VI. Nghi thức nhà Musgrave

Có một điều trong tính cách của anh bạn Sherlock Holmes luôn khiến tôi phải ngạc nhiên. Trong cách suy nghĩ, anh là con người ngăn nắp và có phương pháp nhất trần đời. Anh cũng ưa chuộng cách ăn mặc gọn gàng, kín đáo. Ấy vậy mà trong thói quen sinh hoạt cá nhân, anh lại là một trong những kẻ bừa bộn nhất từng khiến người bạn cùng phòng phải phát điên. Không phải bản thân tôi là người quá câu nệ về chuyện đó. Những ngày tháng bề bộn nơi chiến trường Afghanistan, cộng thêm bản tính nghệ sĩ trời cho, đã biến tôi thành một kẻ xuề xòa hơn hẳn so với mặt bằng chung của giới y khoa. Nhưng ngay cả với tôi cũng phải có giới hạn. Và khi tôi chứng kiến một người cất xì gà trong xô than, để thuốc lá trong mũi chiếc dép Ba Tư, rồi dùng dao găm cắm những lá thư chưa hồi đáp ngay chính giữa bệ lò sưởi bằng gỗ - thì tôi bắt đầu cảm thấy mình quả là một con người nề nếp. Tôi cũng luôn giữ quan điểm rằng tập bắn súng nhất định phải là trò giải trí ngoài trời. Thế nên khi Holmes, trong một cơn hứng chí quái đản, ngồi lọt thỏm trong ghế bành với khẩu súng lục và cả trăm viên đạn Boxer1, rồi bắt đầu trang trí bức tường đối diện bằng dòng chữ V. R. yêu nước2 được tạo nên từ những vết đạn - tôi có cảm giác mãnh liệt rằng cả bầu không khí lẫn vẻ ngoài của căn phòng chúng tôi chẳng hề được cải thiện lấy một chút nào.

Căn phòng của chúng tôi lúc nào cũng tràn ngập hóa chất cùng những di vật của đám tội phạm. Mấy thứ ấy có cái tật hay lạc vào những chỗ không ai ngờ, khi thì nằm chình ình trong đĩa bơ, lúc lại xuất hiện ở những nơi còn tệ hơn thế. Nhưng đống giấy tờ của anh mới chính là nỗi ám ảnh lớn nhất của tôi. Anh cực kỳ sợ phải tiêu hủy tài liệu, nhất là những thứ dính dáng đến các vụ án cũ. Vậy mà phải một, hai năm anh mới gom đủ nghị lực để phân loại và sắp xếp chúng. Bởi lẽ - như tôi đã từng nhắc đến đâu đó trong những hồi ký xộc xệch này - những đợt bùng nổ năng lượng dữ dội, khi anh làm nên những kỳ tích đáng kinh ngạc gắn liền với tên tuổi của mình, thường được tiếp nối bởi những chuỗi ngày dài uể oải. Những lúc ấy, anh chỉ nằm ườn ra với cây đàn vĩ cầm và mấy cuốn sách, gần như chẳng mảy may nhúc nhích, ngoại trừ việc dịch chuyển từ ghế sô-pha sang bàn làm việc. Cứ thế, tháng này qua tháng khác, giấy tờ của anh chất đống dần lên. Cho đến khi mọi ngóc ngách trong phòng đều ngập trong những bó bản thảo - những thứ tuyệt đối không được phép đốt và chẳng ai có quyền dẹp đi, ngoại trừ chính chủ nhân của chúng.

Một đêm mùa đông nọ, khi hai chúng tôi cùng ngồi bên lò sưởi, tôi đánh bạo đề nghị với anh rằng, vì anh đã dán xong các đoạn trích dẫn vào cuốn sổ tay của mình, anh có thể dành hai tiếng đồng hồ tiếp theo để thu dọn căn phòng, hòng giúp nơi chúng ta sinh sống trở nên dễ thở hơn một chút. Anh không tài nào phản bác được sự hợp lý trong lời thỉnh cầu của tôi. Thế là, với vẻ mặt khá rầu rĩ, anh lẳng lặng đi vào phòng ngủ, rồi một lát sau quay trở ra, kéo lê theo một chiếc hộp thiếc lớn. Anh đặt nó ngay giữa phòng, rồi ngồi xổm trên chiếc ghế đẩu trước mặt, bật nắp lên. Tôi có thể thấy chiếc hộp đã đầy được chừng một phần ba - toàn là những bó giấy được buộc gọn gàng bằng ruy băng đỏ, xếp thành từng gói riêng biệt.

“Ở đây đủ các vụ án rồi đây, Watson,” anh nói, liếc nhìn tôi với ánh mắt tinh nghịch. “Tôi nghĩ nếu anh biết hết những thứ tôi đang cất trong chiếc hộp này, anh sẽ bảo tôi lấy bớt ra, thay vì nhét thêm vào đấy.”

“Vậy ra đây chính là hồ sơ về những vụ việc trước kia của anh?” tôi hỏi. “Tôi vẫn thường ao ước giá mà mình có ghi chép về những vụ án ấy.”

“Đúng thế, anh bạn ạ. Tất cả những vụ này đều được thực hiện từ rất lâu trước khi người viết tiểu sử của tôi xuất hiện để tôn vinh tôi.” Anh nhấc từng bó lên với vẻ âu yếm, dịu dàng. “Không phải vụ nào cũng thành công đâu, Watson,” anh nói tiếp. “Nhưng trong số đó có vài bài toán nhỏ khá thú vị. Đây là hồ sơ về vụ sát hại gia đình Tarleton, rồi vụ án của Vamberry, gã buôn rượu, cùng cuộc phiêu lưu của bà lão người Nga, và cả sự kiện kỳ lạ về chiếc nạng nhôm nữa. Lại còn bản ghi chép đầy đủ về Ricoletti chân khoèo cùng người vợ ghê tởm của hắn. Còn đây - à, đây rồi, thứ này quả là có chút gì đó đặc biệt hơn hẳn.”

Anh thọc tay xuống tận đáy rương và lôi lên một chiếc hộp gỗ nhỏ có nắp trượt, trông không khác gì hộp đựng đồ chơi của trẻ con. Từ bên trong, anh lấy ra một mẩu giấy nhàu nát, một chiếc chìa khóa đồng kiểu cổ, một cái chốt gỗ được buộc kèm cuộn dây, và ba chiếc đĩa kim loại cũ kỹ đã rỉ sét.

“Chà, anh bạn, anh nghĩ sao về mớ đồ này?” anh hỏi, mỉm cười trước vẻ mặt ngỡ ngàng của tôi.

“Đúng là một bộ sưu tập kỳ lạ.”

“Rất kỳ lạ. Và câu chuyện xoay quanh nó sẽ còn khiến anh thấy kỳ lạ hơn thế nữa.”

“Vậy ra những di vật này mang trong mình cả một lịch sử ư?”

“Đến mức chúng chính là lịch sử đấy.”

“Ý anh là sao?”

Sherlock Holmes lần lượt nhặt từng thứ lên và xếp chúng dọc theo mép bàn. Rồi anh ngả người vào ghế, ngắm nhìn chúng với ánh mắt lấp lánh niềm hài lòng.

“Những thứ này,” anh cất tiếng, “là tất cả những gì tôi còn giữ lại để nhắc mình nhớ về cuộc phiêu lưu mang tên Nghi thức nhà Musgrave.”

Tôi từng nghe anh nhắc đến vụ án này đôi ba lần, dù chưa lần nào moi được thông tin chi tiết.

“Tôi sẽ rất vui,” tôi đáp, “nếu anh kể cho tôi nghe về nó.”

“Và cứ mặc kệ đống bừa bộn này đây sao?” anh kêu lên, giọng tinh quái. “Tính ngăn nắp của anh rốt cuộc cũng không trụ được bao lâu, Watson ạ. Nhưng tôi sẵn lòng chiều anh, để anh thêm vụ án này vào tập biên niên sử của mình. Bởi lẽ có những điểm trong vụ này khiến nó trở nên hoàn toàn độc nhất vô nhị trong hồ sơ tội phạm của đất nước này, và tôi tin là của bất kỳ quốc gia nào khác nữa. Một bộ sưu tập về những thành tựu nho nhỏ của tôi chắc chắn sẽ không thể trọn vẹn, nếu thiếu đi câu chuyện về vụ việc vô cùng quái dị này.

“Hẳn anh còn nhớ vụ tàu Gloria Scott, và cuộc trò chuyện của tôi với con người bất hạnh mà tôi đã kể anh nghe về số phận của ông ta - chính cuộc trò chuyện ấy đã lần đầu tiên hướng sự chú ý của tôi tới cái nghề mà nay đã trở thành công việc suốt đời của tôi. Anh thấy tôi bây giờ đây, khi danh tiếng đã lan rộng, và tôi thường được cả công chúng lẫn lực lượng cảnh sát chính thức công nhận là tiếng nói phân xử cuối cùng trong những vụ án khó hiểu. Nhưng ngay cả vào thời điểm anh mới quen tôi, khi xảy ra vụ án mà anh đã chép lại trong ‘Hồ Sơ Vụ Án Màu Đỏ Thẫm’, tôi cũng đã gầy dựng được một mạng lưới quan hệ kha khá rồi, dù chưa mấy sinh lợi. Anh khó lòng hình dung nổi buổi ban đầu tôi đã chật vật ra sao, và tôi đã phải kiên nhẫn chờ đợi đến nhường nào mới có được những bước tiến đầu tiên.

“Khi mới đặt chân lên London, tôi thuê phòng trên phố Montague, cách Bảo tàng Anh đúng một khúc quanh, và tôi án binh ở đó. Tôi lấp đầy quãng thời gian rảnh rỗi quá đỗi dư thừa của mình bằng việc miệt mài nghiên cứu tất thảy những ngành khoa học có thể giúp tôi làm việc hiệu quả hơn. Thỉnh thoảng cũng có vụ án gõ cửa, phần lớn là qua sự tiến cử của những người bạn học cũ. Bởi trong mấy năm cuối ở trường Đại học, thiên hạ đã xì xào khá nhiều về tôi cùng những phương pháp của tôi rồi. Vụ án thứ ba đặt chân đến ngưỡng cửa của tôi chính là vụ Nghi thức nhà Musgrave. Và chính nhờ mối quan tâm được khơi dậy từ chuỗi sự kiện kỳ lạ đó, cùng với những vấn đề trọng đại mang tầm vóc quyết định, tôi mới coi đó là bước sải chân dài đầu tiên của mình tiến về vị trí mà tôi đang nắm giữ hôm nay.

“Reginald Musgrave từng theo học cùng trường đại học với tôi, và tôi có đôi chút quen biết với anh ta. Anh ta thường không được lòng đám sinh viên chưa tốt nghiệp, dù theo tôi, cái mà thiên hạ gán cho là kiêu ngạo thực chất chỉ là lớp vỏ che đậy sự rụt rè tột độ cố hữu mà thôi. Về ngoại hình, anh ta mang dáng dấp vô cùng quý tộc - người gầy, mũi cao, mắt to, cùng phong thái có phần uể oải nhưng vẫn toát lên vẻ lịch lãm chốn cung đình. Anh ta đích thực là hậu duệ của một trong những gia tộc cổ xưa nhất vương quốc. Có điều, nhánh của anh ta là nhánh phụ, đã tách khỏi dòng họ Musgrave phía bắc từ khoảng thế kỷ mười sáu, và dời về định cư ở miền tây Sussex. Nơi ấy, Trang viên Hurlstone có lẽ là tòa nhà có người ở lâu đời nhất trong toàn hạt. Dường như có chút gì đó của mảnh đất chôn nhau cắt rốn vẫn còn vương vấn nơi con người này. Tôi chưa bao giờ nhìn vào khuôn mặt nhợt nhạt, sắc sảo hay cái dáng đầu kiêu hãnh của anh ta mà không liên tưởng đến những mái vòm xám ngoét, những ô cửa sổ có đố dọc, cùng tất thảy những tàn tích đáng kính của một pháo đài phong kiến cổ xưa. Đôi ba lần chúng tôi từng bị cuốn vào những cuộc mạn đàm, và tôi còn nhớ rằng không chỉ một lần anh ta bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến các phương pháp quan sát và suy luận của tôi.

“Suốt bốn năm trời tôi không gặp lại anh ta. Mãi cho đến một buổi sáng nọ, anh ta bất thần bước vào căn phòng của tôi trên phố Montague. Anh ta chẳng thay đổi mấy, vẫn ăn vận như một gã thanh niên thời thượng - anh ta luôn mang chút gì đó hơi cầu kỳ trong cách ăn mặc - và vẫn giữ nguyên phong thái trầm tĩnh, nhã nhặn từng là dấu ấn đặc trưng của anh ta ngày trước.

“‘Dạo này anh thế nào, Musgrave?’ tôi hỏi, sau khi hai đứa xiết tay thân thiện.

“‘Chắc anh đã hay tin về cái chết của người cha đáng thương của tôi,’ anh ta đáp. ‘Ông cụ qua đời cách đây chừng hai năm rồi. Từ đó đến giờ, dĩ nhiên tôi phải đứng ra quản lý khu đất Hurlstone. Và vì tôi còn là nghị sĩ đại diện cho khu vực của mình nữa, nên cuộc sống khá là bận rộn. Nhưng tôi nghe nói, Holmes này, anh đang đem vào thực tiễn những năng lực từng khiến bọn tôi phải kinh ngạc ngày trước, có phải không?’

“‘Đúng vậy,’ tôi đáp, ‘tôi đã chọn cách sống bằng chính bộ óc của mình.’

“‘Tôi thực sự mừng khi nghe điều đó. Bởi lúc này, lời khuyên của anh sẽ có giá trị vô cùng lớn đối với tôi. Ở Hurlstone vừa xảy ra những chuyện hết sức kỳ lạ, và cảnh sát thì hoàn toàn bế tắc trong việc làm sáng tỏ sự tình. Quả thực đó là một vụ việc phi thường và khó lý giải bậc nhất.’

“Anh có thể mường tượng được tôi đã háo hức lắng nghe anh ta đến nhường nào không, Watson? Bởi chính cơ hội mà tôi đã khao khát suốt những tháng ngày nhàn rỗi triền miên dường như cuối cùng cũng đã nằm gọn trong tầm tay. Tận đáy lòng, tôi tin chắc rằng mình có thể thành công ở nơi mà những kẻ khác đã thất bại. Và giờ đây, tôi đã có cơ hội để kiểm chứng điều đó.

“‘Xin anh hãy kể tôi nghe mọi chi tiết,’ tôi thốt lên.

“Reginald Musgrave ngồi xuống đối diện tôi, rồi châm điếu xì gà mà tôi vừa đẩy về phía anh ta.

“‘Anh hẳn phải biết rằng,’ anh ta bắt đầu, ‘tuy còn độc thân, nhưng tôi buộc phải duy trì một đội ngũ người hầu đông đảo ở Hurlstone. Nơi ấy là một tòa dinh thự cổ kính rộng lớn, đòi hỏi rất nhiều công sức chăm nom. Tôi cũng có các khu bảo tồn thú săn, và vào mùa săn chim trĩ, tôi thường tổ chức tiệc tùng tại gia, vậy nên không thể thiếu người được. Tổng cộng có tám cô hầu gái, một đầu bếp, một quản gia, hai đầy tớ nam và một cậu bé giúp việc. Khu vườn cùng chuồng ngựa thì đương nhiên có nhân viên riêng đảm trách.

'Trong số đám gia nhân, người gắn bó lâu năm nhất với chúng tôi chính là quản gia Brunton. Khi mới được cha tôi thu nhận, anh ta vốn là một thầy giáo trẻ thất nghiệp, nhưng bản tính tràn trề nghị lực cùng một cá tính mạnh mẽ đã sớm giúp anh ta trở thành người không thể thiếu trong gia đình. Anh ta cao lớn, đẹp trai, mang một vầng trán tuyệt đẹp, và dù đã sống cùng chúng tôi suốt hai mươi năm trời, tôi dám chắc anh ta vẫn chưa đến tuổi bốn mươi. Với những ưu điểm về ngoại hình cùng tài năng phi thường - anh ta nói được vài thứ tiếng và chơi thành thạo gần như mọi loại nhạc cụ - thật khó mà hiểu nổi tại sao một con người như vậy lại cam chịu an phận ở một vị trí thấp kém trong ngần ấy năm. Nhưng tôi ngờ rằng cuộc sống nơi đây quá đỗi dễ chịu, và anh ta chẳng có mấy động lực để thay đổi. Vị quản gia của Hurlstone luôn là một hình ảnh khó quên trong mắt tất thảy những ai từng ghé thăm chúng tôi.

"'Thế nhưng con người tưởng chừng hoàn hảo ấy lại mang trong mình một khuyết điểm. Anh ta có chút gì đó giống một gã Don Juan3, và anh có thể hình dung rằng với một người đàn ông như anh ta, đóng vai trò ấy giữa chốn thôn quê yên ả này chẳng phải chuyện gì quá khó khăn. Khi còn có vợ, mọi sự đều ổn thỏa; nhưng từ lúc góa vợ đến nay, chúng tôi đã gặp không biết bao nhiêu phiền toái vì anh ta. Cách đây vài tháng, chúng tôi từng hy vọng anh ta sắp ổn định trở lại, bởi anh ta vừa đính hôn với Rachel Howells, cô hầu phòng thứ hai của chúng tôi. Thế nhưng rồi anh ta lại quay lưng bỏ rơi cô ấy để cặp kè với Janet Tregellis, con gái viên quản lý khu săn bắn chính. Rachel - vốn là một cô gái rất tốt, nhưng mang trong mình dòng máu nóng nảy đặc trưng của người xứ Wales - đã ngã quỵ sau một cơn viêm màng não trầm trọng. Giờ đây cô ấy đi lại vật vờ trong nhà - hay ít nhất là cho đến tận hôm qua - như một cái bóng với đôi mắt thâm quầng của chính con người cũ. Đó là bi kịch đầu tiên giáng xuống mái nhà Hurlstone; nhưng một bi kịch thứ hai ập đến ngay sau đó khiến chúng tôi gần như quên bẵng chuyện kia đi, và bi kịch ấy mở màn bằng sự ô nhục cùng việc sa thải quản gia Brunton.

"'Sự tình diễn ra như thế này. Tôi đã nói rằng gã này vô cùng thông minh, và chính sự thông minh ấy đã trở thành nguyên nhân khiến anh ta sụp đổ. Bởi lẽ dường như chính nó đã dẫn đến một thứ tò mò bệnh hoạn về những chuyện tuyệt nhiên không hề liên can đến anh ta. Tôi chưa từng mảy may lường được nó sẽ đẩy anh ta đi xa đến mức nào, mãi cho đến một đêm, khi một sự tình cờ hết sức ngẫu nhiên đã mở toang mắt tôi.

"'Tôi đã có nhắc đến rằng ngôi nhà này rất rộng lớn. Vào một ngày trong tuần trước - nói chính xác hơn là vào đêm thứ Năm - tôi thấy mình không tài nào chợp mắt nổi, chỉ vì đã dại dột uống một tách cà phê đen đặc quánh sau bữa tối. Vật lộn với cơn mất ngủ mãi cho đến hai giờ sáng, tôi đành chịu thua hoàn toàn. Tôi trở dậy, thắp nến, với ý định đọc tiếp cuốn tiểu thuyết đang dang dở. Nhưng rồi tôi chợt nhớ ra mình đã bỏ quên cuốn sách ấy trong phòng bida. Thế là tôi khoác vội chiếc áo choàng ngủ lên người và bước ra ngoài để lấy nó.

"'Muốn đến được phòng bida, tôi phải đi xuống một cầu thang, rồi băng qua đầu hành lang dẫn tới thư viện và phòng treo súng. Anh thử hình dung mà xem, tôi đã sững sờ biết bao khi, trong lúc đưa mắt dọc theo lối đi ấy, tôi trông thấy một tia sáng le lói hắt ra từ cánh cửa khép hờ của thư viện. Chính tay tôi đã tắt đèn và đóng cửa phòng ấy trước khi lên giường. Ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu tôi đương nhiên là có trộm. Những bức tường hành lang ở Hurlstone được trang hoàng dày đặc bằng đủ loại chiến lợi phẩm là vũ khí cổ. Tôi rút vội một chiếc rìu chiến từ trên tường xuống, rồi bỏ cây nến lại phía sau, rón rén men theo hành lang và nhòm vào qua khe cửa.

"'Brunton, gã quản gia, đang ở trong thư viện. Anh ta ngồi đó, ăn mặc chỉnh tề, trên một chiếc ghế bành, với một mảnh giấy trông như tấm bản đồ đặt trên đầu gối, vầng trán gục vào lòng bàn tay, đắm chìm trong suy tư sâu thẳm. Tôi đứng lặng người vì kinh ngạc, dõi theo anh ta từ trong bóng tối. Một ngọn nến nhỏ đặt bên mép bàn, tỏa ra thứ ánh sáng leo lét vừa đủ để tôi nhận ra anh ta ăn vận hết sức tươm tất. Bỗng nhiên, ngay khi tôi đang quan sát, anh ta đứng bật dậy khỏi ghế, bước tới một chiếc bàn giấy đặt bên cạnh, mở khóa và kéo một ngăn kéo ra. Từ đó, anh ta lấy ra một tờ giấy. Rồi trở về chỗ ngồi, anh ta trải phẳng nó ngay bên cạnh ngọn nến trên mép bàn, và bắt đầu nghiền ngẫm với một sự chú tâm đến nhường nhặt từng chi tiết nhỏ nhất. Cơn phẫn nộ trước cảnh tượng anh ta ngang nhiên lục lọi đám tài liệu của gia đình dâng lên cuồn cuộn trong tôi. Tôi bước tới một bước. Brunton ngước lên, trông thấy tôi đang sừng sững nơi bậc cửa. Anh ta bật dậy như lò xo, sắc mặt tái nhợt vì kinh hoàng, và vội vàng nhét vào trong ngực áo tờ giấy trông giống tấm bản đồ mà anh ta vừa nghiên cứu ban nãy.

"'"Ra thế này!" tôi quát lên. "Đây chính là cái cách anh đền đáp lòng tin mà chúng tôi đã đặt nơi anh hay sao? Ngày mai anh sẽ cuốn gói khỏi nơi này."

"'Anh ta cúi chào với gương mặt của một kẻ đã hoàn toàn suy sụp, rồi lẳng lặng lách qua tôi mà không thốt nổi một lời. Ngọn nến vẫn còn trên bàn, và nhờ ánh sáng của nó, tôi liếc nhanh xem thử tờ giấy mà Brunton đã lấy từ trong bàn giấy kia là thứ gì. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy nó chẳng mang chút tầm quan trọng nào - đơn giản chỉ là một bản sao chép lại toàn bộ câu hỏi và câu trả lời trong một thứ nghi thức cổ xưa kỳ quặc, được gọi là Nghi thức nhà Musgrave. Đó là một loại lễ nghi đặc trưng của dòng tộc chúng tôi, thứ mà mỗi người con trai nhà Musgrave suốt bao thế hệ đều phải trải qua khi đến tuổi trưởng thành - một thứ thuần túy mang tính gia đình, có lẽ cũng có đôi chút giá trị đối với một nhà khảo cổ học, tựa như phù hiệu và huy chương của chúng tôi vậy, nhưng tuyệt nhiên chẳng hề có công dụng thực tiễn nào.

"'"Thôi, tốt hơn hết chúng ta nên quay lại với tờ giấy ấy sau," tôi ngắt lời.

"'"Nếu anh thực sự thấy cần thiết," anh ta đáp, với đôi chút ngập ngừng trong giọng nói. "Nhưng xin cho phép tôi kể tiếp câu chuyện của mình: Tôi khóa chiếc bàn giấy lại bằng chính chiếc chìa mà Brunton đã bỏ lại, và vừa quay gót định bước đi thì tôi sững người kinh ngạc khi thấy gã quản gia đã quay trở lại, đứng sừng sững ngay trước mặt tôi.

"'"Ông Musgrave, thưa ngài," anh ta kêu lên, giọng khản đặc vì xúc động, "tôi không thể chịu nổi sự ô nhục này, thưa ngài. Tôi vẫn luôn lấy làm tự hào về vị trí của mình trong đời, và nỗi ô nhục này sẽ giết chết tôi mất. Máu của tôi sẽ nhỏ xuống đầu ngài, thưa ngài - chắc chắn là như vậy - nếu ngài dồn tôi vào bước đường cùng. Nếu ngài không thể giữ tôi lại sau những gì đã xảy ra, thì vì lòng Chúa, xin hãy cho phép tôi được nộp đơn xin nghỉ việc và rời đi trong vòng một tháng nữa, cứ như thể đó là ý nguyện tự do của chính tôi. Tôi có thể chịu đựng được điều đó, thưa ông Musgrave, nhưng tôi không thể chịu nổi cảnh bị tống cổ ra ngoài ngay trước mắt tất thảy những con người mà tôi đã quá đỗi thân quen."

"'"Anh chẳng đáng được hưởng nhiều sự cân nhắc đến thế đâu, Brunton," tôi đáp. "Hành vi của anh vô cùng đê hèn. Tuy nhiên, nể tình anh đã gắn bó với gia đình này suốt một thời gian dài, tôi không có ý định bêu xấu anh trước công chúng. Nhưng dù sao đi nữa, một tháng là quá dài. Hãy thu dọn đồ đạc và rời đi trong vòng một tuần, anh có thể viện ra bất cứ lý do gì mình muốn cho sự ra đi ấy."

"'"Chỉ một tuần thôi sao, thưa ngài?" anh ta kêu lên, giọng tuyệt vọng tột cùng. "Hai tuần - ít nhất cũng phải hai tuần chứ!"

"'"Một tuần," tôi nhắc lại, "và anh có thể tự coi mình là đã được đối xử hết sức khoan hồng rồi đấy."

"'Hắn ta lầm lũi quay lưng bước đi, đầu gục xuống trước ngực, trông như một con người đã bị bẻ gãy hoàn toàn. Còn tôi thì tắt nến và trở về phòng mình.

"'Suốt hai ngày sau đó, Brunton tỏ ra vô cùng cần mẫn và tận tụy trong mọi công việc. Tôi không hề nhắc lại những gì đã xảy ra, và chờ đợi với đôi chút tò mò xem anh ta sẽ che giấu nỗi ô nhục của mình bằng cách nào. Thế nhưng, đến sáng ngày thứ ba, anh ta không xuất hiện sau bữa điểm tâm như thường lệ để nhận những chỉ thị của tôi cho cả ngày. Khi tôi vừa rời khỏi phòng ăn, tôi tình cờ chạm mặt Rachel Howells, cô hầu gái. Tôi đã kể với anh rằng cô ấy chỉ vừa mới bình phục sau cơn bạo bệnh, và trông cô ấy nhợt nhạt, tiều tụy đến thảm thương. Tôi bèn quở trách cô ấy vì còn đang cố sức làm việc.

"'"Cô nên nằm trên giường nghỉ ngơi mới phải," tôi nói. "Hãy quay trở lại với công việc khi nào cô thực sự khỏe hơn."

"'Cô ấy nhìn tôi với một biểu cảm kỳ lạ đến mức tôi bắt đầu nghi ngờ rằng đầu óc cô ấy có vấn đề thật rồi.

"'"Cháu đủ khỏe rồi, thưa ông Musgrave," cô ấy đáp.

"'"Để xem bác sĩ nói thế nào đã," tôi bảo cô ấy. "Giờ thì cô phải dừng hết mọi công việc lại, và khi nào xuống nhà, hãy nói rằng tôi muốn gặp Brunton."

"'"Quản gia đi rồi ạ," cô ấy nói.

"'"Đi rồi ư! Đi đâu mới được chứ?"

"'"Ông ấy đi rồi. Không ai còn thấy ông ấy nữa. Ông ấy không có trong phòng. Ồ, phải rồi, ông ấy đi rồi, đi mất rồi!" Cô ấy lùi dần vào tường, rồi phá lên hết tràng cười này đến tràng cười khác một cách kích động. Còn tôi, kinh hoàng trước cơn cuồng loạn đột ngột ấy, vội vã lao tới chiếc chuông gọi người đến giúp đỡ. Cô gái được đưa về phòng, vẫn la hét và nức nở thảm thiết, trong khi tôi đi hỏi thăm tin tức về Brunton. Không còn nghi ngờ gì nữa, anh ta đã biến mất. Giường của anh ta không hề có người ngủ. Chẳng ai nhìn thấy anh ta kể từ đêm hôm trước, khi anh ta trở về phòng mình. Vậy nhưng thật khó hiểu làm sao anh ta có thể rời khỏi căn nhà này, bởi cả cửa sổ lẫn cửa ra vào sáng hôm sau đều được xác nhận là vẫn còn khóa kín. Quần áo, đồng hồ và thậm chí cả tiền bạc của anh ta vẫn còn nguyên trong phòng, duy chỉ có bộ lễ phục đen mà anh ta thường mặc là đã biến mất. Đôi dép lê trong phòng cũng không cánh mà bay, nhưng đôi ủng thì vẫn còn nằm lại. Vậy thì rốt cuộc quản gia Brunton có thể đã đi đâu trong đêm, và chuyện gì đã xảy đến với anh ta vào lúc này?

"'Đương nhiên, chúng tôi đã lục tung cả ngôi nhà, từ hầm rượu cho đến tận gác xép, nhưng chẳng hề tìm thấy bất cứ dấu vết nào của anh ta. Đúng như tôi từng nói, đây là một ngôi nhà cổ tựa như mê cung, đặc biệt là ở cánh nhà nguyên thủy, nơi mà hiện nay hầu như chẳng có bóng người lui tới. Thế nhưng chúng tôi đã lùng sục từng căn phòng, từng căn hầm mà vẫn không hề phát giác ra bất kỳ manh mối nào về người đàn ông mất tích. Thật khó lòng tin nổi khi anh ta có thể bỏ đi mà để lại toàn bộ tài sản của mình phía sau, nhưng nếu không như vậy thì anh ta có thể ở đâu được cơ chứ? Tôi đã gọi cảnh sát địa phương đến, nhưng cũng chẳng có kết quả gì. Đêm hôm trước trời có mưa, và chúng tôi đã rà soát kỹ lưỡng bãi cỏ cùng các lối đi quanh nhà, nhưng hoàn toàn vô ích. Mọi chuyện đang ở trong tình trạng bế tắc như vậy thì một diễn biến mới hoàn toàn thu hút sự chú ý của chúng tôi khỏi bí ẩn ban đầu.

"'Suốt hai ngày liền Rachel Howells đổ bệnh nặng đến mức có lúc mê sảng, có lúc kích động dữ dội. Một nữ y tá đã được thuê túc trực bên cô ấy suốt đêm. Vào đêm thứ ba kể từ sau sự biến mất của Brunton, cô y tá - khi ấy đang thấy bệnh nhân của mình ngủ say - đã vô tình thiếp đi trên chiếc ghế bành. Đến sáng sớm hôm sau, khi tỉnh dậy, cô hoảng hồn nhận ra chiếc giường đã trống không, cửa sổ mở toang hoác, và chẳng còn dấu hiệu nào của người bệnh. Tôi lập tức bị đánh thức, và tôi cùng hai gia nhân nam khẩn trương lên đường truy tìm cô gái mất tích. Chẳng khó khăn gì để đoán ra hướng cô ấy đã đi, bởi bắt đầu từ ngay bên dưới ô cửa sổ phòng cô ấy, chúng tôi có thể dễ dàng lần theo những dấu chân in hằn trên bãi cỏ, dẫn thẳng đến tận bờ hồ nước. Những dấu chân ấy biến mất ngay sát con đường rải sỏi dẫn ra khỏi khuôn viên điền trang. Hồ nước ở đó sâu đến hai mét rưỡi, và anh có thể hình dung cảm giác của chúng tôi ra sao khi chứng kiến dấu vết cuối cùng của cô gái tội nghiệp dừng lại ngay tại mép hồ.

"'Dĩ nhiên, chúng tôi lập tức mang dây kéo lưới tới, và bắt tay ngay vào công việc vớt tìm thi thể. Nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy bất kỳ dấu vết nào của cái xác. Thay vào đó, chúng tôi lại kéo lên khỏi mặt nước một vật thể thuộc vào loại kỳ lạ nhất mà người ta có thể tưởng tượng nổi. Đó là một chiếc túi bằng vải lanh, bên trong đựng một mớ kim loại cũ kỹ gỉ sét, xỉn màu, cùng vài mảnh sỏi hoặc thủy tinh nhuốm màu đục ngầu. Phát hiện quái dị này là tất cả những gì chúng tôi thu được từ lòng hồ. Và mặc dù suốt ngày hôm qua chúng tôi đã tiến hành mọi cuộc tìm kiếm và tra hỏi có thể, chúng tôi vẫn hoàn toàn mù tịt về số phận của cả Rachel Howells lẫn Richard Brunton. Cảnh sát hạt đã hoàn toàn bó tay, và tôi tìm đến anh như một giải pháp cuối cùng vậy.'

"Anh có thể mường tượng được, Watson ạ, tôi đã háo hức lắng nghe chuỗi sự kiện phi thường này đến nhường nào. Tôi gắng sức xâu chuỗi chúng lại với nhau, cố tìm ra một sợi dây liên kết chung mà tất cả có thể cùng mắc vào. Gã quản gia đã mất tích. Cô hầu gái cũng đã mất tích. Cô hầu gái từng yêu gã quản gia, nhưng rồi sau đó lại có đủ mọi lý do để căm hận anh ta. Cô ấy mang trong mình dòng máu xứ Wales, nóng nảy và nồng nhiệt. Cô ấy đã kích động tột độ ngay sau khi anh ta biến mất. Cô ấy đã ném xuống đáy hồ một chiếc túi chứa đựng những thứ kỳ lạ bên trong. Tất cả những yếu tố ấy đều phải được đưa vào xem xét, vậy mà chẳng có yếu tố nào thực sự chạm tới được trung tâm của vấn đề. Điểm khởi đầu của cả chuỗi sự kiện này là gì? Đó mới chính là nơi kết thúc của cuộn chỉ rối rắm này.

"'Tôi nhất định phải được xem tờ giấy đó, Musgrave ạ,' tôi lên tiếng. 'Cái tờ giấy mà viên quản gia của anh cho rằng đáng để anh ta đánh cược cả vị trí của mình để được nghiên cứu ấy.'

"'Thực ra cái nghi thức này của chúng tôi cũng khá là ngớ ngẩn,' anh ta đáp. 'Nhưng ít ra nó cũng có được cái ơn cứu rỗi của sự cổ kính để bào chữa. Tôi có một bản sao các câu hỏi và câu trả lời ở đây, nếu anh muốn liếc mắt qua chúng.'

"Anh ta đưa cho tôi chính mảnh giấy mà tôi đang cầm trên tay đây, Watson. Và đây chính là cái bảng giáo lý kỳ quặc mà mỗi người con trai nhà Musgrave đều phải tuân theo khi đến tuổi trưởng thành. Tôi sẽ đọc cho anh nghe những câu hỏi và câu trả lời, đúng nguyên văn như sau:

"'Của ai?'

"'Của người đã ra đi.'

"'Ai sẽ giữ lấy nó?'

"'Người sẽ đến.'

"'Mặt trời ở nơi đâu?'

"'Trên cây sồi.'

"'Bóng râm ở nơi đâu?'

"'Dưới cây du.'

"'Bước đi bằng cách nào?'

"'Phía bắc mười và mười, phía đông năm và năm, phía nam hai và hai, phía tây một và một, và cứ thế ở phía dưới.'

"'Chúng ta sẽ trao điều gì để đổi lấy nó?'

"'Tất thảy những gì là của chúng ta.'

"'Vì sao ta phải trao nó đi?'

"'Bởi vì lòng tin.'

"'Bản gốc không đề ngày tháng, nhưng sử dụng lối chính tả của khoảng giữa thế kỷ mười bảy,' Musgrave nhận xét. 'Dẫu sao tôi cũng e rằng nó chẳng giúp ích được gì nhiều cho anh trong việc giải đáp bí ẩn này.'

"'Ít nhất,' tôi nói, 'nó cũng mang đến cho chúng ta thêm một bí ẩn nữa, và là một bí ẩn thậm chí còn thú vị hơn cả bí ẩn ban đầu. Rất có thể lời giải của cái này lại chính là lời giải cho cái kia. Anh sẽ thứ lỗi cho tôi, Musgrave, nếu tôi nói thẳng rằng viên quản gia của anh, trong mắt tôi, dường như là một người hết sức thông minh và có tầm nhìn sâu sắc hơn hẳn mười thế hệ chủ nhân của anh ta đấy.'

"'Tôi không hoàn toàn theo kịp ý của anh,' Musgrave đáp. 'Tờ giấy này, đối với tôi, xem ra chẳng có chút tầm quan trọng thực tế nào cả.'

"'Nhưng với tôi, nó có vẻ mang một ý nghĩa vô cùng thiết thực, và tôi hình dung rằng Brunton cũng đã có cùng quan điểm như vậy. Có lẽ anh ta đã nhìn thấy nó từ trước cái đêm mà anh bắt quả tang anh ta rồi.'

"'Rất có thể là như vậy. Chúng tôi cũng chẳng buồn công cất giấu nó làm gì.'

"'Tôi đoán là trong lần cuối cùng ấy, anh ta chỉ đơn giản muốn làm mới lại trí nhớ của mình mà thôi. Theo như những gì tôi biết, anh ta có một loại bản đồ hay biểu đồ gì đó mà anh ta đang so sánh với bản thảo này, và đã nhanh tay nhét nó vào túi áo ngay khi anh xuất hiện.'

"'Đúng là như vậy. Nhưng rốt cuộc anh ta có thể làm được gì với cái phong tục gia đình cũ kỹ này của chúng tôi cơ chứ? Và mớ ngôn từ nhăng cuội ấy thì có nghĩa lý gì đây?'

"'Tôi không nghĩ chúng ta sẽ gặp quá nhiều khó khăn trong việc xác định điều đó đâu,' tôi nói. 'Nếu anh cho phép, ngay bây giờ chúng ta sẽ cùng đón chuyến tàu đầu tiên xuống Sussex, và đào sâu thêm một chút vào vấn đề này ngay tại hiện trường.'

"Ngay chiều hôm ấy, cả hai chúng tôi đã có mặt tại Hurlstone. Có lẽ anh đã từng nhìn thấy hình ảnh và đọc qua những mô tả về tòa nhà cổ kính nổi tiếng này, nên tôi sẽ chỉ giới hạn ở một vài nét phác thảo. Ngôi nhà được xây theo hình chữ L. Nhánh dài là phần hiện đại hơn, còn nhánh ngắn chính là hạt nhân cổ xưa - nơi khởi thủy để từ đó phần kia được mở rộng ra. Phía trên cánh cửa thấp với lanh tô nặng nề, nằm ngay trung tâm của phần cổ kính này, có khắc năm 1607. Nhưng các chuyên gia đều nhất trí rằng những xà gồ và công trình bằng đá thực sự còn xưa hơn thế rất nhiều. Những bức tường dày cộp khổng lồ cùng những ô cửa sổ tí hon của phần nhà này, vào thế kỷ trước, đã buộc gia đình phải xây thêm nhánh mới. Còn nhánh cũ nay được dùng làm nhà kho và hầm rượu - mỗi khi người ta còn nhớ đến nó mà dùng đến. Một công viên tuyệt đẹp với những thân cổ thụ uy nghi bao bọc lấy ngôi nhà. Còn hồ nước mà vị khách hàng của tôi đã nhắc đến thì nằm sát đại lộ, cách tòa nhà chừng hai trăm thước.

"Watson này, tôi đã tin một cách chắc chắn rằng ở đây chẳng hề có ba bí ẩn riêng rẽ. Chỉ có duy nhất một mà thôi. Và nếu tôi có thể đọc ra ý nghĩa thực sự của Nghi thức nhà Musgrave, tôi sẽ nắm được manh mối dẫn đến sự thật - về cả viên quản gia Brunton lẫn cô hầu gái Howells. Thế là tôi dồn toàn bộ tâm trí vào việc đó. Tại sao gã đầy tớ ấy lại khao khát đến cháy bỏng việc nắm cho được cái công thức cũ kỹ này? Hiển nhiên là vì hắn đã nhìn thấy điều gì đó trong đấy - thứ mà suốt bao thế hệ địa chủ nông thôn kia đã bỏ lỡ. Và từ đó, hắn mong đợi một mối lợi riêng tư nào đó. Vậy rốt cuộc đó là thứ gì? Và nó đã định đoạt số phận của hắn ra sao?

"Khi đọc Nghi thức, tôi thấy rõ mồn một rằng những con số đo đạc kia ắt hẳn phải chỉ đến một địa điểm cụ thể - cái điểm mà những dòng còn lại của văn bản đã nhắc tới. Nếu tìm ra điểm ấy, chúng ta sẽ có một lối đi thẳng tắp để khám phá bí mật mà những người nhà Musgrave xa xưa đã cho là cần phải bảo tồn theo một cách kỳ lạ đến như vậy. Có hai mốc chỉ dẫn để bắt đầu: một cây sồi và một cây du. Về cây sồi thì chẳng có gì phải bàn. Ngay trước mặt nhà, phía bên trái lối đi, sừng sững một bậc lão bối trong họ nhà sồi - một trong những cái cây tráng lệ nhất mà tôi từng được chiêm ngưỡng.

"'Cây này hẳn đã đứng đó từ khi Nghi thức của anh được soạn thảo,' tôi nói khi cả hai đánh xe ngang qua.

"'Nhiều khả năng nó đã ở đây từ thời Cuộc Chinh Phạt của người Norman4 cơ đấy,' anh ta đáp. 'Chu vi của nó đo được hai mươi ba feet.'

"'Thế anh có cây du cổ thụ nào không?' tôi hỏi tiếp.

"'Trước đây từng có một cây rất cổ ở đằng kia. Nhưng nó đã bị sét đánh cách đây mười năm, và chúng tôi buộc phải đốn hạ gốc.'

"'Anh có biết nó từng mọc ở chỗ nào không?'

"'Ồ, có chứ.'

"'Không còn cây du nào khác sao?'

"'Chẳng có cây cổ thụ nào nữa, nhưng dẻ gai thì rất nhiều.'

"'Vậy dẫn tôi đến chỗ nó từng mọc đi.'

"Chúng tôi đã đi lên đây bằng xe độc mã, và vị khách hàng của tôi lập tức dẫn đường - thậm chí còn chẳng buồn vào nhà trước - đến thẳng vết sẹo trên thảm cỏ, nơi cây du từng đứng. Nó nằm gần như ngay chính giữa khoảng cách từ cây sồi đến ngôi nhà. Cuộc điều tra của tôi dường như đang có những bước tiến đầy hứa hẹn.

"'Tôi đoán là chẳng còn cách nào để biết cây du ấy cao bao nhiêu nhỉ?' tôi hỏi.

"'Tôi có thể trả lời anh ngay. Nó cao sáu mươi tư feet.'

"'Làm sao anh biết được?' Tôi ngạc nhiên thực sự.

"'Khi còn nhỏ, ông gia sư cũ của tôi thường xuyên giao bài tập lượng giác, mà đề bài lúc nào cũng xoay quanh chuyện đo chiều cao. Hồi còn là một cậu bé, tôi đã đo từng cái cây, từng tòa nhà trong khu đất này rồi.'

"Đây quả là một may mắn không ngờ. Dữ liệu của tôi đang đến nhanh hơn tất thảy những gì tôi có thể hy vọng một cách hợp lý.

"'Nói tôi nghe,' tôi hỏi, 'viên quản gia của anh đã bao giờ hỏi anh câu hỏi tương tự chưa?'

"Reginald Musgrave nhìn tôi đầy kinh ngạc. 'Bây giờ được anh gợi lại thì tôi mới nhớ,' anh ta đáp, 'vài tháng trước Brunton đã từng hỏi tôi về chiều cao của cái cây đó. Hắn bảo là liên quan đến một cuộc tranh luận nho nhỏ với người chăn ngựa.'

"Đây quả là một tin tuyệt vời, Watson ạ. Nó cho tôi thấy rằng mình đang đi đúng hướng. Tôi ngước nhìn mặt trời. Nó đã xuống khá thấp, và tôi tính toán rằng chỉ trong chưa đầy một giờ nữa thôi, mặt trời sẽ nằm ngay phía trên những cành cao nhất của cây sồi cổ thụ. Một điều kiện được nhắc đến trong Nghi thức khi ấy sẽ được đáp ứng. Còn bóng của cây du - ắt hẳn phải là đầu xa của cái bóng, bằng không thì họ đã chọn ngay thân cây làm điểm chỉ dẫn rồi. Vậy việc tôi cần làm là tìm ra nơi mà chóp của cái bóng ấy sẽ chạm xuống vào đúng khoảnh khắc mặt trời vừa vặn rời khỏi ngọn cây sồi."

"Như vậy hẳn phải khó lắm, Holmes, khi mà cây du đã chẳng còn ở đó nữa."

"Chà, ít nhất thì tôi biết rằng nếu Brunton làm được, tôi cũng sẽ làm được. Vả lại, thực tình chẳng có gì khó khăn cả. Tôi cùng Musgrave vào phòng làm việc của anh ta, tự tay đẽo lấy cái chốt này. Rồi tôi buộc vào nó sợi dây dài này, có thắt nút ở mỗi thước. Sau đó, tôi lấy hai đoạn của một chiếc cần câu cá, ghép chúng lại - vừa đúng sáu feet. Rồi tôi cùng vị khách hàng quay trở lại nơi cây du từng đứng. Mặt trời lúc ấy vừa lướt qua ngọn cây sồi. Tôi cắm chiếc cần thẳng đứng, đánh dấu hướng của cái bóng, rồi đo chiều dài của nó. Chín feet.

"Đương nhiên, phép tính lúc này chỉ còn là chuyện vỡ lòng. Nếu một chiếc cần dài sáu feet đổ bóng dài chín feet, thì một cái cây cao sáu mươi tư feet sẽ đổ bóng dài chín mươi sáu feet. Và đường thẳng của cái bóng này hiển nhiên cũng chính là đường thẳng của cái bóng kia. Tôi đo khoảng cách - nó dẫn tôi đến gần như sát bức tường của ngôi nhà. Tôi cắm một cái chốt xuống điểm ấy. Anh có tưởng tượng nổi niềm vui sướng của tôi lúc đó không, Watson? Trong phạm vi hai inch quanh cái chốt của mình, tôi nhìn thấy một chỗ lún hình nón trên mặt đất! Tôi biết ngay đó chính là dấu vết do Brunton để lại trong những lần đo đạc của hắn. Tôi vẫn đang bám sát theo dấu vết của hắn.

"Từ điểm xuất phát này, tôi bắt đầu bước đi - sau khi đã xác định phương hướng bằng chiếc la bàn bỏ túi. Mười bước với mỗi chân đưa tôi tiến song song với bức tường nhà. Tôi lại cắm một cái chốt để đánh dấu. Rồi cẩn thận bước tiếp năm bước về phía đông và hai bước về phía nam. Nó dẫn tôi đến thẳng ngay ngưỡng cửa của cánh cửa cũ. Và giờ thì hai bước về phía tây - nghĩa là tôi phải bước hai bước xuống dọc theo lối đi lát đá. Đây chính là nơi mà Nghi thức đã chỉ định.

"Chưa bao giờ tôi nếm trải một nỗi thất vọng lạnh buốt đến thế, Watson ạ. Trong một khoảnh khắc, tôi thực sự nghĩ rằng mình đã phạm phải một sai lầm cơ bản nào đó trong tính toán. Ánh mặt trời lặn rọi sáng rực cả sàn hành lang. Tôi có thể nhìn thấy những phiến đá xám cũ kỹ, mòn vẹt dấu chân, được dùng để lát nền - chúng được kết dính với nhau một cách chắc chắn, và rõ ràng chưa từng bị xê dịch suốt bao năm dài. Brunton không hề đụng đến chỗ này. Tôi gõ xuống sàn, nhưng âm thanh vang lên đều đều ở khắp mọi nơi - không một dấu hiệu nào của vết nứt hay kẽ hở. Thế rồi, thật may mắn làm sao, Musgrave - người đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa của những thao tác của tôi và lúc này cũng đang kích động chẳng kém gì tôi - đã lôi bản thảo của mình ra để kiểm tra lại phép tính của tôi.

"'"Và ở dưới," anh ta kêu lên. "Anh đã bỏ qua phần 'và ở dưới' rồi!"

"Tôi đã ngây thơ nghĩ rằng cụm từ ấy có nghĩa là chúng tôi phải đào xuống. Nhưng giờ thì, tất nhiên, tôi thấy ngay mình đã sai. 'Vậy là có một căn hầm ở phía dưới này ư?' tôi thốt lên.

"'Đúng vậy. Nó cũng cổ xưa chẳng kém gì chính ngôi nhà. Lối này, qua cánh cửa này.'

"Chúng tôi men theo một cầu thang đá uốn lượn đi xuống. Người bạn đồng hành của tôi quẹt một que diêm, thắp sáng chiếc đèn lồng lớn đặt trên một cái thùng trong góc. Chỉ trong nháy mắt, mọi thứ trở nên rõ ràng: cuối cùng chúng tôi đã đến đúng nơi. Và chúng tôi không phải là những kẻ duy nhất từng ghé thăm chốn này trong thời gian gần đây.

"Căn hầm vốn được dùng để chứa củi. Nhưng những thanh củi - vốn rõ ràng trước kia bị vứt bừa bãi khắp sàn - nay đã được xếp gọn thành đống ở hai bên, để chừa ra một khoảng trống ở chính giữa. Ngay trong khoảng trống ấy là một phiến đá lát lớn và nặng, với chiếc vòng sắt hoen gỉ ở trung tâm. Một chiếc khăn quàng cổ kẻ sọc kiểu của người chăn cừu - rất dày - đã được buộc vào chiếc vòng ấy.

"'Lạy Chúa!' Vị khách hàng của tôi bật kêu. 'Đó là khăn quàng cổ của Brunton! Tôi đã nhìn thấy hắn quàng nó, tôi dám thề là như vậy. Cái tên ác ôn ấy đã làm gì ở đây?'

"Theo đề nghị của tôi, vài cảnh sát hạt được triệu tập đến để có mặt. Sau đó, tôi dồn sức nâng tảng đá lên bằng cách kéo chiếc khăn quàng. Tôi chỉ có thể làm nó nhúc nhích đôi chút. Phải nhờ đến sự trợ giúp của một trong những viên cảnh sát, cuối cùng tôi mới khiêng được nó sang một bên. Một cái hố đen ngòm há miệng ra bên dưới. Tất cả chúng tôi cùng cúi xuống nhòm vào, trong khi Musgrave quỳ bên mép hố, đẩy chiếc đèn lồng xuống dưới.

"Một căn phòng nhỏ - sâu chừng bảy feet, vuông vức mỗi bề bốn feet - hiện ra trước mắt chúng tôi. Ở một góc phòng là một chiếc hộp gỗ bọc đồng thấp lè tè. Nắp hộp đã bị mở tung, và chiếc chìa khóa kiểu cổ kỳ lạ này vẫn còn cắm trong ổ khóa. Mặt ngoài chiếc hộp phủ đầy một lớp bụi dày. Sự ẩm ướt cùng lũ sâu mọt đã gặm xuyên qua lớp gỗ, để rồi một đám nấm mốc xám xịt màu chì đang mọc um tùm bên trong. Vài chiếc đĩa kim loại - rõ ràng là những đồng tiền cổ xưa, giống hệt như mấy thứ tôi đang cầm trên tay đây - nằm rải rác dưới đáy. Nhưng chiếc hộp chẳng còn chứa đựng gì khác nữa.

"Thế nhưng, vào khoảnh khắc đó, cả hai chúng tôi chẳng hề nghĩ ngợi gì đến chiếc rương cổ. Bởi ánh mắt chúng tôi đã bị hút chặt vào một thứ đang nằm co quắp bên cạnh nó. Đó là hình hài một người đàn ông - mặc y phục đen tuyền - đang ngồi xổm trên gót chân, trán gục hẳn xuống mép chiếc hộp và hai cánh tay buông thõng sang hai bên. Bởi tư thế ấy, toàn bộ dòng máu đã dồn ngược lên gương mặt hắn, và chẳng một ai có thể nhận ra nổi khuôn mặt sưng vù, đen sạm đến thảm khốc ấy nữa. Nhưng vóc dáng, y phục, cùng mái tóc - tất cả đều đủ để vị khách hàng của tôi nhận ra, khi chúng tôi cùng kéo thi thể lên, đó chính là viên quản gia đã mất tích của anh ta.

"Hắn đã chết được vài ngày rồi, nhưng trên cơ thể chẳng hề có một vết thương hay một vết bầm nào để chỉ ra cái kết cục kinh hoàng ấy đã giáng xuống hắn ra làm sao. Đến tận khi thi thể đã được khiêng ra khỏi căn hầm, chúng tôi vẫn đứng trước một vấn đề gần như còn nan giải y hệt như lúc khởi đầu cuộc điều tra.

"Watson này, tôi thú thật rằng cho đến thời điểm ấy, tôi đã cảm thấy thất vọng về cuộc điều tra của mình. Tôi đã nghĩ rằng mọi chuyện sẽ được giải quyết trọn vẹn ngay khi tôi tìm ra cái nơi được nhắc đến trong Nghi thức. Thế mà giờ đây, khi đã đứng ngay tại chốn ấy rồi, tôi dường như vẫn cách xa câu trả lời tựa như lúc ban đầu - hoàn toàn mù mờ về thứ mà dòng họ kia đã che giấu bằng những biện pháp đề phòng công phu đến vậy. Đúng là tôi đã làm sáng tỏ số phận của Brunton, nhưng giờ tôi buộc phải xác định cho được: số phận ấy đã giáng xuống hắn bằng cách nào, và người phụ nữ đã mất tích kia đóng vai trò gì trong tất thảy những chuyện này. Tôi ngồi phịch xuống một cái thùng nhỏ trong góc và kiên nhẫn xâu chuỗi lại toàn bộ sự việc một lần nữa.

"Anh biết rõ phương pháp của tôi trong những trường hợp thế này rồi, Watson ạ. Tôi đặt mình vào đúng vị trí của kẻ đó; rồi sau khi ước lượng trí khôn của hắn trước đã, tôi mới cố hình dung xem chính mình sẽ hành động ra sao trong cùng một hoàn cảnh. Và trong tình huống cụ thể này, bài toán trở nên đơn giản hơn, bởi trí tuệ của Brunton thuộc loại xuất chúng - thế nên chẳng cần phải điều chỉnh gì cho cái thứ mà giới thiên văn học vẫn gọi là 'phương trình cá nhân' kia cả. Hắn biết có một thứ giá trị đang bị chôn giấu ở đâu đó. Hắn đã tìm ra vị trí của nó. Hắn nhận thấy phiến đá che bên trên nặng đến mức một người đàn ông đơn độc không tài nào xê dịch nổi nếu thiếu người trợ giúp. Vậy thì bước tiếp theo hắn sẽ làm gì? Hắn không thể tìm đến sự giúp sức từ bên ngoài - kể cả khi hắn có một người đủ đáng tin cậy, thì chuyện mở tung các chốt cửa và đối mặt với nguy cơ bị phát giác cũng là điều quá mạo hiểm. Sẽ tốt hơn nhiều, nếu có thể, là kiếm một người giúp việc ngay bên trong căn nhà này. Nhưng hắn biết nhờ cậy vào ai đây? Cô gái ấy - người đã từng một lòng một dạ vì hắn. Một gã đàn ông luôn luôn khó lòng mà nhận thức nổi rằng mình có thể đã vĩnh viễn đánh mất trái tim của một người phụ nữ, cho dù hắn có đối xử tệ bạc với cô ta đến mức nào đi chăng nữa. Hắn sẽ thử dùng một chút ngọt ngào để làm hòa với cô Howells, rồi sau đó lôi kéo cô làm đồng phạm. Cả hai sẽ cùng lẻn xuống hầm rượu vào ban đêm, và sức lực kết hợp của họ sẽ đủ để nhấc bổng phiến đá kia lên. Cho đến tận lúc đó, tôi có thể lần theo từng hành động của bọn họ rõ ràng như thể chính mắt mình đã thực sự chứng kiến.

"Nhưng đối với hai con người ấy - mà một người lại là phụ nữ - thì việc nâng tảng đá kia lên hẳn vẫn là một công việc nặng nhọc phi thường. Một viên cảnh sát lực lưỡng xứ Sussex và chính tôi đây đã cùng nhau vật lộn với nó, và tôi có thể cam đoan với anh rằng đó chẳng phải chuyện dễ dàng gì. Họ sẽ phải làm thế nào để tự trợ giúp mình đây? Có lẽ là bằng chính cách mà tôi cũng sẽ làm. Tôi đứng dậy và tỉ mỉ xem xét những khúc gỗ nằm rải rác khắp mặt sàn. Gần như ngay lập tức, tôi bắt gặp thứ mình đang tìm kiếm. Một khúc gỗ dài chừng ba feet, có một vết lõm rất rõ rệt ở một đầu, trong khi vài khúc khác thì bị ép bẹp đi ở cả hai bên - như thể chúng đã từng phải oằn mình dưới một sức nặng ghê gớm nào đó. Rõ ràng là, khi cả hai cùng kéo phiến đá lên, họ đã nhét dần những khúc gỗ vào các khe hở, cho đến khi lỗ hổng đủ rộng để một người có thể chui lọt qua. Rồi họ dùng một thanh gỗ đặt dọc để giữ cho nó mở ra - thanh gỗ này hẳn đã bị lõm ở đầu dưới là điều dễ hiểu, vì toàn bộ sức nặng khổng lồ của tảng đá đã đè nghiến nó xuống mép của phiến đá bên kia. Cho đến thời điểm này, những suy luận của tôi vẫn đứng trên mặt đất vững chắc.

"Vậy thì, tiếp theo, làm cách nào để tôi tái hiện lại màn kịch giữa đêm khuya ấy đây? Rõ ràng là chỉ có duy nhất một người có thể chui vừa cái lỗ hổng kia, và người đó chính là Brunton. Cô gái hẳn đã ở lại phía trên để chờ đợi. Rồi Brunton mở khóa chiếc hộp, chuyền những thứ bên trong nó lên phía trên - bởi chúng đâu có còn được tìm thấy ở đấy nữa - và sau đó... và sau đó thì điều gì đã xảy ra?

"Ngọn lửa thù hận âm ỉ nào đã đột ngột bùng lên dữ dội trong linh hồn của người đàn bà Celtic5 nồng nhiệt ấy, khi cô ta nhìn thấy kẻ đã phụ bạc mình - kẻ đã làm tổn thương cô, có lẽ, còn sâu sắc hơn những gì chúng ta nghi ngờ rất nhiều - đang nằm gọn trong tầm kiểm soát của cô? Phải chăng chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp ngẫu nhiên: thanh gỗ bị trượt, rồi tảng đá ập xuống giam chặt Brunton vào nơi đã trở thành nấm mồ của chính hắn? Phải chăng tội lỗi duy nhất của cô ta chỉ là sự im lặng đồng lõa trước số phận của hắn? Hay là một cú đánh, một cú hất bất thần nào đó từ bàn tay cô đã quật văng vật chống đỡ, khiến cho phiến đá khổng lồ kia sập xuống vị trí cũ của nó? Bất luận sự thật là gì, tôi dường như vẫn nhìn thấy rõ mồn một hình ảnh người phụ nữ ấy - ôm chặt lấy kho báu vừa vớ được - lao điên cuồng lên cầu thang xoắn ốc, trong khi bên tai có lẽ vẫn còn văng vẳng những tiếng la hét nghẹt thở từ phía sau, cùng tiếng đập thình thịch của những bàn tay điên dại giã vào phiến đá - thứ đang từng giây từng phút bóp nghẹt lấy mạng sống của gã nhân tình phụ bạc cô.

"Đây chính là bí mật đằng sau khuôn mặt trắng bệch như xác chết của cô ta. Đây chính là lý do cho những dây thần kinh co giật run rẩy, cho những tràng cười cuồng loạn của cô vào buổi sáng hôm sau. Nhưng rốt cuộc thứ gì đã nằm trong chiếc hộp? Và cô ta đã làm gì với nó? Dĩ nhiên, đó hẳn phải chính là những món kim loại và đá cuội cũ kỹ mà vị khách hàng của tôi đã vớt lên từ đáy hồ. Cô ta đã quẳng chúng xuống đó ngay khi có cơ hội đầu tiên - để xóa sạch dấu vết cuối cùng về tội ác của mình.

"Suốt hai mươi phút, tôi ngồi bất động và suy xét cặn kẽ vấn đề. Musgrave vẫn đứng đấy, gương mặt tái nhợt đến kinh người, tay đung đưa chiếc đèn lồng và mắt dán chặt xuống đáy hố.

"'Đây là những đồng tiền của vua Charles Đệ Nhất6,' anh ta cất tiếng, chìa ra vài đồng xu vốn có trong chiếc hộp. 'Anh thấy không, chúng ta đã đúng khi xác định niên đại cho bản Nghi thức.'

"'Có lẽ chúng ta còn tìm thấy một thứ khác cũng thuộc về vua Charles Đệ Nhất nữa đấy,' tôi kêu lên - khi ý nghĩa thực sự của hai câu hỏi đầu tiên trong Nghi thức bỗng lóe sáng rực rỡ trong tâm trí tôi. 'Đưa tôi xem những thứ anh đã vớt được từ hồ nước.'

"Chúng tôi cùng đi lên phòng làm việc của anh ta, và anh bày hết những mảnh vụn vặt ấy ra trước mặt tôi. Tôi có thể hiểu tại sao anh ta lại nghĩ chúng chẳng đáng kể gì - bởi khi thoạt nhìn, lớp kim loại gần như đen kịt, còn những viên đá thì xỉn màu và đục ngầu. Thế nhưng, tôi vẫn thử chà một viên lên ống tay áo mình. Và rồi - nó bừng sáng lên như một đốm lửa ngay trong lòng bàn tay tối sẫm của tôi. Phần kim loại mang hình dáng một chiếc vòng kép, nhưng đã bị bẻ cong và vặn xoắn đi so với hình thù nguyên bản.

"'Anh phải nhớ rằng,' tôi nói, 'phe Bảo hoàng đã vùng lên mạnh mẽ ở nước Anh ngay cả sau cái chết của Nhà vua. Và khi cuối cùng buộc phải tháo chạy, họ hẳn đã chôn giấu lại rất nhiều tài sản quý giá của mình, với ý định sẽ quay về tìm kiếm khi thời cuộc yên bình trở lại.'

"'Tổ tiên của tôi, Ngài Ralph Musgrave, từng là một kỵ binh lừng lẫy và là cánh tay phải của Charles Đệ Nhị trong suốt những năm tháng lưu vong của ngài,' người bạn tôi cho biết.

"'À, vậy sao!' tôi đáp. 'Chà, tôi nghĩ điều này thực sự sẽ cung cấp cho chúng ta mắt xích cuối cùng mà chúng ta vẫn đang tìm kiếm. Tôi phải chúc mừng anh - vì đã sở hữu, dù qua một con đường khá là bi thảm, một di vật mang giá trị nội tại to lớn, nhưng còn có tầm quan trọng vượt xa hơn thế: như một cổ vật lịch sử vô giá.'

"'Vậy rốt cuộc nó là gì?' anh ta hổn hển hỏi, đầy kinh ngạc.

"'Nó không gì khác hơn là chiếc vương miện cổ xưa của các vị vua nước Anh.'

"'Vương miện sao!'

"'Đúng thế. Hãy suy ngẫm những lời trong Nghi thức mà xem. Nó chép thế nào nhỉ? "Thuộc về ai?" "Thuộc về người đã khuất." Đó là sau cuộc hành quyết vua Charles. Rồi tiếp đến, "Ai sẽ gìn giữ nó?" "Người sẽ đến." Đó chính là vua Charles Đệ Nhị, người mà sự trở lại đã được tiên báo trước. Tôi nghĩ không còn chút nghi ngờ gì nữa - chiếc vương miện méo mó và biến dạng này từng an vị trên đỉnh đầu của các đấng quân vương vương triều Stuart7.'

"'Thế làm cách nào mà nó lại rơi xuống hồ nước cơ chứ?'

"'À, đó là một câu hỏi sẽ cần một chút thời gian để trả lời trọn vẹn.' Và thế rồi tôi phác thảo cho anh ta toàn bộ chuỗi dài những suy luận và chứng cứ mà tôi đã kiến tạo nên. Bóng hoàng hôn đã buông xuống và ánh trăng đang tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời trước khi câu chuyện của tôi đi đến hồi kết.

"'Vậy tại sao vua Charles lại không thể lấy lại được vương miện khi ngài quay trở về?' Musgrave hỏi, vừa đẩy di vật trở lại vào chiếc túi vải lanh của nó.

"'À, anh vừa chạm tay vào một điểm mà có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ có thể làm sáng tỏ được. Rất có thể là vị tổ tiên nhà Musgrave - người đang nắm giữ bí mật này - đã qua đời trong khoảng thời gian giữa hai triều đại ấy. Và do một sơ suất nào đó, ngài chỉ để lại cho con cháu mình bản chỉ dẫn này mà không kèm theo bất cứ lời giải thích nào về ý nghĩa của nó. Từ ngày ấy cho đến tận bây giờ, nó đã được truyền từ cha sang con, cho đến khi lọt vào tầm tay của một kẻ đã xé toạc được bí mật từ nó - và đánh mất chính mạng sống mình trong cuộc phiêu lưu ấy.'

"Đó là câu chuyện về Nghi thức nhà Musgrave, Watson thân mến ạ. Họ vẫn còn giữ chiếc vương miện ở Hurlstone - mặc dù đã gặp phải một số rắc rối pháp lý và buộc phải chi trả một khoản tiền đáng kể trước khi được phép lưu giữ nó. Tôi dám chắc rằng nếu anh nhắc đến tên tôi, họ sẽ vô cùng vui lòng cho anh chiêm ngưỡng nó. Còn về người phụ nữ kia - chẳng ai nghe thêm được tin tức gì về cô ta nữa. Và nhiều khả năng là cô đã rời bỏ nước Anh, mang theo bản thân mình cùng với ký ức về tội ác của mình đến một vùng đất nào đó bên kia đại dương."



  1. Boxer là loại đạn dùng cho súng lục có kim hỏa ở trung tâm, do kỹ sư người Anh Edward M. Boxer phát minh vào thế kỷ 19, rất phổ biến thời bấy giờ. 

  2. V.R. là viết tắt của 'Victoria Regina' (Nữ hoàng Victoria trong tiếng Latin). Nữ hoàng Victoria là quân vương cai trị Vương quốc Anh vào thời điểm diễn ra câu chuyện, nên việc bắn chữ này thể hiện lòng yêu nước của Holmes. 

  3. Don Juan là một nhân vật hư cấu nổi tiếng trong văn học châu Âu, được dùng như một từ lóng để chỉ những gã đàn ông đào hoa, có sức quyến rũ và chuyên đi tán tỉnh phụ nữ. 

  4. Sự kiện lịch sử vào thế kỷ 11 khi người Norman (từ Pháp) do William Kẻ Chinh Phạt lãnh đạo xâm lược và thống trị nước Anh. Sự kiện này mang lại thay đổi lớn về chính trị, văn hóa và ngôn ngữ cho nước Anh. 

  5. Người Celtic (Xen-tơ) là các dân tộc bản địa ở châu Âu. Cô hầu gái Rachel Howells là người xứ Wales (thuộc dòng máu Celtic), thường được văn học thời bấy giờ miêu tả là có tính cách nồng nhiệt, mạnh mẽ và quyết liệt. 

  6. Vị vua của Anh, Scotland và Ireland thế kỷ 17. Ông bị lật đổ và xử tử trong cuộc Nội chiến Anh, dẫn đến một thời kỳ ngắn nước Anh trở thành nền cộng hòa. 

  7. Triều đại hoàng gia cai trị Scotland và Anh từ thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 18. Vua Charles I và Charles II đều thuộc vương triều này.