IV. Viên Thư Ký Hãng Chứng Khoán

Không lâu sau khi kết hôn, tôi mua lại một phòng khám ở khu Paddington. Ông lão Farquhar - người nhượng lại cơ sở cho tôi - từng gây dựng nên một phòng khám đa khoa rất đáng nể. Nhưng tuổi tác chồng chất, cộng với chứng giật cơ không khác gì bệnh St. Vitus1 mà ông mắc phải, đã khiến lượng bệnh nhân thưa thớt đi trông thấy. Công chúng vốn tin vào cái lẽ rất đời: muốn chữa lành cho người khác, trước hết bản thân thầy thuốc phải trông cho khỏe mạnh đã. Thế nên người ta thường hoài nghi năng lực của một kẻ mà chính căn bệnh của y lại nằm ngoài tầm với của thuốc thang. Bởi vậy, sức khỏe người tiền nhiệm càng suy, bệnh nhân càng vơi, cho đến khi tôi sang tay thì thu nhập hằng năm của phòng khám đã tụt từ một nghìn hai trăm bảng xuống chỉ còn vỏn vẹn hơn ba trăm. Dẫu sao, tôi vẫn đặt trọn niềm tin vào tuổi trẻ và nghị lực của chính mình, và tin chắc rằng chỉ trong dăm ba năm nữa thôi, công việc sẽ lại phất lên như thuở trước.

Suốt ba tháng kể từ ngày tiếp quản, tôi lao vào làm việc không ngơi nghỉ và hiếm khi gặp lại người bạn Sherlock Holmes. Tôi quá bận để ghé thăm phố Baker, còn anh thì cũng ít khi rời khỏi nhà, trừ những dịp phải ra ngoài điều tra. Vậy nên tôi đã vô cùng ngạc nhiên, vào một buổi sáng tháng Sáu nọ, khi đang ngồi đọc tờ British Medical Journal sau bữa điểm tâm, tôi bỗng nghe tiếng chuông ngân lên, rồi ngay sau đó là giọng nói the thé, hơi chói tai đầy quen thuộc của người bạn cũ.

“À, Watson thân mến,” anh sải bước vào phòng, “tôi mừng quá được gặp anh! Tôi mong là bà Watson đã hoàn toàn bình phục sau tất cả những xáo trộn nho nhỏ trong vụ Dấu Bộ Tứ của chúng ta.”

“Cảm ơn anh, hai vợ chồng tôi đều rất khỏe,” tôi đáp, xiết chặt tay anh đầy nồng nhiệt.

“Tôi cũng hy vọng là,” anh nói tiếp, thả mình xuống chiếc ghế bập bênh, “những bận bịu của nghề y vẫn chưa xóa sạch hết cái thú vị mà anh từng dành cho mấy bài toán suy luận nho nhỏ của đôi ta.”

“Ngược lại thì có,” tôi đáp, “mới tối qua tôi còn lôi mấy cuốn sổ ghi chép cũ ra, phân loại lại kha khá những thành quả mà chúng ta từng gặt hái được.”

“Tôi tin là anh chưa coi bộ sưu tập của mình là đã đóng lại chứ.”

“Chưa hề. Tôi chẳng mong gì hơn là được nếm thêm vài trải nghiệm như thế nữa.”

“Thí dụ như ngay hôm nay chẳng hạn?”

“Đúng thế, hôm nay, nếu anh muốn.”

“Và đi xa tới tận Birmingham?”

“Chắc chắn rồi, nếu đó là ý anh.”

“Thế còn phòng khám của anh?”

“Tôi vẫn thường khám thay cho người hàng xóm những lúc anh ấy vắng nhà. Anh ấy lúc nào cũng sẵn lòng làm thay để trả nợ tôi.”

“Ha! Còn gì tuyệt hơn,” Holmes nói, ngả người ra ghế và nheo mắt nhìn tôi dò xét. “Tôi để ý thấy dạo này anh không được khỏe lắm. Cảm lạnh mùa hè thì lúc nào cũng hơi phiền phức một chút.”

“Tuần trước tôi bị nhốt trong nhà suốt ba ngày vì một trận cảm nặng. Nhưng tôi cứ tưởng mình đã tống khứ hết mọi dấu vết của nó rồi.”

“Quả thật anh đã làm được. Trông anh cực kỳ tráng kiện.”

“Vậy thì làm sao anh biết?”

“Bạn thân mến, anh thừa biết phương pháp của tôi rồi mà.”

“Tức là anh suy luận ra?”

“Chắc chắn.”

“Và từ đâu?”

“Từ đôi dép của anh.”

Tôi cúi nhìn xuống đôi dép da mới tinh bóng lộn dưới chân mình. “Thế quái nào mà-” tôi vừa cất lời thì Holmes đã trả lời trước khi câu hỏi kịp thoát ra khỏi miệng tôi.

“Dép của anh là hàng mới,” anh nói. “Mới mua chưa đầy vài tuần. Cái lớp đế mà anh đang chĩa về phía tôi đây đã hơi bị xém một chút. Thoạt đầu, tôi đoán có lẽ chúng bị ướt rồi cháy trong lúc hơ khô. Nhưng gần mu bàn chân lại có một miếng giấy dán tròn nho nhỏ với mấy ký tự khó hiểu của người bán hàng còn nguyên trên đó. Hơi ẩm thì đương nhiên phải làm bong món này ra rồi. Vậy là anh đã ngồi duỗi chân về phía lò sưởi - một việc mà chẳng người đàn ông nào làm vào tháng Sáu, dẫu thời tiết có ẩm ướt đến mấy, trừ phi anh ta đang không thực sự khỏe mạnh.”

Như mọi lập luận khác của Holmes, mọi sự bỗng trở nên đơn giản đến lạ lùng một khi đã được cất lời giải thích. Anh đọc được ý nghĩ ấy trên gương mặt tôi, và nụ cười anh thoáng vương chút chua chát.

“Tôi e rằng mình đã tự tước mất vẻ huyền bí khi đi giải thích,” anh nói. “Những kết quả không rõ nguyên do thì bao giờ cũng gây ấn tượng mạnh hơn nhiều. Nào, anh đã sẵn sàng lên đường tới Birmingham chưa?”

“Dĩ nhiên rồi. Vụ án là thế nào vậy?”

“Anh sẽ nghe trọn vẹn câu chuyện trên tàu. Khách hàng của tôi đang đợi ngoài kia, trong chiếc xe ngựa bốn bánh. Anh đi được ngay bây giờ không?”

“Chỉ một lát thôi.” Tôi nguệch ngoạc mấy dòng nhắn cho ông hàng xóm, chạy lên lầu thông báo với vợ, rồi cùng Holmes bước ra đứng nơi bậc cửa.

“Hàng xóm của anh cũng là bác sĩ,” anh buông lời, hất đầu về phía tấm biển đồng.

“Đúng thế; anh ấy cũng mua lại một phòng khám giống tôi.”

“Một phòng khám đã mở từ lâu?”

“Y hệt phòng khám của tôi. Cả hai đều có mặt từ thuở những căn nhà này mới được xây lên.”

“À! Vậy là anh đã vớ được căn ngon hơn trong hai căn rồi.”

“Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng làm sao anh biết được?”

“Nhờ mấy bậc thang đấy, anh bạn ạ. Bậc thang nhà anh mòn sâu hơn của ông ta những ba inch. Còn vị quý ông ngồi trong xe ngựa kia chính là khách hàng của tôi, ông Hall Pycroft. Cho phép tôi giới thiệu anh với ông ấy. Đánh xe đi, bác tài, chúng ta chỉ vừa đủ thời gian để kịp chuyến tàu đấy.”

Người đàn ông mà tôi đối diện là một chàng trai trẻ vạm vỡ, nước da tươi tắn và gương mặt cởi mở, trung thực, điểm thêm hàng ria mép vàng hoe hơi xoăn. Cậu ta đội chiếc mũ chóp cao bóng lộn và khoác bộ đồ đen chỉnh tề - đúng chuẩn một thanh niên sành điệu nơi khu tài chính City, thuộc cái tầng lớp vẫn thường bị gắn cho cái mác “dân cockney2”, thế nhưng chính họ mới là những người làm nên các trung đoàn tình nguyện tinh nhuệ nhất của chúng ta, và sản sinh ra nhiều vận động viên lẫn tay chơi thể thao xuất sắc hơn bất cứ nhóm cư dân nào trên khắp quần đảo này. Khuôn mặt tròn trịa, hồng hào của cậu bẩm sinh đã đầy vẻ tươi vui, vậy mà tôi thoáng nhận ra nơi khóe miệng cậu một nét trễ xuống phảng phất nỗi khổ đau, phần nào lại pha chút hài hước. Dẫu sao, phải đợi đến khi cả ba chúng tôi đã yên vị trong toa hạng nhất, và con tàu đi Birmingham thực sự lăn bánh, tôi mới được biết rắc rối nào đã khiến cậu phải tìm đến Sherlock Holmes.

“Chúng ta có bảy mươi phút thong thả ở đây,” Holmes nhận xét. “Tôi muốn anh, anh Hall Pycroft, hãy kể cho bạn tôi đây nghe trải nghiệm vô cùng thú vị của anh, đúng y như anh đã kể với tôi, hoặc càng chi tiết càng tốt. Sẽ rất hữu ích cho tôi khi được nghe lại toàn bộ chuỗi sự kiện. Đây là một vụ án, Watson ạ, có thể hàm chứa điều gì đó, mà cũng có thể chẳng có gì, nhưng ít ra, nó phô bày những nét bất thường và kỳ quái vốn đã quá thân thuộc với cả anh lẫn tôi. Còn bây giờ, anh Pycroft, tôi sẽ không ngắt lời anh nữa.”

Người bạn đồng hành trẻ tuổi của chúng tôi nhìn tôi với đôi mắt long lanh.

"Cái tệ nhất của câu chuyện này là," cậu ta nói, "tôi lại tự biến mình thành một gã ngốc hết chỗ nói. Dĩ nhiên, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy cả thôi, và tôi cũng chẳng thấy mình có thể làm khác đi được; nhưng nếu tôi mất việc mà chẳng vớt vát được gì, thì tôi sẽ cảm thấy mình đúng là một thằng khờ chính hiệu. Tôi vốn không phải tay kể chuyện có duyên, thưa bác sĩ Watson, nhưng chuyện của tôi là thế này:

"Tôi từng làm việc cho hãng Coxon & Woodhouse, ở khu Drapers' Gardens, nhưng họ đã dính một vố lừa hồi đầu mùa xuân liên quan đến khoản cho vay của Venezuela-chắc hẳn bác sĩ vẫn còn nhớ-và bị quật cho một cú đau điếng. Tôi đã gắn bó với họ suốt năm năm trời, và khi vụ phá sản xảy ra, ông già Coxon đã viết cho tôi một lá thư giới thiệu hết sức tốt đẹp, nhưng dĩ nhiên, tất cả nhân viên văn phòng như bọn tôi đều bị tống ra đường, cả thảy hai mươi bảy người. Tôi xoay xở xin việc hết chỗ này đến chỗ kia, nhưng cũng có hàng tá gã khác lâm vào hoàn cảnh y như tôi, và đó quả là một quãng thời gian tăm tối cùng cực. Tôi từng kiếm được ba bảng một tuần ở Coxon, và đã dành dụm được chừng bảy mươi bảng, thế nhưng số tiền ấy tan biến nhanh như nước đổ lá khoai, và tôi rơi vào cảnh cháy túi. Cuối cùng, tôi kiệt quệ đến mức khó mà xoay đủ tiền mua tem để hồi âm các mẩu quảng cáo, hay mua phong bì để dán chúng lên. Tôi đã mòn cả gót giày vì lê la khắp các bậc cầu thang văn phòng, ấy vậy mà dường như tôi vẫn còn cách một công việc xa vời như chưa từng bao giờ.

"Rồi cuối cùng, tôi thấy có một chỗ trống tại Mawson & Williams, hãng môi giới chứng khoán khổng lồ trên phố Lombard. Tôi dám chắc khu E.C.3 không phải là nơi bác sĩ rành rẽ, nhưng tôi xin thưa với bác sĩ rằng đây là một trong những công ty giàu có bậc nhất ở London. Mẩu quảng cáo yêu cầu chỉ được hồi đáp qua thư từ. Tôi đã gửi thư giới thiệu và đơn xin việc đi, nhưng chẳng ôm chút hy vọng nào. Ấy thế mà một lá thư trả lời được gửi lại ngay tức khắc, bảo rằng nếu tôi có mặt vào thứ Hai tuần sau, tôi có thể bắt đầu công việc mới ngay lập tức, miễn là ngoại hình của tôi đạt yêu cầu. Chẳng ai hiểu nổi mấy chuyện này vận hành ra làm sao. Có người bảo rằng người quản lý chỉ việc thọc tay vào đống thư và rút ra tờ đầu tiên. Dù sao đi nữa, lần ấy cũng đến lượt tôi, và tôi chưa bao giờ thấy lòng mình vui sướng đến thế. Mức lương cao hơn một bảng mỗi tuần, còn công việc thì cũng tựa tựa như ở Coxon.

"Và giờ tôi xin đi vào phần kỳ lạ của sự việc. Tôi đang trọ ở khu Hampstead-số 17, Potter's Terrace. Nào, đúng vào buổi tối hôm tôi nhận được lời hứa tuyển dụng, tôi đang ngồi hút thuốc thì bà chủ nhà mang lên một tấm danh thiếp có in dòng chữ 'Arthur Pinner, Đại lý Tài chính'. Tôi chưa từng nghe đến cái tên này bao giờ và không tài nào hình dung nổi ông ta muốn gì ở tôi; nhưng, tất nhiên, tôi bảo bà ấy mời ông ta lên. Ông ta bước vào, một người đàn ông vóc dáng trung bình, tóc đen, mắt đen, râu đen, với chiếc mũi hơi khoằm. Trông ông ta lanh lợi và nói năng dứt khoát, giống hệt một kẻ biết rõ giá trị của từng phút giây."

"'Anh Hall Pycroft, tôi cho là vậy?' ông ta cất lời.

"'Vâng, thưa ông,' tôi đáp, đẩy một chiếc ghế về phía ông ta.

"'Mới đây còn làm việc tại Coxon & Woodhouse?'

"'Vâng, thưa ông.'

"'Và giờ là nhân viên của hãng Mawson.'

"'Đúng thế ạ.'

"'Này,' ông ta nói, 'thực tình là tôi đã nghe được vài câu chuyện thực sự phi thường về khả năng tài chính của anh. Anh có nhớ Parker không, người từng làm quản lý ở Coxon ấy? Anh ta không ngớt lời ca ngợi anh đâu.'

"Dĩ nhiên là tôi vô cùng vui sướng khi nghe điều này. Tôi luôn tỏ ra khá nhạy bén ở chốn văn phòng, nhưng chưa bao giờ tôi mơ rằng mình lại được người ta bàn tán đến trong khu City theo cách như vậy.

"'Anh có trí nhớ tốt chứ?' ông ta hỏi.

"'Khá tốt ạ,' tôi khiêm tốn đáp.

"'Anh có theo dõi thị trường trong suốt thời gian thất nghiệp không?' ông ta tiếp tục.

"'Có; sáng nào tôi cũng đọc Bảng niêm yết của Sở Giao dịch Chứng khoán.'

"'Đấy mới thực sự là tinh thần chuyên cần!' ông ta reo lên. 'Đó chính là cách để thăng tiến! Anh sẽ không phiền nếu tôi thử tài anh một chút chứ? Để tôi xem nào. Cổ phiếu Ayrshire ra sao?'

"'Một trăm linh sáu một phần tư đến một trăm linh năm bảy phần tám.'

"'Còn New Zealand Consolidated?'

"'Một trăm linh bốn.'

"'Còn British Broken Hills?'

"'Bảy đến bảy phẩy sáu.'

"'Tuyệt vời!' ông ta kêu lên, giơ cao cả hai tay. 'Điều này hoàn toàn khớp với những gì tôi từng nghe. Chàng trai ơi, anh bạn trẻ của tôi ơi, anh quá xuất sắc để chỉ làm một thư ký quèn ở Mawson!'

"Cú bùng nổ ấy khiến tôi không khỏi sửng sốt, như bác sĩ có thể hình dung. 'Chà,' tôi nói, 'người khác không nghĩ về tôi nhiều như ông đâu, ngài Pinner ạ. Tôi đã phải chiến đấu khá chật vật mới giành được vị trí này, và tôi rất mừng vì đã có nó.'

"'Trời đất ơi, anh bạn; anh phải bay cao hơn thế chứ. Anh đang không đứng đúng chỗ của mình rồi. Giờ, để tôi nói cho anh biết tình hình của tôi ra sao. Những gì tôi đề nghị thì quá nhỏ bé so với năng lực của anh, nhưng nếu so với Mawson, thì đúng là ánh sáng với bóng tối. Để tôi xem. Khi nào anh tới Mawson?'

"'Thứ Hai ạ.'

"'Ha, ha! Tôi dám cá một chút rằng anh sẽ chẳng bước chân tới đó đâu.'

"'Không đến Mawson ư?'

"'Không, thưa anh. Đến ngày hôm ấy, anh sẽ trở thành quản lý kinh doanh của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kim khí Franco-Midland, với một trăm ba mươi bốn chi nhánh trải khắp các thị trấn và làng mạc nước Pháp, chưa kể một chi nhánh ở Brussels và một ở San Remo.'

"Điều này khiến tôi nghẹt thở. 'Tôi chưa từng nghe nói về nó,' tôi thưa.

"'Rất có thể là chưa. Nó được giữ kín lắm, bởi vốn liếng đều do tư nhân đóng góp, và đây là một món hời quá lớn để công khai ra trước công chúng. Anh trai tôi, Harry Pinner, là người sáng lập, và sẽ tham gia hội đồng quản trị với tư cách giám đốc điều hành sau khi phân bổ cổ phần. Anh ấy biết tôi đang lặn lội ở đây, và dặn tôi tìm cho được một người giỏi với giá rẻ. Một thanh niên trẻ, tràn đầy năng lượng và nhạy bén. Parker đã nhắc đến anh, và điều đó dẫn tôi đến đây tối nay. Chúng tôi chỉ có thể đề nghị anh mức lương khởi điểm khiêm tốn là năm trăm bảng thôi.'

"'Năm trăm bảng một năm!' tôi thốt lên.

"'Chỉ có thế lúc ban đầu; nhưng anh sẽ còn được nhận hoa hồng vượt mức một phần trăm trên tổng giao dịch do các đại lý của anh thực hiện, và hãy tin lời tôi, khoản này sẽ còn lớn hơn nhiều so với tiền lương của anh đấy.'

"'Nhưng tôi có biết gì về đồ kim khí đâu.'

"'Suỵt, anh bạn; anh am hiểu về những con số cơ mà.'

"Đầu óc tôi ong ong, và tôi gần như không thể ngồi yên trên ghế. Nhưng rồi đột nhiên, một luồng nghi ngờ lạnh buốt ập đến với tôi.

"'Tôi phải nói thật lòng với ông,' tôi nói. 'Mawson chỉ trả tôi hai trăm, nhưng Mawson là nơi an toàn. Mà, nói thực, tôi biết quá ít về công ty của ông đến nỗi-'

"'A, sắc sảo, sắc sảo!' ông ta kêu lên trong niềm khoái trá tột bậc. 'Anh chính là mẫu người chúng tôi cần. Anh không dễ bị thuyết phục, và điều đó hoàn toàn đúng. Này, đây là tờ ngân phiếu một trăm bảng, và nếu anh nghĩ rằng chúng ta có thể làm ăn với nhau, anh cứ việc bỏ nó vào túi như một khoản ứng trước tiền lương.'

"'Quả là quá hào phóng,' tôi nói. 'Khi nào tôi nên bắt đầu công việc mới?'

"'Có mặt ở Birmingham vào lúc một giờ ngày mai,' ông ta đáp. 'Tôi có một mẩu giấy ở đây, anh hãy mang đến cho anh trai tôi. Anh sẽ tìm thấy anh ấy ở số 126B, Đường Corporation, nơi đặt văn phòng tạm thời của công ty. Dĩ nhiên anh ấy phải xác nhận việc tuyển dụng của anh, nhưng giữa chúng ta với nhau thì mọi việc sẽ đâu vào đấy cả.'

"'Thực sự, tôi không biết phải bày tỏ lòng biết ơn của mình thế nào, thưa ngài Pinner,' tôi nói.

"'Không có chi đâu, anh bạn. Anh chỉ đang nhận được những gì mình xứng đáng thôi. Còn một hai việc nhỏ-chỉ là thủ tục thôi-mà tôi cần sắp xếp với anh. Anh có một mẩu giấy bên cạnh đấy. Làm ơn viết lên đó: "Tôi hoàn toàn sẵn lòng đảm nhiệm chức quản lý kinh doanh cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kim khí Franco-Midland, với mức lương tối thiểu 500 bảng".'

"Tôi làm đúng như lời ông ta yêu cầu, và ông ta nhét tờ giấy vào túi.

"'Còn một chi tiết nhỏ nữa,' ông ta nói. 'Anh định xử lý Mawson thế nào?'

"Trong cơn hân hoan, tôi đã quên khuấy mất Mawson. 'Tôi sẽ viết thư xin thôi việc,' tôi đáp.

"'Đó chính là điều tôi không muốn anh làm. Tôi đã có một trận đấu khẩu với ông quản lý của Mawson về anh. Tôi đến hỏi ông ta về anh, và lão ta tỏ ra hết sức xúc phạm; buộc tội tôi dụ dỗ anh rời bỏ sự phục vụ của hãng, cùng những điều đại loại như thế. Cuối cùng, tôi thực sự mất bình tĩnh. "Nếu ông muốn những người giỏi, thì ông phải trả cho họ một cái giá xứng đáng," tôi nói.'

"'Lão ta thà nhận mức lương bèo bọt của chúng tôi còn hơn cái giá hời của anh,' lão ta nói.

"'Tôi cá với ông năm bảng,' tôi bảo, 'rằng khi anh ta nhận được lời đề nghị của tôi, ông sẽ chẳng bao giờ nghe được tin tức gì từ anh ta nữa.'

"'Nhận kèo!' lão ta đáp. 'Chúng tôi đã vớt anh ta lên từ miệng cống, và anh ta sẽ không dễ dàng rời bỏ chúng tôi đâu.' Đó chính là nguyên văn lời lẽ của lão ta."

"'Đồ vô lại xấc xược!' tôi thốt lên. 'Tôi còn chưa từng gặp mặt lão ta trong đời kia mà. Tại sao tôi phải nể nang lão ta chứ? Tôi chắc chắn sẽ không viết thư nếu ông không muốn tôi làm vậy.'

"'Tốt! Đó là một lời hứa đấy nhé,' ông ta nói, đứng dậy khỏi ghế. 'Nào, tôi rất hài lòng vì đã kiếm được một người giỏi như thế cho anh trai mình. Đây là khoản ứng trước một trăm bảng của anh, và đây là bức thư. Hãy ghi lại địa chỉ, 126B, Đường Corporation, và nhớ kỹ rằng cuộc hẹn của anh là một giờ ngày mai. Chúc ngủ ngon; và chúc anh gặp mọi điều may mắn mà anh xứng đáng được hưởng!'

"Đó gần như là toàn bộ những gì đã diễn ra giữa chúng tôi, theo như trí nhớ của tôi. Thưa bác sĩ Watson, bác sĩ hẳn có thể hình dung tôi đã vui sướng đến nhường nào trước một vận may phi thường như thế. Tôi đã thức đến nửa đêm chỉ để tận hưởng niềm hân hoan ấy, và sáng hôm sau, tôi đón chuyến tàu đến Birmingham cho kịp giờ hẹn. Tôi mang hành lý đến một khách sạn ở phố New, rồi lần đường tìm đến địa chỉ đã được chỉ dẫn.

"Tôi đến sớm hơn giờ hẹn mười lăm phút, nhưng tôi nghĩ điều đó cũng chẳng sao. Số 126B là một lối đi len giữa hai cửa hàng lớn, dẫn vào một cầu thang đá uốn lượn, từ đó tỏa ra nhiều dãy phòng, được các công ty hoặc những người hành nghề chuyên môn thuê làm văn phòng. Tên của những người thuê được sơn ở chân tường, nhưng chẳng thấy bóng dáng nào của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kim khí Franco-Midland. Tôi đứng đó vài phút với lòng nặng trĩu, tự hỏi liệu toàn bộ sự việc này có phải là một trò lừa bịp tinh vi nào không, thì một người đàn ông tiến đến và bắt chuyện với tôi. Ông ta trông rất giống gã tôi đã gặp đêm hôm trước-cùng vóc dáng và giọng nói-nhưng ông ta cạo râu nhẵn nhụi và tóc thì sáng màu hơn.

"'Anh có phải là Hall Pycroft không?' ông ta hỏi.

"'Vâng,' tôi đáp.

"'Ồ! Tôi đang mong anh đây, nhưng anh đến hơi sớm một chút. Sáng nay tôi có nhận được thư của anh trai tôi, trong đó ảnh hết lời ca ngợi anh đấy.'

"'Tôi vừa mới đang tìm văn phòng thì ông đến.'

"'Chúng tôi chưa gắn tên lên, vì mới thuê tạm cơ sở này tuần trước thôi. Mời anh đi theo tôi lên nhà, ta sẽ bàn bạc công việc.'

"Tôi theo chân ông ta lên đến đỉnh của một dãy cầu thang rất cao, và ngay tại đó, bên dưới những tấm ván lợp mái, là hai căn phòng nhỏ trơ trụi, phủ đầy bụi, không thảm trải cũng chẳng rèm che, nơi ông ta dẫn tôi vào. Tôi đã mường tượng ra một văn phòng rộng lớn với những chiếc bàn làm việc bóng loáng và hàng hàng lớp lớp nhân viên, như những gì tôi vốn quen thuộc-và tôi dám chắc mình đã trân trân nhìn chằm chằm vào hai chiếc ghế gỗ thông cùng một cái bàn nhỏ, bên cạnh là một cuốn sổ cái và một sọt rác, tạo nên toàn bộ đồ đạc trong căn phòng.

"'Đừng nản lòng, anh Pycroft ạ,' người quen mới của tôi lên tiếng, hẳn đã nhận ra vẻ mặt thất vọng của tôi. 'Thành Rome đâu thể xây xong trong một ngày4, và chúng tôi có nguồn vốn dồi dào đứng sau, dù chưa rót nhiều tiền vào văn phòng mà thôi. Mời anh ngồi xuống, và cho tôi xem bức thư của anh.'

"Tôi trao nó cho ông ta, và ông ta đọc rất kỹ lưỡng.

"'Có vẻ như anh đã gây được ấn tượng mạnh với ông anh Arthur của tôi rồi,' ông ta nhận xét; 'và tôi biết ông ấy là một người đánh giá khá sắc sảo. Ông ấy thề nguyện nhân danh London, anh biết đấy; còn tôi thì nhân danh Birmingham; nhưng lần này tôi sẽ nghe theo lời khuyên của ông ấy. Coi như anh đã chính thức được nhận.'

"'Nhiệm vụ của tôi là gì ạ?' tôi hỏi.

"'Cuối cùng thì anh sẽ quản lý kho hàng lớn ở Paris, nơi sẽ trút một lượng đồ gốm Anh quốc khổng lồ vào các cửa hàng của một trăm ba mươi bốn đại lý trên khắp nước Pháp. Việc mua sắm sẽ hoàn tất trong vòng một tuần, và trong lúc chờ đợi, anh sẽ ở lại Birmingham và khiến mình trở nên có ích.'

"'Bằng cách nào ạ?'

"Để trả lời, ông ta rút từ trong ngăn kéo ra một cuốn sách lớn bìa đỏ.

"'Đây là danh bạ Paris,' ông ta nói, 'có liệt kê nghề nghiệp kèm sau tên từng người. Tôi muốn anh mang nó về nhà, và đánh dấu tất cả những ai buôn bán đồ kim khí, cùng với địa chỉ của họ. Nó sẽ rất hữu ích cho tôi.'

"'Hẳn là phải có những danh sách đã được phân loại sẵn chứ?' tôi gợi ý.

"'Không đáng tin cậy. Hệ thống của họ khác với bên mình. Hãy kiên trì làm việc, và mang danh sách đến cho tôi vào đúng mười hai giờ trưa thứ Hai. Chào anh, anh Pycroft. Nếu anh tiếp tục thể hiện lòng nhiệt thành và trí thông minh như vậy, anh sẽ thấy công ty là một ông chủ tốt.'

"Tôi quay về khách sạn với cuốn sách to tướng cắp dưới nách, trong lòng ngổn ngang bao cảm xúc trái ngược. Một mặt, tôi đã chính thức được nhận và có một trăm bảng trong túi; mặt khác, cái vẻ ngoài của văn phòng, chuyện không có tên tuổi gì trên tường, cùng những điểm khác mà bất cứ ai quen chuyện làm ăn đều sẽ nhận ra, đã để lại ấn tượng chẳng mấy tốt đẹp về vị thế của đám ông chủ tương lai của tôi. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, tiền đã nằm trong tay, nên tôi bắt tay ngay vào nhiệm vụ. Suốt cả ngày Chủ nhật, tôi cắm cúi làm việc, ấy thế mà đến thứ Hai tôi mới chỉ tiến được đến vần H. Tôi đến gặp ông chủ của mình, thấy ông ta vẫn lọt thỏm trong căn phòng trống huơ trống hoác như cũ, và được bảo cứ tiếp tục làm cho đến thứ Tư, rồi quay lại. Đến thứ Tư, công việc vẫn chưa xong, thế là tôi lại cặm cụi làm cho đến thứ Sáu-tức là ngày hôm qua. Sau đó, tôi mang thành quả đến cho ngài Harry Pinner.

"'Cảm ơn anh rất nhiều,' ông ta nói; 'tôi e rằng mình đã đánh giá thấp mức độ khó khăn của công việc này. Danh sách này sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều.'

"'Công việc này cũng ngốn kha khá thời gian,' tôi đáp.

"'Và bây giờ,' ông ta nói, 'tôi muốn anh lập một danh sách các cửa hàng đồ nội thất, vì họ đều có bán đồ gốm cả.'

"'Rất tốt ạ.'

"'Anh có thể ghé lại vào bảy giờ tối mai, và cho tôi biết tiến độ đến đâu rồi. Đừng làm việc quá sức. Vài giờ thư giãn ở Phòng trà Ca nhạc Day5 vào buổi tối cũng chẳng hại gì cho anh sau những giờ lao động vất vả đâu.' Ông ta vừa nói vừa cười, và tôi chợt rùng mình khi nhìn thấy chiếc răng thứ hai bên trái của ông ta được trám vàng một cách hết sức cẩu thả."

Sherlock Holmes xoa hai lòng bàn tay vào nhau với vẻ thích thú lộ rõ, còn tôi thì kinh ngạc nhìn chằm chằm vào vị khách hàng của mình.

"Bác sĩ Watson, bác sĩ có thể thấy ngạc nhiên; nhưng sự tình là thế này," cậu ta nói: "Khi tôi nói chuyện với gã kia ở London, đúng vào lúc ông ta cười cợt chuyện tôi sẽ không đến Mawson, tôi vô tình nhận thấy răng của ông ta cũng được trám y hệt như vậy. Vẻ lấp lánh của lớp vàng trong cả hai lần đều đập ngay vào mắt tôi, bác sĩ thấy đấy. Khi tôi chắp nối điều đó với giọng nói và vóc dáng giống hệt nhau, và chỉ những gì có thể thay đổi bằng dao cạo hay tóc giả thì mới khác đi, tôi không thể nào nghi ngờ rằng đó là cùng một người. Dĩ nhiên bác sĩ có thể cho rằng hai anh em sinh đôi thì giống nhau, nhưng chẳng đời nào họ lại có cùng một cái răng được trám theo cùng một kiểu. Ông ta tiễn tôi ra ngoài, và tôi thấy mình đứng trên phố, chẳng biết mình đang đứng bằng đầu hay bằng gót chân nữa. Tôi trở về khách sạn, vùi đầu vào chậu nước lạnh, và cố gắng suy nghĩ cho thông suốt. Tại sao ông ta lại cử tôi từ London lên Birmingham? Tại sao ông ta lại đến đó trước cả tôi? Và tại sao ông ta lại tự viết thư cho chính mình? Mọi thứ quá đỗi rối rắm đối với tôi, và tôi chẳng tài nào hiểu nổi. Và rồi bỗng nhiên tôi chợt nghĩ-những điều mù mờ với tôi biết đâu lại sáng như ban ngày với ngài Sherlock Holmes. Tôi vừa kịp bắt chuyến tàu đêm lên thành phố để gặp ngài ấy vào sáng nay, và đưa cả hai vị cùng trở lại Birmingham với tôi."

Một khoảng lặng bao trùm sau khi viên thư ký hãng chứng khoán kết thúc câu chuyện trải nghiệm khó tin của mình. Rồi Sherlock Holmes hếch mắt nhìn tôi, ngả lưng vào nệm ghế với vẻ mặt vừa thỏa mãn vừa đầy phán xét, tựa như một chuyên gia nếm rượu vừa nhấp ngụm đầu tiên của một chai vang thượng hạng lâu năm.

"Khá thú vị đấy, Watson nhỉ?" anh nói. "Có những chi tiết trong chuyện này khiến tôi thực sự thích thú. Tôi nghĩ anh sẽ đồng ý với tôi rằng, một cuộc gặp gỡ với ngài Arthur Harry Pinner tại văn phòng tạm thời của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kim khí Franco-Midland, sẽ là một trải nghiệm khá thú vị cho cả hai chúng ta."

"Nhưng ta phải làm thế nào đây?" tôi hỏi.

"Ồ, dễ thôi mà," Hall Pycroft vui vẻ đáp. "Các vị là hai người bạn của tôi đang tìm việc làm, và còn gì tự nhiên hơn là tôi đưa cả hai vị đến gặp vị giám đốc điều hành?"

"Dĩ nhiên rồi," Holmes nói. "Tôi rất nóng lòng muốn được thấy mặt quý ông ấy, và xem thử mình có thể làm sáng tỏ trò chơi nho nhỏ của ông ta hay không. Này anh bạn, rốt cuộc anh có những phẩm chất gì mà khiến cho sự phục vụ của anh lại có giá trị đến vậy? hay là có khả năng rằng-" Anh bắt đầu cắn móng tay và nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, và chúng tôi hầu như không thể kéo thêm được lời nào từ anh cho đến khi đặt chân tới phố New.

Đúng bảy giờ tối hôm ấy, ba chúng tôi thong thả bước dọc Phố Corporation để đến văn phòng công ty.

"Có đến sớm cũng chẳng ích gì," vị khách hàng của chúng tôi lên tiếng. "Rõ ràng ông ta chỉ tới đó để gặp tôi thôi, vì chỗ ấy lúc nào cũng vắng tanh cho đến đúng giờ ông ta hẹn."

"Thật là một chi tiết gợi mở," Holmes nhận xét.

"Lạy Chúa, tôi đã nói với các anh rồi cơ mà!" viên thư ký thốt lên. "Kia rồi, ông ta đang đi trước chúng ta kìa."

Anh ta chỉ tay về phía một người đàn ông nhỏ nhắn, nước da ngăm đen, ăn vận chỉnh tề đang hối hả bước dọc bên kia đường. Trong lúc chúng tôi dõi theo, ông ta liếc sang một cậu bé đang rao bán số báo chiều mới nhất, rồi len qua làn xe ngựa và xe buýt tấp nập để mua một tờ. Xong xuôi, tay nắm chặt tờ báo, ông ta khuất dạng sau một ô cửa.

"Ông ta vào đó rồi!" Hall Pycroft kêu lên. "Đây chính là văn phòng công ty mà ông ta vừa bước vào. Đi theo tôi, tôi sẽ thu xếp mọi chuyện êm đẹp nhất có thể."

Theo chân anh, chúng tôi leo lên năm tầng lầu, rồi dừng lại trước một cánh cửa mở hé. Vị khách hàng gõ cửa. Một giọng nói bên trong mời chúng tôi bước vào. Căn phòng trống trơn, không một món đồ đạc, đúng như Hall Pycroft đã miêu tả. Ngồi sau chiếc bàn duy nhất chính là người đàn ông chúng tôi đã thấy ngoài phố, với tờ báo chiều trải rộng trước mặt. Khi ông ta ngước lên nhìn chúng tôi, tôi ngỡ mình chưa từng thấy gương mặt nào hằn sâu nỗi đau khổ đến thế, và hơn cả đau khổ - một nỗi kinh hoàng mà hiếm kẻ nào phải nếm trải trong đời. Vầng trán lấm tấm mồ hôi, đôi má nhợt nhạt trắng bệch như bụng cá ươn, còn cặp mắt thì hoang dại trợn trừng. Ông ta nhìn viên thư ký của mình như thể chẳng hề nhận ra. Qua vẻ kinh ngạc hiện rõ trên mặt người dẫn đường của chúng tôi, tôi biết rằng đây tuyệt nhiên không phải bộ dạng thường ngày của ông chủ anh ta.

"Ông trông có vẻ không khỏe, thưa ngài Pinner!" anh ta thốt lên.

"Phải, tôi không được khỏe lắm," người kia đáp, cố gắng trấn tĩnh một cách rõ rệt, rồi liếm đôi môi khô khốc trước khi cất lời. "Những quý ông mà anh dẫn theo đây là ai vậy?"

"Một người là anh Harris, ở Bermondsey, còn người kia là anh Price, cũng ở thành phố này," viên thư ký của chúng tôi nhanh trí đáp. "Họ là bạn tôi, đều là những quý ông dày dạn kinh nghiệm, nhưng thất nghiệp đã một thời gian. Họ hy vọng có lẽ ông có thể tìm cho họ một cơ hội trong công ty."

"Rất có thể! Rất có thể chứ!" ngài Pinner thốt lên, nở một nụ cười nhợt nhạt. "Vâng, tôi tin chắc chúng tôi sẽ thu xếp được điều gì đó cho các anh. Chuyên môn của anh là gì vậy, anh Harris?"

"Tôi là kế toán," Holmes đáp.

"À phải, chúng tôi sẽ cần một người như thế. Còn anh, anh Price?"

"Một thư ký," tôi đáp.

"Tôi rất hy vọng công ty sẽ có thể sắp xếp cho các anh. Tôi sẽ báo cho các anh biết ngay khi chúng tôi đi đến kết luận cuối cùng. Còn bây giờ, xin các anh hãy đi cho. Lạy Chúa, hãy để tôi được yên một mình!"

Những lời cuối cùng ấy như bật tung ra khỏi miệng ông ta, tựa hồ sự kiềm chế mà ông ta rõ ràng đang áp đặt lên bản thân đã đột ngột vỡ vụn hoàn toàn. Holmes và tôi đưa mắt nhìn nhau, còn Hall Pycroft thì bước một bước về phía chiếc bàn.

"Ông quên mất rồi, thưa ngài Pinner, rằng tôi có mặt ở đây theo lịch hẹn để nhận chỉ thị từ ông," anh ta nói.

"Tất nhiên rồi, anh Pycroft, tất nhiên rồi," người kia nói tiếp, giọng đã bình tĩnh hơn đôi chút. "Anh có thể chờ ở đây một lát; và cũng chẳng có lý do gì mà bạn anh lại không thể cùng chờ với anh. Tôi sẽ hoàn toàn sẵn sàng tiếp anh trong ba phút nữa thôi, nếu tôi có thể lạm dụng lòng kiên nhẫn của anh đến mức ấy." Ông ta đứng dậy với phong thái hết sức lịch thiệp, cúi chào chúng tôi, rồi bước qua một cánh cửa ở phía cuối căn phòng, khép lại sau lưng.

"Giờ tính sao?" Holmes thì thầm. "Ông ta định chuồn đấy à?"

"Không thể nào," Pycroft đáp.

"Sao lại không?"

"Cánh cửa đó dẫn vào một căn phòng bên trong."

"Không có lối thoát nào khác ư?"

"Không."

"Căn phòng ấy có đồ đạc gì không?"

"Hôm qua thì nó trống rỗng."

"Vậy rốt cuộc ông ta có thể đang làm gì trong đó? Có điều gì đó trong thái độ này khiến tôi không sao hiểu nổi. Nếu trên đời từng có một kẻ suýt phát điên vì sợ hãi, thì kẻ đó chính là Pinner. Điều gì có thể khiến ông ta run rẩy đến thế kia chứ?"

"Ông ta nghi ngờ chúng ta là thám tử," tôi gợi ý.

"Đúng thế," Pycroft tán thành.

Holmes lắc đầu. "Ông ta đâu có tái mặt. Ông ta đã xanh xao ngay từ khi chúng ta bước vào phòng rồi," anh nói. "Chỉ có một khả năng là-"

Câu nói của anh bị cắt ngang bởi một tiếng cộc cộc khô khốc vọng ra từ phía cánh cửa bên trong.

"Quái quỷ thật, gã đó gõ cửa phòng mình làm gì vậy?" viên thư ký kêu lên.

Lại một lần nữa, tiếng gõ cửa vang lên, cộc cộc cộc. Tất cả chúng tôi đồng loạt dán mắt vào cánh cửa đóng kín, đầy vẻ trông ngóng. Liếc sang Holmes, tôi thấy gương mặt anh căng cứng lại, và anh chồm người về phía trước trong niềm kích động tột độ. Rồi bất thần vang lên một tiếng ọc ọc trầm đục, và tiếp đó là tiếng gõ lạch cạch gấp gáp trên mặt gỗ. Holmes điên cuồng lao vút qua phòng, dồn sức đẩy mạnh cánh cửa. Nó đã bị chốt ở bên trong. Noi gương anh, chúng tôi cùng húc cả người vào cánh cửa. Một bản lề bật tung, rồi đến bản lề thứ hai, và cánh cửa đổ ập xuống. Chúng tôi lao qua, thấy mình đã ở trong căn phòng phía trong. Nó trống rỗng.

Nhưng sự bối rối của chúng tôi chỉ kéo dài trong khoảnh khắc. Ở một góc, nơi gần nhất với căn phòng chúng tôi vừa rời khỏi, còn có một cánh cửa thứ hai. Holmes lao tới, giật mạnh nó ra. Một chiếc áo khoác và áo gilet vương vãi trên sàn. Và từ một chiếc móc sau cánh cửa, với chính chiếc dây đeo quần siết chặt quanh cổ, vị tổng giám đốc của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kim khí Franco-Midland đang lơ lửng trong tư thế treo cổ. Hai đầu gối ông ta co rúm lên, cái đầu ngoẹo sang một bên tạo nên một góc khủng khiếp với thân mình. Chính tiếng gót giày của ông ta đập vào cánh cửa đã tạo ra thứ âm thanh vừa rồi, cắt đứt cuộc đối thoại của chúng tôi. Trong nháy mắt, tôi ôm chặt lấy eo ông ta, nhấc bổng lên, trong khi Holmes và Pycroft tháo những sợi dây thun đã hằn sâu vào làn da nhợt nhạt. Rồi chúng tôi khiêng ông ta vào căn phòng bên ngoài. Tại đây, ông ta nằm sóng soài với khuôn mặt xám ngoét màu đất sét, đôi môi tím ngắt phập phồng theo từng nhịp thở - một tàn tích thê thảm của con người mà chỉ năm phút trước thôi còn đang hiện hữu.

"Anh nghĩ sao về ông ta, Watson?" Holmes hỏi.

Tôi cúi xuống thăm khám. Mạch đập yếu ớt và ngắt quãng, nhưng hơi thở đã dần dài hơn, và đôi mí mắt khẽ run rẩy, hé lộ một khe trắng nhỏ của nhãn cầu bên dưới.

"Ông ta đã cận kề cái chết," tôi nói, "nhưng giờ thì ông ta sẽ sống. Mở cửa sổ ra, và đưa cho tôi bình nước." Tôi nới lỏng cổ áo ông ta, hắt nước lạnh lên mặt, rồi nâng lên hạ xuống hai cánh tay ông ta, cho đến khi ông ta hít vào một hơi thở dài đầy tự nhiên. "Giờ chỉ còn là vấn đề thời gian thôi," tôi nói, rồi quay lưng bước khỏi ông ta.

Holmes đứng cạnh bàn, hai tay thọc sâu trong túi quần, cằm gục xuống ngực.

"Tôi nghĩ đã đến lúc ta nên mời cảnh sát vào rồi," anh cất tiếng. "Và tôi phải thú thật là tôi muốn trao cho họ một vụ án đã được gói ghém chỉn chu khi họ bước vào."

"Thật là một màn bí ẩn khiến tôi rối hết cả trí," Pycroft kêu lên, tay gãi đầu. "Họ cứ dẫn tôi lặn lội lên tận nơi khỉ ho cò gáy này, rồi thì-"

"Suỵt! Mọi chuyện sáng như ban ngày rồi," Holmes nói, giọng pha chút mất kiên nhẫn. "Chính cái nước cờ cuối cùng đột ngột kia đã vạch trần tất cả."

"Vậy là anh đã hiểu toàn bộ phần còn lại rồi sao?"

"Tôi cho là khá minh bạch. Anh thấy thế nào, Watson?"

Tôi nhún vai. "Tôi buộc phải thú nhận rằng tôi chẳng hiểu mô tê gì hết," tôi đáp.

"Ồ, chứ nếu anh xâu chuỗi mọi sự kiện ngay từ lúc khởi đầu, anh sẽ thấy chúng chỉ có thể dẫn đến một kết luận duy nhất thôi."

"Anh xâu chuỗi chúng ra sao?"

"Này nhé, toàn bộ sự việc xoay quanh hai mấu chốt. Mấu chốt thứ nhất là chuyện họ bắt Pycroft viết một tờ cam kết để chính thức gia nhập cái công ty nhảm nhí này. Anh không thấy chi tiết ấy gợi mở vô cùng hay sao?"

"Tôi e là tôi đã lỡ mất cái tinh túy ấy rồi."

"Này nhé, tại sao họ lại muốn anh ta làm thế? Chẳng phải vì lý do kinh doanh, bởi những thỏa thuận kiểu này thường chỉ qua lời nói, và tuyệt nhiên chẳng có lẽ kinh doanh nào trên đời khiến chuyện này trở thành một ngoại lệ. Anh không thấy sao, anh bạn trẻ của tôi, rằng họ khát khao có được một mẫu chữ viết tay của anh, mà chẳng còn đường nào khác để thực hiện điều đó?"

"Và tại sao chứ?"

"Đúng thế. Tại sao? Một khi ta trả lời được câu hỏi ấy, ta đã tiến một bước rất dài trong câu đố nhỏ của mình. Tại sao? Chỉ có thể có một lý do duy nhất thỏa đáng mà thôi. Một kẻ nào đó muốn học cách bắt chước chữ viết của anh, và trước hết phải kiếm được một mẫu. Và giờ nếu ta chuyển sang mấu chốt thứ hai, anh sẽ thấy mỗi điểm tự soi sáng cho điểm kia. Đó chính là yêu cầu của Pinner: anh không được từ chức, mà phải để lại cho người quản lý của cái công ty trọng đại này một niềm kỳ vọng tuyệt đối rằng một anh chàng Hall Pycroft nào đó, kẻ mà lão ta chưa từng thấy mặt, sẽ bước vào văn phòng vào đúng sáng thứ Hai."

"Lạy Chúa!" vị khách hàng của chúng tôi kêu lên, "tôi đúng là đồ mù tịt!"

"Giờ thì anh đã thấy cái tinh túy của chữ viết tay rồi đấy. Giả sử có kẻ nào đó xuất hiện thế chỗ anh với một nét chữ khác hoàn toàn so với nét chữ anh đã dùng để xin việc, thì trò bịp bợm tất nhiên sẽ vỡ lở ngay tức khắc. Nhưng trong khoảng thời gian ấy, tên vô lại đã kịp học cách nhái chữ của anh, và thế là vị trí của hắn được bảo đảm vững chắc, bởi tôi suy đoán rằng chẳng có một ai trong văn phòng đó từng thấy mặt anh cả."

"Không một ai," Hall Pycroft rên lên.

"Tốt lắm. Và dĩ nhiên, điều tối hệ trọng là phải ngăn anh đổi ý, đồng thời giữ cho anh tránh xa khỏi bất kỳ ai có thể tiết lộ với anh rằng bản sao của anh đang ung dung làm việc ở văn phòng Mawson. Vậy nên, họ đã ứng trước cho anh một khoản lương hậu hĩnh, rồi tống khứ anh lên tận vùng Midlands, nơi họ chất cho anh đủ thứ việc chỉ cốt để anh khỏi ló mặt về London, chốn anh có thể phá hỏng trò chơi nho nhỏ của chúng. Mọi thứ đã hiện ra rành rành rồi đấy."

"Nhưng tại sao gã đàn ông này lại phải đóng giả làm anh trai của chính mình?"

"Chà, điều ấy cũng dễ hiểu thôi. Rõ ràng chỉ có hai kẻ nhúng tay vào vụ này. Một kẻ đang mạo danh anh ở văn phòng. Kẻ còn lại đóng vai người tuyển dụng anh, rồi sau đó nhận ra rằng hắn chẳng thể bịa ra cho anh một ông chủ nếu không kéo thêm một kẻ thứ ba vào mưu đồ của mình. Hắn cực kỳ không muốn điều đó. Hắn đã cải trang hết mức có thể, và tin rằng sự giống nhau - thứ anh không tài nào không chú ý - sẽ được xem là nét tương đồng giữa những người trong cùng một gia đình. Nếu không nhờ cái may mắn tình cờ của chiếc răng trám vàng, có lẽ mối nghi ngờ của anh sẽ chẳng bao giờ được khơi dậy."

Hall Pycroft vung hai nắm đấm lên trời. "Lạy Chúa!" cậu ta kêu lên, "trong lúc tôi bị lừa gạt theo cái kiểu này, thì cái gã Hall Pycroft kia đang giở trò gì ở hãng Mawson? Chúng ta phải làm gì đây, ngài Holmes? Xin hãy bảo tôi phải làm gì."

"Chúng ta phải đánh điện cho hãng Mawson."

"Họ đóng cửa lúc mười hai giờ trưa vào các ngày thứ Bảy cơ mà."

"Không sao. Có thể có một bác gác cửa hay nhân viên trực ban nào đó-"

"À phải rồi, họ duy trì một đội bảo vệ thường trực ở đó, vì giá trị khổng lồ của số chứng khoán họ đang nắm giữ. Tôi nhớ đã nghe người ta bàn tán về chuyện ấy ở khu City."

"Rất tốt; chúng ta sẽ đánh điện cho anh ta, xem mọi sự có ổn thỏa hay không, và liệu có một thư ký mang tên anh đang làm việc ở đó hay không. Chuyện đó thì đã rõ mười mươi rồi; nhưng điều chưa sáng tỏ lắm, là tại sao vừa trông thấy chúng ta, một trong những tên vô lại lại lập tức bước ra khỏi phòng và treo cổ tự vẫn."

"Tờ báo!" một giọng khản đặc cất lên từ phía sau chúng tôi. Gã đàn ông đang chống tay ngồi dậy, mặt tái nhợt và gớm ghiếc, ánh lý trí le lói trở lại nơi đáy mắt, đôi bàn tay bồn chồn mân mê dải băng rộng màu đỏ vẫn còn quấn chặt quanh cổ.

"Tờ báo! Đúng rồi, tất nhiên rồi!" Holmes thốt lên trong cơn phấn khích tột cùng. "Tôi đúng là một thằng ngốc! Tôi mải nghĩ quá nhiều về chuyến ghé thăm của chúng ta, đến nỗi cái tờ báo ấy chưa một giây phút nào lọt vào đầu tôi. Chắc chắn rồi, bí mật phải nằm ở trong đó." Anh trải phẳng nó ra trên mặt bàn, và một tiếng kêu đắc thắng bật khỏi môi anh. "Nhìn này, Watson," anh reo lên. "Đây là một tờ báo London, bản in sớm của tờ Evening Standard. Đây mới chính là thứ chúng ta cần. Hãy xem những dòng tít này: 'Tội ác ở khu City. Án mạng tại hãng Mawson & Williams'. Âm mưu Cướp bóc Khổng lồ. Hung thủ Bị Bắt.' Đây, Watson, tất cả chúng ta đều nóng lòng muốn nghe như nhau, vậy xin anh hãy đọc to lên cho mọi người cùng nghe."

Xét theo vị trí của nó trên trang báo, đây dường như là sự kiện chấn động duy nhất trong thị trấn ngày hôm ấy, và bài tường thuật chạy như sau:

"Một vụ cướp táo tợn, lên đến đỉnh điểm là cái chết của một người đàn ông và việc bắt giữ hung thủ, đã xảy ra vào chiều nay ngay tại khu City. Từ một thời gian trước, hãng tài chính danh tiếng Mawson & Williams đã đảm nhận vai trò bảo quản các chứng khoán có tổng trị giá lên đến con số đáng kể hơn một triệu bảng Anh. Người quản lý ý thức sâu sắc trách nhiệm đè nặng lên vai mình trước những lợi ích khổng lồ đang bị đe dọa, đến mức những két sắt theo cấu trúc tối tân nhất đã được đưa vào sử dụng, và một nhân viên bảo vệ có vũ trang luôn túc trực ngày đêm bên trong tòa nhà. Có vẻ như vào tuần trước, một thư ký mới tên là Hall Pycroft đã được công ty tuyển vào làm việc. Kẻ này dường như không ai khác mà chính là Beddington, tên tội phạm giả mạo và bẻ khóa khét tiếng, kẻ cùng với anh trai mình vừa mới mãn hạn năm năm tù khổ sai6 cách đây không lâu. Bằng một cách thức nào đó, hiện vẫn chưa được làm rõ, hắn đã thành công trong việc giành lấy, dưới một cái tên giả, vị trí chính thức này trong văn phòng, nơi hắn triệt để lợi dụng để lấy khuôn của nhiều ổ khóa khác nhau, cũng như nắm rõ vị trí căn phòng két an toàn và từng chiếc két sắt.

"Theo thông lệ tại hãng Mawson, toàn bộ thư ký sẽ rời văn phòng vào đúng giữa trưa thứ Bảy. Vậy nên, Trung sĩ Tuson, thuộc lực lượng Cảnh sát khu City, đã không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy một quý ông tay xách chiếc túi vải đang bước xuống những bậc thềm vào lúc một giờ hai mươi phút. Mối nghi ngờ trỗi dậy, viên trung sĩ liền bám theo người đàn ông kia, và với sự hỗ trợ của Cảnh sát viên Pollock, sau một cuộc chống trả hết sức quyết liệt, họ đã thành công trong việc bắt giữ hắn. Ngay lập tức, người ta thấy rõ rằng một vụ cướp táo tợn với quy mô khổng lồ đã được thực hiện. Gần một trăm ngàn bảng trái phiếu đường sắt Mỹ, cùng với một lượng lớn chứng chỉ cổ phiếu của các công ty khai mỏ và các công ty khác, đã bị phát hiện bên trong chiếc túi. Khi kiểm tra hiện trường, thi thể của người bảo vệ bất hạnh được tìm thấy trong tư thế bị gập đôi và nhét vào chiếc két lớn nhất, nơi mà nếu không có hành động kịp thời của Trung sĩ Tuson, cái xác ấy sẽ chẳng được phát hiện ra cho đến tận sáng thứ Hai. Hộp sọ của nạn nhân đã bị đánh vỡ bởi một cú giáng từ chiếc gậy cời than đập từ phía sau. Không còn chút nghi ngờ nào nữa, Beddington đã lẻn vào bằng cách giả vờ quên đồ, rồi sau khi ra tay sát hại người bảo vệ, hắn nhanh chóng lục soát chiếc két lớn và tẩu thoát cùng với chiến lợi phẩm. Người anh trai của hắn, kẻ vốn thường xuyên phối hợp cùng hắn trong các phi vụ, đã không xuất hiện trong vụ này, theo như những gì có thể xác minh cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù cảnh sát đang ráo riết tiến hành các cuộc truy lùng tung tích của y."

"Chà, chúng ta có lẽ sẽ giúp cảnh sát tiết kiệm được chút công sức về mặt đó đấy," Holmes nói, liếc mắt về phía cái hình hài tiều tụy đang thu lu bên khung cửa sổ. "Bản chất con người quả là một hỗn hợp kỳ lạ, Watson ạ. Anh thấy đấy, ngay cả một tên ác ôn và kẻ sát nhân cũng có thể khơi dậy một thứ tình cảm mãnh liệt đến độ anh trai hắn đã quay sang tự vẫn khi biết rằng hắn đã bị kết án tử hình. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng chẳng còn lựa chọn nào khác cho hành động của mình. Bác sĩ và tôi sẽ đứng gác ở đây, còn anh Pycroft, phiền anh bước ra ngoài và gọi cảnh sát vào cho chúng tôi."



  1. Tên gọi lịch sử của hội chứng múa vờn (Sydenham's chorea), được gọi là 'điệu nhảy của Thánh Vitus' (St. Vitus' Dance), chỉ tình trạng co giật và cử động vô thức ở cơ bắp. Thánh Vitus được coi là vị thánh bảo trợ cho những người vũ công. 

  2. Một thuật ngữ chỉ những người thuộc tầng lớp lao động hoặc trung lưu thấp sinh ra ở khu vực phía Đông London (East End), nổi bật với giọng nói đặc trưng. Trong thời kỳ này, họ thường bị coi là những người thành thị thiếu tinh tế so với giới tinh hoa. 

  3. Viết tắt của 'East Central', là mã bưu điện chỉ khu vực trung tâm tài chính và thương mại lịch sử của London (thường được gọi là 'the City' hoặc 'City of London'). 

  4. Dịch từ thành ngữ tiếng Anh 'Rome wasn't built in a day', ngụ ý rằng những công việc vĩ đại và quan trọng thì cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn mới có thể hoàn thành. 

  5. Day's Music Hall, một tụ điểm giải trí có thật và rất nổi tiếng tại thành phố Birmingham vào thời kỳ Victoria, chuyên trình diễn các tiết mục âm nhạc và tạp kỹ. 

  6. Dịch từ 'penal servitude', một hình phạt giam giữ nghiêm ngặt kèm theo lao động nặng nhọc, rất phổ biến trong hệ thống tư pháp của Anh thời kỳ Victoria dành cho các tội phạm hình sự nguy hiểm.