V. Tàu Gloria Scott

“Tôi có vài tờ giấy ở đây,” người bạn Sherlock Holmes của tôi cất tiếng, khi hai chúng tôi ngồi bên lò sưởi vào một đêm mùa đông lạnh giá, “mà tôi thực sự nghĩ rằng, Watson này, anh nên dành thời gian để xem qua. Đây là những tài liệu thuộc về vụ án kỳ lạ của con tàu Gloria Scott, và đây là bức thông điệp đã khiến Ngài Thẩm phán Trevor ngã quỵ vì cơn kinh hoàng lúc đọc phải nó.”

Anh rút từ trong ngăn kéo ra một chiếc ống trụ nhỏ xỉn màu, rồi tháo dải ruy-băng buộc quanh nó ra, đưa cho tôi một mảnh giấy ngắn với những nét chữ nguệch ngoạc trên nửa tờ giấy màu xám đen.

“Nguồn cung thú săn cho London đang gia tăng đều đặn,” bức thư viết. “Người quản lý trưởng Hudson, chúng tôi tin rằng, nay đã được thông báo để tiếp nhận mọi đơn đặt hàng giấy bẫy ruồi và để bảo tồn sinh mạng của đàn gà lôi mái nhà ông.”

Khi tôi ngước lên khỏi thông điệp bí ẩn ấy, tôi thấy Holmes đang khúc khích cười trước vẻ mặt ngỡ ngàng của tôi.

“Trông anh như thể hơi hoang mang rồi đấy,” anh nói.

“Tôi không hiểu làm sao một bức thông điệp như thế này lại có thể gây ra nỗi kinh hãi cho ai được. Với tôi, nó lố bịch thì có vẻ đúng hơn.”

“Rất có thể là thế. Ấy thế nhưng sự thật vẫn là người đọc nó, một ông lão vạm vỡ, khỏe mạnh, đã bị quật ngã hoàn toàn, tựa như trúng phải một phát súng lục vậy.”

“Anh đã khơi dậy trí tò mò của tôi rồi đấy,” tôi nói. “Nhưng tại sao lúc nãy anh lại bảo có những lý do thật đặc biệt để tôi nên nghiên cứu vụ án này?”

“Bởi đó là vụ án đầu tiên mà tôi từng dấn thân vào.”

Tôi đã bao lần cố gắng dò la nơi người bạn đồng hành của mình để biết điều gì đã lần đầu tiên hướng tâm trí anh theo con đường nghiên cứu tội phạm, nhưng chưa từng có dịp bắt gặp anh trong tâm trạng cởi mở đến vậy. Lúc này, anh ngồi rướn người về phía trước trên chiếc ghế bành, trải đám tài liệu ra trên đầu gối. Rồi anh châm tẩu thuốc và ngồi hút một hồi lâu, tay lật đi lật lại những tờ giấy.

“Anh chưa từng nghe tôi nhắc đến Victor Trevor phải không?” anh hỏi. “Cậu ấy là người bạn duy nhất tôi kết giao suốt hai năm đại học. Tôi chưa bao giờ là một kẻ hòa đồng, Watson ạ, lúc nào cũng chỉ thích thu mình trong phòng và tự mày mò tìm ra những phương pháp tư duy nho nhỏ cho riêng mình, bởi vậy tôi chẳng mấy khi giao du với bạn đồng khóa. Ngoại trừ đấu kiếm và đấm bốc, tôi có rất ít thú vui thể thao, rồi chuyên ngành học của tôi lại hoàn toàn khác biệt với mọi người, thành thử chúng tôi chẳng có lấy một điểm chung nào. Trevor là người duy nhất tôi quen biết, và mối quen ấy cũng chỉ đến từ một tai nạn - khi con chó sục bò1 của cậu ta ngoạm chặt lấy mắt cá chân tôi vào một buổi sáng nọ, lúc tôi đang trên đường xuống nhà nguyện.

“Một cách kết bạn thật nhạt nhẽo, thế nhưng lại hiệu quả. Tôi nằm liệt giường suốt mười ngày, và Trevor thường xuyên ghé qua thăm hỏi. Ban đầu chỉ là đôi ba câu chuyện ngắn ngủi, nhưng rồi chẳng mấy chốc những cuộc viếng thăm ấy kéo dài hơn, và trước khi học kỳ kết thúc, chúng tôi đã trở thành đôi bạn thân thiết. Cậu ấy là một chàng trai nồng hậu, tràn đầy sức sống, đầy nhiệt huyết và năng lượng, hoàn toàn trái ngược với tôi ở hầu hết mọi phương diện, nhưng chúng tôi tìm thấy một vài chủ đề chung, và mối dây liên kết ấy càng thêm bền chặt khi tôi nhận ra rằng cậu ấy cũng cô độc chẳng kém gì tôi. Cuối cùng, cậu ấy mời tôi về nhà cha cậu ở Donnithorpe, vùng Norfolk, và tôi đã nhận lời tiếp đón ấy để ở lại trong suốt một tháng của kỳ nghỉ dài.

“Ông Trevor, rõ ràng là một người đàn ông có ít nhiều của cải và địa vị - một vị Thẩm phán kiêm điền chủ2. Donnithorpe là một ngôi làng nhỏ nằm ngay phía bắc Langmere, giữa vùng Broads3 mênh mông. Ngôi nhà là một tòa kiến trúc gạch kiểu cổ, rộng rãi, với những thanh dầm gỗ sồi, và một đại lộ trồng những cây bồ đề tuyệt đẹp dẫn lối vào. Nơi đó có khu săn vịt trời tuyệt vời giữa vùng đầm lầy, những con suối câu cá cực kỳ tốt, một thư viện nhỏ nhưng được tuyển chọn kỹ lưỡng - mà tôi hiểu là được tiếp quản lại từ người chủ trước - cùng một đầu bếp khá khẩm, đến nỗi hẳn phải là một kẻ khó tính lắm mới không thể trải qua một tháng êm đềm ở nơi ấy.

“Trevor cha là người góa vợ, và bạn tôi chính là người con trai duy nhất của ông.

“Tôi có nghe nói từng có một cô con gái, nhưng cô bé đã qua đời vì bệnh bạch hầu trong một chuyến ghé thăm Birmingham. Người cha khiến tôi cực kỳ chú ý. Ông là người ít được học hành, nhưng lại sở hữu một sức mạnh thô mộc đáng kể, cả về thể chất lẫn tinh thần. Ông hầu như chẳng biết đến sách vở là gì, nhưng ông đã đi du lịch nhiều nơi, đã tận mắt chứng kiến biết bao điều trên thế giới. Và ông ghi nhớ từng thứ mình đã học được. Về ngoại hình, ông là một người đàn ông đậm người, vạm vỡ, với mái tóc hoa râm bù xù, khuôn mặt rám nắng phong trần, và đôi mắt xanh lam sắc lạnh đến mức gần như hung dữ. Thế nhưng ông lại nổi tiếng là người tốt bụng và rộng lượng ở chốn thôn quê, và được biết đến với những phán quyết khoan hồng từ băng ghế quan tòa.

“Một buổi tối, ngay sau khi tôi vừa đặt chân tới, chúng tôi đang ngồi nhâm nhi ly rượu vang bồ đào sau bữa tối, thì Trevor trẻ bắt đầu khơi chuyện về những thói quen quan sát và suy luận - thứ mà tôi đã gây dựng thành một hệ thống, dẫu lúc ấy tôi vẫn chưa lường hết được vai trò của chúng trong cuộc đời mình. Ông lão rõ ràng cho rằng con trai mình đang phóng đại khi mô tả một đôi kỳ tích vặt vãnh mà tôi đã thực hiện.

“‘Nào, xem nào, anh Holmes,’ ông nói, cười một cách vui vẻ. ‘Tôi đây quả là một đối tượng tuyệt vời, nếu cậu có thể suy luận ra điều gì từ tôi.’

“‘Tôi e rằng chẳng có bao nhiêu điều để nói,’ tôi đáp; ‘tôi chỉ có thể gợi ý rằng trong vòng mười hai tháng qua, ông đã luôn sống trong nỗi lo sợ về một vụ tấn công cá nhân nào đó.’

“Nụ cười vụt tắt trên môi ông, và ông nhìn chằm chằm vào tôi với vẻ kinh ngạc tột độ.

“‘Chà, điều đó đúng đấy,’ ông nói. ‘Con biết không, Victor,’ ông quay sang con trai, ‘khi chúng ta triệt phá băng nhóm săn trộm ấy, chúng đã thề sẽ đâm lén chúng ta, và Ngài Edward Holly thực sự đã bị tấn công rồi. Kể từ đó cha luôn phải đề cao cảnh giác, dù cha không hiểu làm sao cậu có thể biết được chuyện đó.’

“‘Ông có một cây gậy chống rất đẹp,’ tôi trả lời. ‘Dựa vào dòng chữ khắc, tôi quan sát thấy ông mới có nó chưa đầy một năm. Thế nhưng ông đã cất công khoan rỗng phần đầu gậy và rót chì nóng chảy vào trong đó, biến nó thành một thứ vũ khí đáng gờm. Tôi suy luận rằng ông ắt hẳn sẽ không thực hiện những biện pháp phòng ngừa ấy, trừ phi ông đang có mối nguy hiểm nào đó phải lo sợ.’

“‘Còn gì nữa không?’ ông hỏi, mỉm cười.

“‘Ông đã từng đấm bốc rất nhiều hồi còn trẻ.’

“‘Lại đúng nữa. Làm sao cậu biết được? Có phải mũi tôi hơi bị lệch không?’

“‘Không,’ tôi nói. ‘Đó là đôi tai của ông. Chúng có độ phẳng và dày lên rất đặc trưng của một tay đấm bốc.’

“‘Còn gì nữa?’

“‘Ông đã từng làm công việc đào bới rất nhiều, xét theo những vết chai sần trên tay ông.’

“‘Toàn bộ số tiền của tôi đều kiếm được từ các mỏ vàng.’

“‘Ông đã từng đến New Zealand.’

“‘Lại đúng nữa.’

“‘Ông đã từng ghé thăm Nhật Bản.’

“‘Hoàn toàn chính xác.’

“‘Và ông đã từng có một mối liên hệ mật thiết nhất với một người nào đó mang tên viết tắt là J. A., và người mà sau đó ông khát khao muốn quên đi hoàn toàn.’

“Ông Trevor chầm chậm đứng dậy, hướng đôi mắt xanh lam to lớn của mình vào tôi với một cái nhìn chằm chằm hoang dại đến kỳ lạ, rồi bất thình lình lao người về phía trước, úp mặt xuống giữa những mảnh vỏ hạt vương vãi trên khăn trải bàn, trong một cơn ngất lịm đi.

“Anh có thể tưởng tượng được, Watson ạ, cả con trai ông lẫn tôi đều bị sốc đến nhường nào. May thay, cơn ngất của ông không kéo dài lâu, vì khi chúng tôi nới lỏng cổ áo cho ông, rồi vẩy nước từ một trong những chiếc bát rửa tay lên mặt ông, ông thở hổn hển một hai tiếng rồi ngồi dậy.

“‘À, các chàng trai,’ ông nói, gượng cười, ‘ta hy vọng ta không làm các cậu hoảng sợ. Trông ta có vẻ khỏe mạnh thế này thôi, nhưng trái tim ta có một chỗ yếu, và chẳng cần nhiều nhặn gì cũng đủ quật ngã ta. Ta không biết làm sao cậu làm được điều đó, anh Holmes, nhưng đối với ta, dường như tất cả các thám tử ngoài đời thực lẫn trong tiểu thuyết đều chỉ là những đứa trẻ con trong tay cậu. Đó chính là lẽ sống của cậu, thưa cậu, và cậu có thể tin vào lời của một kẻ đã từng trải sự đời.’

“Và chính lời khuyên ấy, cùng với sự đánh giá có phần phóng đại về khả năng của tôi mà ông ấy dùng để mở đầu - nếu anh tin tôi, Watson - chính là điều đầu tiên khiến tôi cảm thấy rằng một nghề nghiệp thực thụ có thể được tạo dựng từ những gì mà cho đến lúc bấy giờ mới chỉ là thú vui đơn thuần. Tuy nhiên, vào lúc đó, tôi quá đỗi lo lắng trước căn bệnh đột ngột của chủ nhà để có thể nghĩ đến bất cứ điều gì khác.

“‘Tôi hy vọng mình không hề nói ra điều gì khiến ông đau lòng?’ tôi hỏi.

“‘Chà, cậu chắc chắn đã chạm vào một điểm khá nhạy cảm rồi. Ta có thể hỏi, làm sao cậu biết được điều đó, và cậu đã biết được bao nhiêu?’ Lúc này ông nói với giọng nửa đùa nửa thật, nhưng một tia kinh hoàng vẫn ẩn giấu thật sâu trong đáy mắt ông.

“‘Mọi thứ rất đơn giản,’ tôi nói. ‘Khi ông xắn tay áo lên để kéo con cá ấy vào thuyền, tôi đã trông thấy dòng chữ J. A. được xăm ở nếp gấp khuỷu tay ông. Những con chữ vẫn còn đọc được, nhưng rõ ràng là, từ vẻ ngoài mờ nhạt của chúng và từ sự đổi màu của vùng da xung quanh, ông đã từng nỗ lực để xóa chúng đi. Từ đó suy ra, rõ ràng những chữ cái viết tắt ấy đã từng rất đỗi thân thuộc với ông, và rồi sau đó ông lại muốn quên chúng đi.’

“‘Đôi mắt của cậu tinh tường làm sao!” ông thốt lên, kèm theo một tiếng thở phào nhẹ nhõm. ‘Đúng như lời cậu nói. Nhưng chúng ta sẽ không bàn về chuyện này nữa. Trong tất thảy những bóng ma, bóng ma của những mối tình xưa cũ mới là thứ tồi tệ nhất. Hãy vào phòng bida và hút một điếu xì gà cho yên tĩnh nào.’

“Kể từ ngày hôm đó, đằng sau vẻ thân mật của ông, luôn ẩn chứa một chút nghi ngờ trong thái độ của ông Trevor đối với tôi. Ngay cả con trai ông cũng nhận ra điều ấy. ‘Anh đã khiến cha tôi sợ đến mức,’ cậu ấy nói, ‘rằng ông sẽ không bao giờ dám chắc được nữa về những gì anh biết và những gì anh không biết.’ Tôi tin chắc rằng ông không hề cố ý thể hiện điều đó, nhưng nó đã in sâu vào tâm trí ông đến độ nó bộc lộ ra trong từng hành động. Cuối cùng tôi trở nên tin chắc rằng mình đang gây ra sự bất an cho ông nhiều đến mức tôi quyết định kết thúc chuyến viếng thăm. Thế nhưng, vào đúng cái ngày trước hôm tôi rời đi, một sự việc đã xảy ra, mà về sau mới cho thấy nó có tầm quan trọng đến nhường nào.

“Chúng tôi đang ngồi ngoài bãi cỏ, trên những chiếc ghế dài trong vườn, cả ba chúng tôi, tắm mình trong nắng và chiêm ngưỡng khung cảnh trải rộng băng qua vùng Broads, thì một chị hầu gái bước ra thưa rằng có một người đàn ông đang đợi ở cửa, muốn gặp ông Trevor.

“‘Hắn ta tên gì?’ chủ nhà của tôi hỏi.

“‘Hắn không chịu xưng tên ạ.’

“‘Thế hắn ta muốn gì?’

“‘Hắn nói rằng ông biết hắn, và hắn chỉ muốn một cuộc trò chuyện ngắn ngủi mà thôi.’

“‘Dẫn hắn ta ra đây.’ Ngay tức khắc, một gã nhỏ thó, nhăn nheo xuất hiện, với thái độ khúm núm và dáng đi lê lết đặc trưng. Hắn khoác một chiếc áo choàng đã phanh ra, tay áo dính một vệt nhựa đường, bên trong là chiếc sơ mi sọc ca-rô đỏ đen, quần vải thô bò, và đôi giày ống nặng nề đã sờn rách tả tơi. Khuôn mặt hắn gầy gò, sạm đen và đầy vẻ xảo trá, lúc nào cũng thường trực một nụ cười hờ hững để lộ hàm răng vàng khấp khểnh, còn đôi bàn tay nhăn nheo của hắn thì luôn khép hờ theo cái kiểu đặc trưng của dân thủy thủ. Khi hắn lê bước băng qua bãi cỏ, tôi nghe thấy ông Trevor phát ra một âm thanh nghèn nghẹn trong cổ họng, rồi bật dậy khỏi ghế, ông chạy thẳng vào nhà. Một lát sau ông quay trở ra, và tôi ngửi thấy mùi rượu mạnh nồng nặc khi ông sải bước ngang qua tôi.

“‘Nào, anh bạn,’ ông nói, ‘tôi có thể giúp gì cho anh đây?’

“Gã thủy thủ đứng yên nhìn ông với đôi mắt nheo lại, và với cùng một nụ cười hờ hững đọng trên khuôn mặt.

“‘Ông không nhận ra tôi sao?’ hắn hỏi.

“‘Ồ, trời ơi, chắc chắn là Hudson rồi,’ ông Trevor thốt lên với vẻ ngạc nhiên.

“‘Chính là Hudson đây, thưa ông,’ gã thủy thủ đáp. ‘Chà, đã ba mươi năm rồi, thậm chí còn hơn thế, kể từ lần cuối tôi gặp ông. Ông thì đang ở đây, trong chính ngôi nhà của mình, còn tôi thì vẫn đang cặm cụi móc thịt muối ra khỏi những thùng gỗ.’

“‘Chậc chậc, anh sẽ thấy rằng tôi không hề quên những ngày tháng xưa cũ đâu,’ ông Trevor kêu lên, và tiến về phía gã thủy thủ, ông thì thầm điều gì đó thật khẽ. ‘Vào trong bếp đi,’ ông tiếp tục nói to hơn, ‘và anh sẽ có đồ ăn thức uống. Tôi chắc chắn sẽ tìm được cho anh một công việc.’

“‘Cảm ơn ông,’ gã thủy thủ đáp, tay chạm lên trán. ‘Tôi vừa mới kết thúc chuyến hải hành hai năm trên một con tàu chở hàng tốc độ tám hải lý, mà lại thiếu tay thủy thủ, nên tôi cần nghỉ ngơi. Tôi cứ nghĩ mình sẽ kiếm được điều đó ở chỗ ông Beddoes hoặc là ở chỗ ông.’

“‘À!’ Trevor thốt lên. ‘Anh biết ông Beddoes hiện ở đâu sao?’

“‘Chúa phù hộ cho ông, thưa ông, tôi biết tất thảy những người bạn cũ của mình đang ở đâu,’ hắn nói với một nụ cười nham hiểm, rồi lững thững lê bước theo chị hầu gái vào trong bếp. Ông Trevor lầm bầm điều gì đó với chúng tôi về chuyện từng là bạn đi tàu với hắn hồi ông còn quay lại khu mỏ vàng, rồi sau đó, bỏ mặc chúng tôi trên bãi cỏ, ông đi thẳng vào nhà. Một giờ sau, khi chúng tôi vào trong, chúng tôi thấy ông nằm dài trên ghế sofa trong phòng ăn, say khướt. Toàn bộ sự việc đã để lại một ấn tượng cực kỳ tồi tệ trong tâm trí tôi, và ngày hôm sau tôi không chút tiếc nuối khi rời khỏi Donnithorpe, bởi tôi cảm thấy sự hiện diện của mình ắt hẳn phải là một nguồn cơn gây bối rối cho người bạn của mình.

Tất cả những chuyện ấy diễn ra trong tháng đầu tiên của kỳ nghỉ dài. Tôi trở về căn hộ của mình ở London và dành trọn bảy tuần ở đó để tiến hành một vài thí nghiệm hóa học hữu cơ. Thế rồi vào một ngày nọ, khi mùa thu đã ngả sang rất muộn và kỳ nghỉ sắp khép lại, tôi nhận được một bức điện tín từ người bạn. Cậu ấy khẩn thiết cầu xin tôi trở lại Donnithorpe và nói rằng cậu ấy đang rất cần lời khuyên cùng sự trợ giúp của tôi. Dĩ nhiên, tôi lập tức gác lại mọi thứ và lên đường ra miền Bắc thêm một lần nữa.

Cậu ấy ra ga đón tôi bằng một cỗ xe ngựa hai bánh. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã nhận ra hai tháng vừa qua quả là khoảng thời gian vô cùng mệt mỏi đối với cậu ấy. Cậu ấy gầy xọp đi, tiều tụy hẳn, và đánh mất hoàn toàn cái vẻ ngoài ồn ào, vui vẻ vốn là nét đặc trưng nổi bật nhất của cậu.

“Cha tôi đang hấp hối.” Đó là những lời đầu tiên cậu ấy buông ra.

“Không thể nào!” tôi kêu lên. “Có chuyện gì thế?”

“Đột quỵ. Một cú sốc tinh thần. Ông ấy đã ở bên bờ vực suốt cả ngày rồi. Tôi e là chúng ta sẽ chẳng kịp nhìn mặt ông ấy lúc còn sống nữa.”

Watson này, anh có thể hình dung được tôi đã kinh hãi đến nhường nào trước tin tức đột ngột ấy.

“Điều gì đã gây ra chuyện này?” tôi hỏi.

“Đó mới chính là vấn đề. Lên xe đi, chúng ta vừa đi vừa nói chuyện. Anh có nhớ cái gã đã ghé thăm vào buổi tối trước hôm anh rời chỗ chúng tôi không?”

“Nhớ rất rõ.”

“Anh có biết cái kẻ mà chúng ta đã cho vào nhà hôm ấy là ai không?”

“Tôi không có một chút ý niệm nào.”

“Đó là quỷ dữ đấy, Holmes ạ.” Cậu ấy thốt lên.

Tôi nhìn cậu ấy đầy kinh ngạc.

“Đúng vậy, chính là quỷ dữ. Chúng tôi chẳng có lấy một giờ phút nào yên ổn kể từ hôm ấy - không một giờ nào hết. Cha tôi chưa từng ngẩng cao đầu lên nổi kể từ cái buổi tối đó. Và giờ thì sinh mạng của ông ấy đã bị vắt kiệt, trái tim ông ấy đã tan nát - tất cả đều bởi bàn tay của cái tên Hudson chết tiệt kia.”

“Vậy thì hắn ta có quyền lực gì chứ?”

“À, đó chính là điều mà tôi khao khát muốn biết đây. Một người cha già hiền lành, nhân từ, tốt bụng như thế - làm sao ông ấy lại có thể sa vào nanh vuốt của một gã lưu manh như vậy được chứ! Nhưng tôi mừng lắm vì anh đã tới, Holmes. Tôi đặt trọn niềm tin vào khả năng phán đoán và sự thận trọng của anh. Tôi biết anh sẽ cho tôi lời khuyên tốt nhất.”

Chúng tôi lao vun vút dọc theo con đường quê phẳng lặng, trắng xóa, với dải đất Broads trải rộng trước mặt, lấp lánh dưới ánh sáng đỏ rực của vầng mặt trời đang lặn. Từ phía một khu rừng thưa bên trái, tôi đã có thể trông thấy những ống khói cao và cột cờ - những dấu hiệu đánh dấu nơi cư ngụ của bậc điền chủ.

“Cha tôi đã cho hắn làm vườn,” người bạn đồng hành của tôi kể tiếp. “Thế rồi, vì công việc đó không làm hắn hài lòng, hắn được thăng chức lên làm quản gia. Cả ngôi nhà dường như nằm gọn trong lòng bàn tay của hắn. Hắn đi lại nghênh ngang khắp nơi và muốn làm gì thì làm trong đó. Bọn hầu gái phàn nàn về thói say xỉn và lời lẽ tục tĩu của hắn. Cha tôi đã phải tăng lương cho tất cả mọi người trong nhà để bù đắp cho những phiền toái ấy. Rồi tên khốn đó lấy thuyền và khẩu súng tốt nhất của cha tôi mà tự thưởng cho mình những chuyến đi săn nho nhỏ. Và tất cả những điều này đi kèm với một khuôn mặt nhếch mép chế nhạo cùng những cái liếc mắt đầy xấc xược, đến nỗi tôi đã có thể đánh gục hắn đến hai mươi lần nếu hắn ngang tuổi tôi. Tôi nói cho anh biết, Holmes, trong suốt thời gian qua tôi đã phải cố ghìm mình dữ lắm. Và giờ tôi đang tự hỏi, phải chăng nếu tôi thả lỏng bản thân thêm một chút, thì có lẽ tôi đã khôn ngoan hơn rồi.”

“Chà, mọi chuyện cứ mỗi lúc một tồi tệ hơn với chúng tôi, và con thú mang tên Hudson này thì ngày càng trở nên xấc xược hơn. Cho đến cuối cùng, vào một ngày nọ, khi hắn trả lời hỗn hào với cha tôi ngay trước mặt tôi, tôi đã túm lấy vai hắn và đuổi hắn ra khỏi phòng. Hắn lảng đi, mặt mày tím tái, đôi mắt hiểm độc phun ra những lời đe dọa còn nhiều hơn cả cái lưỡi của hắn có thể thốt nên. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra giữa người cha tội nghiệp và hắn sau đó. Nhưng ngày hôm sau, cha tôi đến gặp tôi và hỏi xem tôi có phiền lòng xin lỗi Hudson hay không. Tôi đã từ chối, như anh có thể hình dung. Và tôi hỏi cha tôi làm sao ông có thể cho phép một kẻ đê tiện như thế tự tung tự tác ngang nhiên làm càn trước mặt ông và cả gia đình ông.

‘“À, con trai,” ông ấy nói, “nói thì dễ lắm, nhưng con không biết cha đang ở vào cái tình thế nào đâu. Nhưng rồi con sẽ biết, Victor ạ. Cha sẽ đảm bảo rằng con sẽ biết, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa. Con sẽ không tin vào những lời gièm pha bẩn thỉu về người cha già tội nghiệp của con đâu, phải không, con trai?” Ông ấy vô cùng xúc động. Ông nhốt mình trong phòng làm việc suốt cả ngày hôm đó. Tôi có thể nhìn qua cửa sổ thấy ông đang cặm cụi viết lách không ngừng.’

“Rồi buổi tối hôm ấy dường như mang đến cho tôi một sự giải thoát tuyệt diệu, vì Hudson bảo với chúng tôi rằng hắn sẽ rời đi. Hắn bước vào phòng ăn trong lúc chúng tôi đang ngồi sau bữa tối và loan báo ý định của mình bằng cái giọng lè nhè của một kẻ nửa say.

‘“Tôi đã chán ngấy cái xứ Norfolk này rồi,” hắn nói. “Tôi sẽ xuống chỗ ông Beddoes ở Hampshire. Tôi dám cá là ông ấy sẽ vui mừng khi gặp tôi chẳng kém gì ông từng vui đâu.”

‘“Tôi hy vọng cậu không rời đi trong thái độ hằn học, Hudson ạ,” cha tôi nói, với một giọng nhún nhường đến mức khiến máu tôi sôi lên.

‘“Tôi vẫn chưa nhận được lời xin lỗi mà,” hắn hậm hực đáp, kèm theo một cái liếc mắt về phía tôi.

‘“Victor, con nên thừa nhận rằng con đã cư xử có phần thô bạo với anh bạn đáng mến này,” cha tôi nói và quay sang nhìn tôi.

‘“Trái lại, con nghĩ rằng cả hai chúng ta đều đã thể hiện một sự kiên nhẫn phi thường đối với hắn,” tôi đáp.

‘“Ồ, cậu nghĩ vậy sao?” hắn gầm gừ. “Rất tốt, anh bạn. Chúng ta sẽ xem thế nào!” Hắn lê bước ra khỏi phòng. Nửa giờ sau, hắn dời khỏi ngôi nhà, bỏ lại cha tôi trong một tình trạng căng thẳng đến thảm hại. Đêm này qua đêm khác, tôi nghe tiếng ông đi đi lại lại trong phòng. Và rồi, ngay khi ông vừa mới lấy lại được đôi chút tự tin, thì đòn giáng cuối cùng đã ập xuống.’

“‘Như thế nào?’ tôi háo hức hỏi.

“‘Theo một cách thức phi thường nhất. Tối qua, có một lá thư gửi đến cho cha tôi, mang dấu bưu điện Fordingbridge. Cha tôi đọc nó, rồi ôm chặt đầu bằng cả hai tay và bắt đầu chạy vòng quanh phòng như một kẻ đã mất trí. Cuối cùng, khi tôi kéo được ông ngồi xuống ghế sô-pha, thì miệng và mí mắt của ông đều đã co rúm cả về một bên. Tôi nhận ra ông đã bị đột quỵ. Bác sĩ Fordham đến ngay lập tức. Chúng tôi đặt ông lên giường, nhưng chứng bại liệt đã lan rộng. Ông chẳng có dấu hiệu gì là sẽ hồi phục ý thức. Và tôi nghĩ rằng chúng tôi khó lòng còn được nhìn mặt ông lúc sống nữa.’

“‘Anh làm tôi hoảng sợ quá, Trevor!’ tôi kêu lên. ‘Vậy thì trong lá thư ấy có gì mà đủ sức gây ra hậu quả khủng khiếp đến vậy?’

“‘Chẳng có gì cả. Đó mới chính là phần không thể nào giải thích được. Bức thông điệp ấy thật vô nghĩa và tầm thường. Ôi, lạy Chúa, đúng như điều tôi đã lo sợ!’

Ngay khi cậu ấy còn đang nói, chúng tôi đã rẽ qua khúc cua của đại lộ. Trong ánh sáng đang nhạt dần, tôi nhìn thấy tất cả các tấm rèm trong nhà đều đã được kéo xuống. Khi chúng tôi lao đến trước cửa, khuôn mặt bạn tôi co rúm lại vì đau buồn. Một quý ông mặc đồ đen từ bên trong bước ra.

“‘Chuyện xảy ra khi nào vậy, thưa bác sĩ?’ Trevor hỏi.

“‘Gần như ngay sau khi cậu vừa rời khỏi đây.’

“‘Ông ấy có tỉnh lại không?’

“‘Được một khoảnh khắc, ngay trước phút cuối cùng.’

“‘Có nhắn gửi gì cho tôi không?’

“‘Cha cậu chỉ nói rằng các giấy tờ ở trong ngăn kéo sau của chiếc tủ Nhật Bản.’

Bạn tôi đi lên lầu cùng với vị bác sĩ để đến căn phòng của người đã khuất. Còn tôi thì ở lại phòng làm việc, ngồi lật đi lật lại toàn bộ sự việc trong đầu, lòng nặng trĩu một nỗi ảm đạm chưa từng có trong đời. Quá khứ của con người mang tên Trevor này là gì - một võ sĩ quyền Anh, một lữ khách, một kẻ đào vàng - và làm thế nào mà ông lại tự đặt mình vào vòng quyền lực của cái gã thủy thủ mặt mày chua chát kia? Tại sao ông lại ngất xỉu khi có kẻ nhắc đến những mẫu chữ viết tắt đã bị xóa mờ phân nửa trên cánh tay mình? Và tại sao ông lại chết vì sợ hãi khi nhận được một lá thư từ Fordingbridge? Rồi tôi chợt nhớ ra rằng Fordingbridge thuộc vùng Hampshire, và cái ông Beddoes mà gã thủy thủ đã tìm đến thăm - và có lẽ là để tống tiền - cũng được nhắc đến là sống ở Hampshire. Như vậy thì lá thư ấy hẳn hoặc là đến từ Hudson, tên thủy thủ, báo tin rằng hắn đã phản bội bí mật tội lỗi đang tồn tại; hoặc là đến từ Beddoes, cảnh báo cho một đồng phạm cũ rằng một sự phản bội như vậy sắp sửa xảy ra. Đến lúc này, mọi chuyện dường như đã khá rõ ràng. Nhưng rồi làm sao lá thư ấy lại có thể vô nghĩa và lố bịch như lời cậu con trai mô tả? Chắc hẳn cậu ấy đã đọc sai. Nếu đúng như thế, thì nó ắt phải là một trong những thứ mật mã bí mật đầy khéo léo - mang một ý nghĩa này trong khi bề ngoài lại khoác một ý nghĩa khác. Tôi phải đích thân xem lá thư. Nếu có một ẩn ý nào nằm bên trong, tôi tự tin rằng mình có thể moi nó ra. Suốt một giờ đồng hồ, tôi ngồi suy ngẫm trong bóng tối. Rồi cuối cùng, một cô hầu gái nức nở khóc bước vào, trên tay cầm một chiếc đèn. Theo sát gót cô là bạn tôi, Trevor. Cậu ấy nhợt nhạt nhưng điềm tĩnh lạ thường. Trong tay cậu ấy nắm chặt những tờ giấy - chính là những tờ giấy mà lúc nãy tôi hằng mong mỏi. Cậu ấy ngồi xuống đối diện với tôi, kéo chiếc đèn về phía mép bàn và đưa cho tôi một mẩu giấy viết nguệch ngoạc, chỉ vỏn vẹn trên một tờ giấy xám duy nhất, như anh thấy đấy. “Nguồn cung cấp thú săn cho London đang tăng đều đặn,” bức thư viết. “Người quản lý trưởng Hudson, chúng tôi tin rằng, hiện đã được thông báo để nhận tất cả các đơn đặt hàng cho giấy bẫy ruồi và để bảo tồn sinh mạng con gà lôi mái của ông.”

Tôi dám chắc rằng lúc ấy trông mặt tôi cũng bối rối y hệt như mặt anh khi lần đầu anh đọc bức thông điệp này. Sau đó tôi đọc lại nó hết sức cẩn thận. Rõ ràng là đúng như tôi đã nghĩ - phải có một ẩn ý nào đó nằm chôn vùi bên trong sự kết hợp kỳ quặc của những con chữ này. Hay là đã có một ý nghĩa được quy ước sẵn cho những cụm từ như “giấy bẫy ruồi” và “gà lôi mái”? Một ẩn ý kiểu đó sẽ là hoàn toàn tùy tiện và không thể suy luận ra bằng bất kỳ cách nào. Dù vậy, tôi vẫn không muốn tin rằng đó là sự thật. Sự xuất hiện của từ “Hudson” dường như cho thấy chủ đề của bức thông điệp đúng như tôi đã đoán - và rằng nó đến từ Beddoes chứ không phải từ gã thủy thủ kia. Tôi thử đọc ngược lại, nhưng tổ hợp chữ “sinh mạng gà lôi mái” chẳng đem lại tia hy vọng nào. Sau đó tôi thử đọc cách từ, thế nhưng cả “Của dành cho” lẫn “cung cấp thú săn London” đều chẳng hứa hẹn rọi được tí ánh sáng nào vào đây. Và rồi, trong một khoảnh khắc lóe sáng, chìa khóa của câu đố đã nằm gọn trong tay tôi. Tôi nhận ra rằng cứ lấy mỗi từ thứ ba4, bắt đầu từ từ đầu tiên, sẽ cho ra một bức thông điệp có thể đẩy ông lão Trevor vào chốn tuyệt vọng tột cùng.

Lời cảnh báo ấy thật ngắn gọn và súc tích. Tôi đọc to lên cho bạn mình nghe:

“Trò chơi kết thúc. Hudson đã khai hết. Hãy chạy trốn để giữ mạng.”

Victor Trevor gục mặt vào đôi bàn tay run rẩy của mình. “Tôi đã đoán chắc là như vậy mà,” cậu ấy nói. “Điều này còn tồi tệ hơn cả cái chết, vì nó còn đồng nghĩa với cả sự ô nhục nữa. Nhưng thế còn ý nghĩa của những từ ‘người quản lý trưởng’ và ‘gà lôi mái’ là gì?”

“Những từ ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với bức thông điệp. Nhưng chúng có thể có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta, nếu chúng ta không còn cách nào khác để tìm ra kẻ đã gửi. Anh thấy đấy, người viết bắt đầu bằng cách viết ra ‘Trò … chơi … kết,’ và cứ tiếp tục như thế. Về sau, để hoàn thành mật mã đã quy ước, ông ta buộc phải chèn thêm hai từ bất kỳ vào mỗi khoảng trống. Đương nhiên là ông ta sẽ dùng những từ đầu tiên nảy ra trong đầu mình. Và nếu trong số đó có quá nhiều từ ngữ liên quan đến thể thao và săn bắn, thì anh có thể khá chắc chắn rằng người viết hoặc là một tay thiện xạ cừ khôi, hoặc là một người rất có hứng thú với việc chăn nuôi thú săn. Anh có biết gì về ông Beddoes này không?”

“Chà, giờ anh nhắc tới thì tôi mới nhớ,” cậu ấy đáp. “Người cha tội nghiệp của tôi vẫn thường nhận được lời mời từ ông ấy đến săn bắn trong khu bảo tồn của ông ấy vào mỗi mùa thu.”

“Thế thì chắc chắn bức thư này đến từ ông ta rồi,” tôi nói. “Điều còn lại mà chúng ta phải tìm ra, chính là cái bí mật mà gã thủy thủ Hudson dường như đang nắm trong tay để thao túng cả hai người đàn ông giàu có và đáng kính này.”

“Than ôi, Holmes, tôi e rằng đó là một bí mật của tội lỗi và sự hổ thẹn!” bạn tôi kêu lên. “Nhưng tôi sẽ không giấu giếm anh điều gì. Đây là bản lời khai do chính cha tôi viết ra, khi ông nhận ra mối hiểm họa từ Hudson đã trở nên cận kề. Tôi tìm thấy nó trong chiếc tủ Nhật Bản, y như những lời ông đã dặn vị bác sĩ. Anh hãy cầm lấy và đọc cho tôi nghe đi, vì tôi thật sự chẳng còn đủ sức lực, cũng chẳng còn đủ can đảm để tự mình đọc nó.”

"Watson, đây chính là những trang giấy mà cậu ấy đã trao cho tôi, và tôi sẽ đọc cho anh nghe, y như tôi đã từng đọc cho cậu ấy trong căn phòng làm việc cũ kỹ vào cái đêm định mệnh ấy. Bên ngoài chúng có dòng chứng thực, như anh thấy đấy, 'Vài chi tiết về chuyến hải trình của tàu Gloria Scott, kể từ lúc rời Falmouth vào ngày 8 tháng Mười năm 1855, cho đến khi bị hủy diệt ở vĩ độ 15º 20' Bắc, kinh độ 25º 14' Tây vào ngày 6 tháng Mười Một.' Nó mang hình thức một bức thư, và được viết như sau:

"'Con trai yêu dấu của cha,-Giờ đây, khi nỗi ô nhục đang kề cận và bắt đầu phủ bóng đen lên những năm tháng cuối cùng của đời cha, cha có thể viết với tất cả sự chân thật và lòng trung thực mà nói rằng: không phải nỗi kinh hoàng trước pháp luật, không phải sự đánh mất địa vị trong vùng, cũng không phải việc cha sụp đổ trong mắt tất cả những ai từng quen biết cha, mới là điều cứa vào tim cha; mà chính là ý nghĩ rằng con sẽ phải hổ thẹn vì cha-con, đứa con yêu thương cha và hiếm khi, cha hy vọng thế, có lý do để làm gì khác ngoài việc kính trọng cha. Nhưng nếu đòn giáng vẫn luôn lơ lửng trên đầu cha nay ập xuống thật, thì cha mong con hãy đọc những dòng này, để con có thể biết trực tiếp từ cha rằng cha đáng trách đến nhường nào. Mặt khác, nếu mọi sự hanh thông (cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng rủ lòng thương!), thì nhỡ đâu tờ giấy này vẫn chưa bị hủy và rơi vào tay con, cha khẩn cầu con, bằng tất cả những gì con coi là thiêng liêng, bằng ký ức về người mẹ thân yêu của con, và bằng tình yêu đã từng có giữa hai cha con ta, hãy ném nó vào lửa và đừng bao giờ mảy may nghĩ đến nó thêm nữa.

"'Nếu lúc này mắt con vẫn tiếp tục lướt theo những dòng chữ này, thì cha biết rằng cha đã bị phơi bày và bị lôi cổ khỏi nhà, hoặc nhiều khả năng hơn-bởi con biết trái tim cha yếu lắm-cha đang nằm đó với lưỡi đã bị niêm phong vĩnh viễn trong cái chết. Trong cả hai trường hợp, thời khắc để che đậy đã trôi qua mất rồi, và mỗi lời cha nói với con đây đều là sự thật trần trụi, cha xin thề như cha hy vọng vào lòng nhân từ của Chúa.

"'Tên thật của cha, chàng trai trẻ thân yêu ạ, không phải là Trevor. Thời trai trẻ cha mang tên James Armitage, và giờ đây con có thể hiểu cú sốc mà cha đã phải chịu đựng vài tuần trước, khi người bạn đại học của con buột miệng gọi cha bằng những lời dường như ám chỉ rằng cậu ấy đã đoán ra bí mật của cha. Dưới cái tên Armitage, cha đã vào làm việc trong một ngân hàng ở London, và cũng dưới cái tên Armitage, cha đã bị kết án vì vi phạm luật pháp của đất nước mình, và bị kết án đày ải5. Đừng nghĩ quá khắt khe về cha, con trai nhé. Đó là một món nợ danh dự-người ta gọi như thế-mà cha buộc phải trả, và cha đã dùng số tiền không phải của mình để trang trải nó, với niềm tin chắc chắn rằng cha sẽ hoàn trả được trước khi có bất kỳ nguy cơ nào khiến nó bị phát hiện là thiếu hụt. Nhưng vận rủi khủng khiếp nhất đã bám riết lấy cha. Số tiền cha trông đợi chẳng bao giờ đến tay, và một cuộc kiểm tra sổ sách bất thình lình đã phơi bày khoản thâm hụt của cha. Vụ việc lẽ ra đã có thể được xử lý khoan hồng, nhưng pháp luật ba mươi năm trước nghiêm khắc hơn bây giờ nhiều, và vào đúng ngày sinh nhật thứ hai mươi ba của mình, cha thấy mình bị xiềng xích như một trọng phạm cùng với ba mươi bảy tù nhân khác trên boong giữa của chiếc thuyền buồm Gloria Scott, thẳng tiến về phía nước Úc.

"'Đó là năm 1855, khi cuộc chiến tranh Crimea6 đang ở đỉnh điểm, và những con tàu chở tù nhân cũ kỹ đã được huy động rộng rãi làm tàu vận tải ở Biển Đen. Vì thế, chính phủ buộc phải dùng những con tàu nhỏ hơn và kém phù hợp hơn để chuyên chở tù nhân ra nước ngoài. Tàu Gloria Scott vốn từng nằm trong tuyến buôn bán chè với Trung Quốc, nhưng nó là một con tàu kiểu cũ, mũi nặng, lườn rộng, và những chiếc thuyền buồm cao tốc thế hệ mới đã bỏ xa nó. Nó là một con tàu trọng tải năm trăm tấn, và bên cạnh ba mươi tám tên tù nhân, nó còn chở theo hai mươi sáu thủy thủ, mười tám binh lính, một thuyền trưởng, ba thuyền phó, một bác sĩ, một mục sư và bốn quản ngục. Tổng cộng gần một trăm linh hồn trên tàu khi chúng tôi giương buồm rời khỏi Falmouth.

"'Những vách ngăn giữa các xà lim của tù nhân, thay vì được làm bằng gỗ sồi dày như thường thấy trên các tàu chở tù, lại khá mỏng và ọp ẹp. Người đàn ông bên cạnh cha, ở phía sau, là kẻ mà cha đã đặc biệt chú ý khi chúng tôi bị áp giải xuống bến cảng. Hắn ta là một gã trai trẻ với khuôn mặt nhẵn nhụi, sáng sủa, chiếc mũi dài và thanh tú, cùng cái quai hàm hơi giống như chiếc kẹp hạt dẻ. Hắn ngẩng cao đầu đầy tự mãn, dáng đi nghênh ngang, và trên hết, hắn nổi bật với chiều cao phi thường. Cha không nghĩ đầu của bất kỳ ai trong chúng tôi lại có thể chạm đến vai hắn, và cha dám chắc hắn không thể thấp hơn sáu foot rưỡi7. Thật kỳ lạ làm sao, giữa bấy nhiêu khuôn mặt buồn bã và mệt mỏi, lại thấy một con người tràn đầy năng lượng và sự kiên quyết như thế. Nhìn thấy hắn đối với cha khác nào như một ngọn lửa bập bùng giữa trận bão tuyết. Vậy là cha vui mừng khi biết hắn là hàng xóm của mình, và còn vui mừng hơn nữa khi vào lúc nửa đêm, cha nghe thấy một tiếng thì thầm sát bên tai, và phát hiện ra rằng hắn ta đã xoay sở khoét được một lỗ hổng trên tấm ván ngăn cách hai chúng tôi.

"'"Chào, anh bạn!" hắn nói. "Tên anh là gì, và vì sao anh lại ở đây?"

"'Cha trả lời hắn ta, rồi đến lượt mình hỏi xem cha đang nói chuyện với ai.

"'"Tôi là Jack Prendergast," hắn đáp, "và lạy Chúa! Anh sẽ học được cách biết ơn cái tên này trước khi xong chuyện với tôi."

"'Cha nhớ mình đã từng nghe về vụ án của hắn, bởi đó là vụ đã gây chấn động dữ dội khắp đất nước một thời gian trước khi cha bị bắt. Hắn xuất thân từ một gia đình danh giá và sở hữu năng lực phi thường, nhưng lại vướng vào những thói hư tật xấu không sao chữa nổi-một kẻ đã dùng cả một hệ thống lừa đảo tinh vi để chiếm đoạt những khoản tiền khổng lồ từ các thương gia hàng đầu của London.

"'"Ha, ha! Anh nhớ vụ của tôi à!" hắn nói với vẻ đầy tự hào.

"'"Thực sự là nhớ rất rõ."

"'"Thế thì có lẽ anh cũng nhớ một chi tiết gì đó kỳ lạ về vụ đó chứ?"

"'"Chi tiết gì vậy?"

"'"Tôi đã vơ vét được gần một phần tư triệu bảng8, phải không?"

"'"Người ta đồn là như vậy."

"'"Nhưng chẳng thu hồi lại được đồng nào, phải không?"

"'"Đúng thế."

"'"Chà, thế anh nghĩ số tiền còn lại giờ đang ở đâu?" hắn hỏi.

"'"Tôi không có manh mối nào cả," cha đáp.

"'"Ngay giữa ngón tay và ngón cái của tôi đây này!" hắn thốt lên. "Lạy Chúa! Tôi có nhiều bảng Anh đứng tên mình hơn số tóc trên đầu anh đấy. Và nếu anh có tiền, anh bạn ạ, và biết cách xoay xở cùng rải rắc nó, anh có thể làm bất cứ điều gì! Giờ thì, anh không nghĩ rằng một kẻ có thể làm bất cứ điều gì lại chịu ngồi mài thủng đũng quần trong cái khoang tàu hôi hám của một cỗ quan tài cũ kỹ mốc meo, đầy chuột gián của một con tàu ven bờ Trung Quốc hay sao. Không đâu, thưa ngài, một kẻ như thế sẽ tự lo liệu cho bản thân mình và chăm lo cho các chiến hữu của hắn nữa. Anh cứ ghi nhớ điều này cho thật kỹ! Anh cứ bám chặt lấy hắn, và anh có thể hôn lên cuốn Kinh Thánh mà tin rằng hắn sẽ kéo anh qua tất cả."

"'Đó là kiểu nói chuyện của hắn, và thoạt đầu cha nghĩ nó chẳng có nghĩa lý gì; nhưng sau một thời gian, khi hắn đã thử thách cha và kết nạp cha với tất cả sự trang nghiêm có thể, hắn khiến cha hiểu rằng thực sự có một âm mưu nhằm giành quyền kiểm soát con tàu. Hàng tá tù nhân đã ấp ủ kế hoạch này từ trước khi họ bước lên tàu, Prendergast là kẻ cầm đầu, và tiền bạc của hắn chính là động lực.

"'"Tôi có một cộng sự," hắn nói, "một kẻ cực kỳ tài giỏi, trung thành như báng súng gắn liền với nòng súng vậy. Ông ta cũng có tiền, và anh nghĩ giờ này ông ta đang ở đâu? Chà, ông ta chính là mục sư của con tàu này-mục sư đấy, không hơn không kém! Ông ta lên tàu với một chiếc áo khoác đen, giấy tờ hợp lệ, và đủ tiền trong rương để mua đứt mọi thứ từ sống lưng tàu cho đến tận cột buồm. Thủy thủ đoàn đều là người của ông ta, cả xác lẫn hồn. Ông ta có thể mua đứt họ với giá bán buôn kèm chiết khấu tiền mặt, và ông ta đã làm điều đó trước cả khi họ ký hợp đồng. Ông ta đã mua chuộc được hai tên quản ngục và Mercer, viên thuyền phó thứ hai, và ông ta sẽ mua luôn cả thuyền trưởng nếu thấy đáng đồng tiền."

"'"Thế thì chúng ta phải làm gì?" cha hỏi.

"'"Anh nghĩ sao?" hắn đáp. "Chúng ta sẽ nhuộm đỏ những chiếc áo khoác của bọn lính này còn đỏ hơn cả thợ may từng làm ra chúng."

"'"Nhưng chúng có vũ trang cơ mà," cha nói.

"'"Và chúng ta cũng vậy, anh bạn ạ. Mỗi người trong chúng ta sẽ có một cặp súng lục, và nếu chúng ta không chiếm nổi con tàu này với sự hậu thuẫn của toàn bộ thủy thủ đoàn, thì đã đến lúc nên tống cổ chúng ta vào một trường nội trú dành cho thiếu nữ rồi. Tối nay anh hãy nói chuyện với người bạn tù bên trái của anh đi, xem anh ta có đáng tin cậy không."

"'Cha đã làm theo lời hắn, và phát hiện ra người hàng xóm còn lại của mình là một chàng trai trẻ có hoàn cảnh khá giống cha, phạm tội giả mạo giấy tờ. Tên anh ta là Evans, nhưng sau này anh ta cũng đã đổi tên, giống như cha, và giờ đây anh ta là một người đàn ông giàu có và thịnh vượng ở miền Nam nước Anh. Anh ta sẵn lòng tham gia âm mưu, coi đó như phương tiện duy nhất để cứu lấy bản thân, và trước khi chúng tôi vượt qua Vịnh Biscay, chỉ còn hai tù nhân duy nhất không hay biết về bí mật này. Một kẻ có tâm thần yếu ớt, chúng tôi không dám tin tưởng, còn kẻ kia đang mắc bệnh vàng da và chẳng thể giúp ích được gì.

"'Ngay từ đầu, thực sự chẳng có gì ngăn cản chúng tôi chiếm lấy con tàu. Thủy thủ đoàn toàn là một lũ lưu manh, được tuyển chọn có chủ đích cho nhiệm vụ này. Vị mục sư giả danh thường xuyên lui tới phòng giam chúng tôi để giảng đạo, mang theo một chiếc túi màu đen được cho là chứa đầy những tờ truyền đạo, và ông ta đến thường xuyên đến nỗi chỉ đến ngày thứ ba, mỗi người trong chúng tôi đều đã giấu kín dưới chân giường một chiếc dũa, một cặp súng lục, một pound thuốc súng và hai mươi viên đạn. Hai trong số các quản ngục là tay sai của Prendergast, và viên thuyền phó thứ hai chính là cánh tay phải của hắn. Thuyền trưởng, hai thuyền phó, hai quản ngục, Trung úy Martin cùng mười tám binh lính của ông ta và vị bác sĩ-đó là tất cả những kẻ chống lại chúng tôi. Dẫu an toàn đến đâu, chúng tôi vẫn quyết định không lơ là bất kỳ biện pháp phòng ngừa nào, và định thực hiện cuộc tấn công bất ngờ vào ban đêm. Ấy vậy mà, mọi chuyện lại ập đến nhanh hơn chúng tôi mong đợi, theo cái cách này đây.

"'Một buổi tối nọ, khoảng tuần thứ ba sau khi khởi hành, vị bác sĩ xuống boong để khám cho một tù nhân đang ốm, và khi thọc tay xuống dưới đáy giường, ông ta sờ phải đường viền của những khẩu súng lục. Nếu ông ta giữ im lặng, ông ta hẳn đã có thể phơi bày toàn bộ sự việc, nhưng ông ta là một gã nhỏ thó hay lo lắng, nên ông ta đã kêu lên đầy kinh ngạc và tái mét mặt mày đến mức người tù kia lập tức nhận ra có chuyện chẳng lành và tóm gọn lấy ông ta. Ông ta bị bịt miệng trước khi kịp phát ra lời báo động, rồi bị trói chặt vào giường. Gã tù nhân ấy đã mở khóa cánh cửa dẫn lên boong tàu, và chúng tôi ùa ra như thác lũ. Hai lính gác bị bắn gục ngay tại chỗ, và một viên hạ sĩ chạy đến xem có chuyện gì cũng chịu chung số phận. Còn hai lính gác nữa đứng ở cửa khoang hành khách, và có vẻ như súng hỏa mai của họ chưa được nạp đạn, bởi họ chẳng hề khai hỏa vào chúng tôi, và rồi họ bị bắn hạ trong lúc đang loay hoay gắn lưỡi lê. Sau đó, chúng tôi lao thẳng vào cabin của thuyền trưởng, nhưng khi cánh cửa vừa bị đẩy bật ra thì một tiếng nổ vang lên từ bên trong, và ông ta nằm đó với bộ não văng tung tóe khắp tấm hải đồ Đại Tây Dương đang được ghim trên bàn, trong khi vị mục sư đứng sừng sững ngay bên cạnh khuỷu tay ông ta, tay còn nắm khẩu súng lục làn khói vẫn còn đang bốc lên nghi ngút. Cả hai thuyền phó đều đã bị thủy thủ đoàn tóm gọn, và toàn bộ công việc dường như đã xong xuôi.

"'Khoang hành khách nằm ngay cạnh cabin thuyền trưởng, và chúng tôi đổ xô vào đó, ngồi phịch xuống những chiếc ghế dài bọc nệm, tất cả cùng nhao nhao nói một lúc, bởi chúng tôi đang phát cuồng lên với cái cảm giác được tự do một lần nữa. Chung quanh có những tủ đựng đồ, và Wilson-tay mục sư giả danh-đập vỡ một chiếc, lôi ra cả tá chai rượu sherry màu nâu. Chúng tôi đập gãy cổ chai, rót thứ chất lỏng ấy vào những chiếc cốc và đang định nốc cạn, thì trong một khoảnh khắc không hề báo trước, tiếng gầm rú của súng hỏa mai vang lên xé rách bên tai, và phòng khách đặc quánh khói đen đến nỗi chúng tôi không sao nhìn thấy phía bên kia chiếc bàn. Khi khói tan đi, nơi đó chỉ còn là một lò sát sinh. Wilson cùng tám kẻ khác đang quằn quại chồng đống lên nhau trên sàn nhà, và cảnh tượng máu me trộn lẫn với thứ rượu sherry nâu trên chiếc bàn ấy khiến cha buồn nôn mỗi khi nghĩ lại. Chúng tôi khiếp đảm trước cảnh tượng đó đến mức cha ngỡ rằng tất cả hẳn đã bỏ cuộc nếu không có Prendergast. Hắn rống lên như một con bò mộng và lao vút ra cửa, với tất cả những kẻ còn sống sót bám sát gót chân hắn. Chúng tôi chạy ra ngoài boong, và trên boong đuôi tàu là tên trung úy cùng mười tên lính của hắn. Những ô cửa sổ tròn xoay trên trần phòng khách đã được hé mở, và chúng đã bắn xối xả vào chúng tôi qua khe hở ấy. Chúng tôi áp sát chúng trước khi chúng kịp nạp đạn trở lại, và chúng đã đứng đó chiến đấu như những người đàn ông thực thụ; nhưng chúng tôi chiếm ưu thế hơn hẳn, và chỉ trong năm phút mọi chuyện đã chấm dứt. Lạy Chúa tôi! Đã bao giờ có một lò sát sinh nào giống như trên con tàu ấy chưa! Prendergast trông hệt như một con quỷ dữ cuồng nộ, hắn nhấc bổng những tên lính lên như thể chúng chỉ là những đứa trẻ con và ném thẳng chúng xuống biển, bất kể còn sống hay đã chết. Có một viên trung sĩ bị thương nặng khủng khiếp nhưng vẫn tiếp tục bơi trong một khoảng thời gian dài đến sửng sốt, cho đến khi ai đó động lòng thương đã bắn vỡ sọ anh ta. Khi cuộc chiến khép lại, chẳng còn kẻ thù nào của chúng tôi sống sót ngoài các quản ngục, các viên thuyền phó và vị bác sĩ.

"'Chính vì họ mà cuộc tranh cãi dữ dội đã bùng nổ. Nhiều người trong số chúng tôi mừng rỡ khôn xiết vì giành lại được tự do, nhưng vẫn không muốn mang tội giết người trong tâm hồn. Đánh gục binh lính khi họ đang cầm súng hỏa mai trong tay là một chuyện, còn đứng nhìn những con người bị tàn sát một cách máu lạnh lại là chuyện hoàn toàn khác. Tám người chúng tôi, năm tù nhân và ba thủy thủ, tuyên bố rằng chúng tôi sẽ không đứng nhìn chuyện đó xảy ra. Nhưng chẳng ai lay chuyển nổi Prendergast và những kẻ đi theo hắn. Cơ hội an toàn duy nhất của chúng ta nằm ở việc dọn dẹp sạch sẽ mọi thứ, hắn nói, và hắn sẽ không để sót một cái lưỡi nào có khả năng khua khoắng trên bục nhân chứng. Mọi chuyện suýt nữa đã dẫn đến việc chúng tôi phải chia sẻ số phận với các tù nhân kia, nhưng cuối cùng hắn ta bảo rằng nếu chúng tôi muốn, chúng tôi có thể lấy một chiếc xuồng và rời đi. Chúng tôi chộp ngay lấy cơ hội, bởi chúng tôi đã quá ngán ngẩm những hành động khát máu này, và linh cảm rằng mọi chuyện sẽ còn tồi tệ hơn thế trước khi mọi sự kết thúc. Mỗi người chúng tôi được phát một bộ quần áo thủy thủ, một thùng nước, hai thùng gỗ-một đựng thịt muối, một đựng bánh quy-và một chiếc la bàn. Prendergast ném cho chúng tôi một tấm hải đồ, bảo chúng tôi rằng chúng tôi là những thủy thủ bị đắm tàu, con tàu của chúng tôi đã chìm ở vĩ độ 15º Bắc và kinh độ 25º Tây, rồi hắn cắt dây buộc xuồng và để mặc chúng tôi ra đi.

"'Và giờ cha sẽ kể đến phần đáng kinh ngạc nhất của câu chuyện, con trai yêu dấu của cha. Những thủy thủ trên tàu đã kéo căng cần buồm phía trước trong lúc nổi loạn, nhưng khi chúng tôi rời khỏi họ, họ đã căng lại nó vuông góc, và nhờ có một làn gió nhẹ thổi từ hướng bắc và đông, con thuyền buồm bắt đầu từ từ trôi xa khỏi chúng tôi. Chiếc xuồng của chúng tôi nằm đó, dập dềnh trên những con sóng dài và êm ả, trong khi Evans và cha, hai kẻ có học thức nhất trong nhóm, ngồi ở băng ghế lái mà tính toán vị trí hiện tại và lập kế hoạch xem nên nhắm đến bờ biển nào. Đó quả là một câu hỏi hóc búa, bởi quần đảo Cape Verde nằm cách chúng tôi khoảng năm trăm dặm về phía bắc, còn bờ biển châu Phi thì cách khoảng bảy trăm dặm về phía đông. Nhìn chung, khi gió đang chuyển dần sang hướng bắc, chúng tôi cho rằng Sierra Leone có lẽ là điểm đến tốt nhất, liền đổi hướng về phía đó. Lúc bấy giờ, thân con thuyền buồm gần như đã khuất hẳn bên mạn phải của chúng tôi. Bỗng nhiên, khi chúng tôi còn đang nhìn theo nó, một đám mây khói đen đặc khổng lồ phụt lên từ con tàu, lơ lửng như một cái cây khổng lồ in trên đường chân trời. Vài giây sau, một tiếng gầm như sấm rền nổ tung bên tai, và khi khói tan đi, chẳng còn một dấu vết nào của tàu Gloria Scott nữa. Trong một khoảnh khắc, chúng tôi quay ngoắt mũi xuồng trở lại và chèo bằng toàn bộ sức lực hướng về nơi mà làn sương mù vẫn còn vương vất trên mặt nước, đánh dấu hiện trường của thảm họa kinh hoàng ấy.

"'Phải mất trọn một giờ đồng hồ dài đằng đẵng chúng tôi mới đến được đó, và thoạt đầu chúng tôi sợ rằng mình đã đến quá muộn để có thể cứu được bất kỳ ai. Một mảnh xuồng vỡ vụn cùng với vài thùng xốp và những mảnh cột buồm nhấp nhô trên sóng cho chúng tôi biết nơi con tàu đã chìm; nhưng chẳng thấy dấu hiệu nào của sự sống, và chúng tôi đang định quay đi trong tuyệt vọng thì nghe thấy một tiếng kêu cứu thất thanh, rồi nhìn thấy ở đằng xa một mảnh vỡ lớn với một người đàn ông nằm sải tay ôm chặt lấy nó. Khi chúng tôi kéo được hắn lên xuồng, hắn hóa ra là một gã thủy thủ trẻ tên là Hudson, bị bỏng và kiệt sức đến mức mãi đến sáng hôm sau hắn mới có thể kể lại cho chúng tôi chuyện gì đã xảy ra.

"'Dường như là sau khi chúng tôi rời đi, Prendergast và băng đảng của hắn đã tiến hành xử tử năm tù nhân còn lại. Hai tên quản ngục bị bắn và ném xuống biển, viên thuyền phó thứ ba cũng chịu chung số phận. Sau đó, Prendergast đi xuống boong giữa và chính tay hắn cắt cổ vị bác sĩ phẫu thuật bất hạnh. Lúc ấy chỉ còn lại viên thuyền phó thứ nhất, một người can đảm và nhanh trí. Khi nhìn thấy tên tù nhân đang sấn tới với con dao còn đẫm máu trên tay, anh ta đã đá tung những sợi dây trói mà bằng cách nào đó anh ta đã xoay sở nới lỏng được, rồi lao vụt xuống boong tàu và phóng thẳng vào khoang chứa hàng phía đuôi tàu.

"'Hàng tá tù nhân mang theo súng lục lao xuống truy lùng anh ta, và phát hiện ra anh ta đang ngồi đó, tay cầm bao diêm, kế bên một thùng thuốc súng đã được mở nắp-một trong số hàng trăm thùng thuốc súng được chở theo trên tàu-và thề rằng anh ta sẽ cho nổ tung tất cả nếu bất kỳ kẻ nào dám đụng đến mình. Một khoảnh khắc sau, vụ nổ xảy ra, mặc dù Hudson tin rằng nó được gây ra bởi một viên đạn bay lạc của một tên tù nhân chứ không phải bởi que diêm của viên thuyền phó. Dù nguyên nhân là gì đi nữa, đó cũng chính là dấu chấm hết của tàu Gloria Scott và của cả băng hải tặc đã nắm quyền chỉ huy nó.

"'Đó là, trong ít lời, con trai yêu dấu của cha, toàn bộ lịch sử của cái vụ việc tồi tệ mà cha đã bị cuốn vào. Ngày hôm sau, chúng tôi được con tàu hai cột buồm Hotspur vớt lên, đang trên đường đến Úc, và thuyền trưởng của nó chẳng mấy khó khăn mà tin ngay rằng chúng tôi là những người sống sót sau một vụ đắm tàu chở khách. Tàu vận tải Gloria Scott đã được Bộ Hải quân ghi nhận là mất tích trên biển, và chưa từng có một lời nào rò rỉ về số phận thực sự của nó. Sau một chuyến hải hành thuận lợi, tàu Hotspur đã đưa chúng tôi đến Sydney, nơi Evans và cha đổi tên và tìm đường đến các mỏ vàng-nơi mà giữa đám đông hỗn tạp từ khắp các quốc gia đổ về, chúng tôi chẳng gặp mấy khó khăn trong việc đánh mất thân phận cũ của mình.

"'Phần còn lại cha không cần phải kể ra làm gì nữa. Chúng tôi đã trở nên thịnh vượng, đã đi du lịch khắp nơi, đã trở về nước Anh với tư cách là những người thuộc địa giàu có, và đã mua những điền trang nơi thôn quê. Trong hơn hai mươi năm trời, chúng tôi đã sống những cuộc đời thanh bình và hữu ích, và chúng tôi hy vọng rằng quá khứ của mình đã vĩnh viễn bị chôn vùi. Vậy thì con hãy thử tưởng tượng nỗi kinh hoàng của cha khi, trong con người của gã thủy thủ đã tìm đến chúng ta, cha nhận ra ngay tức khắc kẻ mà chúng tôi đã cứu lên từ đống đổ nát năm xưa. Bằng cách nào đó, hắn đã lần theo dấu vết của chúng tôi, và bắt đầu sống bám trên nỗi sợ hãi của chúng tôi. Giờ đây con sẽ hiểu tại sao cha đã cố gắng giữ hòa khí với hắn, và con sẽ phần nào thông cảm cho cha trong những nỗi kinh sợ đang tràn ngập tâm can cha, khi hắn đã rời bỏ cha để tìm đến nạn nhân tiếp theo của mình với những lời đe dọa trên môi.'

"Bên dưới được viết bằng một nét chữ run rẩy đến mức khó lòng đọc nổi: 'Beddoes viết bằng mật mã báo rằng H. đã khai ra tất cả. Lạy Chúa chí tôn, xin rủ lòng thương xót linh hồn chúng con!'"

Đó là câu chuyện mà tôi đã đọc cho Trevor trẻ tuổi nghe vào cái đêm hôm ấy, và tôi cho rằng, Watson ạ, trong hoàn cảnh đó, nó quả là một câu chuyện đầy kịch tính. Chàng trai tốt bụng ấy đã vô cùng đau lòng trước mọi chuyện xảy ra, rồi bỏ đi đến đồn điền trà Terai, nơi tôi nghe nói rằng cậu ấy hiện đang làm ăn rất phát đạt. Còn về phần gã thủy thủ và Beddoes, kể từ sau ngày bức thư cảnh báo ấy được viết ra, chẳng một ai còn nghe ngóng được tin tức gì về cả hai. Họ đã biến mất một cách hoàn toàn và dứt khoát, không để lại lấy một dấu vết. Chẳng có đơn khiếu nại nào được đệ trình lên cảnh sát, cho nên Beddoes đã nhầm tưởng một lời hăm dọa suông là một hành động đã thực sự xảy ra. Hudson từng bị trông thấy lảng vảng quanh khu vực đó, và phía cảnh sát tin rằng chính hắn đã ra tay sát hại Beddoes rồi cao chạy xa bay. Về phần tôi, tôi lại tin rằng sự thật nằm ở chiều hoàn toàn ngược lại. Tôi cho rằng rất có thể chính Beddoes, khi đã bị dồn vào chân tường và tin chắc mình bị phản bội, đã tìm cách trả thù Hudson, rồi tẩu thoát khỏi đất nước cùng với tất cả số tiền mà ông ta có thể vơ vét được trong tầm tay. Đó là toàn bộ sự thật của vụ án, thưa Bác sĩ, và nếu chúng có ích gì cho bộ sưu tập của anh, tôi tin chắc rằng chúng sẵn lòng phục vụ anh.



  1. Bull Terrier (chó sục bò), một giống chó săn có nguồn gốc từ Anh, đặc trưng bởi phần đầu hình quả trứng, nổi tiếng với sự trung thành nhưng có lực cắn cực mạnh và từng được dùng trong các cuộc chọi chó thời xưa. 

  2. Thẩm phán hòa giải (Justice of the Peace) thường là những điền chủ (squire) giàu có và có uy tín ở các vùng nông thôn nước Anh. Họ không nhất thiết phải là luật sư chuyên nghiệp nhưng có thẩm quyền xét xử các vụ án nhỏ và duy trì trật tự tại địa phương. 

  3. Norfolk Broads là một hệ thống sông hồ và đầm lầy đan xen ở hạt Norfolk và Suffolk (Anh), nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và hệ sinh thái đa dạng, thường được giới quý tộc Anh dùng làm nơi săn bắn các loài chim nước. 

  4. Trong tiếng Anh, bức thư gốc là: "The supply of game for London is going steadily up. Head-keeper Hudson, we believe, has been now told to receive all orders for fly-paper and for preservation of your hen-pheasant's life." Đọc mỗi từ thứ ba, ta sẽ có: "The game is up. Hudson has told all. Fly for your life." (Trò chơi kết thúc. Hudson đã khai hết. Chạy đi để giữ mạng). Khi dịch sang tiếng Việt, số lượng từ thay đổi nên quy luật này không còn đúng trên mặt chữ. 

  5. Hình phạt lưu đày (penal transportation). Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, đế quốc Anh thường trừng phạt tội phạm bằng cách đày họ đến các thuộc địa xa xôi (như Úc) để lao động khổ sai, vừa giải quyết tình trạng quá tải nhà tù vừa cung cấp nhân công khai hoang. 

  6. Cuộc chiến tranh Krym (1853-1856) diễn ra phần lớn trên bán đảo Krym (Biển Đen), giữa Đế quốc Nga và liên minh Anh, Pháp, Ottoman. Do nhu cầu vận tải quân sự tăng vọt, chính phủ Anh phải trưng dụng các tàu tốt cho chiến trường, để lại những con tàu tồi tàn cho việc đày ải tù nhân. 

  7. Khoảng 1,98 mét. Vào thế kỷ 19, khi chiều cao trung bình của nam giới Anh chỉ khoảng 1,65 mét, đây là một chiều cao cực kỳ vượt trội và hiếm thấy, tạo cảm giác áp đảo về mặt thể chất. 

  8. 250.000 bảng Anh. Vào năm 1855, đây là một số tiền khổng lồ, tương đương với khoảng hàng chục triệu bảng Anh theo thời giá hiện nay, đủ để tên tội phạm tự tin dùng tiền mua chuộc cả thủy thủ đoàn.