II. Vụ án chiếc hộp các-tông

Khi lựa chọn một vài vụ án tiêu biểu nhằm làm sáng tỏ những phẩm chất trí tuệ xuất chúng của người bạn tôi - Sherlock Holmes - tôi đã cố gắng, trong chừng mực có thể, chọn ra những vụ ít nhuốm màu giật gân nhất, đồng thời vẫn dành được một khoảng đất công bằng cho tài năng của anh. Thế nhưng, trớ trêu thay, khó lòng tách rời hoàn toàn yếu tố giật gân ra khỏi tội ác. Người ghi chép bị đẩy vào thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc phải hy sinh những chi tiết cốt yếu trong lời kể của mình, qua đó tạo nên một ấn tượng sai lạc về sự việc; hoặc buộc phải sử dụng chính những chất liệu mà cơ hội - chứ không phải sự chọn lựa - đã đặt vào tay anh ta. Với đôi dòng dạo đầu ngắn ngủi ấy, tôi xin phép chuyển sang những ghi chép của mình về những gì sau này đã chứng tỏ là một chuỗi sự kiện hết sức kỳ lạ, dù đặc biệt khủng khiếp.

Đó là một ngày tháng Tám nắng như đổ lửa. Phố Baker chẳng khác gì một cái lò nung, và ánh mặt trời chói chang đập vào lớp gạch vàng của căn nhà bên kia đường đến mức khiến người ta nhức mắt. Thật khó mà tin rằng đây cũng chính là những bức tường đã từng thấp thoáng hiện lên một cách ảm đạm qua những màn sương mù dày đặc của mùa đông. Những tấm rèm của chúng tôi được kéo xuống nửa chừng, còn Holmes nằm cuộn tròn trên ghế sô-pha, đọc đi đọc lại một lá thư mà anh vừa nhận được qua chuyến bưu điện buổi sáng. Về phần tôi, những năm tháng phục vụ tại Ấn Độ đã tôi luyện cho tôi khả năng chịu nóng tốt hơn chịu lạnh, và nhiệt kế chạm mức chín mươi độ F cũng chưa hẳn là một cực hình. Nhưng tờ báo buổi sáng thì chẳng có gì đáng đọc. Nghị viện đã ngưng họp. Ai nấy đều đã rời khỏi thị trấn, và lòng tôi khắc khoải nhớ về những thảm cỏ trải dài của khu New Forest hay bãi cuội lấp lánh ở Southsea. Tiếc thay, một tài khoản ngân hàng trống rỗng đã buộc tôi phải hoãn lại kỳ nghỉ của mình. Còn với người bạn đồng hành, cả chốn thôn quê lẫn biển cả đều chẳng hề gợi lên trong anh lấy một chút hứng thú nào. Anh thích nằm ngay giữa trung tâm của năm triệu con người, với những sợi tơ vô hình của mình vươn ra, đan len qua từng ngóc ngách, nhạy bén đón bắt từng lời đồn thổi hay mối nghi ngờ nhỏ nhất về một tội ác còn chưa được làm sáng tỏ. Thưởng ngoạn thiên nhiên vốn không có chỗ trong vô vàn thiên phú của anh. Sự thay đổi duy nhất của anh chỉ là khi anh chuyển tâm trí mình từ những kẻ gây ác nơi thành thị sang việc lần theo dấu vết đồng loại của chúng ở chốn thôn quê.

Nhận thấy Holmes đang quá mải mê chìm đắm trong lá thư để có thể trò chuyện, tôi quẳng tờ báo khô khan sang một bên, ngả người ra sau ghế và chìm vào một nỗi trầm tư u ám. Đột nhiên, giọng nói của người bạn đồng hành vang lên, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi:

“Anh nói đúng đấy, Watson à,” anh cất tiếng. “Quả thật đó có vẻ là một cách giải quyết tranh chấp lố bịch nhất.”

“Lố bịch nhất!” tôi kêu lên, và rồi đột ngột nhận ra rằng anh đã đọc được chính xác suy nghĩ sâu kín nhất trong tâm hồn mình, tôi bật thẳng dậy trên ghế, nhìn chằm chằm vào anh đầy kinh ngạc tột độ.

“Chuyện này là thế nào hả, Holmes?” tôi thốt lên. “Điều này thật vượt quá mọi điều tôi có thể tưởng tượng nổi.”

Anh cười phá lên một cách thoải mái trước vẻ bối rối của tôi.

“Anh còn nhớ chứ,” anh nói, “cách đây một thời gian, khi tôi đọc cho anh nghe đoạn văn trong một bản phác thảo của Poe1, kể về một kẻ suy luận chặt chẽ lần theo những suy nghĩ chưa thốt thành lời của người bạn đồng hành mình, anh đã có xu hướng xem đó chỉ là một mánh phô diễn kỹ thuật thuần túy của tác giả. Và khi tôi nhận xét rằng bản thân tôi thường xuyên có thói quen làm điều tương tự, anh đã tỏ ra hoài nghi.”

“Ồ, không đâu!”

“Có lẽ không phải bằng lời nói, Watson thân mến của tôi, nhưng chắc chắn là bằng lông mày của anh rồi. Thế nên, khi tôi trông thấy anh ném tờ báo xuống và chìm vào một dòng suy tư, tôi đã rất vui khi có cơ hội lần theo dòng suy nghĩ đó, và cuối cùng là đột ngột xen vào, như một bằng chứng rằng tôi đã kết nối được với anh.”

Nhưng tôi còn lâu mới thấy thỏa mãn. “Trong ví dụ mà anh đọc cho tôi nghe,” tôi nói, “kẻ suy luận kia đã rút ra kết luận từ hành động của người mà anh ta quan sát. Nếu tôi nhớ không lầm, anh ta vấp phải một đống đá, ngước nhìn những vì sao, và đại loại như thế. Nhưng tôi vẫn ngồi im lặng trên ghế của mình, vậy tôi có thể cung cấp cho anh những manh mối gì chứ?”

“Anh tự đánh giá thấp bản thân mình rồi. Các đường nét trên gương mặt được ban cho con người như một phương tiện để họ thể hiện cảm xúc của mình, và những đường nét của anh là những đầy tớ trung thành.”

“Ý anh muốn nói là anh đọc được dòng suy nghĩ của tôi từ những đường nét trên khuôn mặt tôi sao?”

“Những đường nét của anh, và đặc biệt là đôi mắt anh. Có lẽ chính anh cũng không thể nhớ lại giấc mơ màng của mình đã bắt đầu như thế nào?”

“Không, tôi không thể.”

“Vậy thì để tôi kể cho anh nghe. Sau khi ném tờ báo xuống - hành động ấy đã thu hút sự chú ý của tôi về phía anh - anh ngồi yên trong chừng nửa phút với một vẻ mặt trống rỗng. Rồi đôi mắt anh gắn chặt vào bức chân dung Tướng Gordon2 vừa mới được lồng khung của anh, và tôi thấy qua sự biến đổi trên gương mặt anh rằng một dòng suy nghĩ đã bắt đầu hình thành. Nhưng nó không dẫn đi quá xa. Đôi mắt anh lướt qua bức chân dung chưa lồng khung của Henry Ward Beecher3 đang đặt trên đỉnh chồng sách của mình. Rồi anh ngước lên nhìn bức tường, và tất nhiên ý nghĩ của anh trở nên rõ ràng. Anh đang nghĩ rằng nếu bức chân dung kia được lồng khung, nó sẽ vừa vặn che lấp khoảng trống ấy và cân xứng với bức tranh của Gordon ở đằng kia.”

“Anh đã lần theo tôi thật tuyệt vời!” tôi thốt lên.

“Cho đến điểm ấy thì tôi khó mà lạc lối được. Nhưng rồi suy nghĩ của anh quay trở lại với Beecher, và anh nhìn chằm chằm như thể đang nghiên cứu tính cách con người ấy qua từng đường nét trên gương mặt ông ta. Rồi đôi mắt anh ngừng nheo lại, nhưng anh vẫn tiếp tục dán nhìn, và khuôn mặt anh đầy vẻ đăm chiêu. Anh đang hồi tưởng lại những sự kiện trong sự nghiệp của Beecher. Tôi biết rõ rằng anh không thể làm điều này mà không nghĩ đến sứ mệnh mà ông ấy đã đảm nhận đứng về phía phe Miền Bắc4 vào thời điểm Nội chiến5, vì tôi còn nhớ anh đã từng bày tỏ sự phẫn nộ mãnh liệt của mình trước cách mà ông ấy bị đón nhận bởi những phần tử hung hăng nhất trong số đồng bào chúng ta. Anh xúc động mạnh mẽ về điều đó đến nỗi tôi biết anh không thể nghĩ về Beecher mà đồng thời không nghĩ về chuyện ấy. Và khi một khoảnh khắc sau đó, tôi thấy đôi mắt anh rời khỏi bức tranh, tôi ngờ rằng tâm trí anh giờ đây đã chuyển sang cuộc Nội chiến. Lúc tôi quan sát đôi môi anh mím chặt, đôi mắt anh ánh lên, và hai bàn tay anh siết lại, tôi quả quyết rằng anh thực sự đang nghĩ về sự dũng cảm mà cả hai phía đã thể hiện trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng ấy. Nhưng rồi, một lần nữa, gương mặt anh trở nên buồn bã hơn; anh lắc đầu. Anh đang nghĩ đến nỗi đau thương, sự kinh hoàng và cảnh lãng phí sinh mạng một cách vô ích. Bàn tay anh khẽ lướt qua vết thương cũ của chính mình, và một nụ cười mấp máy trên môi anh - điều đó cho tôi thấy rằng khía cạnh lố bịch của phương thức giải quyết những vấn đề quốc tế này đã tự nó len lỏi vào tâm trí anh. Tại điểm này, tôi đồng ý với anh rằng điều đó thật vô lý, và rất vui khi thấy rằng mọi suy luận của tôi đều chính xác.”

“Hoàn toàn chính xác!” tôi nói. “Và giờ đây khi anh đã giải thích cặn kẽ, tôi thú nhận rằng mình vẫn còn kinh ngạc y như lúc ban đầu.”

“Nó rất hời hợt thôi, Watson thân mến của tôi, tôi cam đoan với anh đấy. Tôi đáng lẽ đã không xâm phạm vào sự chú tâm của anh, nếu như hôm trước anh không tỏ ra đôi chút hoài nghi. Nhưng hiện tại tôi đang có trong tay một vấn đề nho nhỏ, có thể sẽ chứng minh là khó nhằn hơn bài tiểu luận về nghệ thuật đọc suy nghĩ của tôi. Anh có để ý thấy trên báo một đoạn vắn tắt đề cập đến thứ nội dung đáng chú ý trong một gói bưu kiện được gửi qua đường bưu điện cho cô Cushing, ở Phố Cross, Croydon không?”

“Không, tôi chẳng thấy gì cả.”

“À! Vậy thì chắc anh đã bỏ lỡ nó rồi. Quẳng nó sang đây cho tôi nào. Đây rồi, ngay dưới cột tài chính. Có lẽ anh sẽ vui lòng đọc to lên nhé.”

Tôi nhặt tờ báo mà anh vừa ném trả lại và đọc đoạn văn được chỉ định. Nó mang tiêu đề: “Một bưu kiện rùng rợn.”

“Cô Susan Cushing, hiện sống tại Phố Cross, Croydon, đã trở thành nạn nhân của một hành vi phải được coi là một trò đùa thực tế đặc biệt đáng tởm, trừ phi có một ẩn ý thâm độc hơn nào đó được chứng minh là gắn liền với sự việc. Vào lúc hai giờ chiều ngày hôm qua, một gói bưu kiện nhỏ, bọc trong giấy nâu, đã được người đưa thư giao đến. Bên trong là một chiếc hộp các-tông chứa đầy muối thô. Khi đổ thứ muối ấy ra, cô Cushing đã kinh hoàng tột độ khi phát hiện ra hai chiếc tai người, dường như mới bị cắt lìa không lâu. Chiếc hộp đã được gửi bằng đường bưu kiện qua bưu điện từ Belfast vào buổi sáng của ngày hôm trước. Không hề có bất kỳ dấu hiệu nào về người gửi, và vấn đề càng trở nên bí ẩn hơn bởi lẽ cô Cushing, một phụ nữ độc thân năm mươi tuổi, xưa nay vốn sống một cuộc đời vô cùng khép kín, và có ít người quen biết hay liên lạc thư từ đến mức việc cô nhận được bất cứ thứ gì qua đường bưu điện cũng đã là một sự kiện hiếm hoi. Tuy nhiên, cách đây vài năm, khi còn cư trú tại Penge, cô đã từng cho ba nam sinh viên y khoa thuê phòng trong nhà mình, những kẻ mà về sau cô buộc phải đuổi đi vì những thói quen ồn ào và thiếu kỷ luật của chúng. Cảnh sát đưa ra ý kiến rằng hành động tàn bạo này có thể đã được thực hiện nhằm vào cô Cushing bởi chính những thanh niên đó, những kẻ còn ôm hận và hy vọng dọa cho cô sợ hãi bằng cách gửi đến cô những thứ di hài này lấy từ các phòng giải phẫu. Một vài khả năng củng cố cho giả thuyết này đến từ việc một trong số những sinh viên đó là người gốc Bắc Ireland, và theo như điều cô Cushing tin chắc, là đến từ Belfast. Trong lúc chờ đợi, vấn đề đang được tích cực điều tra, và ông Lestrade, một trong những sĩ quan thám tử nhanh nhạy nhất của chúng ta, đang phụ trách vụ án.”

“Ngần ấy là từ tờ Daily Chronicle đấy,” Holmes nói khi tôi đọc xong. “Còn giờ thì đến lượt người bạn Lestrade của chúng ta. Sáng nay tôi có nhận được một bức thư ngắn của anh ta. Trong đó, anh ta viết thế này: ‘Tôi nghĩ rằng vụ án này rất hợp với chuyên môn của anh. Chúng tôi có đủ mọi hy vọng để làm sáng tỏ sự việc, nhưng chúng tôi lại gặp chút khó khăn trong việc tìm ra một manh mối cụ thể để bắt đầu. Tất nhiên, chúng tôi đã đánh điện cho bưu điện Belfast, nhưng số lượng bưu kiện được giao trong ngày hôm đó quá lớn, và họ chẳng có cách nào để xác định bưu kiện đặc biệt này, cũng như nhớ ra người gửi. Chiếc hộp là loại hộp đựng thuốc lá sợi honeydew6 nửa pound, và chẳng giúp ích được gì thêm cho chúng tôi. Giả thuyết về bọn sinh viên y khoa với tôi vẫn có vẻ khả thi nhất, nhưng nếu anh có dăm ba giờ rảnh rỗi, tôi sẽ rất vui được gặp anh ngoài này. Tôi sẽ có mặt tại nhà cô ấy hoặc tại đồn cảnh sát suốt cả ngày.’ Anh nghĩ sao, Watson? Anh có thể vượt qua cái nóng này và cùng tôi chạy xuống Croydon, vì một cơ hội mỏng manh cho một vụ án mới trong cuốn biên niên sử của anh chăng?”

“Tôi đang thèm khát có việc gì đó để làm đây.”

“Vậy thì anh sẽ có nó. Hãy rung chuông gọi lấy giày cho chúng ta và bảo họ gọi một chiếc xe ngựa. Tôi sẽ quay lại ngay trong nháy mắt, khi tôi thay xong áo choàng ngủ và nhồi đầy hộp xì gà của mình.”

Một cơn mưa rào đổ xuống khi chúng tôi còn đang trên tàu, và khi đến Croydon, cái nóng đã dịu đi nhiều, không còn ngột ngạt như trong phố nữa. Holmes đã gửi trước một bức điện, nên Lestrade - vẫn gầy guộc, chỉn chu và lanh lợi như một con chồn - đã đợi sẵn chúng tôi ở sân ga. Đi bộ chừng năm phút, chúng tôi đã đến được Phố Cross, nơi cô Cushing cư ngụ.

Đó là một con phố rất dài với những dãy nhà gạch hai tầng ngăn nắp và tươm tất, mỗi ngôi nhà đều có bậc thềm đá quét trắng tinh và những tốp phụ nữ mang tạp dề tụm năm tụm ba trò chuyện trước cửa. Đi được nửa đường, Lestrade dừng lại, gõ vào một cánh cửa. Một cô hầu gái nhỏ nhắn ra mở. Chúng tôi được dẫn vào căn phòng phía trước, nơi cô Cushing đang ngồi. Cô là một phụ nữ có gương mặt hiền hậu, đôi mắt to dịu dàng và mái tóc hoa râm buông nhẹ xuống hai bên thái dương. Trên đùi cô đặt một tấm vải phủ ghế đã thêu xong, còn bên cạnh, trên chiếc ghế đẩu, là một giỏ lụa đủ màu sắc.

“Chúng ở trong nhà kho đấy, mấy thứ kinh khủng đó,” cô nói khi Lestrade bước vào. “Tôi chỉ mong ông mang chúng đi khuất mắt cho rồi.”

“Tôi sẽ làm vậy, cô Cushing. Tôi chỉ tạm để chúng ở đây đến khi bạn tôi, ông Holmes, được xem qua trước mặt cô thôi.”

“Sao lại phải trước mặt tôi, thưa ông?”

“Phòng khi anh ấy muốn hỏi cô vài điều.”

“Hỏi tôi thì được ích gì, khi tôi đã nói với ông là tôi chẳng biết gì về chuyện ấy cả?”

“Đúng vậy, thưa bà,” Holmes cất giọng dỗ dành. “Tôi không nghi ngờ rằng cô đã bị làm phiền quá đủ vì chuyện này rồi.”

“Quả là như thế đấy, thưa ông. Tôi vốn là một phụ nữ trầm lặng, sống một cuộc đời khép kín. Được lên báo và thấy cảnh sát trong nhà mình quả là một chuyện quá sức mới mẻ với tôi. Tôi sẽ không để những thứ đó trong nhà này đâu, ông Lestrade. Nếu ông muốn xem chúng, ông phải ra nhà kho.”

Đó là một căn lán nhỏ nằm trong khu vườn hẹp chạy dọc phía sau nhà. Lestrade đi vào rồi mang ra một chiếc hộp các-tông màu vàng, cùng một mảnh giấy nâu và vài sợi dây bện. Ở cuối lối đi có một chiếc ghế dài, và tất cả chúng tôi ngồi xuống đó trong khi Holmes lần lượt xem xét từng món đồ mà Lestrade trao cho anh.

“Sợi dây này cực kỳ đáng chú ý,” anh nhận xét, giơ nó lên trước ánh sáng và hít hà. “Anh nghĩ sao về nó, Lestrade?”

“Nó đã được tẩm hắc ín.”

“Chính xác. Một đoạn dây thừng tẩm hắc ín. Chắc hẳn anh cũng nhận ra cô Cushing đã cắt đứt nó bằng kéo, vết cắt xơ ra ở cả hai đầu. Điều này có ý nghĩa đấy.”

“Tôi chẳng thấy có ý nghĩa gì cả,” Lestrade đáp.

“Ý nghĩa nằm ở chỗ cái nút thắt vẫn còn nguyên vẹn, và cái nút thắt này có một đặc điểm khác thường.”

“Nó được thắt rất gọn gàng. Tôi cũng đã ghi nhận điều đó,” Lestrade nói với vẻ tự mãn.

“Vậy tạm xong phần sợi dây,” Holmes mỉm cười. “Giờ đến giấy bọc. Giấy nâu, có mùi cà phê rất rõ. Sao, anh không nhận ra sao? Tôi nghĩ không thể nhầm lẫn được. Địa chỉ được in bằng những con chữ khá nguệch ngoạc: ‘Cô S. Cushing, Phố Cross, Croydon.’ Viết bằng một cây bút ngòi to, rất có thể là loại ngòi J7, với mực kém chất lượng. Từ ‘Croydon’ ban đầu được viết bằng chữ ‘i’ rồi sau đó sửa thành ‘y.’ Vậy bưu kiện này được ghi địa chỉ bởi một người đàn ông - nét chữ in rõ rệt là của nam giới - học vấn hạn chế và không rành về thị trấn Croydon. Đến đây thì mọi thứ đều ổn! Chiếc hộp là loại hộp honeydew nửa pound, màu vàng, chẳng có gì đặc biệt ngoại trừ hai vết ngón tay cái ở góc dưới bên trái. Bên trong chứa đầy muối thô - loại muối dùng để bảo quản da sống và những mục đích thương mại thô sơ khác. Và vùi trong lớp muối ấy là những thứ kèm theo vô cùng kỳ lạ này.”

Vừa nói anh vừa lấy ra hai chiếc tai người. Đặt một tấm ván ngang qua đầu gối, anh tỉ mỉ xem xét chúng, trong khi Lestrade và tôi cúi sát về phía trước ở hai bên, thay phiên nhau liếc nhìn những di vật rùng rợn ấy và khuôn mặt trầm ngâm đầy háo hức của người bạn đồng hành. Cuối cùng, anh cất chúng trở lại vào hộp và ngồi yên lặng suy tư một lúc.

“Dĩ nhiên anh đã nhận ra,” anh chậm rãi nói, “rằng hai chiếc tai này không cùng một cặp.”

“Vâng, tôi có để ý. Nhưng nếu đây là một trò đùa của mấy sinh viên trường giải phẫu, thì gửi hai chiếc tai không khớp nhau cũng dễ dàng như gửi một đôi chính xác vậy.”

“Đúng thế. Nhưng đây không phải là một trò đùa.”

“Anh chắc chứ?”

“Những lập luận chống lại giả thuyết đó rất mạnh. Thi thể trong các phòng giải phẫu được tiêm chất lỏng bảo quản. Hai chiếc tai này không hề có dấu vết của chất đó. Chúng còn tươi. Chúng bị cắt lìa bằng một dụng cụ cùn - một điều khó xảy ra nếu là sinh viên ra tay. Hơn nữa, axit cacbolic hoặc cồn tinh chế mới là những chất bảo quản mà một đầu óc y khoa nghĩ đến, chứ chắc chắn không phải muối thô. Tôi xin nhắc lại: không có trò đùa nào ở đây cả. Chúng ta đang điều tra một tội ác nghiêm trọng.”

Một cơn rùng mình mơ hồ chạy dọc sống lưng tôi khi lắng nghe lời bạn mình và nhìn vẻ nghiêm nghị cứng đanh trên từng đường nét khuôn mặt anh. Khúc dạo đầu tàn bạo này dường như báo trước một nỗi kinh hoàng kỳ lạ và khó lý giải nào đó đang ẩn nấp trong bóng tối. Lestrade, tuy nhiên, lắc đầu như một kẻ mới bị thuyết phục có một nửa.

“Không thể phủ nhận là có những ý kiến phản bác giả thuyết trò đùa,” anh ta nói, “nhưng còn có những lý do mạnh mẽ hơn nhiều để chống lại giả thuyết kia. Chúng ta biết rằng người phụ nữ này đã sống một cuộc đời vô cùng yên ả và đáng kính, ở Penge và ở đây, trong suốt hai mươi năm qua. Cô ấy hầu như chưa từng rời khỏi nhà mình lấy một ngày trong suốt khoảng thời gian đó. Vậy thì trên đời này làm gì có kẻ tội phạm nào lại đem bằng chứng về tội ác của mình gửi cho cô ấy, đặc biệt là khi - trừ phi cô ấy là một nữ diễn viên cực kỳ điêu luyện - cô ấy hiểu biết về chuyện này cũng ít y như chúng ta vậy?”

“Đó chính là vấn đề chúng ta phải giải,” Holmes đáp, “và về phần mình, tôi sẽ bắt đầu bằng cách đặt giả thuyết rằng suy luận của tôi là chính xác, và rằng một vụ giết người kép đã xảy ra. Một trong hai chiếc tai này là của một người phụ nữ - nhỏ nhắn, đường nét thanh tú, và có xỏ lỗ để đeo khuyên tai. Chiếc kia là của một người đàn ông - da sạm nắng, xỉn màu, cũng được xỏ lỗ khuyên tai. Hai con người này rất có thể đã chết, nếu không thì câu chuyện của họ đã đến tai chúng ta từ trước đến nay rồi. Hôm nay là thứ Sáu. Gói bưu kiện đã được gửi qua đường bưu điện vào sáng thứ Năm. Vậy thì bi kịch xảy ra vào thứ Tư, hoặc thứ Ba, hoặc sớm hơn. Nếu hai người đã bị sát hại, thì ai, ngoài chính kẻ sát nhân, lại gửi dấu tích tác phẩm của hắn cho cô Cushing? Chúng ta có thể coi người gửi bưu kiện chính là gã mà chúng ta đang truy lùng. Nhưng hắn hẳn phải có một lý do rất mạnh mẽ để gửi bưu kiện này cho cô Cushing. Lý do đó là gì? Để nói với cô ấy rằng hành động đã được thực hiện! Hoặc để làm cô ấy đau đớn - rất có thể là vậy. Nhưng trong trường hợp đó, cô ấy phải biết kẻ đó là ai. Liệu cô ấy có biết không? Tôi nghi ngờ điều đó. Nếu cô ấy biết, tại sao cô ấy lại gọi cảnh sát? Cô ấy có thể đã chôn những chiếc tai ấy, và sẽ chẳng ai biết được gì. Đó mới là điều cô ấy sẽ làm nếu muốn che chở cho kẻ tội phạm. Nhưng nếu không muốn che chở cho hắn, hẳn cô ấy đã phải khai ra tên hắn. Ở đây có một mớ rắc rối cần được gỡ ra.” Anh vẫn nói bằng giọng the thé và nhanh nhảu, đôi mắt nhìn chằm chằm một cách trống rỗng qua hàng rào khu vườn, nhưng rồi anh bất ngờ bật dậy lanh lẹ và bước về phía ngôi nhà.

“Tôi có vài câu hỏi muốn hỏi cô Cushing,” anh nói.

“Nếu vậy tôi có thể để anh lại đây,” Lestrade lên tiếng, “vì tôi còn có một việc nhỏ khác phải giải quyết. Tôi nghĩ mình chẳng còn gì để tìm hiểu thêm từ cô Cushing nữa. Anh sẽ gặp lại tôi ở đồn cảnh sát.”

“Chúng tôi sẽ ghé qua trên đường ra ga,” Holmes đáp.

Một lát sau, anh và tôi đã quay trở lại căn phòng phía trước, nơi người phụ nữ lặng lẽ ấy vẫn đang chăm chú đan tấm vải phủ ghế của mình. Cô đặt nó xuống đùi khi chúng tôi bước vào và nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xanh thẳm, chân thành mà cũng đầy dò xét.

“Tôi tin chắc, thưa ông,” cô nói, “rằng vấn đề này chỉ là một sự nhầm lẫn, và gói bưu kiện đó vốn không bao giờ nhắm gửi cho tôi. Tôi đã nói điều này vài lần với vị thanh tra từ Scotland Yard8, nhưng ông ấy chỉ cười nhạo tôi. Tôi không có một kẻ thù nào trên đời này, theo như tôi biết, vậy làm sao có ai lại bày trò lừa gạt tôi như thế chứ?”

“Tôi cũng đang nghiêng về cùng một quan điểm, cô Cushing ạ,” Holmes nói, rồi ngồi xuống bên cạnh cô. “Tôi cho rằng rất có khả năng là-” Anh đột nhiên ngừng lời, và tôi sửng sốt nhận ra, khi liếc nhìn quanh, rằng anh đang dán mắt một cách chăm chú lạ thường vào đường nét nghiêng của người phụ nữ. Trong khoảnh khắc, cả sự kinh ngạc lẫn hài lòng cùng hiện rõ trên gương mặt háo hức của anh, dù ngay khi cô quay lại để tìm hiểu nguyên nhân sự im lặng của anh, anh đã trở lại vẻ điềm tĩnh như thường lệ. Bản thân tôi cũng chăm chú nhìn mái tóc hoa râm ép sát đầu cô, chiếc mũ đội đầu gọn gàng, đôi khuyên tai mạ vàng nhỏ xíu và những đường nét hiền hậu của cô; nhưng tôi chẳng thể nhận ra điều gì có thể lý giải cho sự kích động rõ rệt ấy của bạn mình.

“Có một hoặc hai câu hỏi-”

“Ôi, tôi đã phát ngấy với những câu hỏi rồi!” cô Cushing cáu kỉnh kêu lên.

“Tôi tin là cô có hai người em gái.”

“Làm sao ông biết được điều đó?”

“Ngay giây phút bước vào phòng, tôi đã thấy trên bệ lò sưởi có một bức ảnh chụp chung ba người phụ nữ. Một trong số đó chắc chắn là cô, còn hai người kia giống cô đến mức không thể nghi ngờ gì về mối quan hệ huyết thống.”

“Vâng, ông hoàn toàn đúng. Đó là các em gái tôi, Sarah và Mary.”

“Và ngay khuỷu tay tôi đây là một bức chân dung khác, chụp tại Liverpool, của người em gái út của cô, đứng cùng một người đàn ông - qua bộ đồng phục, tôi đoán anh ta làm quản gia. Tôi nhận thấy lúc ấy cô ấy vẫn chưa kết hôn.”

“Ông tinh mắt thật đấy.”

“Đó là nghề của tôi mà.”

“Thôi được, ông hoàn toàn đúng. Nhưng con bé đã cưới anh Browner chỉ vài ngày sau đó. Lúc chụp tấm ảnh này, anh ta đang làm việc trên tuyến Nam Mỹ, nhưng vì quá yêu con bé nên anh ta không thể chịu nổi cảnh xa cách lâu, thế là xin chuyển về làm trên những con tàu tuyến Liverpool - London.”

“À, tàu Conqueror, có lẽ vậy?”

“Không, tàu May Day, theo như lần gần nhất tôi được biết. Jim từng xuống đây thăm tôi một lần. Đó là trước khi anh ta phá lời thề kiêng rượu; nhưng về sau, cứ lên bờ là anh ta lại uống, và chỉ một chút rượu thôi cũng đủ khiến anh ta trở nên điên cuồng, hung dữ. Ôi! Thật là một ngày tồi tệ khi anh ta lại cầm ly rượu lên lần nữa. Đầu tiên anh ta cắt đứt liên lạc với tôi, rồi cãi vã với Sarah, và giờ thì Mary không còn viết thư về nữa, chúng tôi chẳng biết mọi chuyện giữa họ đang ra sao.”

Rõ ràng là cô Cushing đã chạm đến một chủ đề khiến cô vô cùng xúc động. Như phần lớn những người sống cô độc, ban đầu cô rất dè dặt, nhưng cuối cùng lại trở nên cực kỳ cởi mở. Cô kể cho chúng tôi nghe thêm nhiều chi tiết về người em rể làm quản gia của mình, rồi sau đó lan sang chủ đề những người khách thuê trọ trước đây của cô - những sinh viên y khoa - và cô dẫn chúng tôi qua một câu chuyện dài về những hành vi sai trái của họ, kèm theo cả tên tuổi lẫn tên bệnh viện nơi họ học. Holmes chăm chú lắng nghe tất cả, thỉnh thoảng xen vào một câu hỏi.

“Còn người em gái thứ hai của cô, Sarah,” anh nói. “Tôi tự hỏi, vì cả hai đều là phụ nữ độc thân, tại sao các cô không sống chung một nhà nhỉ?”

“À! Ông không biết tính khí của Sarah đâu, nếu không ông đã chẳng thắc mắc làm gì. Tôi từng thử sống chung với nó khi tôi mới đến Croydon, và chúng tôi duy trì được cho đến khoảng hai tháng trước, thì phải tách ra. Tôi không muốn nói một lời nào không hay về em gái ruột của mình, nhưng con bé Sarah ấy, nó luôn hay xen vào chuyện người khác và khó chiều chuộng vô cùng.”

“Cô nói rằng cô ấy đã cãi vã với họ hàng của các cô ở Liverpool.”

“Vâng, mà có thời họ là những người bạn thân nhất của nhau đấy. Nó còn chuyển hẳn lên đó sống để được ở gần họ kia mà. Thế mà giờ đây, nó chẳng tiếc lời nào để nói xấu Jim Browner. Suốt sáu tháng cuối cùng nó sống ở đây, nó chẳng nói gì ngoài thói rượu chè và những tật xấu của anh ta. Tôi ngờ rằng anh ta đã bắt quả tang nó đang can thiệp vào chuyện của mình và đã cho nó một bài học - và đó là khởi đầu của mọi chuyện.”

“Cảm ơn cô, cô Cushing,” Holmes nói, đứng dậy và cúi chào. “Em gái Sarah của cô sống, tôi nhớ cô đã nói, ở Phố New Wallington? Tạm biệt, và tôi rất lấy làm tiếc vì cô đã bị làm phiền bởi một vụ án mà, đúng như cô nói, cô không hề dính líu gì đến.”

Một chiếc xe ngựa vừa đi ngang qua khi chúng tôi bước ra, Holmes vẫy nó lại.

“Đến Wallington bao xa?” anh hỏi.

“Chỉ khoảng một dặm thôi, thưa ngài.”

“Rất tốt. Lên xe đi, Watson. Phải rèn sắt khi còn nóng. Dù vụ án này đơn giản, nhưng có một hai chi tiết rất đáng suy ngẫm trong đó. Ngang qua bưu điện nào thì ghé lại giúp nhé, bác tài.”

Holmes gửi đi một bức điện ngắn, và suốt quãng đường còn lại, anh ngả người ra ghế sau xe, kéo mũ che xuống sống mũi để tránh nắng. Bác tài đỗ xe trước một ngôi nhà chẳng khác mấy so với ngôi nhà chúng tôi vừa rời khỏi. Bạn tôi bảo bác tài đợi, và vừa đặt tay lên tay gõ cửa, thì cánh cửa đã mở ra. Một quý ông trẻ tuổi nghiêm nghị trong bộ đồ đen, đội chiếc mũ bóng loáng, xuất hiện trên bậc thềm.

“Cô Cushing có nhà không?” Holmes hỏi.

“Cô Sarah Cushing hiện đang ốm rất nặng,” người ấy đáp. “Từ hôm qua cô ấy đã phải chịu đựng những triệu chứng não bộ rất nghiêm trọng. Với tư cách là bác sĩ điều trị của cô ấy, tôi không thể chịu trách nhiệm cho phép bất kỳ ai gặp mặt. Tôi khuyên các ngài nên quay lại sau mười ngày nữa.” Anh ta vừa đeo găng tay, vừa đóng cửa, rồi sải bước dọc theo con phố.

“Chà, nếu không được thì đành vậy thôi,” Holmes nói, vui vẻ.

“Có lẽ cô ấy cũng chẳng thể, hoặc chẳng muốn, kể cho anh điều gì.”

“Tôi có cần cô ấy kể cho tôi điều gì đâu. Tôi chỉ muốn nhìn thấy cô ấy thôi. Nhưng dù sao thì tôi nghĩ mình đã có tất cả những gì cần thiết rồi. Chở chúng tôi đến một khách sạn tử tế gần đây đi, bác tài, nơi có thể dùng bữa trưa, rồi sau đó ghé đồn cảnh sát thăm anh bạn Lestrade.”

Chúng tôi đã có một bữa ăn nhẹ vui vẻ bên nhau, trong suốt bữa ăn Holmes không chịu nói gì ngoài chuyện vĩ cầm. Anh hào hứng thuật lại cách mình đã tậu được cây Stradivarius9 - vốn đáng giá ít nhất năm trăm guinea - từ một tay môi giới Do Thái ở Phố Tottenham Court, chỉ với năm mươi lăm shilling10. Chuyện ấy dẫn anh sang Paganini11, và chúng tôi ngồi suốt một giờ bên chai rượu vang đỏ, trong khi anh kể cho tôi nghe hết giai thoại này đến giai thoại khác về con người phi thường ấy. Buổi chiều đã ngả bóng, ánh nắng gay gắt đã dịu dần thành một vầng sáng mờ ảo, thì chúng tôi tới đồn cảnh sát. Lestrade đang đợi ở cửa.

“Có một bức điện tín cho anh này, anh Holmes,” ông ta nói.

“Ha! Đúng là hồi đáp rồi!” Anh xé vội phong bì, lướt mắt qua nội dung, rồi vò viên nhét vào túi. “Mọi thứ đều ổn,” anh tuyên bố.

“Anh đã tìm ra điều gì chưa?”

“Tôi đã tìm ra mọi thứ rồi!”

“Cái gì cơ!” Lestrade trố mắt kinh ngạc. “Anh đùa đấy à.”

“Tôi chưa bao giờ nghiêm túc hơn thế trong đời. Một tội ác khủng khiếp đã xảy ra, và tôi tin giờ đây tôi đã làm sáng tỏ từng chi tiết của nó.”

“Thế còn tên tội phạm?”

Holmes nhanh chóng viết vài chữ lên mặt sau một tấm danh thiếp rồi ném nó cho Lestrade.

“Cái tên đây,” anh nói. “Anh chưa thể tiến hành bắt giữ trước đêm mai được đâu. Tôi muốn anh đừng nhắc gì đến tên tôi trong vụ án này, bởi tôi chỉ chọn dính líu đến những vụ án nào mang lại chút khó khăn trong việc giải quyết thôi. Đi nào, Watson.” Chúng tôi cùng sải bước về phía nhà ga, bỏ lại Lestrade vẫn đứng đó, mặt mày rạng rỡ, mắt dán chặt vào tấm danh thiếp mà Holmes đã ném cho ông ta.

"Vụ án này," Sherlock Holmes lên tiếng, khi chúng tôi cùng nhâm nhi điếu xì gà trong căn hộ ở phố Baker vào buổi tối hôm ấy, "là một trong những vụ buộc ta phải suy luận ngược - đi từ kết quả truy ngược về nguyên nhân. Cũng giống như trong những cuộc điều tra mà anh từng ghi chép dưới nhan đề A Study in Scarlet12The Sign of Four13. Tôi đã viết thư cho Lestrade, nhờ anh ta bổ sung những chi tiết hiện còn thiếu. Những chi tiết đó anh ta chỉ có thể có được sau khi tóm được mục tiêu của mình. Có thể tin cậy anh ta làm việc đó. Dù hoàn toàn không có năng lực suy luận, nhưng một khi đã hiểu mình phải làm gì, anh ta bám riết như một con chó mặt xệ. Chính sự ngoan cường ấy đã đưa anh ta lên vị trí hàng đầu ở Scotland Yard."

"Vậy là vụ án của anh vẫn chưa khép lại?" tôi hỏi.

"Về những điểm cốt lõi thì đã khá trọn vẹn. Chúng ta biết ai là tác giả của hành vi ghê tởm này, dù một trong những nạn nhân vẫn đang lẩn trốn. Đương nhiên, anh đã tự mình rút ra được những kết luận rồi."

"Tôi cho rằng Jim Browner - người quản gia trên một con tàu ở Liverpool - chính là kẻ mà anh nghi ngờ?"

"Ồ! Không chỉ dừng ở nghi ngờ đâu."

"Ấy thế mà tôi chẳng thấy được gì ngoài những dấu hiệu hết sức mơ hồ."

"Ngược lại, theo tôi, chẳng có gì rõ ràng hơn thế. Để tôi điểm lại các bước chính cho anh nghe. Hẳn anh còn nhớ, chúng ta đã tiếp cận vụ án với một tâm trí hoàn toàn trống rỗng - một lợi thế luôn luôn đáng giá. Chưa hề hình thành bất kỳ giả thuyết nào. Chúng ta đến đó chỉ đơn giản để quan sát, và từ quan sát mà suy ra kết luận. Điều đầu tiên chúng ta thấy là gì? Một người phụ nữ rất hiền lành và đáng kính, trông hoàn toàn vô can với bất cứ bí mật nào. Và một bức chân dung cho tôi biết bà ấy có hai cô em gái. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi ngay tức khắc: chiếc hộp có lẽ được dành cho một trong hai người em ấy. Tôi tạm gác ý tưởng đó sang một bên - để chờ lúc rảnh rang mà xác nhận hoặc bác bỏ nó. Rồi sau đó chúng ta ra vườn. Anh còn nhớ chứ? Và chúng ta đã nhìn thấy những thứ bên trong chiếc hộp nhỏ màu vàng kỳ lạ kia.

"Sợi dây buộc có chất lượng y hệt loại dây thợ buồm dùng trên tàu. Ngay lập tức, một làn gió biển thổi vào cuộc điều tra của chúng ta. Khi tôi nhận ra nút thắt là kiểu nút phổ thông của thủy thủ, bưu kiện được gửi từ một bến cảng, và chiếc tai đàn ông có lỗ xỏ khuyên - một thói quen ở thủy thủ phổ biến hơn nhiều so với dân trên đất liền - thì tôi hoàn toàn chắc chắn rằng tất cả những diễn viên trong tấn bi kịch này đều xuất thân từ giới đi biển.

"Khi kiểm tra địa chỉ gói bưu kiện, tôi thấy nó được gửi cho Cô S. Cushing. Đương nhiên, người chị cả là Cô Cushing, và chữ cái đầu của bà ấy cũng là 'S'. Nhưng nó cũng có thể thuộc về một trong hai người kia. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ phải khởi động lại toàn bộ cuộc điều tra trên một nền tảng mới. Vì thế, tôi quay vào nhà với ý định làm sáng tỏ điểm này. Tôi đã sẵn sàng trấn an Cô Cushing rằng tôi tin chắc đây chỉ là một sự nhầm lẫn, thì - anh có thể nhớ đấy - tôi đột ngột dừng lại. Sự thật là tôi vừa nhìn thấy một thứ khiến tôi sửng sốt, đồng thời thu hẹp đáng kể phạm vi điều tra của chúng ta.

"Là một người làm nghề y, Watson ạ, anh thừa biết không có bộ phận nào trên cơ thể người lại biến thiên nhiều như đôi tai. Mỗi chiếc tai, như một quy luật, đều khá đặc biệt và khác biệt với mọi chiếc tai khác. Trên tờ Nhân học năm ngoái, anh sẽ tìm thấy hai chuyên khảo ngắn của tôi về đề tài này. Vậy nên, tôi đã kiểm tra những chiếc tai trong hộp bằng con mắt chuyên gia, và cẩn thận ghi chú lại những đặc điểm giải phẫu kỳ lạ của chúng. Giờ hãy thử tưởng tượng nỗi kinh ngạc của tôi, khi ngước nhìn Cô Cushing, tôi nhận ra tai của bà ấy hoàn toàn tương ứng với chiếc tai phụ nữ mà tôi vừa xem xét. Vấn đề này nằm ngoài mọi sự trùng hợp ngẫu nhiên. Vẫn là sự thu ngắn của vành tai đó. Vẫn là đường cong rộng của thùy tai trên. Vẫn là nếp gấp của sụn trong. Xét trên mọi yếu tố thiết yếu, đó chính là cùng một chiếc tai.

"Đương nhiên, tôi thấy ngay tầm quan trọng to lớn của phát hiện này. Rõ ràng nạn nhân là một người có quan hệ huyết thống, và có lẽ là một mối quan hệ rất gần gũi. Tôi bắt đầu hỏi chuyện bà ấy về gia đình. Anh còn nhớ, bà ấy ngay lập tức cung cấp cho chúng ta một số chi tiết cực kỳ quý giá.

"Trước hết, tên của cô em gái là Sarah. Và địa chỉ của cô ấy cho đến gần đây vẫn không thay đổi. Vậy là hoàn toàn rõ ràng: vì sao sự nhầm lẫn xảy ra, và gói bưu kiện ấy thực chất được định gửi cho ai. Sau đó, chúng ta nghe nói về người quản gia - kẻ đã cưới cô em gái thứ ba - và biết được rằng hắn từng một thời rất thân thiết với cô Sarah, đến mức cô ấy dọn hẳn lên Liverpool để được sống gần nhà Browner. Nhưng rồi một cuộc cãi vã sau đó đã chia rẽ họ. Cuộc cãi vã ấy chấm dứt mọi liên lạc trong suốt nhiều tháng. Vì thế, nếu Browner có dịp gửi bưu kiện cho cô Sarah, hắn đương nhiên sẽ gửi về địa chỉ cũ của cô ấy.

"Và giờ đây, vấn đề bắt đầu tự tháo gỡ một cách tuyệt vời. Chúng ta đã biết về sự tồn tại của gã quản gia này - một kẻ bốc đồng, mang những đam mê mãnh liệt; anh hẳn còn nhớ, hắn đã từ bỏ một bến đỗ tốt đẹp chỉ để được ở gần vợ. Đồng thời cũng là nạn nhân của những cơn nghiện rượu nặng thỉnh thoảng bùng phát. Chúng ta có lý do để tin rằng vợ hắn đã bị sát hại, và một người đàn ông khác - có lẽ cũng là dân đi biển - bị giết cùng lúc. Sự ghen tuông, tất nhiên, tự động hiện ra như động cơ của tội ác. Và tại sao những chứng tích của vụ án lại được gửi đến cho cô Sarah Cushing? Có lẽ bởi trong thời gian cư trú ở Liverpool, cô ta đã nhúng tay vào việc mang lại những sự kiện dẫn đến tấn bi kịch này. Anh sẽ nhận ra rằng tuyến tàu này ghé cảng ở Belfast, Dublin và Waterford. Cứ cho rằng Browner đã ra tay và lập tức lên con tàu hơi nước của mình - tàu May Day - thì Belfast sẽ là nơi đầu tiên hắn có thể gửi cái gói bưu kiện khủng khiếp ấy đi.

"Ở giai đoạn này, còn có một cách lý giải thứ hai - dù tôi cho là cực kỳ khó xảy ra, nhưng tôi quyết định làm sáng tỏ nó trước khi tiến xa hơn. Một kẻ theo đuổi tình ái bất thành có thể đã giết cả hai vợ chồng Browner, và chiếc tai đàn ông có thể là của người chồng. Có nhiều ý kiến phản bác gay gắt với giả thuyết này, nhưng nó vẫn có thể tưởng tượng được. Vì vậy, tôi gửi một bức điện cho người bạn Algar - thuộc lực lượng Liverpool - nhờ anh ta tìm hiểu xem bà Browner có đang ở nhà không, và Browner liệu đã khởi hành trên tàu May Day chưa. Sau đó, chúng ta đến Wallington để thăm cô Sarah.

"Tôi tò mò, ngay từ đầu, muốn xem đặc điểm tai di truyền trong gia đình này tái hiện ở cô ấy đến mức nào. Rồi tất nhiên, cô ta cũng có thể cho chúng ta những thông tin quan trọng. Nhưng tôi không mấy lạc quan là cô ta sẽ chịu làm thế. Hẳn cô ta đã nghe tin về vụ việc từ hôm trước - toàn bộ vùng Croydon đang xôn xao về nó - và chỉ mình cô ta mới hiểu gói bưu kiện đó là dành cho ai. Nếu thực lòng muốn giúp đỡ công lý, có lẽ cô ta đã liên lạc với cảnh sát từ trước rồi. Dù sao, nhiệm vụ của chúng ta rõ ràng là phải đến gặp cô ta. Và chúng ta đã đi. Chúng ta phát hiện ra rằng tin tức về sự xuất hiện của bưu kiện đã tác động đến cô ấy mạnh đến mức gây ra chứng sốt viêm não - cơn bệnh của cô ta khởi phát đúng từ thời điểm đó. Rõ ràng hơn bao giờ hết, cô ta hiểu được toàn bộ ý nghĩa của nó. Nhưng cũng rõ ràng không kém, rằng chúng ta sẽ phải chờ đợi khá lâu mới có được bất kỳ sự trợ giúp nào từ cô ta.

"Tuy nhiên, thực ra chúng ta không hề lệ thuộc vào sự trợ giúp của cô ta. Câu trả lời đang chờ chúng ta ở đồn cảnh sát - nơi tôi đã dặn Algar gửi chúng về. Và chẳng gì có thể thuyết phục hơn. Căn nhà của bà Browner đã bị đóng cửa hơn ba ngày nay. Những người hàng xóm tin rằng bà ấy đã đi về phương nam để thăm họ hàng. Phía văn phòng vận tải xác nhận Browner đã khởi hành trên tàu May Day, và tôi tính toán rằng con tàu sẽ cập sông Thames vào đêm mai. Khi hắn đến nơi, hắn sẽ được đón bởi một Lestrade chậm chạp nhưng kiên quyết. Và tôi không còn mảy may nghi ngờ gì nữa - mọi chi tiết còn thiếu sẽ sớm được lấp đầy."

Sherlock Holmes đã không phải thất vọng với những kỳ vọng của mình. Hai ngày sau, anh nhận được một phong bì dày cộp, bên trong là một bức thư ngắn từ vị thanh tra, cùng với một tài liệu đánh máy trải dài trên vài trang giấy khổ lớn.

"Lestrade đã tóm được gã ta một cách gọn ghẽ rồi," Holmes lên tiếng, ngước mắt nhìn tôi. "Có lẽ anh sẽ muốn nghe xem hắn ta nói những gì đây.

"Holmes thân mến,-Theo đúng kế hoạch mà chúng ta đã vạch ra để kiểm chứng các giả thuyết của mình"-"chữ 'chúng ta' nghe hay đấy chứ, Watson nhỉ?"-"tôi đã xuống Bến tàu Albert vào lúc sáu giờ chiều hôm qua, rồi lên con tàu hơi nước May Day, thuộc tuyến của Công ty Tàu thủy Hơi nước Liverpool, Dublin và London. Qua dò hỏi, tôi phát hiện ra trên tàu có một người quản gia tên là James Browner, và trong suốt chuyến đi, hắn ta đã hành xử kỳ quặc đến mức thuyền trưởng buộc phải đình chỉ nhiệm vụ. Khi tôi bước xuống chỗ ngủ của hắn, tôi thấy hắn đang ngồi trên một chiếc rương, đầu gục xuống giữa hai bàn tay, thân mình đung đưa qua lại không ngừng. Hắn là một gã to lớn, vạm vỡ, cạo râu nhẵn nhụi, nước da rất ngăm đen-trông hơi giống Aldridge, người đã hỗ trợ chúng ta trong vụ án giặt là giả mạo. Hắn giật bắn người khi nghe tôi xưng danh, và tôi đã kề còi lên môi để triệu tập mấy cảnh sát đường thủy đang chực sẵn nơi góc phố, nhưng hắn dường như đã mất hết can đảm, và lặng lẽ chìa tay ra chịu còng một cách ngoan ngoãn. Chúng tôi đã dẫn hắn đi dọc theo các buồng giam, mang theo cả chiếc hòm của hắn, vì chúng tôi nghĩ có thể trong đó có tang chứng; nhưng, ngoại trừ một con dao lớn sắc nhọn như hầu hết thủy thủ nào cũng có, chúng tôi chẳng thu được gì cho công sức bỏ ra. Dẫu vậy, chúng tôi sớm nhận ra mình sẽ chẳng cần thêm bằng chứng nào nữa, bởi khi được đưa đến trước viên thanh tra tại đồn, hắn đã xin phép được đưa ra lời khai, và tất nhiên, lời khai ấy đã được người ghi tốc ký của chúng tôi chép lại, nguyên văn từng lời hắn nói. Chúng tôi đã đánh máy thành ba bản, tôi xin gửi kèm theo đây một bản. Vụ việc, như tôi vẫn luôn nghĩ, hóa ra là một vụ cực kỳ đơn giản, nhưng tôi rất biết ơn anh vì đã hỗ trợ tôi trong cuộc điều tra này. Với những lời chúc tốt đẹp nhất, trân trọng,-G. Lestrade."

"Hừm! Cuộc điều tra quả thực là một vụ rất đơn giản," Holmes nhận xét, "nhưng tôi không nghĩ nó đã tạo được ấn tượng như thế với anh ta vào lúc anh ta mới gọi chúng ta đến. Nhưng thôi, hãy xem Jim Browner có điều gì để nói về bản thân mình. Đây là lời khai của hắn trước Thanh tra Montgomery tại Đồn Cảnh sát Shadwell, và nó có lợi thế là nguyên văn từng chữ."


"Tôi có điều gì để nói không ư? Có, tôi có rất nhiều điều để nói. Tôi phải thú nhận tất cả. Các ông có thể treo cổ tôi, hoặc các ông có thể mặc kệ tôi. Tôi đếch quan tâm các ông làm cái thá gì. Tôi nói cho các ông biết, tôi đã không thể chợp mắt nổi kể từ khi tôi làm chuyện đó, và tôi không tin rằng mình sẽ còn ngủ được nữa cho đến khi tôi vượt qua khỏi mọi sự tỉnh thức. Đôi khi đó là khuôn mặt của hắn, nhưng thường thì đó là khuôn mặt của nàng. Tôi chưa bao giờ không thấy một trong hai người họ lởn vởn trước mắt mình. Hắn trông cau có và tối sầm, nhưng nàng thì mang vẻ kinh ngạc trên gương mặt. Phải rồi, con cừu non bé nhỏ của tôi, nàng hoàn toàn có quyền kinh ngạc khi đọc thấy cái chết trên một khuôn mặt mà trước đây hiếm khi nhìn nàng bằng ánh mắt nào khác ngoài tình yêu.

"Nhưng đó là lỗi của Sarah, và cầu cho lời nguyền của một kẻ tan nát cõi lòng sẽ giáng họa xuống đầu ả, và khiến máu trong huyết quản ả phải mục rữa! Không phải tôi muốn gột rửa cho bản thân mình. Tôi biết tôi đã quay trở lại con đường rượu chè, trở về đúng với con thú mà tôi vốn là. Nhưng nàng sẽ tha thứ cho tôi; nàng sẽ gắn chặt với tôi như sợi dây thừng buộc vào ròng rọc nếu như người đàn bà đó không bao giờ làm u ám ngưỡng cửa nhà chúng tôi. Bởi vì Sarah Cushing đã yêu tôi-đó chính là nguồn cơn của mọi sự-ả đã yêu tôi cho đến khi tất cả tình yêu của ả biến thành lòng căm hờn độc địa, khi ả nhận ra rằng tôi coi trọng dấu chân trên bùn của vợ mình hơn là toàn bộ thể xác lẫn linh hồn của ả.

"Tổng cộng có ba chị em. Chị cả chỉ là một người phụ nữ tốt bụng thuần hậu, người thứ hai là một con ác quỷ, và người thứ ba là một thiên thần. Sarah ba mươi ba tuổi, còn Mary hai mươi chín tuổi khi tôi cưới nàng. Chúng tôi đã từng hạnh phúc ngập tràn như một ngày dài bất tận khi mới dọn về sống chung với nhau, và trong toàn cõi Liverpool chẳng có người phụ nữ nào tốt đẹp hơn Mary của tôi. Rồi chúng tôi mời Sarah lên chơi một tuần, và một tuần ấy kéo dài thành một tháng, rồi hết chuyện này đến chuyện khác xảy ra, cho đến khi ả trở thành một phần trong gia đình chúng tôi.

"Vào thời điểm đó tôi đã thề kiêng rượu, chúng tôi đang để dành được một ít tiền, và mọi thứ đều tươi sáng như một đồng đô-la mới toanh. Lạy Chúa, có ai từng nghĩ rằng mọi chuyện lại có thể đi đến nước này không? Có ai từng mơ thấy điều đó không?

"Tôi thường về nhà vào những ngày cuối tuần, và thỉnh thoảng nếu con tàu bị giữ lại chờ bốc hàng, tôi sẽ có nguyên cả một tuần nghỉ phép, và chính nhờ vậy mà tôi gặp chị dâu Sarah của mình rất nhiều. Ả là một người đàn bà cao lớn, đen nhẻm, nhanh nhẹn và dữ dội, với cái cách ngẩng đầu đầy kiêu hãnh, và ánh mắt ả lóe lên như tia lửa bắn ra từ đá lửa. Nhưng khi có Mary bé nhỏ ở bên, tôi chưa bao giờ mảy may nghĩ đến ả, và tôi xin thề điều đó trên niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa.

"Đôi khi tôi có cảm giác như ả thích được ở riêng với tôi, hoặc tìm cách dụ tôi ra ngoài đi dạo với ả, nhưng tôi chưa từng nghĩ ngợi gì về chuyện đó. Cho đến một buổi tối, mắt tôi đã được mở ra. Tôi từ tàu trở về và thấy vợ tôi đi vắng, nhưng Sarah thì ở nhà. ‘Mary đâu rồi?’ tôi hỏi. ‘Ồ, cô ấy đi thanh toán mấy hóa đơn rồi.’ Tôi thiếu kiên nhẫn và đi tới đi lui trong phòng. ‘Anh không thể hạnh phúc dù chỉ năm phút thiếu vắng Mary sao, Jim?’ ả nói. ‘Đối với em, đó quả là một lời khen tồi tệ khi anh không thể hài lòng với sự hiện diện của em dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy.’ ‘Mọi chuyện đều ổn cả, cô gái ạ,’ tôi đáp, rồi đưa tay về phía ả một cách tử tế, nhưng ả đã ngay lập tức nắm lấy nó bằng cả hai tay, và đôi tay ả nóng hổi như thể đang lên cơn sốt. Tôi nhìn vào mắt ả và tôi đọc được tất cả trong đó. Chẳng cần ả phải nói ra, mà tôi cũng chẳng cần nói gì. Tôi cau mày và rụt tay lại. Rồi ả đứng cạnh tôi trong im lặng một lúc, sau đó giơ tay lên vỗ nhẹ vào vai tôi. ‘Bình tĩnh nào, Jim già!’ ả nói, rồi với một nụ cười như thể chế nhạo, ả chạy vụt ra khỏi phòng.

"Chà, kể từ giây phút đó, Sarah căm ghét tôi bằng toàn bộ trái tim và linh hồn của ả, và ả cũng là một người đàn bà biết cách thù hận. Tôi đã là một thằng ngốc khi để ả tiếp tục ở lại với chúng tôi-một thằng ngốc cuồng si-nhưng tôi chưa từng nói một lời nào với Mary, vì tôi biết điều đó sẽ khiến nàng đau lòng. Mọi chuyện vẫn tiếp diễn phần lớn như trước, nhưng sau một thời gian, tôi bắt đầu nhận thấy có một chút thay đổi ở Mary của tôi. Nàng vốn luôn đầy tin tưởng và ngây thơ, nhưng giờ đây nàng trở nên kỳ lạ và đa nghi, muốn biết tôi đã đi đâu và làm gì, những bức thư của tôi là từ ai, tôi có gì trong túi, và cả ngàn thứ điên rồ như thế. Ngày này qua ngày khác, nàng càng trở nên kỳ lạ hơn và cáu kỉnh hơn, và chúng tôi đã có những trận cãi vã không dứt chỉ vì những chuyện không đâu. Tôi hoàn toàn bối rối trước tất cả những điều đó. Sarah lúc này luôn tránh mặt tôi, nhưng ả và Mary thì gần như không thể tách rời. Giờ đây tôi có thể nhìn thấy rõ ả đã lên kế hoạch, âm mưu và đầu độc tâm trí vợ tôi chống lại tôi như thế nào, nhưng lúc bấy giờ tôi đúng là một con bọ cánh cứng mù lòa chẳng thể nào hiểu nổi. Thế rồi tôi phá vỡ lời thề kiêng rượu và bắt đầu uống trở lại, nhưng tôi nghĩ mình đã không làm thế nếu Mary vẫn giữ nguyên như ngày nào. Giờ đây nàng đã có lý do để ghê tởm tôi, và khoảng cách giữa chúng tôi bắt đầu ngày càng rộng ra. Và sau đó tên Alec Fairbairn này chen ngang vào, khiến mọi thứ trở nên đen tối hơn gấp ngàn lần.

"Ban đầu hắn đến nhà tôi là để gặp Sarah, nhưng chẳng mấy chốc là để gặp chúng tôi, bởi hắn là một gã có những cách cư xử đầy cuốn hút, và hắn kết bạn ở bất cứ nơi đâu hắn đặt chân đến. Hắn là một gã hào hoa, phô trương, bảnh bao và tóc xoăn tít, một kẻ đã từng nhìn thấy một nửa thế giới và có thể thao thao bất tuyệt về những gì hắn đã thấy. Hắn là một người bạn đồng hành thú vị, tôi không phủ nhận điều đó, và đối với một kẻ đi biển, hắn có những cách cư xử lịch thiệp tuyệt vời, khiến tôi nghĩ rằng hẳn đã có thời hắn quen thuộc với boong tàu hạng hai hơn là boong đài chỉ huy. Suốt một tháng trời, hắn ra vào nhà tôi như chốn không người, và chưa một lần nào tôi nghĩ đến việc những cách thức mềm mỏng, xảo quyệt của hắn có thể mang lại tai họa. Cho đến cuối cùng, một điều gì đó đã khiến tôi nghi ngờ, và kể từ ngày đó, sự bình yên của tôi vĩnh viễn biến mất.

"Đó cũng chỉ là một chuyện nhỏ nhặt thôi. Tôi bất ngờ bước vào phòng khách, và ngay lúc đặt chân qua cửa, tôi nhìn thấy một tia sáng chào đón bừng lên trên khuôn mặt vợ tôi. Nhưng khi nàng nhận ra người bước vào là ai, tia sáng ấy vụt tắt, và nàng quay đi với vẻ thất vọng. Vậy là đủ đối với tôi. Chẳng có ai khác ngoài Alec Fairbairn mà nàng có thể nhầm bước chân với bước chân của tôi. Nếu tôi có thể nhìn thấy hắn vào lúc đó, tôi đã giết chết hắn rồi, vì tôi luôn như một kẻ điên cuồng mỗi khi cơn thịnh nộ bùng lên. Mary nhìn thấy ánh lửa quỷ dữ trong mắt tôi, và nàng chạy tới, đặt hai tay lên ống tay áo tôi. ‘Đừng, Jim, đừng!’ nàng thốt lên. ‘Sarah đâu?’ tôi hỏi. ‘Trong bếp,’ nàng đáp. ‘Sarah,’ tôi nói khi bước vào bếp, ‘cái gã Fairbairn này không bao giờ được phép làm u ám ngưỡng cửa nhà tôi thêm một lần nào nữa.’ ‘Tại sao không?’ ả hỏi. ‘Bởi vì tôi ra lệnh như vậy.’ ‘Ồ!’ ả nói, ‘nếu bạn bè của tôi không đủ tốt cho cái nhà này, thì chính tôi cũng chẳng đủ tốt cho nó.’ ‘Cô có thể làm bất cứ điều gì cô thích,’ tôi đáp, ‘nhưng nếu Fairbairn vác mặt đến đây thêm một lần nữa, tôi sẽ gửi cho cô một bên tai của hắn làm kỷ niệm.’ Tôi nghĩ ả đã hoảng sợ trước vẻ mặt của tôi, vì ả chẳng buồn đáp lại một lời nào, và ngay tối hôm đó, ả đã dọn ra khỏi nhà tôi.

"Chà, giờ đây tôi không biết đó là sự độc ác thuần túy từ phía người đàn bà này, hay liệu ả nghĩ rằng ả có thể khiến tôi chống lại vợ mình bằng cách khuyến khích nàng cư xử sai trái. Dù sao đi nữa, ả đã thuê một căn nhà chỉ cách đó hai con phố và cho thủy thủ thuê phòng trọ. Fairbairn thường trú lại ở đó, và Mary thường chạy qua uống trà với chị nàng và với hắn. Bao nhiêu lần nàng đã đến đó, tôi không rõ, nhưng một ngày nọ, tôi đã theo dõi nàng, và khi tôi phá cửa xông vào, Fairbairn đã tẩu thoát qua bức tường vườn sau, y như con chồn hôi hèn nhát mà hắn vốn là. Tôi đã thề với vợ mình rằng tôi sẽ giết nàng nếu tôi còn bắt gặp nàng đi cùng với hắn, và tôi đã dẫn nàng trở về, nức nở và run rẩy, mặt trắng bệch như một tờ giấy. Giữa chúng tôi không còn bất cứ dấu vết nào của tình yêu nữa. Tôi có thể thấy rằng nàng căm ghét và sợ hãi tôi, và khi ý nghĩ về điều đó khiến tôi phải tìm đến rượu, thì nàng lại càng khinh bỉ tôi hơn.

"Chà, Sarah nhận thấy ả chẳng thể kiếm sống nổi ở Liverpool, nên ả đã quay trở về, theo như tôi hiểu, để sống với chị cả ở Croydon, và mọi chuyện ở nhà lại tiếp tục trôi đi chậm chạp theo lối cũ. Và rồi tuần cuối cùng này ập đến, kéo theo tất cả mọi sự khốn khổ và hủy diệt.

"Mọi chuyện diễn ra như thế này. Chúng tôi đã lên tàu May Day cho một chuyến đi khứ hồi bảy ngày, nhưng một thùng hàng lớn bị tuột ra và làm bung một trong những tấm ván của con tàu, nên chúng tôi buộc phải quay lại cảng trong vòng mười hai giờ. Tôi rời tàu và trở về nhà, nghĩ rằng đây sẽ là một bất ngờ lớn đối với vợ mình, và hy vọng rằng có lẽ nàng sẽ vui mừng khi gặp lại tôi sớm đến vậy. Ý nghĩ ấy vẫn còn đang lởn vởn trong đầu tôi khi tôi rẽ vào con phố của chính mình, và đúng vào lúc đó, một chiếc xe ngựa chạy vụt qua, và nàng ở đó, ngồi cạnh Fairbairn, cả hai đang trò chuyện và cười đùa, chẳng hề mảy may nghĩ đến tôi đang đứng nhìn họ từ vỉa hè.

"Tôi nói cho các ông biết, và tôi lấy danh dự của mình ra để bảo đảm điều này, rằng kể từ giây phút đó, tôi không còn là chủ nhân của chính mình nữa, và khi nhìn lại, mọi thứ đều giống như một giấc mơ mờ ảo. Dạo gần đây tôi uống rất nhiều rượu, và hai thứ ấy cộng lại đã hoàn toàn làm đảo lộn trí óc tôi. Có thứ gì đó đang đập thình thịch trong đầu tôi ngay lúc này, giống như tiếng búa của một công nhân khuân vác, nhưng buổi sáng hôm ấy, tôi có cảm tưởng như cả thác Niagara đang rít gào và ù ù trong tai mình.

"Chà, tôi ba chân bốn cẳng cắm đầu chạy theo chiếc xe ngựa. Trên tay tôi lăm lăm một cây gậy gỗ sồi nặng trĩu, và tôi nói cho các ông biết, tôi đã thấy đỏ ngầu ngay từ giây phút đầu tiên; nhưng khi chạy, tôi cũng trở nên xảo quyệt, cố tình tụt lại phía sau một chút để có thể nhìn thấy họ mà không bị nhìn thấy. Chẳng mấy chốc, họ dừng lại ở ga xe lửa. Chung quanh phòng vé có một đám đông khá lớn, nên tôi đã tiến đến khá gần họ mà không bị phát hiện. Họ mua vé đi New Brighton. Tôi cũng vậy, nhưng tôi lên sau họ ba toa. Khi chúng tôi đến nơi, họ đi dọc theo lối đi dạo ven biển, và tôi chẳng bao giờ cách họ quá một trăm thước. Cuối cùng, tôi thấy họ thuê một chiếc thuyền và bắt đầu chèo ra khơi, bởi hôm đó là một ngày rất nóng, và không nghi ngờ gì nữa, họ nghĩ rằng ở trên mặt nước sẽ mát mẻ hơn.

"Cứ như thể họ đã bị giao nộp vào tay tôi vậy. Có một màn sương mỏng giăng phủ, và người ta không thể nhìn xa quá vài trăm thước. Tôi tự thuê cho mình một chiếc thuyền, rồi chèo đuổi theo họ. Tôi có thể trông thấy dáng hình mờ ảo của chiếc thuyền phía trước, nhưng họ đi nhanh gần bằng tôi, và hẳn họ đã cách bờ đến cả một dặm dài trước khi tôi đuổi kịp. Lớp sương mù như một bức màn bao bọc lấy tất cả chúng tôi, và chỉ có ba con người giữa màn sương dày đặc ấy. Lạy Chúa, liệu tôi có bao giờ quên nổi khuôn mặt họ khi họ nhìn thấy ai đang ở trong chiếc thuyền đang lao tới không? Nàng hét lên. Hắn chửi thề như một kẻ điên và đâm thẳng mái chèo vào tôi, vì hẳn hắn đã nhìn thấy cái chết trong mắt tôi. Tôi né được cú đâm ấy và giáng trả một cú bằng cây gậy khiến đầu hắn vỡ toác như một quả trứng. Lẽ ra tôi đã tha cho nàng, có lẽ vậy, bất chấp tất cả cơn điên cuồng của mình, nhưng nàng đã vòng tay ôm chặt lấy hắn, khóc lóc gọi tên hắn, và gọi hắn là ‘Alec.’ Tôi giáng thêm một đòn nữa, và nàng nằm duỗi thẳng bên cạnh hắn. Lúc đó tôi giống như một con dã thú đã nếm mùi máu. Nếu Sarah có mặt ở đó, lạy Chúa, thì ả cũng đã gia nhập cùng bọn họ. Tôi rút dao ra, và-chà, thế đấy! Tôi đã nói đủ rồi. Có một niềm vui man rợ nào đó dâng lên trong tôi khi nghĩ đến cảnh Sarah sẽ cảm thấy thế nào lúc nhận được những dấu hiệu như thế này về hậu quả của sự can thiệp mà ả đã gây ra. Sau đó, tôi buộc các thi thể vào thuyền, đục thủng một tấm ván, rồi đứng nhìn cho đến khi chúng chìm hẳn. Tôi biết rất rõ rằng người chủ thuyền sẽ nghĩ họ đã mất phương hướng trong sương mù và trôi dạt ra ngoài khơi. Tôi tắm rửa sạch sẽ, trở lại đất liền, rồi lên tàu của mình mà không một linh hồn nào có chút nghi ngờ về những gì đã diễn ra. Đêm hôm ấy, tôi gói ghém bưu kiện gửi cho Sarah Cushing, và ngày hôm sau tôi gửi nó đi từ Belfast.

"Đấy, các ông đã có toàn bộ sự thật về vụ việc. Các ông có thể treo cổ tôi, hoặc làm bất cứ điều gì các ông muốn, nhưng các ông không thể trừng phạt tôi như tôi đã bị trừng phạt rồi. Tôi không thể nhắm mắt lại mà không nhìn thấy hai khuôn mặt ấy đang nhìn chằm chằm vào tôi-nhìn chằm chằm vào tôi y như cái cách họ đã nhìn khi con thuyền của tôi xuyên thủng màn sương. Tôi đã giết họ nhanh chóng, nhưng họ lại đang giết tôi một cách từ từ; và nếu tôi phải chịu đựng điều đó thêm một đêm nữa thôi, thì trước khi trời sáng, tôi sẽ phát điên hoặc chết mất. Ngài sẽ không nhốt tôi một mình trong phòng giam chứ, thưa ngài? Vì lòng thương xót, xin đừng làm thế, và mong sao đến ngày khốn khổ của mình, ngài sẽ được đối xử như cách ngài đối xử với tôi lúc này."


"Ý nghĩa của tất cả những chuyện này là gì, Watson?" Holmes nghiêm trang lên tiếng khi anh đặt tờ giấy xuống. "Vòng xoáy của khốn khổ, bạo lực và sợ hãi này nhằm phục vụ mục đích gì? Nó hẳn phải hướng tới một kết cục nào đó, nếu không thì vũ trụ của chúng ta ắt bị cai trị bởi sự ngẫu nhiên, một điều không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng là kết cục gì đây? Có một vấn đề muôn thuở, lớn lao mà lý trí con người vẫn chưa thể nào tìm ra lời giải đáp."



  1. Nhà văn người Mỹ Edgar Allan Poe (1809-1849), người được coi là cha đẻ của thể loại truyện trinh thám hiện đại với nhân vật thám tử C. Auguste Dupin. Câu chuyện được Holmes nhắc đến ám chỉ chi tiết trong truyện 'Những vụ án mạng đường Morgue'. 

  2. Charles George Gordon (1833-1885), một sĩ quan quân đội nổi tiếng của Anh vào thời kỳ Victoria. Ông trở thành một biểu tượng của sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng sau khi tử trận tại Khartoum, Sudan. 

  3. Henry Ward Beecher (1813-1887) là một vị mục sư nổi tiếng người Mỹ, nhà cải cách xã hội và diễn giả lỗi lạc. Ông kịch liệt phản đối chế độ nô lệ và là người đấu tranh mạnh mẽ cho phe Miền Bắc trong cuộc Nội chiến Mỹ. 

  4. Chỉ phe Liên bang (Union) trong cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865), lực lượng đã chiến đấu để bảo vệ sự thống nhất đất nước và đòi bãi bỏ chế độ nô lệ. 

  5. Cuộc Nội chiến Mỹ (American Civil War, 1861-1865), cuộc xung đột đẫm máu giữa các bang miền Bắc (phe Liên bang) và các bang miền Nam (phe Liên minh) xoay quanh vấn đề bãi bỏ chế độ nô lệ. 

  6. Honeydew là một loại thuốc lá sợi ép được chế biến theo cách tẩm thêm mật đường hoặc có vị ngọt tự nhiên, rất phổ biến ở Anh vào cuối thế kỷ 19. 

  7. Loại ngòi bút chấm mực bằng thép cực kỳ phổ biến vào cuối thế kỷ 19, đặc trưng bởi ngòi tù, tạo ra nét chữ đậm, to và dễ viết. 

  8. Trụ sở của Cảnh sát Đô thành London, cơ quan chịu trách nhiệm thực thi pháp luật và điều tra tội phạm tại thủ đô nước Anh. Trong các tác phẩm trinh thám, Scotland Yard thường đại diện cho lực lượng cảnh sát chính quy. 

  9. Tên gọi những cây đàn vĩ cầm (violin) tuyệt hảo do gia đình nghệ nhân Stradivari chế tác tại Ý vào thế kỷ 17 và 18. Chúng nổi tiếng về chất lượng âm thanh đỉnh cao và có giá trị vô cùng đắt đỏ. 

  10. Đồng tiền kim loại cũ của Anh. Trước khi chuyển sang hệ thập phân, 1 bảng Anh bằng 20 shilling. 55 shilling tương đương chưa tới 3 bảng Anh, một cái giá rẻ đến mức khó tin cho cây đàn quý. 

  11. Niccolò Paganini (1782-1840), nghệ sĩ vĩ cầm và nhà soạn nhạc vĩ đại người Ý. Kỹ năng chơi đàn của ông siêu phàm đến mức người đương thời thường thêu dệt rằng ông đã bán linh hồn cho ác quỷ. 

  12. Tiểu thuyết 'Chiếc nhẫn tình cờ' (hoặc 'Cuộc điều tra màu đỏ'), tác phẩm đầu tiên ra mắt công chúng về Sherlock Holmes, trong đó kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Holmes và bác sĩ Watson. 

  13. Tiểu thuyết 'Dấu bộ tứ', tác phẩm dài thứ hai về Sherlock Holmes, kể về cuộc điều tra xoay quanh một kho báu bí ẩn từ Ấn Độ.