đai gươm sĩ quan. Nhưng nàng vẫn một lòng trung trinh với tôi, và tưởng chừng như tôi đã cưới được nàng, nếu cuộc Khởi Nghĩa không bùng lên, và cả xứ sở ấy không bỗng chốc hóa thành một địa ngục trần gian.”

“Chúng tôi bị kẹt cứng ở Bhurtee - toàn bộ trung đoàn, cùng với nửa khẩu đội pháo binh, một đại đội lính Sikh8, và vô số thường dân cùng phụ nữ. Mười nghìn quân phiến loạn vây kín quanh chúng tôi, hung hăng như lũ chó sục vây quanh chiếc lồng chuột. Đến khoảng tuần thứ hai của cuộc vây hãm, nước uống cạn sạch, và bài toán đặt ra là liệu chúng tôi có thể liên lạc nổi với đạo quân của tướng Neill9 - lúc bấy giờ đang trên đà tiến công lên phía bắc - hay không. Đó là cơ hội sống sót duy nhất, bởi chúng tôi không thể mơ tưởng đến chuyện phá vây với tất cả đàn bà và trẻ nhỏ kè kè bên mình. Thế là tôi tình nguyện lẻn ra ngoài, báo cho tướng Neill biết về tình cảnh hiểm nghèo của chúng tôi. Đề nghị của tôi được chấp thuận, và tôi đã bàn bạc với trung sĩ Barclay - kẻ vốn được đồn là thông thuộc địa hình hơn bất kỳ ai - để hắn vạch ra một tuyến đường giúp tôi luồn qua phòng tuyến của quân phiến loạn. Mười giờ đêm hôm ấy, tôi bắt đầu lên đường. Hàng nghìn sinh mạng đang cần được cứu, nhưng tôi chỉ nghĩ về duy nhất một người khi nhảy qua bức tường trong đêm.”

“Lộ trình của tôi men theo một lòng suối cạn - nơi chúng tôi hy vọng sẽ che giấu tôi khỏi tai mắt của quân canh địch. Nhưng khi tôi bò vòng qua một khúc cua, tôi đâm sầm vào sáu tên, đang ngồi chồm hỗm trong bóng tối để rình tôi. Ngay lập tức, tôi bị đánh cho choáng váng, rồi bị trói chặt tay chân. Nhưng cú đánh thực sự chí mạng lại giáng vào trái tim tôi, chứ không phải cái đầu. Bởi khi tỉnh dậy và cố lắng nghe càng nhiều càng tốt cuộc đối thoại của bọn chúng, tôi đã nghe đủ để nhận ra rằng chính đồng đội của tôi - kẻ đã vạch ra con đường cho tôi đi - đã dùng một tên đầy tớ bản xứ để phản bội và giao nộp tôi vào tay kẻ thù.”

“Thôi, tôi chẳng cần dông dài thêm về khúc ấy nữa làm gì. Giờ thì ngài đã rõ James Barclay là kẻ như thế nào rồi đấy. Ngày hôm sau, Bhurtee được Neill giải vây, nhưng quân phiến loạn đã lôi tôi đi theo trong cuộc rút lui của chúng, và ròng rã bao năm trời sau đó, tôi mới được nhìn thấy lại một khuôn mặt da trắng. Tôi bị tra tấn, rồi tìm cách trốn thoát, rồi lại bị bắt, rồi lại bị tra tấn tiếp. Chính các ngài cũng có thể tận mắt thấy cái tình trạng mà chúng bỏ mặc tôi. Vài kẻ trong bọn chúng chạy trốn vào Nepal đã mang tôi theo, và rồi sau đó tôi bị đưa lên tận quá vùng Darjeeling10. Những người dân miền núi ở đấy đã giết sạch lũ phiến loạn bắt giữ tôi, và tôi trở thành nô lệ của họ thêm một thời gian, mãi cho đến khi trốn thoát được. Nhưng thay vì đi về phía nam, tôi lại buộc phải đi về phía bắc, cho đến khi lạc vào giữa xứ người Afghan11. Tôi lang thang ở đó trong vô số năm dài, và cuối cùng quay về được vùng Punjab12. Ở đấy, tôi sống phần lớn thời gian giữa những người bản xứ, kiếm miếng ăn qua ngày bằng những trò ảo thuật học lỏm được. Chứ ích gì cho tôi - một kẻ tàn phế thảm hại - mà quay về nước Anh, hay để cho đồng đội cũ biết tôi là ai cơ chứ? Ngay cả khát vọng trả thù cũng chẳng đủ sức thôi thúc tôi làm điều đó. Tôi thà để Nancy và các chiến hữu năm xưa nghĩ rằng Harry Wood đã chết với một tấm lưng thẳng thớm, còn hơn là để họ thấy hắn sống vật vờ, lết đi với cây gậy như một con tinh tinh. Họ chưa từng một lần nghi ngờ rằng tôi đã chết - và tôi cũng định để họ mãi mãi tin như vậy. Tôi có nghe đồn Barclay đã cưới Nancy, và hắn thăng tiến vùn vụt trong trung đoàn, nhưng ngay cả điều đó cũng chẳng đủ khiến tôi phải lên tiếng.”

“Thế nhưng, khi con người ta già đi, người ta sẽ mang trong mình một nỗi khát khao quê hương đến quặn thắt. Suốt bao năm trời, tôi đã nằm mơ về những cánh đồng cỏ xanh mướt và những hàng rào dậu của nước Anh. Rốt cuộc, tôi quyết định rằng mình phải được nhìn thấy chúng một lần trước khi nhắm mắt xuôi tay. Tôi dành dụm đủ tiền để trở về, và thế là tôi đến vùng Aldershot này, nơi quy tụ những người lính, bởi tôi thông thạo thói quen của họ và biết cách khiến họ vui lòng để kiếm đủ tiền sinh sống qua ngày.”

“Câu chuyện của ông thật vô cùng hấp dẫn,” Sherlock Holmes lên tiếng. “Tôi đã được nghe kể về cuộc gặp gỡ của ông với bà Barclay, và việc hai người nhận ra nhau. Nếu tôi hiểu không sai, thì sau đó ông đã đi theo bà ấy về đến tận nhà, rồi qua khung cửa sổ, ông chứng kiến cuộc cãi vã giữa bà ấy và người chồng - cuộc cãi vã mà trong đó, bà ấy hẳn đã ném thẳng sự phản trắc của ông ta đối với ông vào mặt ông ta. Cảm xúc của ông trào dâng không kìm nén nổi, và ông đã lao băng qua bãi cỏ, xông thẳng vào giữa hai người họ.”

“Đúng vậy, thưa ngài. Và khi nhìn thấy tôi, hắn hiện lên một vẻ mặt mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ người đàn ông nào trước đây. Hắn ngã ngửa ra sau, đầu đập vào thành lò sưởi. Nhưng hắn thực sự đã chết trước khi ngã xuống rồi. Tôi đọc thấy cái chết rành rành trên khuôn mặt hắn, rõ ràng như tôi có thể đọc dòng chữ khắc phía trên lò sưởi kia vậy. Chỉ cần trông thấy tôi thôi, cũng đủ như một viên đạn xuyên thấu trái tim đầy tội lỗi của hắn.”

“Và sau đó thì sao?”

“Sau đó Nancy ngất lịm đi. Tôi giật lấy chiếc chìa khóa cửa từ tay bà, định mở khóa để chạy đi gọi người đến giúp. Nhưng trong lúc đang làm vậy, tôi chợt nghĩ: thà là cứ bỏ mặc mọi thứ và rời đi thì hơn. Bởi sự việc rất có thể sẽ xoay ra bất lợi cho tôi, và dù thế nào đi nữa, bí mật của tôi cũng sẽ phơi bày ra hết nếu tôi bị bắt. Trong cơn vội vã, tôi đút chiếc chìa khóa vào túi, và đánh rơi cây gậy khi đang đuổi theo Teddy - con vật đã chạy tót lên tận rèm cửa. Khi tôi nhốt được nó trở lại vào trong hộp, cái hộp mà nó đã trốn ra, tôi liền cao chạy xa bay nhanh hết sức có thể.”

“Teddy là con gì vậy?” Holmes hỏi.

Người đàn ông rướn người về phía trước, kéo tấm chắn mặt trước của một chiếc lồng nhỏ trong góc phòng lên. Ngay tức khắc, một sinh vật mang bộ lông màu nâu đỏ tuyệt đẹp, thân hình thon gọn và lanh lợi, với đôi chân tựa như chân chồn ermine, cái mũi dài và nhọn hoắt, cùng cặp mắt đỏ rực đẹp nhất mà tôi từng thấy trên đầu bất kỳ con vật nào, trườn mình ra ngoài.

“Là một con cầy mangut13!” tôi buột miệng thốt lên.

“Chà, vài người gọi nó như vậy, và vài người gọi nó là chồn ichneumon14,” người đàn ông đáp. “Còn tôi thì gọi nó là kẻ diệt rắn. Teddy bắt rắn hổ mang nhanh đến mức đáng kinh ngạc. Ở đây tôi có một con rắn đã bị bẻ hết răng độc, và đêm nào Teddy cũng bắt nó để mua vui cho mọi người trong căng-tin.”

“Còn điểm nào khác nữa không, thưa ngài?”

“Chà, có thể chúng tôi sẽ cần ông giúp đỡ thêm một lần nữa, nếu bà Barclay gặp phải rắc rối nghiêm trọng.”

“Trong trường hợp đó, tất nhiên tôi sẽ đứng ra.”

“Nhưng nếu không có gì, thì cũng chẳng có lý do gì để bới tung vụ bê bối này lên mà hạ nhục một người đã khuất, dù ông ta có hành động đê hèn đến mức nào đi chăng nữa. Ít ra thì ông cũng có được niềm an ủi này: trong suốt ba mươi năm cuộc đời còn lại, chính lương tâm của ông ta đã giày vò ông ta một cách cay đắng vì tội ác ấy. A, thiếu tá Murphy đang đi bên kia đường kìa. Tạm biệt ông nhé, Wood. Tôi muốn sang hỏi xem liệu có chuyện gì mới xảy ra kể từ hôm qua hay không.”

Chúng tôi đã kịp đuổi theo kịp vị thiếu tá ngay trước khi anh ấy rẽ đến góc phố.

“A, Holmes,” anh ấy cất tiếng, “tôi đoán là anh đã nghe tin rồi chứ - tất cả cái vụ ầm ĩ ấy, rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.”

“Ý anh là sao?”

“Phiên điều tra vừa mới kết thúc. Các bằng chứng y khoa đã cho thấy rõ ràng cái chết là do xuất huyết não. Anh thấy đấy, suy cho cùng thì đó cũng chỉ là một vụ việc khá đơn giản mà thôi.”

“Ồ, vô cùng hời hợt,” Holmes mỉm cười đáp. “Đi nào, Watson, tôi không nghĩ là chúng ta sẽ còn cần có mặt ở Aldershot thêm nữa đâu.”

“Có một điều,” tôi lên tiếng, khi chúng tôi sánh bước xuôi về phía nhà ga. “Nếu tên người chồng là James, còn người kia là Henry, thì câu chuyện về David là thế nào nhỉ?”

“Chỉ một từ đó thôi, Watson thân mến, đáng lẽ ra đã có thể kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện, nếu tôi thực sự là một kẻ lý luận hoàn hảo như anh vẫn thường mô tả. Nó rõ ràng là một lời quở trách.”

“Quở trách ư?”

“Đúng vậy. Đôi khi David cũng có chút lầm lạc, anh biết đấy, và có một dịp ông ấy cũng đã bước theo con đường y hệt như trung sĩ James Barclay. Anh còn nhớ câu chuyện nhỏ về Uriah và Bathsheba15 chứ? Tôi e rằng vốn kiến thức Kinh Thánh của tôi đã hơi mai một rồi, nhưng anh sẽ tìm thấy câu chuyện ấy trong sách Samuel quyển thứ nhất hoặc thứ hai đấy.”



  1. Arcadia là tên một loại thuốc lá nhồi tẩu nổi tiếng thời bấy giờ, đại diện cho gu thưởng thức tinh tế của giới trí thức Anh Quốc. 

  2. Hình tượng người Mỹ bản địa (da đỏ) trong văn hóa phương Tây thường gắn liền với sự khắc kỷ, khả năng che giấu cảm xúc tuyệt đối và sự gan góc trước nỗi đau. 

  3. Aldershot là một thị trấn ở Hampshire, Anh. Nơi đây được mệnh danh là "Ngôi nhà của Quân đội Anh" vì là trung tâm đồn trú quân sự lớn nhất của Anh từ giữa thế kỷ 19. 

  4. Cuộc chiến tranh Crimea (1853-1856) là một cuộc xung đột khốc liệt có sự tham gia của quân đội Anh, diễn ra chủ yếu trên bán đảo Crimea. 

  5. Cuộc nổi dậy của người Ấn Độ chống lại sự cai trị của Công ty Đông Ấn Anh vào năm 1857-1858 (còn gọi là Khởi nghĩa Sepoy), một sự kiện đẫm máu làm thay đổi lịch sử Ấn Độ và lực lượng quân đội Anh tại đây. 

  6. Florin là một loại tiền xu cổ của Anh, có giá trị bằng hai shilling (khoảng một phần mười bảng Anh). 

  7. Rupee là đơn vị tiền tệ của Ấn Độ. Ở Anh thời Victoria, việc một người lang thang thanh toán bằng tiền này là dấu hiệu cho thấy người đó từng sống ở thuộc địa Ấn Độ. 

  8. Những người lính theo đạo Sikh (tôn giáo bắt nguồn từ vùng Punjab, Ấn Độ). Họ nổi tiếng là những chiến binh can đảm và thường được tuyển mộ thành các đội quân tinh nhuệ trong quân đội Anh. 

  9. Thiếu tướng James George Smith Neill là một sĩ quan quân đội Anh nổi danh trong việc đàn áp cuộc Khởi nghĩa Ấn Độ năm 1857. 

  10. Một thị trấn nằm trên dãy núi Himalaya thuộc Ấn Độ, nổi tiếng với địa hình đồi núi hiểm trở và giáp ranh với Nepal. 

  11. Người dân vùng Afghanistan, nơi có địa hình núi non khắc nghiệt và lịch sử chiến tranh liên miên với quân đội Anh thời bấy giờ. 

  12. Một vùng lãnh thổ rộng lớn nằm giữa Ấn Độ và Pakistan hiện nay, từng là một trung tâm quân sự quan trọng thời Anh đô hộ Ấn Độ. 

  13. Cầy mangut (mongoose) là một loài thú săn mồi nhỏ bé nhưng cực kỳ nhanh nhẹn, nổi tiếng với khả năng giết chết các loài rắn độc, đặc biệt là rắn hổ mang. 

  14. Tên gọi cổ để chỉ loài cầy mangut (thường là cầy mangut Ai Cập), bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, thường được dùng lẫn lộn với tên gọi cầy mangut trong tiếng Anh. 

  15. Điển tích trong Kinh Thánh Cựu Ước: Vua David vì say mê nhan sắc của Bathsheba nên đã cử chồng nàng là Uriah ra nơi chiến tuyến nguy hiểm nhất để mượn đao giết người. Hành động này hoàn toàn trùng khớp với sự phản bội của Barclay.