III. Khuôn Mặt Vàng Vọt

Khi công bố những ghi chép ngắn gọn dựa trên vô số vụ án mà tôi và bạn mình đã cùng nhau trải qua - những vụ án mà nhờ tài năng xuất chúng của anh, chúng tôi không chỉ được lắng nghe mà còn trở thành người trong cuộc của biết bao vở kịch ly kỳ - thì lẽ tự nhiên, tôi thường có xu hướng nhấn mạnh vào những thành công hơn là những thất bại của anh. Điều này không hẳn vì danh tiếng của anh - bởi thực ra, chính trong những lúc lâm vào bế tắc, nghị lực và sự linh hoạt của anh mới thực sự đáng khâm phục nhất - mà bởi một lẽ đơn giản: khi anh thất bại, thường thì chẳng có ai khác thành công, và câu chuyện cứ thế vĩnh viễn bị bỏ ngỏ. Dẫu vậy, thỉnh thoảng cũng có những dịp anh mắc sai lầm nhưng sự thật cuối cùng vẫn được phơi bày. Tôi đã ghi chép lại khoảng nửa tá vụ án thuộc loại này. Trong số đó, Vụ án Vết nhơ thứ hai và câu chuyện tôi sắp kể sau đây là hai vụ mang những nét đặc sắc thú vị nhất.

Sherlock Holmes là người hiếm khi vận động chỉ vì mục đích rèn luyện thân thể. Ít ai sở hữu cơ bắp dẻo dai đến thế, và anh chắc chắn là một trong những võ sĩ quyền Anh xuất sắc nhất ở hạng cân của mình mà tôi từng được chứng kiến. Thế nhưng anh luôn coi việc tiêu hao thể lực một cách vô mục đích là sự lãng phí năng lượng, và anh hiếm khi động chân động tay trừ phi điều đó phục vụ trực tiếp cho công việc chuyên môn. Khi đã vào việc, anh hoàn toàn không biết mệt mỏi và làm việc với sức bền đáng kinh ngạc. Việc anh luôn duy trì được thể trạng sung mãn trong những hoàn cảnh như thế quả là điều phi thường. Nhưng chế độ ăn uống của anh vốn rất thanh đạm, còn những thói quen sinh hoạt thì giản dị đến mức gần như khắc khổ. Ngoại trừ việc thỉnh thoảng sử dụng thứ thuốc độc hại đó, anh không hề vướng vào thói hư tật xấu nào. Và anh chỉ tìm đến chất kích thích ấy như một cách phản kháng lại sự tẻ nhạt của cuộc sống mỗi khi các vụ án vắng bóng và những trang báo chẳng còn gì đáng đọc.

Một ngày đầu xuân nọ, anh nới lỏng bản thân đủ để cùng tôi thong thả dạo bước trong Công viên. Những chồi non xanh mờ đầu tiên đang hé nở trên những cành du, còn những búp nhọn dinh dính của cây dẻ vừa bắt đầu bung ra thành từng chiếc lá năm cánh non tơ. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi sánh vai bên nhau, phần lớn thời gian trôi qua trong im lặng - cái im lặng quen thuộc và dễ chịu giữa hai người đàn ông đã thấu hiểu nhau đến tận cùng. Mãi gần năm giờ chiều, chúng tôi mới quay trở lại phố Baker.

"Xin lỗi các ngài," cậu bé sai vặt của chúng tôi lên tiếng khi vừa mở cửa. "Có một quý ông đã đến đây tìm ngài ạ."

Holmes liếc nhìn tôi với vẻ trách móc. "Vậy là buổi đi dạo chiều nay coi như đủ rồi!" anh buông lời. "Quý ông ấy đã đi rồi sao?"

"Vâng, thưa ngài."

"Cậu không mời ông ấy vào à?"

"Dạ có, ngài ấy đã vào trong phòng rồi ạ."

"Ông ấy đợi được bao lâu?"

"Khoảng nửa tiếng ạ. Ngài ấy là người rất bồn chồn, cứ đi tới đi lui và dậm chân cồm cộp suốt thời gian ở đây. Cháu đứng đợi ngoài cửa mà vẫn nghe rõ mồn một tiếng ngài ấy. Cuối cùng, ngài ấy bước thẳng ra hành lang và hét lớn: 'Người đàn ông đó định không bao giờ đến hay sao?' Đó chính xác là những lời ngài ấy đã nói, thưa ngài. Cháu bèn thưa: 'Xin ngài chỉ cần đợi thêm một chút nữa thôi ạ.' Ngài ấy liền đáp: 'Vậy thì ta sẽ ra ngoài hóng gió, chứ ở trong này ta có cảm giác như nghẹt thở đến nơi rồi. Ta sẽ quay lại sớm thôi.' Nói đoạn, ngài ấy đứng phắt dậy và bước thẳng ra ngoài, cháu có cố nói gì cũng không thể cản được."

"Thôi được rồi, cậu đã làm hết sức mình," Holmes nói khi chúng tôi bước vào phòng khách. "Thật đáng tiếc, anh Watson ạ. Tôi đang rất cần một vụ án, và xét theo sự mất kiên nhẫn của vị khách này thì có vẻ đây là một việc quan trọng đây. Ồ kìa! Đó không phải là tẩu thuốc của anh trên mặt bàn. Hẳn là ông ấy đã bỏ quên nó. Một chiếc tẩu làm bằng gỗ thạch nam1 cũ kỹ tuyệt đẹp, với cái cán dài làm bằng thứ mà giới bán thuốc lá vẫn gọi là hổ phách2. Tôi tự hỏi không biết ở cái thành London này có bao nhiêu cái ống ngậm bằng hổ phách thật. Một số người cho rằng nếu có một con ruồi nằm bên trong thì đó chính là dấu hiệu của hàng thật. Thôi thì, tâm trí ông ấy hẳn đã bị xáo trộn dữ dội lắm mới đến nỗi bỏ quên một chiếc tẩu mà rõ ràng ông ấy vô cùng trân quý."

"Làm sao anh biết ông ấy rất trân quý nó?" tôi hỏi.

"À, tôi ước tính giá gốc của chiếc tẩu này rơi vào khoảng bảy shilling sáu xu3. Vậy mà bây giờ, như anh thấy đấy, nó đã được sửa chữa tới hai lần - một lần ở phần thân gỗ và một lần ở phần hổ phách. Mỗi lần sửa chữa, như anh có thể quan sát, đều được bọc bằng những dải bạc, và chi phí cho mỗi lần ấy chắc chắn còn đắt hơn cả giá trị ban đầu của chiếc tẩu. Người đàn ông này hẳn phải hết sức trân trọng chiếc tẩu của mình thì mới thà chắp vá nó còn hơn là bỏ ra số tiền tương đương để mua một cái mới tinh."

"Còn gì nữa không?" tôi hỏi tiếp, bởi Holmes đang xoay xoay chiếc tẩu trong tay và nhìn chằm chằm vào nó với cái vẻ trầm ngâm kỳ lạ vốn có của anh.

Anh đưa chiếc tẩu lên và dùng ngón trỏ dài gõ nhẹ vào, y hệt như một vị giáo sư đang thao giảng về một mẩu xương hóa thạch.

"Đôi khi những chiếc tẩu thuốc lại mang đến sự thích thú lạ thường," anh cất lời. "Hiếm có thứ gì mang đậm dấu ấn cá nhân đến thế, có lẽ ngoại trừ đồng hồ bỏ túi và dây giày. Dù vậy, những dấu hiệu ở đây không có gì quá nổi bật hay quá quan trọng. Chủ nhân của nó rõ ràng là một người đàn ông lực lưỡng, thuận tay trái, sở hữu một hàm răng tuyệt hảo, có thói quen cẩu thả, và không cần phải sống tằn tiện."

Bạn tôi buông thõng những nhận định ấy bằng một giọng hết sức dửng dưng. Nhưng tôi vẫn kịp nhận ra ánh mắt anh liếc sang tôi để dò xét xem tôi có theo kịp mạch suy luận của anh hay không.

"Tôi đoán rằng một người đàn ông hẳn phải khá giả nếu ông ta hút một chiếc tẩu giá những bảy shilling," tôi góp lời.

"Đây là hỗn hợp thuốc lá Grosvenor, giá tám xu một ounce4," Holmes đáp, vừa gõ nhẹ một ít thuốc ra lòng bàn tay. "Trong khi ông ấy hoàn toàn có thể hút một loại thuốc lá tuyệt hảo khác với giá chỉ bằng một nửa. Vậy nên rõ ràng ông ấy chẳng cần phải sống tiết kiệm làm gì."

"Còn những điểm khác thì sao?"

"Ông ấy có thói quen châm tẩu bằng đèn dầu và vòi ga. Anh có thể thấy chiếc tẩu bị cháy xém hết cả một bên. Một que diêm thông thường không thể gây ra điều đó. Anh thử nghĩ xem, có ai lại đi dí que diêm vào sườn chiếc tẩu bao giờ? Nhưng nếu châm tẩu ở ngọn đèn thì anh không thể tránh khỏi việc làm cháy xém cái nõ. Và vết cháy xém này chỉ nằm gọn ở bên phải của chiếc tẩu. Từ đó tôi suy ra rằng ông ấy là người thuận tay trái. Anh thử cầm chiếc tẩu của chính mình đưa lại gần ngọn đèn mà xem. Anh là người thuận tay phải, tự nhiên anh sẽ đưa phần bên trái về phía ngọn lửa. Dĩ nhiên anh có thể làm ngược lại một vài lần, nhưng không ai làm thế mãi được. Chiếc tẩu này luôn luôn được cầm bằng tay trái. Thêm vào đó, ông ấy đã cắn thủng cả phần hổ phách. Phải là một gã cơ bắp, tràn đầy năng lượng và có một hàm răng chắc khỏe thì mới làm nổi việc ấy. Nhưng nếu tôi không lầm thì tôi đang nghe thấy tiếng chân ông ấy vọng lên từ cầu thang. Có lẽ chúng ta sắp có thứ gì đó thú vị hơn chiếc tẩu của ông ấy để mà nghiên cứu rồi."

Khoảnh khắc sau, cánh cửa phòng chúng tôi bật mở, và một thanh niên cao lớn sải bước vào. Anh ta vận bộ vest xám sẫm, lịch thiệp mà không cầu kỳ, tay cầm chiếc mũ nâu vành rộng. Tôi đoán anh ta trạc ba mươi, dẫu thực ra anh ta còn lớn hơn vài tuổi.

"Tôi thành thật xin lỗi," anh ta cất lời, giọng thoáng chút bối rối. "Đáng lẽ tôi phải gõ cửa mới phải. Vâng, tất nhiên là phải gõ cửa rồi. Thực tình thì tôi đang hơi rối trí, mong các ngài lượng thứ cho." Anh ta đưa tay quệt ngang trán như một kẻ đang nửa tỉnh nửa mê, rồi buông người rơi phịch xuống ghế hơn là ngồi xuống.

"Tôi có thể thấy anh đã mất ngủ một hai đêm rồi," Holmes lên tiếng, bằng chất giọng nhẹ nhàng và niềm nở. "Điều đó bào mòn thần kinh của một người đàn ông còn hơn cả công việc, thậm chí còn hơn cả những cuộc vui chơi thác loạn. Tôi có thể giúp gì cho anh đây?"

"Tôi muốn được ngài khuyên bảo. Tôi chẳng biết phải làm sao nữa, và cả cuộc đời tôi dường như đã tan nát hết cả rồi."

"Anh muốn mướn tôi làm thám tử tư vấn phải không?"

"Không chỉ có vậy đâu. Tôi muốn lắng nghe ý kiến của ngài với tư cách một người sáng suốt - một người từng trải việc đời. Tôi muốn biết mình phải làm gì tiếp theo. Tôi cầu Chúa rằng ngài sẽ chỉ cho tôi con đường."

Anh ta thốt ra từng tràng lời đứt quãng, dồn dập và rời rạc. Với tôi, dường như việc cất lên từng lời nói cũng là một cực hình đối với anh ta, và ý chí của anh ta đang gồng mình lấn át những xúc cảm tự nhiên đang cuộn trào bên trong.

"Đây là một chuyện vô cùng tế nhị," anh ta nói. "Chẳng ai muốn đem chuyện riêng tư trong gia đình ra bàn luận với người lạ cả. Thật kinh khủng khi phải nói về hành vi của chính vợ mình với hai quý ông mà mình chưa từng gặp mặt bao giờ. Thật là tồi tệ. Nhưng tôi đã đến đường cùng rồi, và tôi cần một lời khuyên."

"Anh Grant Munro thân mến -" Holmes bắt đầu.

Vị khách bật dậy khỏi ghế. "Sao cơ!" anh ta kêu lên, "ngài biết tên tôi ư?"

"Nếu anh muốn giữ kín danh tính," Holmes mỉm cười đáp, "tôi khuyên anh đừng nên viết tên mình lên tấm lót trong của chiếc mũ nữa, hoặc nếu không thì ít nhất cũng nên xoay đỉnh mũ về phía người mà anh đang trò chuyện. Tôi đang định nói rằng, bạn tôi và tôi đã từng lắng nghe rất nhiều bí mật kỳ lạ trong chính căn phòng này, và chúng tôi đã may mắn mang lại sự bình yên cho không ít tâm hồn đang đau khổ. Tôi tin rằng chúng tôi cũng có thể làm được điều tương tự cho anh. Thời gian eo hẹp lắm, vậy tôi có thể xin anh cung cấp cho tôi những tình tiết của vụ việc mà không chần chừ thêm nữa được chứ?"

Vị khách của chúng tôi lại đưa tay quệt ngang trán, như thể anh ta thấy việc này cay đắng khôn cùng. Từ mọi cử chỉ lẫn nét mặt, tôi có thể nhận ra anh ta là một người dè dặt, khép kín, mang trong mình một chút kiêu hãnh bẩm sinh, luôn có xu hướng che giấu vết thương hơn là phơi bày chúng ra ngoài. Rồi bất chợt, bằng một động tác dứt khoát của bàn tay đang nắm chặt, như một người quẳng phăng đi tất cả sự dè dặt, anh ta bắt đầu thuật lại.

"Sự việc là thế này, thưa ngài Holmes," anh ta nói. "Tôi đã kết hôn, và cuộc hôn nhân ấy đã kéo dài được ba năm. Trong suốt quãng thời gian ấy, vợ tôi và tôi đã yêu thương nhau đằm thắm và chung sống hạnh phúc như bất kỳ đôi lứa nào trên đời. Chúng tôi chưa từng có một bất đồng nào, dù chỉ là nhỏ nhất, trong suy nghĩ, trong lời nói hay trong hành động. Vậy mà giờ đây, kể từ thứ Hai tuần trước, bỗng nhiên một bức tường ngăn cách dựng lên giữa chúng tôi, và tôi nhận ra rằng có điều gì đó trong cuộc đời và trong tâm tư cô ấy mà tôi hoàn toàn không hay biết, cứ như thể cô ấy chỉ là một người đàn bà xa lạ lướt qua tôi trên phố vậy. Chúng tôi đang ngày một xa cách, và tôi muốn biết tại sao.

"Thế nhưng, có một điều tôi muốn nhấn mạnh với ngài trước khi kể tiếp, thưa ngài Holmes. Effie yêu tôi. Xin ngài đừng hiểu lầm về điểm này. Cô ấy yêu tôi bằng cả trái tim và linh hồn mình, và chưa bao giờ hơn lúc này. Tôi biết điều đó. Tôi cảm nhận được điều đó. Tôi không muốn tranh luận gì về chuyện này. Một người đàn ông có thể dễ dàng nhận ra khi một người phụ nữ yêu mình. Nhưng có một bí mật đang tồn tại giữa chúng tôi, và chúng tôi sẽ không bao giờ có thể trở lại như xưa cho đến khi nó được làm sáng tỏ."

"Xin hãy cho tôi biết những tình tiết cụ thể đi, anh Munro," Holmes nói, giọng thoáng chút mất kiên nhẫn.

"Tôi sẽ kể cho ngài những gì tôi biết về quá khứ của Effie. Lần đầu tôi gặp cô ấy, cô ấy đã là một góa phụ, dẫu tuổi còn rất trẻ - mới chỉ hai mươi lăm. Khi ấy tên cô ấy là phu nhân Hebron. Cô ấy đã sang Mỹ từ hồi thiếu nữ, và sống ở thành phố Atlanta, nơi cô ấy kết hôn với người đàn ông tên Hebron này, một luật sư có văn phòng làm ăn khấm khá. Họ có với nhau một đứa con, nhưng rồi dịch sốt vàng da5 hoành hành dữ dội ở nơi đó, cả chồng lẫn con cô ấy đều chết vì căn bệnh quái ác này. Tôi đã tận mắt xem giấy chứng tử của ông ấy. Biến cố ấy khiến cô ấy chán ghét nước Mỹ, và cô ấy trở về nương náu cùng một người dì không lập gia đình tại Pinner, thuộc vùng Middlesex6. Tôi xin nói thêm rằng người chồng quá cố đã để lại cho cô ấy một cuộc sống dư dả, với số vốn chừng bốn nghìn năm trăm bảng Anh, được ông ấy đầu tư vô cùng khôn ngoan để sinh lời trung bình bảy phần trăm. Cô ấy mới ở Pinner được sáu tháng thì tôi gặp cô ấy; chúng tôi phải lòng nhau, và kết hôn chỉ vài tuần sau đó.

"Bản thân tôi là một thương gia buôn hoa bia. Với thu nhập vào khoảng bảy tám trăm bảng một năm, chúng tôi thấy mình sống khá dư dả nên đã thuê một biệt thự xinh xắn giá tám mươi bảng một năm tại Norbury. Ngôi nhà nhỏ của chúng tôi mang đậm dáng dấp thôn quê, dù nó ở rất gần thị trấn. Phía trên chỗ chúng tôi có một quán trọ và hai ngôi nhà, còn ở phía bên kia cánh đồng đối diện là một căn nhà tranh đơn độc. Ngoài những nơi đó ra thì chẳng còn ngôi nhà nào khác cho đến tận nửa đường ra ga. Công việc buôn bán đưa tôi vào thị trấn vào những thời điểm nhất định, nhưng vào mùa hè thì tôi ít bận rộn hơn, và khi đó trong ngôi nhà vùng quê của chúng tôi, vợ chồng tôi sống hạnh phúc như mơ ước. Tôi có thể thưa với ngài rằng chưa từng có một bóng mây nào len lỏi vào giữa hai chúng tôi cho đến khi cái chuyện chết tiệt này bắt đầu.

"Còn một điều tôi phải nói với ngài trước khi kể tiếp. Khi chúng tôi kết hôn, vợ tôi đã chuyển giao toàn bộ tài sản của cô ấy sang cho tôi - khá trái với ý muốn của tôi, vì tôi thấy sẽ thật khó xử nếu chẳng may công việc làm ăn của tôi gặp trục trặc. Nhưng cô ấy cứ khăng khăng đòi làm vậy, và thế là việc đó đã hoàn tất. Chà, khoảng sáu tuần trước, cô ấy đến gặp tôi.

"'Anh Jack,' cô ấy nói, 'khi anh nhận số tiền của em, anh đã bảo rằng nếu bao giờ em cần dùng đến thì cứ hỏi anh.'

"'Chắc chắn rồi,' tôi đáp. 'Tất cả đều là của em mà.'

"'Thế thì,' cô ấy nói, 'em cần một trăm bảng.'

"Tôi hơi sững sờ trước lời đề nghị ấy, vì tôi cứ nghĩ thứ cô ấy cần chỉ đơn giản là một chiếc áo mới hay cái gì đó tương tự.

"'Em cần ngần ấy tiền để làm cái gì trên đời này cơ chứ?' tôi hỏi.

"'Ồ,' cô ấy nói bằng cái giọng tinh nghịch thường ngày, 'anh đã nói anh chỉ là nhân viên ngân hàng của em thôi mà, và anh biết đấy, những nhân viên ngân hàng thì chẳng bao giờ tò mò hỏi han cả.'

"'Nếu em thực sự muốn vậy thì dĩ nhiên em sẽ có tiền,' tôi nói.

"'Ồ, vâng, em thực sự cần mà.'

"'Và em sẽ không cho anh biết em định dùng nó vào việc gì sao?'

"'Có lẽ một ngày nào đó, nhưng không phải lúc này, anh Jack à.'

"Thế là tôi đành phải chấp nhận, dẫu đó là lần đầu tiên có một bí mật len lỏi vào giữa hai vợ chồng chúng tôi. Tôi đã trao cho cô ấy một tấm séc, và không bao giờ nghĩ ngợi thêm về chuyện đó nữa. Có thể nó chẳng liên quan gì đến những gì xảy ra sau này, nhưng tôi nghĩ mình cứ nhắc đến thì hơn.

"Giờ thì, tôi vừa nói với ngài rằng có một căn nhà tranh cách nhà chúng tôi không xa. Giữa hai nhà chỉ ngăn cách bởi một cánh đồng, nhưng để đến được đó, ngài phải đi dọc theo con đường chính rồi rẽ xuống một con ngõ hẹp. Ngay phía sau nó là một lùm thông Scotland nhỏ nhắn xinh xắn, và tôi thường rất thích thả bộ xuống đó, vì cây cối luôn là những người láng giềng thân thiện nhất. Căn nhà tranh ấy đã bỏ không suốt tám tháng trời, thật đáng tiếc vì đó là một nơi xinh đẹp hai tầng, có mái hiên kiểu cổ và những dây kim ngân thơm ngát leo phủ kín xung quanh. Tôi đã bao lần đứng ở đó mà thầm nghĩ nó sẽ trở thành một tổ ấm nhỏ gọn gàng và ấm cúng biết bao.

"Vậy rồi, vào tối thứ Hai tuần trước, đang khi tôi thả bước dọc con đường ấy, tôi bắt gặp một chiếc xe tải trống trơn đang chạy ngược lên ngõ, và trông thấy một đống thảm cùng đồ đạc ngổn ngang trên bãi cỏ cạnh mái hiên. Rõ ràng căn nhà tranh cuối cùng cũng đã có người thuê. Tôi đi ngang qua đó và tự hỏi những con người vừa chuyển đến sống gần chúng tôi như vậy thuộc dạng người nào. Rồi trong lúc đang nhìn, tôi bỗng nhận thấy có một khuôn mặt đang dõi theo tôi từ một trong những ô cửa sổ tầng trên.

"Tôi không rõ có điều gì ẩn chứa trên khuôn mặt đó, thưa ngài Holmes, nhưng nó dường như truyền một luồng khí lạnh buốt dọc sống lưng tôi. Khoảng cách khá xa khiến tôi không thể nhìn rõ từng đường nét, thế nhưng có điều gì đó phi tự nhiên và chẳng giống người trên khuôn mặt ấy. Đó là ấn tượng đầu tiên tôi có, và tôi vội rảo bước tới để nhìn cho rõ hơn kẻ đang dõi theo mình. Nhưng vừa lúc tôi bước tới, khuôn mặt ấy đột nhiên biến mất, đột ngột đến mức như thể nó vừa bị giật mạnh vào bóng tối của căn phòng. Tôi đứng đó chừng năm phút để suy ngẫm về sự việc và cố gắng phân tích những ấn tượng trong lòng mình. Tôi không tài nào đoán định được đó là mặt đàn ông hay đàn bà. Khoảng cách quá lớn để phân biệt được. Nhưng màu sắc của nó mới chính là điều khiến tôi kinh hãi nhất. Nó trắng bệch như vôi, với một vẻ cứng đờ, lạnh lẽo, vô hồn đến mức kinh người. Lòng tôi xáo động dữ dội đến nỗi tôi quyết định phải tìm hiểu thêm về những kẻ mới chuyển đến căn nhà tranh này. Tôi tiến lại gần và gõ cửa. Cánh cửa lập tức hé mở, để lộ một người đàn bà cao lớn, gầy guộc với khuôn mặt thô kệch và vẻ cấm cảu khó chịu.

"'Ông muốn gì?' bà ta hỏi, bằng chất giọng phương Bắc cục cằn.

"'Tôi là hàng xóm của bà ở phía đằng kia,' tôi đáp, hất đầu về hướng nhà mình. 'Tôi thấy bà vừa mới dọn đến, nên tôi nghĩ nếu tôi có thể giúp được gì cho bà trong bất kỳ -'

"'Phải rồi, chúng tôi sẽ gọi ông khi nào chúng tôi cần đến,' bà ta ngắt lời, rồi đóng sầm cửa ngay trước mũi tôi. Bực tức vì sự cự tuyệt thô lỗ ấy, tôi quay gót trở về nhà. Suốt cả buổi tối hôm đó, dù cố gắng nghĩ sang những chuyện khác, tâm trí tôi vẫn không ngừng quay trở lại với hình bóng mờ ảo nơi khung cửa sổ và thái độ thô lỗ của người đàn bà kia. Tôi quyết định không hé răng nói gì với vợ mình về chuyện khuôn mặt, bởi cô ấy vốn là người phụ nữ nhạy cảm, dễ xúc động, và tôi không hề muốn cô ấy phải chia sẻ cái ấn tượng ghê rợn đã bám riết lấy tôi. Tuy nhiên, trước khi chìm vào giấc ngủ, tôi có nhắc với cô ấy rằng căn nhà tranh giờ đây đã có người ở. Cô ấy chẳng đáp lại lời nào.

"Tôi vốn là người ngủ cực kỳ say. Trong nhà vẫn luôn có câu nói đùa rằng chẳng thứ gì có thể đánh thức tôi dậy vào ban đêm. Vậy mà không hiểu sao, trong cái đêm đặc biệt ấy, phải chăng vì chút phấn khích nhẹ từ chuyến phiêu lưu nho nhỏ vừa trải qua, tôi thực sự không biết nữa, nhưng tôi ngủ chập chờn hơn hẳn mọi khi. Đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tôi lờ mờ cảm nhận được có điều gì đó đang diễn ra trong phòng, và dần dà nhận ra vợ tôi đã mặc xong xiêm y và đang choàng thêm chiếc áo khoác cùng đội chiếc mũ rơm lên đầu. Đôi môi tôi hé mở để thốt ra vài lời ngái ngủ bày tỏ sự ngạc nhiên hoặc trách móc về sự chuẩn bị chẳng đúng lúc chút nào này, thì đột nhiên đôi mắt lim dim của tôi bắt gặp khuôn mặt cô ấy dưới ánh nến leo lét. Nỗi kinh ngạc khiến tôi chết lặng. Cô ấy mang một vẻ mặt mà tôi chưa từng thấy bao giờ - một vẻ mặt mà tôi cứ tưởng cô ấy không bao giờ có thể bộc lộ ra. Cô ấy tái nhợt như xác chết, hơi thở gấp gáp, và len lén liếc những cái nhìn đầy cảnh giác về phía giường ngủ khi đang cài khuy áo choàng, để xem có làm tôi thức giấc hay không. Rồi, ngỡ rằng tôi vẫn còn đang say ngủ, cô ấy lặng lẽ lẻn ra khỏi phòng không gây lấy một tiếng động. Một khoảnh khắc sau, tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt chói tai mà tôi biết chỉ có thể phát ra từ bản lề của cánh cửa chính trước nhà. Tôi ngồi bật dậy trên giường và gõ khớp ngón tay vào thành giường để chắc chắn rằng mình thực sự đã tỉnh. Rồi tôi với lấy chiếc đồng hồ dưới gối. Lúc đó là ba giờ sáng. Vợ tôi đang làm cái quái quỷ gì ngoài con đường quê vào lúc ba giờ sáng thế này?

"Tôi đã ngồi đó khoảng hai mươi phút, lật đi lật lại sự việc trong đầu và cố tìm ra một lời giải thích khả dĩ. Càng nghĩ, sự việc càng trở nên kỳ lạ và khó hiểu hơn. Tôi vẫn còn đang bối rối về điều đó thì nghe thấy tiếng cửa lại khe khẽ đóng, và tiếng bước chân cô ấy đi lên cầu thang.

"'Em đã đi đâu trên cõi đời này vậy, Effie?' tôi cất lời hỏi ngay khi cô ấy bước vào.

"Cô ấy giật bắn mình và thốt lên một tiếng kêu hổn hển khi tôi cất tiếng. Tiếng kêu ấy, cùng với cái giật mình ấy, khiến tôi phiền muộn hơn tất thảy mọi thứ, bởi trong đó ẩn chứa một nỗi tội lỗi không sao diễn tả nổi. Vợ tôi vốn là một người phụ nữ thẳng thắn và cởi mở, và tim tôi thắt lại khi chứng kiến cảnh cô ấy lén lút mò về chính gian phòng của mình, rồi kêu thét lên và run rẩy sợ hãi khi chính chồng mình cất tiếng hỏi han.

"'Anh thức rồi kia à, anh Jack!' cô ấy kêu lên, kèm theo một tiếng cười gượng gạo đầy lo âu. 'Lạ thật, em cứ tưởng chẳng điều gì có thể làm anh tỉnh giấc cơ mà.'

"'Em đã đi đâu?' tôi hỏi, bằng một giọng nghiêm khắc hơn.

"'Em không ngạc nhiên chút nào khi thấy anh sửng sốt như vậy,' cô ấy đáp, và tôi có thể thấy rõ những ngón tay cô ấy đang run lên khi tháo khuy áo choàng. 'Ừ thì, em chẳng nhớ mình đã từng làm một việc như thế này trong đời bao giờ cả. Sự thực là em cảm thấy như nghẹt thở, và có một niềm khao khát mãnh liệt được hít thở chút không khí trong lành. Em thực lòng nghĩ mình sẽ ngất xỉu mất nếu không ra ngoài. Em chỉ đứng ngoài cửa vài phút thôi, và giờ thì em đã hoàn toàn bình thường trở lại rồi.'

"Suốt quãng thời gian kể cho tôi nghe câu chuyện ấy, cô ấy không một lần nào nhìn thẳng vào mắt tôi, và giọng nói thì hoàn toàn khác hẳn với âm sắc thường ngày. Đối với tôi, rành rành trước mắt là cô ấy đang nói dối. Tôi chẳng buồn đáp lại lời nào, chỉ lặng lẽ quay mặt vào tường, lòng đau như cắt, đầu óc ngập tràn hàng ngàn mối nghi ngờ và ngờ vực hiểm độc. Vợ tôi đang giấu giếm tôi điều gì? Cô ấy đã đi đâu trong suốt chuyến đi kỳ quặc ấy? Tôi biết mình sẽ không thể có được một giây phút bình yên cho đến khi tìm ra câu trả lời, nhưng tôi lại không dám hỏi cô ấy thêm lần nào nữa sau khi cô ấy đã nói dối tôi một lần. Suốt phần còn lại của đêm hôm ấy, tôi trằn trọc và lăn qua lộn lại, dệt nên hết giả thuyết này đến giả thuyết khác, cái sau lại càng hoang đường hơn cái trước.

"Đáng lẽ hôm sau tôi phải đến Khu Trung tâm Thương mại7, nhưng tâm trí tôi rối bời đến mức chẳng thể tập trung vào công việc làm ăn được nữa. Vợ tôi dường như cũng khổ sở chẳng kém gì tôi. Tôi có thể đọc được từ những cái liếc mắt dò hỏi vụn vặt mà cô ấy liên tục hướng về phía tôi rằng cô ấy biết tôi không hề tin lời cô ấy, và rằng cô ấy cũng đang không biết phải xoay xở ra sao. Chúng tôi hầu như không trao đổi với nhau lời nào trong suốt bữa điểm tâm, và ngay sau đó tôi ra ngoài đi dạo, để có thể suy xét vấn đề trong bầu không khí trong lành của buổi sáng.

"Tôi đã lang thang tới tận Cung điện Thủy Tinh8, dành trọn một giờ đồng hồ trong khuôn viên ở đó, rồi quay lại Norbury vào lúc một giờ trưa. Tình cờ, con đường về nhà lại dẫn tôi đi ngang qua căn nhà tranh. Tôi dừng chân một lát để nhìn vào các ô cửa sổ, xem thử mình có thể bắt gặp lại khuôn mặt kỳ dị đã từng nhìn ra ngoài vào ngày hôm trước hay không. Và khi tôi đang đứng đó, ngài hãy tưởng tượng nỗi sửng sốt của tôi, thưa ngài Holmes, khi cánh cửa bất thần bật mở và chính vợ tôi bước ra.

"Tôi chết lặng đi vì kinh ngạc khi trông thấy cô ấy. Nhưng những cảm xúc của tôi chẳng thấm vào đâu so với những gì hiển hiện trên gương mặt cô ấy khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Dường như trong một khoảnh khắc, cô ấy định lùi bước trở vào trong nhà; nhưng rồi, nhận ra mọi sự che giấu đều đã vô ích, cô ấy bước tới phía tôi, với khuôn mặt trắng bệch và đôi mắt hoảng hốt đối lập hoàn toàn với nụ cười gượng gạo trên môi.

"'Ồ, anh Jack,' cô ấy cất lời, 'em vừa ghé vào xem thử mình có thể giúp gì được cho những người hàng xóm mới của chúng ta không. Sao anh lại nhìn em như thế, anh Jack? Anh không giận em đấy chứ?'

"'Vậy ra,' tôi nói, 'đây chính là nơi em đã tới vào cái đêm hôm ấy.'

"'Ý anh là sao?' cô ấy kêu lên.

"'Em đã đến chính nơi này. Anh chắc chắn về điều đó. Những con người này là ai mà em phải đến thăm họ vào cái giờ giấc tồi tệ ấy?'

"'Em chưa từng đặt chân đến đây trước đây bao giờ cả.'

"'Làm sao em có thể nói với anh điều mà em biết rõ là dối trá chứ?' tôi gào lên. 'Chính giọng nói của em cũng đã đổi khác khi em cất lời rồi. Đã bao giờ anh giấu giếm em điều gì chưa? Anh sẽ bước vào căn nhà tranh đó, và anh sẽ điều tra chuyện này cho đến tận ngọn nguồn.'

"'Không, không, anh Jack, vì Chúa!' cô ấy hổn hển, trong một cảm xúc tuôn trào không thể kìm nén. Rồi, khi tôi sấn tới phía cánh cửa, cô ấy vội túm lấy tay áo tôi và ghì tôi lại bằng một sức mạnh co giật đến tuyệt vọng.

"'Em van anh đừng làm điều đó, anh Jack,' cô ấy nức nở. 'Em xin thề rằng một ngày nào đó em sẽ kể cho anh nghe tất cả mọi chuyện, nhưng sẽ chẳng có điều gì ngoài đau khổ xảy đến nếu anh bước vào căn nhà tranh đó cả.' Rồi, khi tôi cố gắng gỡ tay cô ấy ra, cô ấy đã ghì chặt lấy tôi trong cơn van xin điên cuồng.

"'Hãy tin em, anh Jack!' cô ấy gào lên. 'Hãy tin em chỉ lần này thôi mà. Anh sẽ không bao giờ có lý do gì để phải hối hận về điều đó đâu. Anh thừa biết rằng em sẽ không bao giờ có bí mật gì với anh nếu điều đó không phải là vì lợi ích của chính anh. Cả cuộc đời chúng ta đang đặt cược vào chuyện này đấy. Nếu anh chịu về nhà cùng em, mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa cả thôi. Còn nếu anh cứ cưỡng ép phải vào căn nhà tranh đó, tất cả những gì giữa chúng ta sẽ chấm dứt tại đây.'

"Có một sự tha thiết, một niềm tuyệt vọng cháy bỏng trong thái độ của cô ấy, đến nỗi những lời cô ấy thốt ra đã ghìm chân tôi đứng sững trước ngưỡng cửa.

"'Anh sẽ tin em với một điều kiện, và chỉ một điều kiện duy nhất mà thôi,' cuối cùng tôi cất lời. 'Đó là sự bí ẩn này phải chấm dứt ngay từ bây giờ. Em được tự do giữ lấy bí mật của mình, nhưng em phải hứa với anh rằng sẽ không có thêm bất kỳ chuyến viếng thăm lúc nửa đêm nào nữa, không còn bất cứ hành động nào bị giấu kín khỏi sự hiểu biết của anh nữa. Anh sẵn lòng quên đi những gì đã qua nếu em hứa rằng sẽ không có thêm chuyện tương tự trong tương lai.'

"'Em biết chắc rằng anh sẽ tin em mà,' cô ấy khóc òa, kèm theo một tiếng thở phào nhẹ nhõm. 'Mọi chuyện rồi sẽ đúng như ý anh muốn. Đi thôi - ồ, mình về nhà thôi anh.'

"Vẫn ghì chặt lấy tay áo tôi, cô ấy dẫn tôi rời xa khỏi căn nhà tranh. Khi chúng tôi quay bước, tôi ngoái đầu nhìn lại, và khuôn mặt vàng bệch ấy lại một lần nữa dõi theo chúng tôi từ khung cửa sổ tầng trên. Có mối liên hệ gì giữa sinh vật kia và vợ tôi chăng? Hay làm thế nào mà người đàn bà cộc cằn, thô lỗ mà tôi đã giáp mặt hôm trước lại có thể dính líu đến cô ấy? Đó là một câu đố kỳ quái, và tôi biết rằng tâm trí mình sẽ không bao giờ có thể thanh thản trở lại cho đến khi tôi giải được nó.

"Trong hai ngày sau đó, tôi ở lì trong nhà, và vợ tôi dường như đã tuân thủ lời cam kết một cách trung thành, vì theo như tôi biết, cô ấy chưa một lần bước chân ra khỏi cửa. Thế nhưng, đến ngày thứ ba, tôi đã có được bằng chứng rành rành rằng lời hứa trang trọng của cô ấy không đủ sức để giữ chân cô ấy lại trước ảnh hưởng bí ẩn đang lôi kéo cô ấy xa rời khỏi chồng và bổn phận của mình.

"Hôm đó tôi có việc vào thị trấn, nhưng tôi trở về bằng chuyến tàu lúc hai giờ bốn mươi thay vì chuyến ba giờ ba mươi sáu như thường lệ. Vừa bước chân vào nhà, tôi đã thấy cô hầu gái chạy ùa ra hành lang với gương mặt đầy hốt hoảng.

"'Bà chủ của cô đâu rồi?' tôi hỏi.

"'Tôi nghĩ bà ấy đã ra ngoài đi dạo ạ,' cô ta đáp.

"Tâm trí tôi lập tức tràn ngập mối nghi ngờ. Tôi lao vội lên lầu để chắc chắn rằng cô ấy không hề ở trong nhà. Đang lúc làm vậy, tôi tình cờ liếc mắt qua một trong những khung cửa sổ tầng trên, và bắt gặp cô hầu gái mà tôi vừa nói chuyện lúc nãy đang chạy băng qua cánh đồng, hướng về phía căn nhà tranh. Đến lúc ấy thì dĩ nhiên tôi đã hiểu chính xác ý nghĩa của tất cả những chuyện này rồi. Vợ tôi đã đến đó, và dặn cô hầu gái chạy đi báo nếu tôi trở về. Sôi sục trong cơn thịnh nộ, tôi lao xuống cầu thang và hấp tấp băng qua cánh đồng, quyết tâm chấm dứt chuyện này một lần và mãi mãi. Tôi thoáng thấy vợ tôi và cô hầu gái đang hối hả quay trở lại dọc theo con ngõ, nhưng tôi chẳng buồn dừng lại để nói chuyện với họ. Trong căn nhà tranh kia ẩn chứa bí mật đang phủ bóng đen lên toàn bộ cuộc đời tôi. Tôi thề với lòng mình rằng, dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, nó sẽ không còn là một bí mật nữa. Tôi thậm chí chẳng thèm gõ cửa khi đến nơi, mà vặn mạnh tay nắm rồi lao thẳng vào hành lang.

"Tầng trệt chìm trong tĩnh lặng. Trong gian bếp, một chiếc ấm đun nước đang réo lên khe khẽ trên bếp lửa, và một con mèo mun to tướng nằm cuộn tròn trong giỏ; nhưng chẳng thấy bóng dáng của người đàn bà mà tôi đã chạm mặt hôm trước đâu cả. Tôi lao sang căn phòng kế bên, nhưng nó cũng trống không. Rồi tôi chạy vội lên cầu thang, chỉ để thấy hai gian phòng khác trên tầng gác cũng trống rỗng và vắng lặng như nhau. Chẳng có một bóng người trong toàn bộ ngôi nhà. Đồ đạc và tranh ảnh đều thuộc hạng tầm thường và dung tục nhất, ngoại trừ căn phòng có ô cửa sổ nơi tôi đã nhìn thấy khuôn mặt quái dị kia. Căn phòng ấy bài trí thật thoải mái và thanh nhã. Và mọi sự nghi ngờ trong lòng tôi bùng lên thành một ngọn lửa giận dữ đắng cay khi tôi nhìn thấy trên bệ lò sưởi đặt một tấm ảnh chân dung toàn thân của chính vợ mình - bức ảnh mới được tôi cho chụp theo đúng yêu cầu của tôi cách đây vỏn vẹn ba tháng.

"Tôi nán lại vừa đủ lâu để chắc chắn rằng ngôi nhà hoàn toàn không một bóng người. Rồi tôi rời đi, lòng đeo nặng một gánh nặng chưa từng trải qua trong đời. Vợ tôi bước ra hành lang đón tôi khi tôi về đến nhà; nhưng tôi quá tổn thương và giận dữ để có thể nói chuyện với cô ấy. Tôi gạt cô ấy sang một bên, đi thẳng vào thư phòng của mình. Thế nhưng, cô ấy đã vội theo tôi vào trước khi tôi kịp khép cửa lại.

"'Em xin lỗi vì đã không giữ lời, anh Jack,' cô ấy thỏ thẻ; 'nhưng nếu anh biết hết mọi hoàn cảnh, em tin chắc anh sẽ tha thứ cho em.'

"'Vậy thì kể cho anh nghe hết mọi chuyện đi,' tôi đáp.

"'Em không thể, anh Jack, em không thể làm vậy,' cô ấy nức nở.

"'Cho đến khi em cho anh biết ai là kẻ đã ở trong căn nhà tranh đó, và em đã trao bức ảnh kia cho ai, sẽ chẳng bao giờ còn sự tin tưởng nào giữa hai chúng ta nữa,' tôi nói. Rồi tôi dứt mình khỏi cô ấy, bước thẳng ra khỏi nhà. Đó là chuyện xảy ra hôm qua, thưa ngài Holmes, và từ đó đến nay tôi chưa gặp lại cô ấy, cũng chẳng biết thêm được điều gì về vụ việc kỳ lạ này. Đó là bóng đen đầu tiên xen vào giữa hai vợ chồng tôi, và nó đã giáng cho tôi một cú sốc mạnh đến mức tôi chẳng còn biết phải làm gì cho phải lẽ nữa. Rồi sáng nay, tôi sực nảy ra ý nghĩ rằng ngài chính là người có thể cho tôi một lời khuyên. Thế là tôi đã vội vã đến đây ngay tức khắc, và tôi xin hoàn toàn phó thác bản thân mình vào tay ngài. Nếu có điểm nào tôi còn chưa làm rõ, xin ngài cứ hỏi tôi. Nhưng trên hết, xin ngài hãy nói cho tôi biết tôi phải làm gì đây, vì nỗi thống khổ này đã vượt quá sức chịu đựng của một con người rồi."

Holmes và tôi đã dồn hết tâm trí lắng nghe câu chuyện lạ lùng ấy, một câu chuyện được kể lại theo lối ngắt quãng, đứt đoạn của một con người đang bị những cung bậc cảm xúc tột cùng giày vò. Người bạn tôi ngồi im lặng rất lâu, cằm tì lên tay, đắm chìm trong suy tư.

"Hãy nói cho tôi biết," cuối cùng anh cất tiếng, "anh có dám thề rằng thứ mình nhìn thấy ở cửa sổ chính là khuôn mặt của một con người không?"

"Mỗi lần trông thấy, tôi đều đứng ở một khoảng cách khá xa, nên tôi không dám khẳng định chắc chắn."

"Dẫu vậy, anh có vẻ như đã bị nó ám ảnh một cách khó chịu."

"Khuôn mặt ấy dường như mang một sắc màu không hề tự nhiên, và toát lên vẻ cứng đờ kỳ quặc trên từng đường nét. Mỗi khi tôi bước lại gần, nó liền vụt biến mất."

"Đã bao lâu rồi kể từ khi vợ anh ngỏ lời xin anh một trăm bảng?"

"Gần hai tháng."

"Anh đã bao giờ nhìn thấy tấm ảnh của người chồng đầu tiên của cô ấy chưa?"

"Chưa; có một trận hỏa hoạn lớn xảy ra ở Atlanta ngay sau khi ông ấy qua đời, và tất cả giấy tờ của cô ấy đều đã bị thiêu rụi."

"Nhưng cô ấy vẫn giữ giấy chứng tử. Chính anh đã nói rằng anh từng nhìn thấy nó."

"Vâng; cô ấy đã xin cấp lại một bản sao sau vụ hỏa hoạn."

"Anh đã từng gặp ai quen biết cô ấy ở Mỹ chưa?"

"Chưa."

"Cô ấy có bao giờ nhắc đến chuyện quay trở lại thăm nơi ấy không?"

"Không."

"Hay nhận được thư từ bên đó?"

"Không."

"Cảm ơn anh. Giờ tôi muốn nghiền ngẫm thêm một chút về vấn đề này. Nếu căn nhà tranh hiện giờ đã bị bỏ trống vĩnh viễn, chúng ta có lẽ sẽ gặp đôi chút khó khăn. Ngược lại, nếu như tôi đoán trúng - và tôi cho rằng khả năng này cao hơn - những kẻ ở đó đã được báo trước về chuyến viếng thăm của anh, và bọn chúng đã rời đi ngay trước khi anh bước vào hôm qua, thì rất có thể giờ này chúng đã quay trở lại rồi, và chúng ta sẽ sớm làm sáng tỏ mọi chuyện một cách dễ dàng. Thế nên, tôi khuyên anh hãy trở về Norbury, và một lần nữa quan sát những ô cửa sổ của căn nhà tranh kia. Nếu anh có lý do để tin rằng bên trong đang có người, thì đừng có xông vào một cách đột ngột, mà hãy đánh điện báo cho tôi và bạn tôi đây. Chúng tôi sẽ có mặt cùng anh trong vòng một giờ đồng hồ kể từ khi nhận được tin, và rồi chúng ta sẽ nhanh chóng truy ra tận ngọn ngành sự việc."

"Còn nếu căn nhà vẫn bỏ trống?"

"Trong trường hợp đó, tôi sẽ tự mình đến gặp anh vào ngày mai và chúng ta sẽ bàn bạc tiếp. Tạm biệt anh; và trên hết, đừng tự dày vò bản thân cho đến khi anh thực sự biết rằng mình có lý do chính đáng để làm điều đó."

"Tôi e rằng đây là một vụ việc hết sức tồi tệ, Watson ạ," bạn tôi nói, khi anh quay trở lại phòng sau lúc tiễn anh Grant Munro ra cửa. "Anh nghĩ sao về chuyện này?"

"Nghe có vẻ đầy xấu xa," tôi đáp lời.

"Đúng thế. Có chuyện tống tiền ở đây, hoặc là tôi đã hoàn toàn sai lầm."

"Và kẻ tống tiền là ai?"

"Chà, hẳn đó phải là cái sinh vật sống trong căn phòng tiện nghi duy nhất ở nơi ấy, kẻ có bức ảnh của cô ấy treo phía trên lò sưởi. Có Chúa mới biết, Watson ạ, có một điều gì đó hết sức cuốn hút ở cái khuôn mặt vàng bệch nơi khung cửa sổ kia, và tôi sẽ không bỏ lỡ vụ này vì bất cứ thứ gì trên đời."

"Anh đã có giả thuyết rồi ư?"

"Có, một giả thuyết tạm thời. Nhưng tôi sẽ hết sức ngạc nhiên nếu nó không được chứng minh là đúng. Người chồng đầu tiên của người phụ nữ này đang ở trong căn nhà tranh đó."

"Tại sao anh lại nghĩ như vậy?"

"Bằng cách nào khác chúng ta có thể giải thích được nỗi lo âu tột độ của cô ấy mỗi khi người chồng thứ hai định bước vào nơi đó? Theo những gì tôi phỏng đoán, sự thật có lẽ diễn ra như thế này: Người phụ nữ này đã kết hôn ở Mỹ. Người chồng của cô ta dần bộc lộ ra một số phẩm chất đáng ghê tởm; nói cách khác, anh ta đã mắc phải một căn bệnh kinh khủng nào đó, và trở thành một kẻ hủi hoặc một kẻ mất trí. Cuối cùng, cô ta trốn chạy khỏi anh ta, quay trở về nước Anh, đổi tên, và bắt đầu lại cuộc đời với niềm tin rằng tất cả đã được làm mới. Cô ta đã kết hôn được ba năm, và cứ ngỡ rằng vị trí của mình khá vững vàng - bởi cô ta đã cho chồng xem giấy chứng tử của một người đàn ông nào đó mà cô ta đã mượn tên - thì đột nhiên, tung tích của cô ta bị người chồng đầu tiên phát hiện; hoặc, ta có thể giả định, bị phát hiện bởi một mụ đàn bà vô liêm sỉ nào đó đang bám theo gã đàn ông bệnh tật kia. Chúng viết thư cho người vợ, đe dọa sẽ lật tẩy cô ta. Cô ta xin một trăm bảng, và cố gắng mua chuộc chúng. Mặc cho điều đó, chúng vẫn lần mò tới đây, và khi người chồng vô tình nhắc với vợ rằng có người mới dọn đến căn nhà tranh, cô ta bằng một cách nào đó liền hiểu rằng đó chính là những kẻ đang săn đuổi mình. Cô ta đợi cho đến khi chồng ngủ say, rồi vội vã xuống đó để cố gắng thuyết phục chúng để cô ta được yên thân. Không thành công, sáng hôm sau cô ta lại quay trở lại, và người chồng đã chạm mặt cô ta đúng lúc cô ta bước ra, như lời anh ta đã thuật lại. Sau đó, cô ta hứa với chồng rằng sẽ không lui tới đó nữa, nhưng chỉ hai ngày sau, niềm khao khát được thoát khỏi những kẻ hàng xóm đáng sợ ấy lại trỗi dậy quá mãnh liệt, và cô ta đã thực hiện thêm một nỗ lực nữa, lần này còn mang theo tấm ảnh mà có lẽ chúng đã đòi hỏi. Ngay giữa lúc cuộc gặp gỡ ấy đang diễn ra, thì cô hầu gái hớt hải chạy vào báo tin rằng ông chủ đã trở về nhà; người vợ biết rằng chồng mình sẽ đi thẳng xuống căn nhà tranh, liền giục những kẻ bên trong tẩu thoát qua cửa sau, chạy vào lùm cây linh sam - có lẽ là vậy, vì nơi ấy đã được nhắc đến là nằm ngay gần đó. Nhờ thế mà anh ta thấy căn nhà trống rỗng. Dù sao đi nữa, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu tối nay, khi anh ta quay lại dò xét, nơi đó vẫn còn trống không như vậy. Anh nghĩ sao về giả thuyết của tôi?"

"Đó cũng chỉ là phỏng đoán thôi."

"Nhưng ít nhất nó cũng bao quát được toàn bộ các sự kiện. Khi nào có những tình tiết mới trồi lên mà giả thuyết này không thể giải thích được, thì lúc đó ta sẽ xem xét lại cũng chưa muộn. Hiện giờ chúng ta chẳng thể làm gì hơn ngoài việc chờ đợi tin nhắn từ người bạn của chúng ta ở Norbury."

Nhưng chúng tôi không phải chờ đợi lâu. Bức điện đến ngay khi chúng tôi vừa dùng xong bữa trà. "Căn nhà tranh lại có người ở," dòng tin nhắn viết. "Đã lại thấy khuôn mặt nơi khung cửa sổ. Tôi sẽ đón chuyến tàu lúc bảy giờ, và sẽ không làm gì cho đến khi các ngài tới."

Anh ta đã đứng sẵn trên sân ga khi chúng tôi bước xuống. Dưới ánh đèn ga vàng vọt, tôi có thể thấy gương mặt anh ta trắng bệch và run lên vì kích động.

"Họ vẫn ở đó, ngài Holmes," anh ta nói, bàn tay siết chặt lấy tay áo bạn tôi. "Tôi đã thấy ánh đèn trong căn nhà tranh lúc trên đường xuống đây. Chúng ta sẽ giải quyết chuyện này một lần và mãi mãi."

"Vậy kế hoạch của anh là gì?" Holmes hỏi khi chúng tôi bước xuống con đường làng tối om, rợp bóng cây.

"Tôi định xông thẳng vào và tự mình xem ai đang ở trong đó. Tôi muốn hai ngài có mặt với tư cách là nhân chứng."

"Anh hoàn toàn quyết tâm làm điều này sao, bất chấp lời cảnh báo của vợ anh rằng tốt hơn hết là anh đừng nên khơi lại bí ẩn này?"

"Vâng, tôi đã quyết tâm."

"Chà, tôi nghĩ anh đang làm đúng đấy. Bất kỳ sự thật nào cũng tốt hơn là nỗi ngờ vực triền miên. Tốt hơn là chúng ta nên đến đó ngay lập tức. Dĩ nhiên, về mặt pháp lý, chúng ta đang tự đặt mình vào thế hoàn toàn sai trái; nhưng tôi nghĩ điều đó cũng đáng."

Đó là một đêm tối đen như mực, và một cơn mưa phùn bắt đầu lất phất rơi khi chúng tôi rẽ từ con đường lớn vào một con ngõ hẹp, lầy lội những vết lún sâu, hai bên là những hàng rào giăng kín. Dẫu vậy, anh Grant Munro vẫn hối hả lao lên phía trước, lòng đầy sốt ruột, và chúng tôi lảo đảo bám theo anh ta hết sức có thể.

"Kia là ánh đèn nhà tôi," anh ta thì thầm, chỉ tay về một tia sáng lờ mờ len lỏi giữa những tán cây. "Và đây chính là căn nhà tranh mà tôi định xông vào."

Chúng tôi rẽ qua một góc ngõ ngay khi anh ta vừa dứt lời, và tòa nhà nằm sát ngay bên cạnh chúng tôi. Một vệt sáng vàng hắt xuống nền đất đen kịt phía trước cho thấy cánh cửa chưa được đóng hẳn. Một khung cửa sổ trên tầng gác thì sáng rực ánh đèn. Khi chúng tôi còn đang quan sát, một bóng đen mờ ảo lướt ngang qua tấm rèm.

"Sinh vật đó kia rồi!" Grant Munro kêu lên. "Các ngài có thể tự mình thấy rằng có ai đó ở trong ấy. Bây giờ hãy theo tôi, và chúng ta sẽ sớm biết tất cả."

Chúng tôi tiến đến cửa; nhưng đột nhiên một người phụ nữ từ trong bóng tối bước ra và đứng chắn ngay giữa vệt sáng vàng của ngọn đèn. Tôi không thể nhìn rõ mặt cô ấy trong bóng đêm, nhưng đôi cánh tay cô ấy dang rộng trong tư thế van nài.

"Vì Chúa, đừng làm thế, anh Jack!" cô ấy khóc nấc lên. "Em đã có linh cảm rằng tối nay anh sẽ đến. Hãy suy nghĩ lại đi, anh yêu! Hãy tin em một lần nữa, và anh sẽ không bao giờ có lý do gì để phải hối hận."

"Anh đã tin em quá lâu rồi, Effie ạ," anh ta kêu lên, giọng nghiêm nghị. "Tránh ra! Anh phải đi qua. Bạn anh và anh sẽ giải quyết chuyện này một lần và mãi mãi!" Anh ta đẩy cô sang một bên, và chúng tôi bám sát phía sau. Khi anh ta đẩy bật cánh cửa, một bà lão chạy ra chắn trước mặt, cố cản đường anh ta lại, nhưng anh ta đã đẩy bà ta lùi về phía sau, và chỉ trong khoảnh khắc, tất cả chúng tôi đã ở trên cầu thang. Grant Munro lao thẳng vào căn phòng sáng đèn trên tầng cao nhất, và chúng tôi nối gót theo sau.

Đó là một căn phòng ấm cúng, được bài trí trang nhã, với hai ngọn nến đang cháy trên bàn và hai ngọn nữa đặt trên bệ lò sưởi. Trong góc phòng, cúi gập mình trên chiếc bàn làm việc, là bóng dáng của một cô bé. Khuôn mặt cô bé quay đi khi chúng tôi bước vào, nhưng chúng tôi có thể thấy cô bé mặc một chiếc váy đỏ và đeo đôi găng tay dài màu trắng. Khi cô bé quay ngoắt lại về phía chúng tôi, tôi buột miệng thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc xen lẫn sợ hãi. Khuôn mặt cô bé hướng về phía chúng tôi mang một màu chì kỳ quái nhất, và mọi đường nét đều hoàn toàn vô cảm, không chút biểu lộ. Nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, bí ẩn đã được giải đáp. Holmes, với một tiếng cười khẽ, đưa tay ra sau tai đứa trẻ - một lớp mặt nạ bong ra, và hiện ra trước mắt chúng tôi một cô bé có làn da đen nhánh như than, với hàm răng trắng bóc lấp lánh niềm thích thú trước những gương mặt đang sững sờ kinh ngạc của chúng tôi. Tôi bật cười, đồng cảm với vẻ vui sướng hồn nhiên của cô bé; nhưng Grant Munro thì đứng chết trân, bàn tay ôm chặt lấy cổ họng mình.

"Lạy Chúa!" anh ta thốt lên. "Chuyện này là thế nào?"

"Để em nói cho anh biết ý nghĩa của nó," người phụ nữ lên tiếng, bước vào phòng với gương mặt đầy kiêu hãnh và cương nghị. "Anh đã ép em, trái với phán đoán của chính em, phải nói cho anh biết, và giờ đây cả hai chúng ta phải cố gắng mà làm quen với sự thật này. Chồng em đã mất ở Atlanta. Con em thì còn sống sót."

"Con của em sao?"

Cô ấy rút ra từ trước ngực một mặt dây chuyền bằng bạc9 lớn. "Anh chưa từng thấy nó được mở ra bao giờ."

"Anh cứ nghĩ là nó không mở được."

Cô ấy chạm vào một chiếc lò xo, và mặt trước bật mở ra. Bên trong là bức chân dung của một người đàn ông vô cùng điển trai và có vẻ thông minh, nhưng mang trên khuôn mặt những dấu ấn không thể nhầm lẫn về nguồn gốc châu Phi.

"Đây là John Hebron, ở Atlanta," người phụ nữ nói, "và chưa từng có người đàn ông nào cao quý hơn từng bước đi trên cõi đời này. Em đã tự cắt đứt mối liên hệ với chủng tộc của mình để lấy anh ấy, nhưng chưa một lần nào khi anh ấy còn sống mà em hối hận về điều đó, dù chỉ một khoảnh khắc. Thật không may, đứa con duy nhất của chúng em lại giống bên gia đình anh ấy hơn là giống em. Những cuộc hôn nhân như vậy thường là thế, và bé Lucy còn đen hơn cả cha nó nữa. Nhưng dù đen hay trắng, con bé vẫn là cô con gái bé nhỏ yêu dấu của em, là cục cưng của mẹ nó." Sinh linh bé nhỏ chạy ùa đến khi nghe những lời ấy và nép mình vào váy người phụ nữ. "Khi em để con bé lại Mỹ," cô ấy nói tiếp, "chỉ là vì sức khỏe của con bé quá yếu, và sự thay đổi khí hậu có thể gây hại cho nó. Con bé được giao cho một người phụ nữ Scotland trung thành, từng là người hầu của chúng em, chăm sóc. Chưa một khoảnh khắc nào em mơ tưởng đến chuyện chối bỏ nó là con của mình. Nhưng khi cơ duyên đưa đẩy anh bước vào đời em, anh Jack, và em học cách yêu anh, em đã sợ hãi phải kể cho anh nghe về đứa con của mình. Xin Chúa thứ tội cho em, em sợ rằng mình sẽ mất anh, và em không có đủ can đảm để nói ra. Em đã phải chọn lựa giữa hai người, và trong cơn yếu đuối của mình, em đã quay lưng lại với chính đứa con gái bé bỏng. Suốt ba năm qua, em đã giấu kín sự tồn tại của con bé với anh, nhưng em vẫn nghe ngóng tin tức từ người vú nuôi, và em biết rằng mọi thứ với con bé đều ổn. Thế rồi cuối cùng, một niềm khao khát mãnh liệt được gặp lại đứa con lại trỗi dậy trong em. Em đã đấu tranh chống lại nó, nhưng vô ích. Dù biết rõ hiểm nguy, em vẫn quyết tâm đón con bé sang, dù chỉ là vài tuần thôi. Em đã gửi một trăm bảng cho người vú nuôi, và chỉ dẫn bà ấy về căn nhà tranh này, để bà ấy có thể đến đây như một người hàng xóm, không hề có vẻ gì là có liên hệ với em. Em đã cẩn thận đến mức yêu cầu bà ấy giữ đứa trẻ trong nhà vào ban ngày, và che kín khuôn mặt cùng đôi bàn tay bé nhỏ của con bé, để ngay cả những người có thể nhìn qua cửa sổ cũng không phát hiện ra điều gì khác lạ.

"Chính anh là người đầu tiên nói với em rằng căn nhà tranh đã có người ở. Đáng lẽ em nên chờ đến sáng, nhưng em không thể ngủ được vì quá đỗi xúc động, thế nên cuối cùng em đã lẻn ra ngoài, vì em biết anh khó thức giấc đến nhường nào. Nhưng anh đã thấy em đi, và đó chính là khởi đầu cho mọi rắc rối của em. Ngày hôm sau, bí mật của em đã nằm trong tay anh, nhưng anh đã cao thượng kiềm chế, không lợi dụng lợi thế của mình. Vậy mà chỉ ba ngày sau, người vú nuôi và đứa trẻ vừa kịp trốn thoát bằng cửa sau thì anh đã lao vào từ cửa trước. Và giờ đây, tối nay, cuối cùng anh đã biết tất cả. Em hỏi anh, chuyện gì sẽ xảy ra với chúng em - con em và em?" Cô ấy chắp hai tay lại và chờ đợi một câu trả lời.

Phải mất mười phút dài dằng dặc trước khi Grant Munro phá vỡ sự im lặng. Và khi câu trả lời của anh cất lên, đó là một câu nói mà tôi rất đỗi vui lòng khi nhớ lại. Anh nâng đứa bé lên, hôn con bé, rồi tay vẫn bế con bé, anh đưa bàn tay kia ra cho vợ và quay về phía cửa.

"Chúng ta có thể nói chuyện này thoải mái hơn ở nhà," anh nói. "Anh không phải là một người đàn ông quá tốt đẹp gì, Effie ạ, nhưng anh nghĩ anh tốt hơn những gì em vẫn nghĩ về anh."

Holmes và tôi theo họ bước xuống con ngõ tối, và bạn tôi khẽ kéo tay áo tôi khi chúng tôi bước ra ngoài.

"Tôi nghĩ," anh nói, "chúng ta sẽ có ích hơn ở London thay vì ở Norbury."

Anh không nói thêm một lời nào về vụ án này cho đến tận đêm khuya, khi anh quay đi, với ngọn nến đang cháy trên tay, để trở về phòng ngủ của mình.

"Watson," anh nói, "nếu có bao giờ anh cảm thấy rằng tôi đang trở nên hơi quá tự mãn về khả năng của mình, hoặc dành ít nỗ lực cho một vụ án hơn mức nó xứng đáng, xin hãy thì thầm 'Norbury' vào tai tôi, và tôi sẽ vô cùng biết ơn anh."



  1. Gỗ thạch nam (briar wood) là loại gỗ lấy từ phần rễ của cây thạch nam mọc ở vùng Địa Trung Hải, có đặc tính rất cứng, chịu nhiệt tốt và không dễ cháy, thường được dùng làm tẩu thuốc lá cao cấp. 

  2. Hổ phách (amber) là nhựa cây hóa thạch qua hàng triệu năm, có màu vàng cam hoặc nâu đặc trưng. Cán tẩu làm bằng hổ phách thật vào thế kỷ 19 rất quý giá và đắt tiền. 

  3. Shilling và xu (pence) là các đơn vị tiền tệ cũ của Anh trước năm 1971 (12 xu bằng 1 shilling, 20 shilling bằng 1 bảng Anh). Mức giá này cho thấy đây là một chiếc tẩu khá đắt tiền. 

  4. Ounce (đọc là aoxơ) là một đơn vị đo khối lượng truyền thống của Anh và Mỹ. Trong hệ đo lường chuẩn, 1 ounce tương đương khoảng 28,35 gram. 

  5. Bệnh sốt vàng da (Yellow fever) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus lây truyền qua muỗi, từng gây ra nhiều trận dịch tàn khốc ở các thành phố miền Nam nước Mỹ vào thế kỷ 19 với tỷ lệ tử vong rất cao. 

  6. Middlesex từng là một hạt lịch sử ở vùng đông nam nước Anh, bao phủ phần lớn diện tích London hiện đại. Ngày nay, khu vực này phần lớn đã được sáp nhập vào vùng Đại London (Greater London). 

  7. Khu Trung tâm Thương mại (nguyên gốc thường gọi là "The City" hay "City of London") là khu vực trung tâm tài chính lịch sử của London, nơi tập trung hầu hết các ngân hàng, sàn giao dịch và trụ sở kinh doanh. 

  8. Cung điện Thủy Tinh (Crystal Palace) là một công trình kiến trúc khổng lồ bằng kính và khung sắt được xây dựng tại London cho Triển lãm Đại hội thế giới năm 1851, sau đó trở thành một địa điểm tham quan nổi tiếng. 

  9. Mặt dây chuyền (locket) thời Victoria thường được thiết kế tinh xảo như một chiếc hộp nhỏ có nắp đậy và khóa lò xo, dùng làm trang sức để cất giữ chân dung người thân hoặc lọn tóc kỷ niệm.