XI. Bản Hiệp ước Hải quân

Tháng Bảy năm ấy, ngay sau đám cưới của tôi, đã để lại trong tôi những kỷ niệm khó phai mờ nhờ ba vụ án ly kỳ mà tôi có vinh dự được sát cánh cùng Sherlock Holmes và nghiên cứu phương pháp làm việc của anh. Trong cuốn sổ tay của mình, tôi thấy chúng được ghi lại dưới những tiêu đề: "Cuộc phiêu lưu của Vết nhơ thứ hai", "Cuộc phiêu lưu của Hiệp ước Hải quân", và "Cuộc phiêu lưu của Thuyền trưởng mệt mỏi". Đáng tiếc thay, vụ án đầu tiên lại dính líu đến những lợi ích sống còn của quốc gia và liên quan tới nhiều gia tộc vào bậc nhất vương quốc, thành thử trong nhiều năm tới, việc công khai nó là điều bất khả thi. Ấy vậy mà, trong tất thảy những vụ án Holmes từng tham gia, không vụ nào lại phô bày rực rỡ hơn giá trị của các phương pháp phân tích mà anh sử dụng, hay gây ấn tượng sâu đậm hơn đối với những người từng được cộng tác cùng anh. Tôi hiện vẫn còn lưu giữ bản ghi chép gần như nguyên văn cuộc phỏng vấn, nơi anh phơi bày sự thật cốt lõi của vụ án trước ngài Dubuque, đại diện cảnh sát Paris, cùng Fritz von Waldbaum, chuyên gia lừng danh xứ Dantzig - hai con người đã uổng phí biết bao tâm trí vào những ngóc ngách vụn vặt. Nhưng rồi cũng phải chờ cho đến tận thế kỷ mới, câu chuyện ấy mới có thể được kể lại một cách an toàn. Vậy nên, trong lúc đợi chờ, tôi xin chuyển sang vụ án thứ hai trong danh sách - một vụ án từng có lúc hứa hẹn vươn tới tầm vóc quốc gia, và được tô điểm bởi những tình tiết khiến nó mang một sắc thái hoàn toàn độc đáo.

Thuở còn cắp sách tới trường, tôi từng chơi rất thân với một cậu bạn tên Percy Phelps. Cậu ấy trạc tuổi tôi, dù học trên tôi những hai lớp. Cậu là một học trò xuất chúng hiếm thấy: mọi giải thưởng nhà trường có thể trao tặng, cậu đều ẵm trọn. Cậu khép lại chuỗi ngày vinh quang ấy bằng một suất học bổng đưa cậu thẳng tiến lên Cambridge trên con đường học vấn đầy hứa hẹn. Tôi nhớ rõ cậu xuất thân từ một dòng tộc vô cùng danh giá - ngay từ khi chúng tôi còn là những cậu nhóc, tất cả đều đã biết cậu ruột của Phelps chính là Huân tước Holdhurst, vị chính khách bảo thủ lỗi lạc. Thế nhưng, mối quan hệ hào nhoáng ấy chẳng đem lại cho cậu chút ưu ái nào ở trường học. Ngược lại, đối với lũ chúng tôi, việc rượt đuổi cậu quanh sân chơi và dùng gậy wicket1 nện vào ống chân cậu dường như lại là một trò tiêu khiển đầy khoái trá. Ấy vậy mà khi cậu bước chân ra ngoài xã hội, mọi chuyện đã đổi khác. Tôi có nghe loáng thoáng rằng nhờ tài năng cùng những mối quan hệ quyền thế, cậu đã kiếm được một vị trí tốt tại Bộ Ngoại giao. Rồi cậu hoàn toàn biến mất khỏi tâm trí tôi, cho đến một ngày, bức thư dưới đây đánh thức tôi nhớ lại sự tồn tại của cậu:

Briarbrae, Woking. Watson thân mến,-Tôi không nghi ngờ gì việc anh có thể nhớ đến "Nòng nọc" Phelps, kẻ học lớp năm khi anh còn học lớp ba. Thậm chí có lẽ anh đã nghe nói rằng, nhờ ảnh hưởng của cậu tôi, tôi đã có được một công việc tốt ở Bộ Ngoại giao, và rằng tôi đã ở vào một vị trí được tín nhiệm và đầy vinh dự - cho đến khi một tai họa khủng khiếp đột ngột ập xuống, phá tan sự nghiệp của tôi. Viết ra những chi tiết của sự kiện kinh hoàng ấy lúc này cũng chẳng ích gì. Nếu anh nhận lời yêu cầu của tôi, rất có thể tôi sẽ phải kể lại toàn bộ cho anh nghe. Tôi mới chỉ vừa bình phục sau chín tuần vật lộn với chứng viêm màng não, và giờ đây vẫn còn cực kỳ yếu ớt. Anh có nghĩ mình có thể đưa người bạn của anh, anh Holmes, xuống gặp tôi không? Tôi khao khát được nghe ý kiến của anh ấy về vụ án, dẫu nhà chức trách đã cam đoan với tôi rằng chẳng còn gì có thể làm hơn được nữa. Xin anh hãy cố đưa anh ấy đến đây, càng sớm càng tốt. Mỗi phút giây trôi qua tựa như một giờ đồng hồ khi tôi phải sống trong tình trạng hồi hộp đến nghẹt thở thế này. Xin anh hãy cam đoan với anh ấy rằng, nếu tôi không tìm đến xin lời khuyên của anh ấy sớm hơn, thì không phải vì tôi không biết trân trọng tài năng của anh ấy, mà bởi lẽ kể từ khi tai họa ập xuống, tâm trí tôi đã hoàn toàn rối loạn. Giờ đây tôi đã tỉnh táo trở lại, dù tôi không dám nghĩ về chuyện ấy quá nhiều vì sợ cơn bệnh cũ tái phát. Tôi vẫn còn yếu tới mức phải viết thư, như anh thấy đấy, bằng cách đọc cho người khác chép. Xin anh hãy cố đưa anh ấy đến.

Người bạn học cũ của anh, Percy Phelps.

Có điều gì đó khiến lòng tôi thắt lại khi đọc bức thư này - một nỗi niềm đáng thương ẩn trong những lời khẩn cầu lặp đi lặp lại, van nài tôi đưa Holmes đến. Tôi xúc động đến mức dù việc ấy có khó khăn thế nào, tôi cũng quyết tâm thực hiện cho bằng được. Nhưng dĩ nhiên, tôi thừa biết Holmes yêu nghề của mình sâu sắc ra sao, và anh luôn sẵn lòng dang tay giúp đỡ bất kỳ ai, nhiệt thành đúng như điều thân chủ của anh hằng mong mỏi. Vợ tôi cũng đồng tình rằng không nên chậm trễ một phút nào trong việc trình bày sự việc với anh. Thế là chỉ trong vòng một giờ sau bữa sáng, tôi lại thấy mình một lần nữa quay về căn phòng cũ thân thuộc ở phố Baker.

Holmes đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ, khoác chiếc áo choàng ngủ quen thuộc, miệt mài lao vào một cuộc nghiên cứu hóa học. Một chiếc bình chưng cất lớn với phần cổ uốn cong đang réo sùng sục trên ngọn lửa xanh lè của đèn khò Bunsen2, và từng giọt chất lỏng đang nhỏ giọt ngưng tụ vào một ống đong dung tích hai lít. Bạn tôi hầu như không ngước mắt lên khi tôi bước vào. Nhận thấy cuộc nghiên cứu của anh hẳn phải quan trọng lắm, tôi lặng lẽ ngồi xuống một chiếc ghế bành và kiên nhẫn chờ đợi. Anh nhúng chiếc ống hút thủy tinh vào hết lọ này đến lọ khác, rút ra vài giọt từ mỗi thứ, rồi cuối cùng mang một ống nghiệm chứa đầy dung dịch trở lại bàn. Trong tay phải, anh cầm một mẩu giấy quỳ.

"Anh đến thật đúng vào lúc gay cấn đấy, Watson à," anh cất tiếng. "Nếu mảnh giấy này giữ nguyên màu xanh, mọi chuyện đều ổn. Còn nếu nó chuyển sang màu đỏ, thế nghĩa là mạng sống của một con người." Anh nhúng tờ giấy vào ống nghiệm, và nó lập tức ửng lên thành một sắc đỏ thẫm, đục ngầu và nhơ bẩn. "Hừm! Tôi cũng đoán thế mà!" anh kêu lên. "Tôi sẽ phục vụ anh trong giây lát thôi, Watson. Anh sẽ tìm thấy thuốc lá trong chiếc dép Ba Tư đấy." Anh quay sang bàn làm việc, viết vội vài bức điện tín rồi trao cho cậu bé giúp việc. Sau đó, anh thả mình xuống chiếc ghế đối diện, co đầu gối lên cho đến khi những ngón tay đan chặt vòng quanh đôi ống chân dài và gầy guộc của mình.

"Một vụ án mạng nho nhỏ, hết sức tầm thường thôi," anh nhận xét. "Anh mang đến chuyện gì hay ho hơn chứ, tôi đoán vậy. Anh đúng là chú chim báo bão của tội ác, Watson ạ. Nào, có chuyện gì vậy?"

Tôi đưa cho anh bức thư. Anh đọc nó với sự tập trung cao độ nhất.

"Nó chẳng cho chúng ta biết nhiều nhặn gì, phải không?" anh nhận xét khi trả bức thư lại cho tôi.

"Hầu như chẳng có gì cả."

"Ấy thế mà nét chữ lại rất đáng chú ý."

"Nhưng đó đâu phải nét chữ của cậu ấy."

"Chính xác. Đây là nét chữ của một người phụ nữ."

"Chắc chắn phải là đàn ông chứ," tôi kêu lên.

"Không. Của phụ nữ, và còn là một người phụ nữ mang cá tính hiếm thấy nữa kia. Anh thấy đấy, ngay ở bước khởi đầu của một cuộc điều tra, việc biết được thân chủ của mình đang tiếp xúc gần gũi với một con người - dù tốt hay xấu - mang bản chất khác thường, đã là một mảnh ghép rất đáng giá rồi. Vụ án này bắt đầu khơi gợi sự tò mò của tôi. Nếu anh đã sẵn sàng, chúng ta sẽ lập tức lên đường tới Woking, gặp vị nhà ngoại giao đang lâm vào cảnh ngộ thảm thương này, cùng với quý cô đã chép thư cho cậu ấy."

Chúng tôi may mắn bắt kịp chuyến tàu sớm khởi hành từ Waterloo, và chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, cả hai đã thấy mình đứng giữa những rặng thông xanh thẫm và những bụi thạch nam trải dài của vùng Woking. Briarbrae hiện ra trước mắt - một tòa nhà đồ sộ nằm biệt lập giữa một khuôn viên rộng mênh mông, chỉ cách nhà ga dăm phút tản bộ. Sau khi gửi tấm danh thiếp vào, chúng tôi được mời vào một phòng khách trang nhã, nơi một người đàn ông vóc dáng khá đẫy đà đón tiếp chúng tôi bằng tất cả lòng hiếu khách nồng hậu chỉ ít phút sau đó. Tuổi tác của ông ta có lẽ gần bốn mươi hơn là ba mươi, thế nhưng đôi má hồng hào và ánh mắt lấp lánh đầy vui tươi khiến người ta vẫn có ấn tượng về một cậu bé mũm mĩm, tinh nghịch.

“Tôi thực sự mừng vì các ngài đã đến,” ông ta cất tiếng, siết chặt tay chúng tôi đầy nồng nhiệt. “Percy đã hỏi thăm các ngài suốt cả buổi sáng. Ôi, anh bạn già tội nghiệp, cậu ấy đang bám víu vào bất cứ cọng rơm nào! Cha mẹ cậu ấy đã nhờ tôi ra đón tiếp các ngài, bởi chỉ cần nhắc đến chuyện này thôi cũng đủ khiến hai bác ấy đau lòng lắm rồi.”

“Chúng tôi vẫn chưa được biết một chi tiết nào,” Holmes nhận xét. “Tôi nhận thấy anh không phải là người trong gia đình.”

Người quen mới của chúng tôi thoáng lộ vẻ kinh ngạc, rồi cúi xuống nhìn, ông ta bật cười.

“Tất nhiên là ngài đã nhìn thấy hai chữ viết tắt ‘J.H.’ trên mặt dây chuyền của tôi rồi,” ông ta nói. “Trong một khoảnh khắc, tôi đã tưởng ngài vừa làm được điều gì đó thật phi thường. Tôi tên là Joseph Harrison, và vì Percy sắp kết hôn với em gái tôi, Annie, nên ít nhất tôi cũng sẽ trở thành họ hàng qua hôn nhân. Các ngài sẽ gặp em gái tôi ở ngay trong phòng cậu ấy, vì con bé đã túc trực chăm sóc cậu ấy suốt hai tháng qua rồi. Có lẽ tốt nhất là chúng ta nên vào ngay thôi, bởi tôi biết cậu ấy đang sốt ruột đến nhường nào.”

Căn phòng chúng tôi được dẫn vào nằm trên cùng tầng với phòng khách. Nó được bài trí vừa như một phòng sinh hoạt, vừa như một phòng ngủ, với những bó hoa tươi được cắm hết sức khéo léo ở mọi góc. Một chàng thanh niên gương mặt nhợt nhạt, thân hình tiều tụy, đang nằm thiêm thiếp trên chiếc ghế sofa kê sát bên khung cửa sổ mở toang, nơi hương thơm nồng nàn của khu vườn và làn gió mùa hạ dịu êm cùng nhau len lỏi vào phòng. Một người phụ nữ đang ngồi bên cạnh cậu ấy; cô đứng dậy khi chúng tôi bước vào.

“Em ra ngoài nhé, Percy?” cô khẽ hỏi.

Cậu nắm lấy tay cô để giữ cô ở lại. “Anh khỏe không, Watson?” cậu cất tiếng, giọng đầy thân thiện. “Tôi chắc hẳn sẽ chẳng thể nào nhận ra anh với bộ ria mép ấy, và tôi dám chắc anh cũng chẳng sẵn lòng thề thốt gì để nhận ra tôi đâu. Tôi đoán đây chính là người bạn lừng danh của anh, ngài Sherlock Holmes?”

Tôi giới thiệu anh ấy bằng đôi lời ngắn gọn, rồi cả hai chúng tôi cùng ngồi xuống. Người thanh niên đẫy đà ban nãy đã rời khỏi phòng, nhưng em gái ông ta vẫn nán lại, bàn tay cô nằm gọn trong tay người bệnh. Cô là một phụ nữ có diện mạo thực sự nổi bật - dáng người hơi thấp và hơi đậm so với tỉ lệ cân đối thông thường, nhưng lại sở hữu một làn da ngăm đen tuyệt đẹp, đôi mắt đen láy to tròn tựa mắt những thiếu nữ nước Ý, cùng một mái tóc đen tuyền dày dặn lạ thường. Nước da mặn mà, rực rỡ ấy càng khiến cho khuôn mặt trắng bệch, hốc hác của người bạn đồng hành với cô trở nên tiều tụy đến nao lòng bởi sự tương phản.

“Tôi sẽ không làm mất thời gian của hai ngài,” cậu ta nói, cố rướn người lên khỏi ghế sofa. “Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề mà chẳng cần rào đón gì thêm nữa. Tôi từng là một người đàn ông hạnh phúc và thành đạt, thưa ngài Holmes, thế rồi ngay trước đêm tân hôn của mình, một tai họa khủng khiếp và đột ngột đã hủy hoại toàn bộ mọi triển vọng trong cuộc đời tôi.

“Như Watson có lẽ đã kể với ngài, tôi làm việc ở Bộ Ngoại giao, và nhờ ảnh hưởng của bác tôi, Huân tước Holdhurst, tôi đã thăng tiến rất nhanh, vươn tới một vị trí đầy trọng trách. Khi bác tôi trở thành Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ đương nhiệm, ngài đã giao phó cho tôi một vài nhiệm vụ đòi hỏi sự tin cẩn tuyệt đối, và bởi tôi luôn hoàn thành chúng một cách xuất sắc, cuối cùng ngài đã đặt trọn niềm tin vào năng lực và sự khéo léo của tôi.

“Gần mười tuần trước - chính xác là vào ngày hai mươi ba tháng Năm - ngài cho gọi tôi vào phòng riêng của mình, và sau khi khen ngợi tôi về những thành tích đã đạt được, ngài thông báo rằng ngài có một nhiệm vụ mới, một nhiệm vụ tối mật, muốn giao cho tôi thực hiện.

“‘Đây,’ ngài nói, rút từ trong ngăn bàn ra một cuộn giấy màu xám, ‘là bản gốc của bản hiệp ước bí mật giữa Anh và Ý, mà ta rất lấy làm tiếc phải nói rằng, một số tin đồn về nó đã lọt ra ngoài báo chí công khai. Việc không để thêm bất cứ điều gì bị rò rỉ nữa là vô cùng quan trọng. Đại sứ quán Pháp hoặc Nga sẽ sẵn sàng trả một khoản tiền khổng lồ để biết được nội dung của những tờ giấy này. Lẽ ra chúng chẳng bao giờ nên rời khỏi chiếc bàn làm việc của ta, nếu không vì bắt buộc phải sao chép chúng. Cháu có bàn làm việc riêng trong văn phòng của mình chứ?’

“‘Dạ có, thưa ngài.’

“‘Vậy thì hãy mang bản hiệp ước này đến đó và khóa nó vào ngăn bàn của cháu. Ta sẽ ra chỉ thị để cháu có thể ở lại sau khi những người khác đã ra về, nhờ đó cháu có thể thong thả sao chép nó mà không sợ bị ai dòm ngó. Khi hoàn thành, hãy khóa cả bản gốc lẫn bản chép vào ngăn bàn, rồi tự tay trao chúng cho ta vào sáng hôm sau.’

“Tôi nhận lấy xấp giấy và -”

“Xin lỗi, cho phép tôi ngắt lời anh một lát,” Holmes cất tiếng. “Trong suốt cuộc trò chuyện này, anh có ở một mình không?”

“Hoàn toàn chỉ một mình tôi thôi.”

“Trong một căn phòng rộng chứ?”

“Mỗi chiều ba mươi feet.”

“Ở khoảng giữa phòng?”

“Vâng, đại khái là như vậy.”

“Và nói khẽ chứ?”

“Giọng của bác tôi trước nay vốn luôn rất nhỏ nhẹ. Còn tôi thì hầu như chẳng nói gì.”

“Cảm ơn anh,” Holmes nói, rồi nhắm mắt lại. “Xin hãy tiếp tục.”

“Tôi đã làm chính xác những gì ngài ấy căn dặn, và đợi cho đến khi tất cả những thư ký khác đã rời khỏi văn phòng. Có một người trong số họ ngồi cùng phòng với tôi, Charles Gorot, đang có ít việc tồn đọng cần giải quyết nốt, thế nên tôi để anh ta ở lại đó và ra ngoài ăn tối. Khi tôi quay trở lại, anh ta đã rời đi rồi. Tôi nóng lòng muốn hoàn thành công việc cho thật nhanh, vì tôi biết Joseph - ngài Harrison mà hai ngài vừa gặp khi nãy - đang có mặt trong thị trấn, và anh ấy sẽ đáp chuyến tàu mười một giờ để về Woking, còn tôi thì muốn, nếu có thể, sẽ bắt kịp chuyến tàu ấy.

“Khi xem qua bản hiệp ước, tôi nhận ra ngay rằng mức độ quan trọng của nó quả thực vượt xa mọi lời bác tôi đã nói, chẳng hề cường điệu chút nào. Không đi sâu vào các chi tiết cụ thể, tôi chỉ có thể nói rằng nó định rõ lập trường của Vương quốc Anh đối với Liên minh Ba nước3, đồng thời vạch ra chính sách mà quốc gia này sẽ theo đuổi trong tình huống hạm đội Pháp giành được ưu thế tuyệt đối so với hạm đội Ý trên Địa Trung Hải. Những vấn đề được đề cập trong đó hoàn toàn thuộc về lĩnh vực hải quân. Ở cuối văn kiện là chữ ký của những chức sắc cấp cao nhất đã phê chuẩn nó. Tôi lướt mắt qua một lượt, rồi bắt tay ngay vào công việc sao chép của mình.

“Đó là một văn kiện rất dài, được soạn bằng tiếng Pháp, bao gồm hai mươi sáu điều khoản riêng biệt. Tôi chép nhanh hết sức có thể, thế nhưng đến chín giờ tối tôi mới chỉ hoàn thành được chín điều, và có vẻ như nỗ lực bắt kịp chuyến tàu của mình đã trở nên hoàn toàn vô vọng. Tôi cảm thấy đầu óc lơ mơ, buồn ngủ, một phần vì bữa tối, một phần vì ảnh hưởng của một ngày dài làm việc căng thẳng. Một tách cà phê sẽ giúp tôi tỉnh táo trở lại. Ông gác cổng vốn trực suốt đêm trong một căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, và có thói quen pha cà phê bằng đèn cồn cho bất kỳ viên chức nào có thể đang làm việc ngoài giờ. Thế là tôi nhấn chuông gọi ông ta.

“Trước sự ngạc nhiên của tôi, người đáp lại tiếng chuông ấy lại là một phụ nữ - một người đàn bà lớn tuổi, khuôn mặt thô kệch, mặc một chiếc tạp dề. Bà ta giải thích rằng mình là vợ của ông gác cổng, làm công việc dọn dẹp ở tòa nhà, và tôi đã bảo bà ta đi pha cho mình một tách cà phê.

“Tôi viết thêm được hai điều khoản nữa, rồi cảm thấy cơn buồn ngủ ngày một dữ dội hơn, tôi đứng dậy và đi tới đi lui trong phòng để duỗi chân duỗi tay. Cà phê của tôi vẫn chưa thấy mang đến, và tôi bắt đầu tự hỏi đâu là nguyên nhân của sự chậm trễ này. Mở cửa, tôi men theo hành lang để tìm hiểu xem sao. Có một lối đi thẳng tắp, ánh sáng mờ mờ, dẫn ra từ căn phòng nơi tôi đang làm việc, và đó cũng là lối ra duy nhất từ đó. Nó kết thúc ở một cầu thang uốn cong, với phòng của ông gác cổng nằm ngay ở lối đi phía dưới cùng. Lưng chừng cầu thang này là một chiếu nghỉ nhỏ, nơi có một lối đi khác đâm vào theo góc vuông. Lối đi thứ hai này dẫn qua một cầu thang nhỏ thứ hai, đến một cánh cửa phụ vốn được những người phục vụ sử dụng, và đôi khi cũng được các thư ký dùng làm lối tắt khi đi từ phố Charles tới. Đây là một bản phác thảo sơ lược về nơi đó.”

bản phác thảo thô

“Cảm ơn anh. Tôi nghĩ tôi đã hình dung được hoàn toàn rồi,” Sherlock Holmes nói.

“Việc ngài đặc biệt lưu ý đến điểm này là cực kỳ quan trọng. Tôi đi xuống cầu thang và bước vào sảnh, nơi tôi thấy ông gác cổng đang ngủ say sưa trong căn buồng của ông ta, trong khi ấm nước trên chiếc đèn cồn vẫn đang sôi sùng sục. Tôi nhấc ấm nước ra và thổi tắt ngọn lửa, vì nước đang bắn tung tóe ra khắp sàn. Rồi tôi vừa đưa tay ra định lay người đàn ông vẫn đang say ngủ kia dậy, thì bỗng nhiên một chiếc chuông phía trên đầu ông ta réo vang, và ông ta giật mình tỉnh giấc.

“‘Anh Phelps, thưa ngài!’ ông ta thốt lên, nhìn tôi đầy bối rối.

“‘Tôi xuống đây để xem cà phê của tôi đã sẵn sàng chưa.’

“‘Tôi đang đun nước thì vô tình thiếp đi mất, thưa ngài.’ Ông ta nhìn tôi, rồi lại ngước lên nhìn chiếc chuông vẫn đang tiếp tục ngân vang, với một nỗi kinh ngạc mỗi lúc một hằn sâu trên khuôn mặt.

“‘Nếu ngài đang ở đây, thưa ngài, vậy thì ai đã rung chuông?’ ông ta hỏi.

“‘Cái chuông!’ tôi kêu lên. ‘Đó là chuông gì vậy?’

“‘Đó là chuông từ căn phòng mà ngài đang làm việc ạ.’

“Một bàn tay lạnh buốt dường như bóp nghẹt lấy trái tim tôi. Vậy là, có kẻ nào đó đang ở trong căn phòng, nơi bản hiệp ước quý giá của tôi vẫn còn nằm trên mặt bàn. Tôi lao điên cuồng ngược lên cầu thang, rồi chạy dọc theo hành lang. Chẳng có bóng người nào trong các hành lang cả, thưa ngài Holmes. Cũng chẳng có ai trong căn phòng. Mọi thứ vẫn y nguyên chính xác như lúc tôi rời đi, chỉ trừ một điều duy nhất - xấp giấy tờ đã được giao phó cho tôi canh giữ đã bị lấy đi khỏi chiếc bàn nơi chúng vừa nằm đó. Bản sao thì vẫn còn, nhưng bản gốc đã biến mất.”

Holmes ngồi thẳng dậy trên ghế và xoa hai tay vào nhau. Tôi có thể thấy rằng vấn đề này hoàn toàn trúng vào sở thích của anh. “Xin hỏi, sau đó anh đã làm gì?” anh thì thầm hỏi.

“Tôi nhận ra trong nháy mắt rằng tên trộm hẳn đã đi lên cầu thang từ phía cánh cửa phụ. Dĩ nhiên, tôi ắt đã phải chạm mặt hắn nếu hắn đi theo lối còn lại.”

“Anh có hoàn toàn chắc chắn rằng hắn không thể trốn ở đâu đó trong căn phòng suốt thời gian ấy, hoặc trong hành lang mà anh vừa mô tả là chỉ có ánh sáng lờ mờ không?”

“Điều đó là hoàn toàn bất khả thi. Một con chuột cũng chẳng thể ẩn mình trong căn phòng hay ngoài hành lang. Chẳng có bất kỳ chỗ nào để nấp cả.”

“Cảm ơn anh. Xin hãy tiếp tục.”

“Ông gác cổng, vừa trông thấy khuôn mặt tái nhợt của tôi, đã biết ngay rằng có chuyện chẳng lành, và vội vã theo tôi lên lầu. Lúc này, cả hai chúng tôi cùng lao dọc theo hành lang rồi chạy xuống những bậc thang dốc dẫn ra phố Charles. Cánh cửa ở phía dưới cùng đã được khép lại, nhưng không hề khóa. Chúng tôi bật tung nó ra và nhào ra bên ngoài. Tôi còn nhớ rất rõ rằng, ngay khoảnh khắc ấy, có ba tiếng chuông vang lên từ một chiếc đồng hồ gần đó. Đó là mười giờ kém mười lăm.”

“Chi tiết ấy có tầm quan trọng vô cùng to lớn,” Holmes nhận định, rồi ghi chú vội lên cổ tay áo sơ mi của mình.

“Đêm hôm ấy tối đen như mực, và một cơn mưa nhỏ, ấm áp đang rả rích rơi. Chẳng có bóng người nào trên phố Charles, nhưng ở ngay cuối con phố, đường Whitehall vẫn tấp nập xe cộ qua lại như thường lệ. Chúng tôi hối hả chạy dọc theo vỉa hè, đầu vẫn trần như lúc ở trong nhà, và ở góc phố xa xa, chúng tôi trông thấy một người cảnh sát đang đứng gác.

“‘Một vụ trộm vừa mới xảy ra,’ tôi hổn hển. ‘Một tài liệu có giá trị vô cùng to lớn đã bị đánh cắp khỏi Bộ Ngoại giao. Có ai đi ngang qua lối này không?’

“‘Tôi đã đứng ở đây được mười lăm phút rồi, thưa ngài,’ anh ta đáp. ‘Chỉ có đúng một người đi qua trong khoảng thời gian đó thôi - một phụ nữ, cao lớn và đứng tuổi, quàng một chiếc khăn choàng Paisley.’

“‘À, đó chỉ là vợ tôi thôi,’ ông gác cổng kêu lên. ‘Không còn ai khác đi qua sao?’

“‘Không một ai hết.’

“‘Vậy thì tên trộm ắt phải đi bằng lối khác rồi,’ gã kia kêu lên, và kéo tay áo tôi.

“Nhưng tôi chẳng hề cảm thấy yên tâm, và những nỗ lực lôi kéo tôi rời đi của ông ta chỉ càng khiến mối nghi ngờ trong tôi tăng thêm.

“‘Người phụ nữ ấy đã đi về hướng nào?’ tôi kêu lớn.

“‘Tôi không rõ, thưa ngài. Tôi có để ý thấy bà ấy đi qua, nhưng tôi chẳng có lý do gì đặc biệt để theo dõi bà ấy cả. Có vẻ như bà ấy đang rất vội.’

“‘Cách đây bao lâu rồi?’

“‘Ồ, chẳng mấy phút đâu ạ.’

“‘Trong vòng năm phút trở lại đây chứ?’

“‘Ừm, chắc chắn là không quá năm phút đâu.’

“‘Ngài chỉ đang phí phạm thời gian của mình thôi, thưa ngài, và lúc này mỗi phút giây đều quý giá cả,’ ông gác cổng lại kêu lên. ‘Xin hãy tin lời tôi, bà lão nhà tôi chẳng dính dáng gì đến chuyện này hết, và hãy mau đến đầu kia của con phố đi. Này, nếu ngài không đi, thì tôi sẽ đi đây.’ Dứt lời, ông ta liền lao đi theo hướng ngược lại.

“Nhưng tôi đã đuổi theo ông ta trong nháy mắt và chộp lấy tay áo ông ta.

“‘Ông sống ở đâu?’ tôi hỏi.

“‘Số mười sáu, ngõ Ivy, Brixton,’ ông ta đáp. ‘Nhưng xin ngài đừng để mình bị lôi kéo vào một dấu vết giả, anh Phelps. Hãy đến đầu kia của con phố và xem thử chúng ta có thể dò hỏi được gì không.’

“Nghe theo lời khuyên của ông ta thì cũng chẳng mất gì. Cùng với viên cảnh sát, cả ba chúng tôi vội vã chạy xuống phía dưới, nhưng chỉ thấy con phố đầy ắp xe cộ qua lại, bao nhiêu người chen chúc, tất cả đều chỉ quá nóng lòng muốn tìm được một chỗ trú thân an toàn trong một đêm mưa ướt như thế. Chẳng có một kẻ nhàn rỗi nào có thể cho chúng tôi biết ai đã đi ngang qua.

“Sau đó, chúng tôi quay trở lại văn phòng, rồi lục soát khắp cầu thang và lối đi, nhưng hoàn toàn vô ích. Hành lang dẫn đến căn phòng được lát bằng một loại vải sơn màu kem, rất dễ hằn dấu vết. Chúng tôi đã xem xét nó hết sức kỹ lưỡng, thế nhưng chẳng hề tìm thấy dù chỉ một chút hình dáng của dấu chân nào.”

“Trời đã mưa suốt cả buổi tối rồi sao?” Holmes hỏi.

“Từ khoảng bảy giờ tối.”

“Vậy thì làm sao người phụ nữ đã vào phòng anh vào khoảng chín giờ lại có thể không hề để lại bất kỳ dấu vết nào từ đôi bốt lấm bùn của bà ta?”

“Tôi rất mừng vì ngài đã nêu ra điểm này. Điều ấy cũng đã nảy ra trong đầu tôi vào lúc đó. Những người phụ nữ làm công việc dọn dẹp có thói quen cởi bốt ra ở phòng của ông gác cổng, rồi xỏ vào những đôi dép dạ.”

“Quả thật rất hợp lý. Vậy là không hề có bất kỳ dấu vết nào, dù đêm hôm ấy trời mưa ướt át? Chuỗi sự kiện này quả là một trong những điều hết sức thú vị và phi thường. Vậy tiếp sau đó anh đã làm gì?”

“Chúng tôi cũng đã kiểm tra kỹ lưỡng căn phòng. Không hề có khả năng tồn tại một cánh cửa bí mật nào cả, và những khung cửa sổ thì cao cách mặt đất đúng ba mươi feet. Cả hai cánh cửa sổ đều được chốt kỹ từ bên trong. Tấm thảm trải sàn thì loại trừ mọi khả năng có cửa sập, còn trần nhà thì chỉ là loại quét vôi trắng thông thường. Tôi dám đem cả tính mạng mình ra mà thề rằng, bất cứ kẻ nào đánh cắp giấy tờ của tôi, chỉ có thể đi qua cánh cửa ra vào mà thôi.”

“Thế còn lò sưởi thì sao?”

“Ở đó chẳng có lò sưởi nào hết. Chỉ có một chiếc bếp lò. Dây chuông treo lủng lẳng ngay bên phải bàn làm việc của tôi. Bất kỳ ai muốn rung nó đều phải đi thẳng đến tận bàn để làm việc ấy. Nhưng có tên tội phạm nào lại muốn rung chuông cơ chứ? Đó quả là một bí ẩn không sao lý giải nổi.”

“Quả thực sự việc này vô cùng bất thường. Những bước tiếp theo của anh là gì? Tôi đoán là anh đã kiểm tra căn phòng để xem liệu kẻ xâm nhập có để lại bất kỳ thứ gì hay không - một mẩu xì gà, một chiếc găng tay bị bỏ quên, một cái kẹp tóc hay bất cứ vật vụn vặt nào chăng?”

“Chẳng có bất cứ thứ gì như vậy hết.”

“Không hề có mùi gì sao?”

“Ồ, chúng tôi chưa từng nghĩ đến điều đó.”

“À, một mùi thuốc lá sẽ có giá trị vô cùng to lớn đối với chúng ta trong một cuộc điều tra như thế này.”

“Bản thân tôi không bao giờ hút thuốc, nên tôi nghĩ rằng hẳn tôi đã phải chú ý đến nó nếu có bất kỳ mùi thuốc lá nào. Hoàn toàn chẳng có bất cứ manh mối nào cả. Sự thật hữu hình duy nhất là vợ của ông gác cổng - bà Tangey là tên bà ta - đã vội vã rời khỏi tòa nhà. Ông ta chẳng thể đưa ra lời giải thích nào khác, ngoài việc đó là khoảng thời gian mà bà ta vẫn thường về nhà. Viên cảnh sát và tôi nhất trí rằng kế hoạch tốt nhất của chúng tôi là bắt giữ người phụ nữ này ngay lập tức, trước khi bà ta kịp tẩu tán những tờ giấy, với giả định rằng bà ta chính là thủ phạm.

“Lúc này tin báo động đã được chuyển đến Sở Cảnh sát Scotland Yard4, và anh Forbes, viên thám tử, đã có mặt ngay tức khắc, tiếp nhận vụ án với một nguồn năng lượng dồi dào đáng kinh ngạc. Chúng tôi thuê một chiếc xe ngựa, và trong vòng nửa giờ đồng hồ, chúng tôi đã có mặt tại địa chỉ được cung cấp. Một thiếu nữ trẻ ra mở cửa - hóa ra là con gái lớn của bà Tangey. Mẹ cô ta vẫn chưa về, và chúng tôi được mời vào phòng trước để chờ đợi.

“Khoảng mười phút sau, có tiếng gõ cửa. Và chính tại đây, chúng tôi đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng duy nhất mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn không ngừng tự trách mình. Thay vì đích thân ra mở cửa, chúng tôi lại để cho cô gái làm việc ấy. Chúng tôi nghe thấy cô ta nói: ‘Mẹ ơi, trong nhà có hai người đàn ông đang đợi gặp mẹ,’ và ngay khoảnh khắc sau đó, chúng tôi nghe rõ tiếng bước chân vội vã chạy dọc hành lang. Forbes bật tung cánh cửa, và cả hai chúng tôi cùng lao vào căn phòng phía sau, chính là gian bếp, thế nhưng người đàn bà ấy đã đến đó trước chúng tôi. Bà ta trừng trừng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt đầy vẻ thách thức, rồi bỗng nhiên nhận ra tôi, một biểu cảm kinh ngạc tột độ hiện ra trên khuôn mặt bà ta.

“‘Ủa, nếu đây không phải là anh Phelps ở văn phòng sao!’ bà ta thốt lên.

“‘Nào, nào, bà nghĩ chúng tôi là ai khi bà bỏ chạy khỏi chúng tôi như vậy?’ người bạn đồng hành của tôi chất vấn.

“‘Tôi cứ tưởng các ông là bọn đòi nợ,’ bà ta đáp. ‘Chúng tôi đang gặp rắc rối với một nhà buôn.’

“‘Điều đó chưa đủ sức thuyết phục đâu,’ Forbes đáp lại. ‘Chúng tôi có lý do để tin rằng bà đã lấy đi một tờ giấy quan trọng từ Bộ Ngoại giao, và rằng bà đã chạy về đây để tẩu tán nó. Bà sẽ phải theo chúng tôi về Scotland Yard để chịu khám xét.’

“Bà ta phản đối và chống cự trong vô vọng. Một chiếc xe ngựa bốn bánh được gọi đến, và cả ba chúng tôi cùng lên xe trở về. Trước đó, chúng tôi đã khám xét kỹ căn bếp, đặc biệt là bếp lửa, để xem liệu trong khoảnh khắc ngắn ngủi được ở một mình, bà ta có thể đã kịp tiêu hủy những tờ giấy hay không. Tuy nhiên, chẳng hề có dấu vết của bất kỳ đống tro tàn hay mảnh vụn nào. Khi chúng tôi về đến Scotland Yard, bà ta ngay lập tức được giao cho một nữ nhân viên khám xét. Tôi đã đợi trong nỗi hồi hộp tột cùng cho đến khi cô ấy quay trở lại với bản báo cáo của mình. Chẳng có bất cứ dấu vết nào của những tờ giấy.

“Và chính lúc ấy, lần đầu tiên, toàn bộ nỗi kinh hoàng trong hoàn cảnh của tôi mới thực sự ập xuống với tất cả sức mạnh của nó. Cho đến giây phút ấy, tôi vẫn đang hành động, và chính hành động đã làm tê liệt mọi suy nghĩ. Tôi đã quá tự tin vào việc sẽ giành lại được bản hiệp ước ngay tức khắc, đến mức bản thân chẳng dám nghĩ đến hậu quả sẽ ra sao nếu mình thất bại. Nhưng giờ đây, khi chẳng còn gì để làm nữa, và tôi có thừa thời gian để thấu hiểu vị trí của mình. Thật là kinh khủng. Watson đây sẽ nói với ngài rằng tôi vốn là một cậu bé hay lo lắng và nhạy cảm khi còn đi học. Đó là bản chất bẩm sinh của tôi. Tôi nghĩ đến bác mình và các đồng nghiệp của ngài trong Nội các, nghĩ đến nỗi nhục nhã mà tôi đã trút lên đầu ngài, lên chính bản thân mình, lên tất cả những ai có liên quan. Dù cho tôi chỉ là nạn nhân của một tai nạn phi thường thì có ích gì chứ? Chẳng có sự khoan dung nào dành cho những tai nạn khi lợi ích ngoại giao quốc gia đang bị đe dọa. Tôi đã bị hủy hoại, một cách nhục nhã, một cách hoàn toàn vô vọng. Tôi chẳng còn biết mình đã làm gì nữa. Tôi đoán hẳn là mình đã gây náo loạn lên. Tôi chỉ còn lưu giữ một ký ức mơ hồ về hình ảnh một nhóm các quan chức vây quanh mình, cố xoa dịu tôi. Một người trong số họ đã cùng tôi lên xe đến ga Waterloo và tiễn tôi lên chuyến tàu đi Woking. Tôi tin rằng ông ấy hẳn đã đi cùng tôi suốt cả quãng đường, nếu không nhờ bác sĩ Ferrier, một người sống gần nhà tôi, cũng có mặt trên chuyến tàu đó. Vị bác sĩ đã vô cùng tốt bụng khi nhận trách nhiệm chăm nom tôi, và thật may mắn làm sao khi ông ấy đã làm vậy, bởi tôi đã lên cơn co giật ngay tại nhà ga, và trước khi về đến nhà, tôi thực sự đã biến thành một kẻ điên cuồng mất trí hoàn toàn.

“Ngài có thể tưởng tượng được cảnh tượng ở nơi đây khi mọi người bị đánh thức dậy khỏi giấc ngủ bởi tiếng chuông gọi cửa của vị bác sĩ, và nhìn thấy tôi trong tình trạng thê thảm ấy. Annie tội nghiệp đây và mẹ tôi, cả hai đều tan nát cõi lòng. Bác sĩ Ferrier chỉ vừa kịp nghe đủ thông tin từ viên thám tử ở nhà ga để hình dung ra được đầu đuôi câu chuyện, và những gì ông ấy kể lại chẳng làm cho mọi sự khá hơn chút nào. Rõ ràng với tất cả mọi người, tôi sẽ phải trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh, thế là Joseph bị dọn ra khỏi căn phòng ngủ xinh xắn này, và nó được biến thành phòng bệnh cho tôi. Tôi đã nằm ở đây, thưa ngài Holmes, hơn chín tuần lễ, bất tỉnh nhân sự và mê sảng triền miên vì chứng viêm màng não. Nếu không có cô Harrison ở đây cùng với sự chăm sóc tận tình của bác sĩ, thì hẳn giờ này tôi chẳng thể ngồi đây mà nói chuyện với ngài được. Cô ấy đã săn sóc tôi suốt những giờ ban ngày, còn một nữ y tá được thuê để chăm nom tôi vào ban đêm, bởi trong những cơn điên loạn, tôi có thể làm bất cứ điều gì. Dần dà, lý trí của tôi đã dần trở nên sáng suốt hơn, nhưng phải đến ba ngày vừa qua, trí nhớ của tôi mới hoàn toàn quay trở lại. Đôi lúc tôi chỉ ước gì nó đừng bao giờ quay lại nữa. Việc đầu tiên tôi làm sau khi tỉnh táo là đánh điện cho anh Forbes, người đang phụ trách vụ án. Anh ta đã đến đây, và cam đoan với tôi rằng, dù mọi biện pháp đã được triển khai, người ta vẫn chưa hề phát hiện ra bất kỳ dấu vết manh mối nào. Ông gác cổng và vợ ông ta đã bị thẩm tra bằng mọi cách có thể, thế nhưng chẳng có tia sáng nào được rọi vào vấn đề. Sau đó, những nghi ngờ của cảnh sát lại đổ dồn vào anh chàng Gorot trẻ tuổi, kẻ mà - như ngài còn nhớ - đã ở lại làm thêm giờ trong văn phòng vào cái đêm hôm ấy. Việc anh ta nán lại sau giờ làm và cái họ mang âm hưởng Pháp của mình, quả thực, là hai điểm duy nhất có thể khơi dậy mối nghi ngờ; nhưng, trên thực tế, tôi chỉ bắt đầu làm việc sau khi anh ta đã rời đi, và tổ tiên anh ta tuy có gốc gác Huguenot5, nhưng lại mang trong mình những thiện cảm và truyền thống Anh quốc sâu đậm chẳng kém gì ngài hay tôi. Chẳng có gì được tìm ra để buộc tội anh ta dù chỉ theo bất kỳ cách nào, và vụ án cứ thế bị bỏ ngỏ. Tôi tìm đến ngài, thưa ngài Holmes, như niềm hy vọng cuối cùng và duy nhất của tôi. Nếu ngài làm tôi thất vọng, thì danh dự cũng như vị trí của tôi coi như đã vĩnh viễn tiêu tan.”

Người bệnh ngả người ra sau trên những tấm đệm, kiệt sức sau bài tường thuật dài dằng dặc, trong khi cô y tá của cậu rót cho cậu một ly thuốc kích thích. Holmes ngồi lặng lẽ, đầu ngửa ra sau và đôi mắt khép hờ, trong một tư thế mà đối với người ngoài ắt trông có vẻ lờ đờ, nhưng riêng tôi thì biết rằng nó biểu thị sự tập trung tự đắm chìm mãnh liệt nhất của anh.

“Lời trình bày của anh quá sức rõ ràng,” cuối cùng anh cất tiếng, “đến mức anh thực sự chẳng để lại cho tôi mấy câu hỏi để hỏi. Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi mang tầm quan trọng tối thượng. Anh có nói với bất kỳ ai rằng anh đang phải thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt này không?”

“Tuyệt đối không một ai.”

“Chẳng hạn như với cô Harrison đây thì sao?”

“Không. Tôi đã không hề quay trở lại Woking kể từ khi nhận được mệnh lệnh và thi hành nhiệm vụ.”

“Và cũng chẳng có người thân nào của anh tình cờ ghé thăm anh trong khoảng thời gian đó chứ?”

“Không ai hết.”

“Có ai trong số họ biết đường đi lối lại trong văn phòng của anh không?”

“Ồ, có chứ. Tất cả họ đều đã được tôi dẫn đi tham quan qua một lần.”

“Tuy nhiên, dĩ nhiên, nếu anh không hề hé răng nói với bất kỳ ai về bản hiệp ước, thì những câu hỏi này trở nên không còn liên quan nữa.”

“Tôi không hề nói gì hết.”

“Anh có biết điều gì về ông gác cổng không?”

“Chẳng có gì, ngoại trừ việc ông ta là một cựu quân nhân.”

“Thuộc trung đoàn nào?”

“À, tôi có nghe nói đến - Lực lượng Vệ binh Coldstream6.”

“Cảm ơn anh. Tôi chẳng nghi ngờ gì về việc mình có thể khai thác thêm các chi tiết từ Forbes. Giới chức trách rất xuất sắc trong việc thu thập các sự kiện, dù rằng không phải lúc nào họ cũng biết cách sử dụng chúng một cách có lợi. Hoa hồng mới tuyệt đẹp làm sao!”

Anh băng qua chiếc ghế dài tiến đến bên khung cửa sổ đang mở, rồi nâng niu một cành hoa hồng rêu đang rủ xuống, chăm chú ngắm nhìn sự pha trộn duyên dáng giữa sắc đỏ thẫm và màu xanh của lá. Đó quả là một khía cạnh hoàn toàn mới mẻ trong tính cách của anh đối với tôi, bởi tôi chưa từng thấy anh biểu lộ bất kỳ mối quan tâm sâu sắc nào đối với các vật thể trong tự nhiên trước đây.

“Chẳng có lĩnh vực nào mà sự suy luận lại cần thiết đến thế như trong tôn giáo,” anh cất tiếng, tựa lưng vào những cánh cửa chớp. “Nó có thể được xây dựng nên như một môn khoa học chính xác bởi những bộ óc lập luận. Với tôi, sự đảm bảo cao nhất của chúng ta về lòng nhân từ của Đấng Quan phòng dường như nằm ở những đóa hoa. Tất thảy mọi thứ khác - sức mạnh, khát vọng, lương thực của chúng ta - tất cả thực sự đều là những điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại của chúng ta ngay từ thuở ban đầu. Nhưng đóa hồng này, nó là một sự ban tặng thêm. Hương thơm và sắc màu của nó là một sự điểm tô cho cuộc sống, chứ không phải là một điều kiện của nó. Chỉ có lòng nhân từ mới ban phát những ân huệ dư thừa như thế, và vì vậy, tôi xin nhắc lại rằng, chúng ta có rất nhiều điều để hy vọng từ những đóa hoa.”

Percy Phelps và cô y tá của cậu nhìn Holmes trong suốt màn biểu diễn này với vẻ kinh ngạc và không ít thất vọng hiện rõ trên khuôn mặt. Anh đã chìm vào một cơn mơ màng, với bông hồng rêu kẹp lỏng giữa những ngón tay. Sự trầm tư ấy kéo dài đến vài phút trước khi người thiếu nữ lên tiếng cắt ngang.

“Ngài có nhìn thấy bất kỳ triển vọng nào để giải quyết bí ẩn này không, thưa ngài Holmes?” cô hỏi, với một chút gay gắt thoáng pha trong giọng nói.

“Ồ, cái bí ẩn ấy!” anh đáp, giật mình quay trở về với thực tại. “Này, sẽ thật là ngớ ngẩn nếu phủ nhận rằng vụ án này vô cùng rắc rối và phức tạp, nhưng tôi có thể hứa với cô rằng tôi sẽ xem xét kỹ lưỡng vấn đề, và sẽ cho anh đây biết bất kỳ điểm nào có thể khiến tôi lưu tâm.”

“Ngài có nhận thấy manh mối nào không ạ?”

“Anh đã cung cấp cho tôi đến bảy manh mối, nhưng dĩ nhiên, tôi còn phải kiểm tra chúng trước khi có thể đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về giá trị của chúng.”

“Ngài có nghi ngờ ai không?”

“Tôi nghi ngờ chính bản thân mình.”

“Sao cơ ạ?”

“Về việc đi đến những kết luận quá vội vàng.”

“Vậy thì xin ngài hãy lên London và kiểm chứng các kết luận của ngài đi.”

“Lời khuyên của cô thật là tuyệt vời, cô Harrison,” Holmes nói, và đứng dậy. “Tôi nghĩ, Watson này, chúng ta chẳng thể làm gì tốt hơn được nữa. Đừng cho phép mình đắm chìm trong những hy vọng hão huyền, anh Phelps. Vụ việc này hết sức rắc rối.”

“Tôi sẽ sốt ruột chờ cho đến khi được gặp lại ngài,” nhà ngoại giao trẻ tuổi kêu lên.

“Ồ, tôi sẽ quay lại đây bằng cùng chuyến tàu vào ngày mai, mặc dù rất có khả năng bản báo cáo của tôi sẽ chỉ là một báo cáo tiêu cực mà thôi.”

“Chúa phù hộ cho ngài vì đã hứa sẽ quay trở lại,” thân chủ của chúng tôi thốt lên. “Được biết rằng đang có ai đó ra tay hành động, điều ấy tiếp thêm cho tôi sức sống mới. À, nhân tiện, tôi vừa nhận được một lá thư từ Huân tước Holdhurst.”

“Ha! Ngài ấy đã nói gì?”

“Ngài ấy tỏ ra lạnh nhạt, nhưng không hề gay gắt. Tôi dám chắc rằng chính căn bệnh hiểm nghèo của tôi đã ngăn ngài ấy trở nên gay gắt. Ngài nhắc lại rằng vấn đề này có tầm quan trọng tối thượng, và nói thêm rằng sẽ không có bất kỳ động thái nào được đưa ra liên quan đến tương lai của tôi - dĩ nhiên, ý ngài là việc sa thải tôi - cho đến khi sức khỏe của tôi hoàn toàn bình phục và tôi có được cơ hội để sửa chữa sai lầm của mình.”

“Ồ, thế thì quả là hợp lý và chu đáo,” Holmes nhận định. “Đi thôi, Watson, chúng ta còn cả một ngày làm việc bận rộn phía trước ở thị trấn đấy.”

Anh Joseph Harrison đưa chúng tôi xuống nhà ga, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã yên vị trên chuyến tàu đi Portsmouth. Holmes đắm chìm trong suy tư sâu thẳm, gần như không hé miệng nói một lời cho đến khi đoàn tàu lướt qua Giao lộ Clapham7.

"Thật là một điều thú vị biết bao khi tiến vào London bằng bất kỳ tuyến đường sắt trên cao nào như thế này, để rồi được phép nhìn xuống những ngôi nhà bên dưới như vậy."

Tôi ngỡ anh đang bông đùa, bởi quang cảnh kia thực sự nhếch nhác, nhưng anh liền giải thích ngay sau đó.

"Hãy nhìn những cụm tòa nhà đồ sộ, biệt lập ấy, vươn mình lên khỏi những mái ngói kia, tựa như những hòn đảo bằng gạch giữa một biển chì xám xịt."

"Những trường nội trú đấy mà."

"Những ngọn hải đăng đấy, cậu bạn trẻ của tôi ạ! Những ngọn hải đăng của tương lai! Những cái kén chứa hàng trăm hạt giống tí hon đang lấp lánh trong từng hạt, và từ đó sẽ nảy mầm một nước Anh khôn ngoan hơn, tốt đẹp hơn của mai sau. Tôi đoán là anh chàng Phelps kia không uống rượu chứ?"

"Tôi không nghĩ vậy."

"Tôi cũng nghĩ thế, nhưng chúng ta buộc phải tính đến mọi khả năng. Kẻ khốn khổ ấy rõ ràng đã sa vào vùng nước rất sâu rồi, và vấn đề là liệu chúng ta có thể kéo cậu ta vào bờ được hay không. Anh thấy cô Harrison thế nào?"

"Một cô gái có cá tính mạnh mẽ."

"Đúng vậy, nhưng cô ấy là người tốt, nếu không thì tôi đã nhầm mất rồi. Cô ấy và người anh trai là hai đứa con duy nhất của một ông chủ xưởng sắt ở một nơi nào đó phía Northumberland. Cậu Phelps đã đính hôn với cô ấy trong một chuyến du lịch vào mùa đông năm ngoái, và cô ấy xuống đây để ra mắt gia đình cậu ta, với anh trai tháp tùng theo. Rồi tai họa ập đến, cô ấy ở lại chăm sóc người yêu, còn ông anh Joseph thấy mình cũng khá rảnh rang nên nán lại luôn. Anh thấy đấy, tôi đã tiến hành một vài cuộc điều tra độc lập rồi. Nhưng hôm nay phải là một ngày dành cho những cuộc điều tra."

"Phòng khám của tôi-" tôi vừa cất lời.

"Ồ, nếu anh thấy những vụ án của riêng mình thú vị hơn vụ của tôi-" Holmes nói, thoáng chút cáu kỉnh.

"Tôi định nói là phòng khám của tôi có thể xoay xở ổn thỏa trong một hai ngày tới, vì đây đang là thời điểm vắng khách nhất trong năm."

"Tuyệt vời," anh đáp, sắc mặt tươi tỉnh trở lại như thường lệ. "Vậy thì chúng ta sẽ cùng nhau xem xét vấn đề này. Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu bằng cách đến gặp Forbes. Anh ta có lẽ sẽ cho chúng ta biết tất tần tật những chi tiết cần thiết, cho đến khi chúng ta nắm rõ vụ án này nên được tiếp cận từ hướng nào."

"Anh bảo anh có một manh mối rồi phải không?"

"À, chúng ta có vài manh mối, nhưng chỉ có thể kiểm chứng giá trị của chúng bằng cách đào sâu thêm. Tội ác khó lần theo nhất chính là tội ác không có động cơ. Mà vụ này không phải là không có động cơ. Ai là kẻ được hưởng lợi đây? Có đại sứ Pháp, có đại sứ Nga, có bất kỳ kẻ nào muốn bán nó cho một trong hai bên ấy, và có cả Huân tước Holdhurst."

"Huân tước Holdhurst ư!"

"Thì cũng hoàn toàn có thể hình dung được rằng một chính khách có thể rơi vào tình thế mà ông ta chẳng lấy làm tiếc nếu một tài liệu như vậy vô tình bị hủy hoại đi."

"Nhưng một chính khách có bề dày danh dự như Huân tước Holdhurst thì e là không phải chứ?"

"Đó là một khả năng và chúng ta không thể loại trừ nó. Chúng ta sẽ đến gặp vị huân tước đáng kính ấy vào hôm nay để tìm hiểu xem ông ta có thể cho chúng ta biết thêm điều gì không. Trong lúc chờ đợi, tôi cũng đã khởi động các cuộc điều tra rồi."

"Thế nào ạ?"

"Ừ, tôi đã gửi điện tín từ ga Woking đến tất cả các tờ báo buổi chiều ở London. Mẩu rao vặt này sẽ xuất hiện trên từng tờ một."

Anh đưa ra một mảnh giấy xé từ cuốn sổ tay, trên đó nguệch ngoạc mấy dòng bút chì:

"Phần thưởng £10.-Biển số của chiếc xe ngựa đã thả khách tại hoặc gần lối vào Bộ Ngoại giao trên phố Charles vào lúc mười giờ kém mười lăm phút tối ngày 23 tháng Năm. Liên hệ số 221B, phố Baker."

"Anh chắc chắn rằng tên trộm đã đến bằng xe ngựa sao?"

"Nếu không phải thì cũng chẳng thiệt hại gì. Nhưng nếu anh Phelps nói đúng rằng không có chỗ ẩn nấp nào trong căn phòng hay ngoài hành lang, thì kẻ đó ắt hẳn phải đến từ bên ngoài. Nếu hắn đến từ bên ngoài trong một đêm mưa ướt sũng như thế, vậy mà không hề để lại dấu vết ẩm ướt nào trên tấm vải sơn lót sàn - thứ đã được kiểm tra chỉ trong vòng vài phút sau khi hắn rời đi - thì khả năng cực cao là hắn đã tới bằng xe ngựa. Đúng vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể suy luận một cách chắc chắn về một chiếc xe ngựa."

"Nghe có lý đấy."

"Đó là một trong những manh mối mà tôi đã nhắc đến. Nó có thể dẫn chúng ta đến điều gì đó. Và rồi, tất nhiên, còn có cái chuông nữa - đó mới chính là nét đặc sắc nhất của vụ án này. Tại sao chuông lại reo lên? Có phải tên trộm đã làm thế vì sự trơ tráo của hắn? Hay đó là hành động của kẻ đồng lõa đi cùng nhằm ngăn chặn vụ trộm? Hay chỉ đơn thuần là một sự tình cờ? Hay đó là-?" Anh lại chìm vào trạng thái trầm ngâm mãnh liệt và im lặng y như trước khi anh xuất hiện; nhưng với tôi, kẻ đã quá quen thuộc với mọi cung bậc tâm trạng của anh, dường như một khả năng mới mẻ nào đó vừa vụt lóe trong tâm trí anh.

Đã ba giờ hai mươi phút khi chúng tôi đến bến cuối, và sau một bữa trưa vội vàng nơi quầy buffet, chúng tôi tiến thẳng đến Scotland Yard. Holmes đã đánh điện báo trước cho Forbes, và chúng tôi thấy anh ta đang chờ sẵn để tiếp đón - một người đàn ông nhỏ thó, khôn ngoan với vẻ mặt sắc sảo nhưng chẳng mấy thân thiện. Anh ta tỏ ra lạnh nhạt rõ rệt đối với chúng tôi, đặc biệt là khi nghe đến nhiệm vụ mà chúng tôi đến đây để thực hiện.

"Tôi đã nghe nói về phương pháp của ông từ trước rồi, ông Holmes ạ," anh ta buông lời gay gắt. "Ông lúc nào cũng sẵn sàng tận dụng mọi thông tin mà cảnh sát có thể cung cấp cho ông, thế rồi ông tìm cách tự mình phá án và khiến chúng tôi mất mặt."

"Trái lại," Holmes đáp, "trong năm mươi ba vụ án gần đây nhất của tôi, tên tôi chỉ xuất hiện trong bốn vụ, còn cảnh sát nhận được toàn bộ vinh quang ở bốn mươi chín vụ còn lại. Tôi không trách anh vì không biết điều này, bởi anh còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, nhưng nếu anh muốn thăng tiến trong vị trí mới của mình, anh sẽ làm việc cùng tôi chứ không phải chống lại tôi."

"Tôi rất sẵn lòng đón nhận một vài gợi ý," viên thám tử đáp, thái độ đã dịu đi. "Cho đến nay tôi thực sự chưa thu được chút thành tích nào từ vụ án này."

"Anh đã tiến hành những bước điều tra nào rồi?"

"Tangey, người gác cổng, đã bị theo dõi. Ông ta rời Lực lượng Vệ binh với tư cách đàng hoàng và chúng tôi chẳng tìm thấy điều gì bất lợi cho ông ta. Tuy nhiên, vợ ông ta lại là một mụ đàn bà không ra gì. Tôi đoán là mụ biết nhiều hơn về chuyện này so với những gì lộ ra bên ngoài."

"Anh đã cho theo dõi bà ta chưa?"

"Chúng tôi đã cử một nữ nhân viên đi bám theo bà ta. Bà Tangey nghiện rượu, và người của chúng tôi đã hai lần ở cùng bà ta trong lúc bà ta say khướt, nhưng chẳng moi móc được gì từ miệng bà ta cả."

"Tôi được biết là họ có người đến đòi nợ phải không?"

"Đúng vậy, nhưng họ đã trả xong rồi."

"Tiền từ đâu ra thế?"

"Chuyện đó thì ổn cả. Tiền lương hưu của ông ta vừa đến hạn. Chẳng có dấu hiệu gì cho thấy họ đang có tiền bất minh cả."

"Bà ta giải thích ra sao về việc đã trả lời tiếng chuông khi anh Phelps rung gọi cà phê?"

"Bà ta nói rằng chồng bà ta rất mệt và bà ta muốn làm thay ông ấy."

"Chà, điều đó thì cũng khớp với việc ông ta được phát hiện đang ngủ gật trên ghế một lúc sau đó. Vậy thì chẳng có gì chống lại họ ngoại trừ nhân cách của người đàn bà ấy. Anh có hỏi bà ta tại sao lại hấp tấp rời đi vào cái đêm hôm đó không? Sự vội vàng của bà ta đã khiến viên cảnh sát chú ý đấy."

"Bà ta về muộn hơn thường ngày và muốn về nhà thôi."

"Anh có chỉ ra cho bà ta rằng anh và anh Phelps, những người xuất phát sau bà ta ít nhất hai mươi phút, lại về đến nhà trước bà ta không?"

"Bà ta đổ cho sự khác biệt giữa xe buýt và xe ngựa hai bánh8."

"Bà ta có làm rõ lý do tại sao lúc về đến nhà lại chạy thẳng vào bếp phía sau không?"

"Vì bà ta có tiền để ở đó để trả cho đám đòi nợ."

"Ít ra thì bà ta cũng có câu trả lời cho mọi thứ. Anh có hỏi bà ta liệu khi rời đi có gặp ai hay nhìn thấy kẻ nào lảng vảng gần phố Charles không?"

"Bà ta không thấy ai ngoài viên cảnh sát."

"Chà, có vẻ như anh đã thẩm vấn bà ta khá kỹ lưỡng rồi. Anh còn làm gì nữa không?"

"Anh thư ký Gorot đã bị theo dõi suốt chín tuần nay, nhưng vô ích. Chúng tôi không thể tìm ra bất cứ điều gì để buộc tội anh ta."

"Còn gì nữa không?"

"À, chúng tôi chẳng còn gì khác để bám vào nữa - không một chứng cứ dưới bất kỳ hình thức nào."

"Anh đã hình thành giả thuyết nào về việc làm sao chiếc chuông ấy reo lên chưa?"

"Chà, tôi phải thú thực là điều đó đánh bại tôi. Hẳn đó phải là một bàn tay lạnh lùng lắm, dù kẻ đó là ai, mới dám đến và gióng lên hồi chuông báo động như thế."

"Đúng vậy, đó quả là một hành động kỳ quặc. Rất cảm ơn anh vì những gì anh đã chia sẻ. Nếu tôi có thể trao gã đàn ông ấy vào tay anh, anh sẽ nhận được tin từ tôi. Đi thôi, Watson."

"Giờ chúng ta sẽ đi đâu?" tôi hỏi khi vừa bước ra khỏi văn phòng.

"Giờ chúng ta sẽ đi phỏng vấn Huân tước Holdhurst, vị bộ trưởng nội các và cũng là thủ tướng tương lai của nước Anh."

Chúng tôi may mắn gặp được Huân tước Holdhurst lúc ngài vẫn còn ở trong những căn phòng của mình tại phố Downing, và ngay khi Holmes gửi tấm danh thiếp vào, chúng tôi liền được mời lên ngay. Vị chính khách tiếp đón chúng tôi bằng thứ lịch thiệp cổ điển đã làm nên tên tuổi của ngài, rồi mời chúng tôi ngồi xuống hai chiếc ghế dài sang trọng đặt hai bên lò sưởi. Đứng trên tấm thảm ở giữa chúng tôi, với vóc dáng cao gầy, những đường nét sắc sảo, khuôn mặt đăm chiêu và mái tóc xoăn điểm bạc sớm, ngài dường như là hiện thân cho một mẫu người không mấy phổ biến - một nhà quý tộc thực sự cao quý.

"Tên tuổi của ngài rất quen thuộc với tôi, ông Holmes ạ," ngài nói với một nụ cười. "Và tất nhiên, tôi không thể giả vờ không biết mục đích chuyến thăm của ngài. Chỉ có duy nhất một sự việc xảy ra trong những văn phòng này mới có thể thu hút sự chú ý của ngài thôi. Xin cho tôi hỏi, ngài đang hành động vì lợi ích của ai vậy?"

"Vì lợi ích của anh Percy Phelps," Holmes trả lời.

"À, đứa cháu trai bất hạnh của tôi! Ngài có thể hiểu rằng mối quan hệ họ hàng giữa chúng tôi càng khiến tôi không thể bao biện cho nó dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi e rằng sự việc này ắt hẳn đã giáng một đòn rất tai hại vào sự nghiệp của nó."

"Nhưng nếu tài liệu được tìm thấy thì sao?"

"À, điều đó, tất nhiên, sẽ là một câu chuyện khác."

"Tôi có một vài câu hỏi xin được phép đặt ra với ngài, thưa Huân tước Holdhurst."

"Tôi rất vui lòng cung cấp cho ngài bất kỳ thông tin nào trong khả năng của mình."

"Có phải chính trong căn phòng này ngài đã đưa ra chỉ thị về việc sao chép tài liệu không?"

"Đúng vậy."

"Vậy thì gần như không thể có chuyện ngài bị nghe lén rồi?"

"Điều đó thì khỏi phải bàn cãi."

"Ngài đã bao giờ đề cập với bất kỳ ai rằng ý định của ngài là giao bản hiệp ước cho ai đó để sao chép chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Ngài có chắc chắn về điều đó không?"

"Hoàn toàn chắc chắn."

"Chà, vì ngài chưa từng nói ra điều đó, anh Phelps cũng chưa từng nói ra, và không một ai khác biết gì về vấn đề này, vậy thì sự có mặt của tên trộm trong căn phòng ấy hoàn toàn là tình cờ. Hắn nhìn thấy cơ hội và hắn chộp lấy nó."

Vị chính khách mỉm cười. "Ở điểm đó thì ngài đưa tôi ra khỏi lĩnh vực của mình rồi," ngài nói.

Holmes suy nghĩ một lát. "Còn một điểm rất quan trọng khác mà tôi muốn thảo luận với ngài," anh nói. "Theo như tôi hiểu, ngài lo ngại rằng những hậu quả rất nghiêm trọng có thể xảy ra nếu các chi tiết của bản hiệp ước này bị tiết lộ."

Một bóng tối lướt qua gương mặt đầy biểu cảm của vị chính khách. "Quả thực là những hậu quả rất nghiêm trọng."

"Và chúng đã xảy ra chưa ạ?"

"Chưa."

"Nếu bản hiệp ước đã rơi vào tay, giả dụ như, Bộ Ngoại giao Pháp hoặc Nga, hẳn ngài đã mong đợi được nghe tin về việc đó rồi chứ?"

"Tôi sẽ mong đợi điều đó," Huân tước Holdhurst đáp, với một nét mặt nhăn nhó.

"Vì đã gần mười tuần trôi qua mà chẳng có tin tức gì, thiết nghĩ cũng không phải là bất công khi cho rằng vì một lý do nào đó, bản hiệp ước đã không đến được tay họ."

Huân tước Holdhurst nhún vai.

"Chúng ta khó lòng mà giả định, ông Holmes ạ, rằng tên trộm đã lấy bản hiệp ước về để đóng khung và treo lên tường."

"Có lẽ hắn đang chờ một cái giá hời hơn."

"Nếu hắn cứ đợi thêm chút nữa thì hắn sẽ chẳng nhận được cái giá nào đâu. Bản hiệp ước sẽ không còn là bí mật nữa trong vài tháng nữa thôi."

"Đó mới chính là điều quan trọng nhất," Holmes nói. "Tất nhiên, còn một giả thiết có thể xảy ra là tên trộm đã đột ngột lâm bệnh-"

"Kiểu như một cơn viêm màng não chẳng hạn?" vị chính khách hỏi, liếc về phía anh một cái nhìn sắc lẹm.

"Tôi không nói như vậy," Holmes đáp một cách điềm nhiên. "Và bây giờ, thưa Huân tước Holdhurst, chúng tôi đã chiếm dụng quá nhiều thời gian quý báu của ngài rồi, xin được chúc ngài một ngày tốt lành."

"Mọi sự thành công cho cuộc điều tra của ngài, cho dù tên tội phạm có là ai đi chăng nữa," nhà quý tộc đáp lời khi cúi chào tiễn chúng tôi ra tận cửa.

"Ông ấy quả là một con người xuất chúng," Holmes nhận xét khi chúng tôi bước ra phố Whitehall. "Nhưng ông ấy phải vất vả lắm mới giữ vững được vị trí của mình đấy. Ông ấy còn lâu mới gọi là giàu có, mà lại có biết bao nhiêu khoản phải chi. Tất nhiên anh cũng nhận ra rồi chứ, đôi ủng của ông ấy đã được đóng lại đế. Nào, Watson, tôi sẽ không cản trở công việc chính đáng của anh thêm nữa. Hôm nay tôi sẽ chẳng làm gì thêm, trừ phi nhận được hồi đáp cho mẩu rao vặt tìm xe ngựa của mình. Nhưng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu ngày mai anh có thể cùng tôi xuống Woking, đi cùng chuyến tàu mà chúng ta đã đi hôm qua nhé."

Ngày hôm sau, tôi đến gặp Holmes theo đúng hẹn và chúng tôi cùng nhau đáp tàu xuống Woking. Anh cho biết vẫn chưa nhận được hồi âm nào cho mẩu quảng cáo của mình, và cũng chẳng có tia sáng mới nào soi rọi vào vụ án. Mỗi khi muốn, Holmes có thể giữ một vẻ mặt hoàn toàn bất động, tựa như một người da đỏ, và tôi chẳng tài nào đoán được qua dáng vẻ bề ngoài liệu anh có hài lòng với tiến triển của vụ án hay không. Tôi còn nhớ, suốt dọc đường câu chuyện của anh xoay quanh hệ thống đo lường Bertillon9, và anh đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ nồng nhiệt của mình đối với vị học giả uyên bác người Pháp ấy.

Khi đến nơi, chúng tôi thấy vị thân chủ của mình vẫn đang được nữ y tá tận tụy chăm sóc, nhưng trông cậu ấy đã khá hơn trước rất nhiều. Cậu đứng dậy khỏi ghế sô-pha và bước ra đón chúng tôi chẳng mấy khó khăn khi chúng tôi bước vào.

“Có tin tức gì không ạ?” cậu háo hức hỏi.

“Đúng như tôi đã dự liệu, báo cáo của tôi là một báo cáo tiêu cực,” Holmes đáp. “Tôi đã gặp Forbes, tôi đã gặp bác của anh, và tôi đã thiết lập một đôi ba mũi điều tra, biết đâu có thể dẫn đến điều gì đó.”

“Vậy là ngài vẫn chưa mất hy vọng ư?”

“Tuyệt nhiên không.”

“Cầu Chúa phù hộ cho ngài vì đã nói thế!” cô Harrison thốt lên. “Chỉ cần chúng ta giữ vững dũng khí và lòng kiên nhẫn, sự thật nhất định sẽ được phơi bày.”

“Chúng tôi có nhiều điều để kể cho ngài hơn là những gì ngài có cho chúng tôi đấy,” Phelps nói, rồi ngồi xuống trở lại chiếc ghế dài.

“Tôi mong rằng anh có thể có chút tin tức gì đó.”

“Đúng vậy, chúng tôi đã trải qua một cuộc phiêu lưu hồi đêm qua, một cuộc phiêu lưu mà lẽ ra đã có thể trở thành một chuyện nghiêm trọng.” Vẻ mặt cậu trở nên hết sức nghiêm trọng khi nói, và trong mắt cậu thoáng hiện lên một tia gì đó tựa như nỗi sợ hãi. “Ngài có biết không,” cậu tiếp tục, “rằng tôi bắt đầu tin rằng mình đang là trung tâm vô thức của một âm mưu quái dị nào đó, và mạng sống của tôi đang bị nhắm đến cũng như danh dự của tôi vậy.”

“A!” Holmes kêu lên.

“Nghe có vẻ khó tin, bởi theo như tôi biết, tôi chẳng có lấy một kẻ thù nào trên cõi đời này. Thế nhưng, sau trải nghiệm đêm qua, tôi không thể đi đến một kết luận nào khác.”

“Xin hãy kể cho tôi nghe.”

“Ngài cần biết rằng, đêm qua là đêm đầu tiên tôi ngủ mà không có y tá túc trực trong phòng. Tôi đã khỏe lên khá nhiều, nên nghĩ rằng mình có thể không cần đến cô ấy nữa. Dẫu vậy, tôi vẫn thắp một ngọn đèn ngủ. Ấy thế rồi, vào khoảng hai giờ sáng, khi tôi vừa chìm vào một giấc ngủ lơ mơ, thì đột nhiên bị đánh thức bởi một tiếng động khe khẽ. Nó giống như âm thanh mà một con chuột tạo ra khi gặm một tấm ván gỗ, và tôi nằm đó lắng nghe nó một hồi với ý nghĩ rằng hẳn nó phát ra từ nguyên nhân đó. Rồi âm thanh ấy lớn dần, và bất thình lình từ phía cửa sổ vọng đến một tiếng lách cách sắc gọn của kim loại. Tôi bàng hoàng ngồi bật dậy. Giờ thì không còn nghi ngờ gì về những âm thanh đó nữa. Những tiếng động ban đầu là do ai đó dùng một dụng cụ len qua khe hở giữa các khung cửa, còn tiếng thứ hai là do chốt cài bị cậy bật ra.

“Sau đó là một khoảng lặng chừng mười phút, cứ như thể kẻ đó đang nán lại xem liệu tiếng động có đánh thức tôi hay không. Rồi tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt khe khẽ khi cánh cửa sổ được mở ra thật chậm rãi. Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa, bởi thần kinh của tôi giờ đây không còn vững vàng như xưa. Tôi nhảy ra khỏi giường và bật tung cánh cửa chớp. Một gã đàn ông đang cúi rạp mình bên ô cửa sổ. Tôi không sao nhìn rõ được mặt hắn, bởi hắn đã biến mất nhanh như một tia chớp. Hắn quấn một thứ áo choàng gì đó che ngang phần dưới khuôn mặt. Tôi chỉ chắc chắn được một điều duy nhất - đó là hắn có cầm một loại vũ khí gì đó trong tay. Đối với tôi, trông nó giống như một con dao dài. Tôi thấy rõ ánh sáng lóe lên từ nó khi hắn quay người tháo chạy.”

“Chuyện này thật là thú vị,” Holmes nhận xét. “Xin hỏi sau đó anh đã làm gì?”

“Lẽ ra tôi đã lao theo hắn qua ô cửa sổ đang mở, nếu tôi được khỏe hơn. Nhưng trong tình trạng lúc đó, tôi chỉ còn cách giật chuông và đánh thức cả nhà dậy. Tôi mất một lúc, vì chuông reo ở tận nhà bếp và đám người hầu thì đều ngủ trên tầng thượng. Dù sao thì tôi cũng đã hét toáng lên, và tiếng hét ấy đã kéo được Joseph xuống, rồi anh ấy đi đánh thức những người khác. Joseph cùng với người giữ ngựa đã tìm thấy những dấu vết trên luống hoa phía bên ngoài cửa sổ, nhưng thời tiết gần đây hanh khô vô cùng, nên họ thấy thật vô vọng khi cố lần theo dấu vết băng qua bãi cỏ. Dẫu sao họ cũng nói với tôi rằng, có một chỗ trên hàng rào gỗ ven đường để lại dấu vết, như thể đã có ai đó trèo qua và làm gãy mất phần đầu của thanh chắn trong lúc vượt rào. Tôi vẫn chưa trình báo gì với cảnh sát địa phương, bởi tôi nghĩ tốt nhất là nên tham vấn ý kiến của ngài trước đã.”

Câu chuyện này của vị thân chủ dường như đã tạo ra một tác động phi thường lên Sherlock Holmes. Anh bật dậy khỏi ghế và đi đi lại lại khắp căn phòng trong một cơn phấn khích không sao kìm nén được.

“Họa vô đơn chí,” Phelps nhận xét, kèm theo một nụ cười, dù rõ ràng cuộc phiêu lưu đã khiến cậu ít nhiều bị chấn động.

“Chắc chắn là anh đã chịu đựng không ít rồi,” Holmes nói. “Anh có nghĩ mình có thể cùng tôi đi dạo một vòng quanh nhà được không?”

“Ồ, được chứ, tôi rất muốn được hít thở chút ánh nắng mặt trời. Joseph cũng sẽ đi cùng.”

“Và cả tôi nữa,” cô Harrison nói.

“Tôi e là không được,” Holmes đáp, lắc đầu. “Tôi nghĩ tôi buộc phải yêu cầu cô hãy tiếp tục ngồi yên chính xác tại vị trí cô đang ngồi.”

Người thiếu nữ ngồi xuống trở lại chiếc ghế của mình với vẻ mặt không mấy hài lòng. Tuy nhiên, anh trai cô đã nhập bọn cùng chúng tôi, và cả bốn người cùng nhau khởi hành. Chúng tôi men theo lối vòng qua bãi cỏ để đến phía bên ngoài ô cửa sổ của chàng nhà ngoại giao trẻ tuổi. Quả đúng như những gì cậu ấy đã kể, có những dấu vết in hằn trên luống hoa, nhưng chúng mờ nhạt và nhập nhằng đến mức vô vọng. Holmes dừng lại quan sát chúng trong giây lát, rồi đứng thẳng dậy và nhún vai.

“Tôi không nghĩ có ai có thể làm được gì nhiều từ những thứ này,” anh nói. “Chúng ta hãy đi một vòng quanh nhà và thử tìm hiểu xem tại sao căn phòng đặc biệt này lại được kẻ trộm chọn. Đáng lẽ ra, những ô cửa sổ to hơn của phòng khách và phòng ăn mới phải thu hút hắn hơn chứ.”

“Chúng dễ bị nhìn thấy hơn từ ngoài đường,” anh Joseph Harrison gợi ý.

“À, phải rồi, đương nhiên rồi. Có một cánh cửa ở ngay đây này, lẽ ra hắn cũng có thể thử đột nhập qua đó. Cánh cửa này dùng để làm gì vậy?”

“Đó là lối vào phụ dành cho những người giao hàng. Dĩ nhiên là nó được khóa vào ban đêm rồi.”

“Trước đây anh đã bao giờ bị báo động như thế này chưa?”

“Chưa từng bao giờ,” vị thân chủ của chúng tôi đáp.

“Trong nhà anh có cất giữ đồ bạc, hay bất cứ thứ gì có thể thu hút bọn đạo tặc không?”

“Chẳng có gì giá trị cả.”

Holmes thong thả tản bộ một vòng quanh ngôi nhà, hai tay đút sâu trong túi quần, mang một vẻ hững hờ khác thường đối với anh.

“Nhân tiện,” anh nói với Joseph Harrison, “tôi được biết anh đã tìm ra chỗ mà gã đó trèo qua hàng rào. Hãy dẫn chúng tôi ra xem thử nào!”

Anh chàng thanh niên vạm vỡ dẫn chúng tôi đến một chỗ mà phần đỉnh của một trong những thanh gỗ đã bị nứt vỡ. Một mảnh gỗ nhỏ còn đang lủng lẳng treo trên đó. Holmes kéo nó xuống và xem xét một cách cẩn trọng.

“Anh có nghĩ rằng việc đó xảy ra vào đêm qua không? Trông nó khá là cũ, phải không?”

“Chà, cũng có thể là như vậy.”

“Ở phía bên kia chẳng hề có dấu vết gì của việc ai đó nhảy xuống. Không, tôi e rằng chúng ta sẽ chẳng moi được chút manh mối nào ở chỗ này. Thôi, chúng ta hãy quay trở lại phòng ngủ và bàn luận tiếp về vấn đề này.”

Percy Phelps bước đi rất chậm chạp, phải tựa vào cánh tay của người anh rể tương lai. Holmes thì sải bước thật nhanh băng qua bãi cỏ, và chúng tôi đã về đến bên ô cửa sổ đang mở của phòng ngủ từ lâu trước khi hai người kia kịp theo tới.

“Cô Harrison,” Holmes cất tiếng, với một cường độ dữ dội lạ thường, “cô phải ở yên tại chỗ cô đang ngồi suốt cả ngày hôm nay. Đừng để bất cứ điều gì ngăn cản cô ở yên tại vị trí đó suốt cả ngày. Điều này cực kỳ quan trọng.”

“Dĩ nhiên rồi, nếu ngài muốn thế, thưa ngài Holmes,” cô gái đáp trong sự kinh ngạc.

“Khi cô đi ngủ, hãy khóa cửa căn phòng này từ bên ngoài và giữ lấy chìa khóa. Hãy hứa với tôi cô sẽ làm điều này.”

“Nhưng còn Percy thì sao ạ?”

“Cậu ấy sẽ lên London cùng với chúng tôi.”

“Và tôi phải ở lại đây một mình ư?”

“Đó là vì lợi ích của cậu ấy. Cô có thể phục vụ cậu ấy mà. Nhanh lên! Hãy hứa với tôi đi!”

Cô vừa kịp gật đầu đồng ý ngay khi hai người kia bước tới.

“Sao em lại ngồi ủ rũ mãi ở đó thế, Annie?” anh trai cô cất tiếng gọi. “Ra ngoài tắm nắng đi chứ!”

“Không, em cảm ơn anh, Joseph à. Em hơi nhức đầu một chút, và căn phòng này thật mát mẻ và dễ chịu vô cùng.”

“Giờ thì ngài định đề xuất gì tiếp theo, thưa ngài Holmes?” vị thân chủ của chúng tôi lên tiếng hỏi.

“À, trong lúc điều tra cái sự việc nhỏ nhặt này, chúng ta không được đánh mất mục tiêu của cuộc điều tra chính. Sẽ là một sự trợ giúp hết sức to lớn cho tôi, nếu anh có thể lên London cùng với chúng tôi.”

“Ngay bây giờ luôn sao ạ?”

“Chà, càng sớm càng tốt, miễn là anh thấy thuận tiện. Cứ cho là trong vòng một giờ nữa đi.”

“Tôi cảm thấy đủ khỏe, nếu tôi thực sự có thể giúp ích được điều gì.”

“Giúp ích rất nhiều đấy.”

“Có lẽ ngài muốn tôi ở lại London đêm nay chăng?”

“Tôi vừa định đề xuất điều đó.”

“Vậy thì, nếu người bạn ghé thăm tôi trong đêm có quay lại, hắn sẽ thấy con chim đã bay mất rồi. Tất cả chúng tôi đều ở trong tay ngài, thưa ngài Holmes, và ngài phải cho chúng tôi biết chính xác ngài muốn chúng tôi làm gì. Có lẽ ngài muốn Joseph đi cùng để chăm sóc tôi chăng?”

“Ồ, không; bạn tôi, Watson đây, là một thầy thuốc hành nghề, anh biết đấy, và anh ấy sẽ lo cho anh. Chúng ta sẽ dùng bữa trưa tại đây, nếu anh cho phép, và sau đó cả ba chúng ta sẽ cùng nhau khởi hành lên phố.”

Mọi việc đều được thu xếp đúng như những gì anh đề xuất, dù cô Harrison vẫn xin phép được ở lại trong phòng ngủ, theo như gợi ý của Holmes. Tôi không tài nào hiểu nổi mục đích đằng sau những thủ đoạn của bạn tôi là gì, trừ phi đó là để giữ cho cô gái tránh xa khỏi Phelps - người đã vô cùng phấn chấn nhờ sức khỏe đang hồi phục và viễn cảnh được hành động, nên đã cùng chúng tôi dùng bữa trưa trong phòng ăn. Thế nhưng, Holmes còn dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên đến sửng sốt hơn nữa, bởi sau khi cùng chúng tôi xuống nhà ga và tiễn chúng tôi vào toa tàu, anh thản nhiên thông báo rằng anh không hề có ý định rời khỏi Woking.

“Còn một đôi ba điểm nhỏ mà tôi muốn làm rõ trước khi đi,” anh nói. “Sự vắng mặt của anh, anh Phelps ạ, theo một cách nào đó sẽ khá là hữu ích cho tôi. Watson, khi anh đến London, làm ơn chở ngay người bạn của chúng ta đây về phố Baker, và ở lại với cậu ấy cho đến khi tôi gặp lại anh. Thật may mắn làm sao khi hai anh là bạn học cũ, bởi hẳn các anh sẽ có nhiều chuyện để tâm tình. Anh Phelps có thể dùng phòng ngủ dành cho khách tối nay, và tôi sẽ có mặt cùng các anh kịp giờ điểm tâm, vì có một chuyến tàu sẽ đưa tôi đến ga Waterloo lúc tám giờ.”

“Nhưng còn cuộc điều tra của chúng ta ở London thì sao?” Phelps hỏi, giọng buồn rầu.

“Chúng ta có thể tiến hành việc đó vào ngày mai. Tôi nghĩ rằng ngay lúc này tôi có thể hữu ích hơn khi ở lại đây.”

“Ngài có thể nhắn với mọi người ở Briarbrae rằng tôi hy vọng sẽ trở về vào tối mai,” Phelps gọi với theo, khi đoàn tàu của chúng tôi bắt đầu lăn bánh rời khỏi sân ga.

“Tôi e là tôi khó mà hy vọng sẽ quay trở lại Briarbrae,” Holmes đáp lời, và vui vẻ vẫy tay chào tạm biệt chúng tôi khi con tàu lao vút ra khỏi nhà ga.

Phelps và tôi đã bàn luận về chuyện đó suốt dọc đường, nhưng chẳng ai trong hai chúng tôi có thể nghĩ ra nổi một lý do thỏa đáng cho diễn biến mới mẻ này.

"Tôi đoán anh ấy muốn lần ra manh mối nào đó về vụ trộm đêm qua, nếu quả thực đó là một tên trộm. Còn về phần mình, tôi không tin đó là một tên trộm tầm thường."

"Vậy ý tưởng của anh là gì cơ?"

"Có Chúa mới biết, anh có thể đổ điều đó cho thần kinh yếu kém của tôi cũng được, nhưng tôi tin rằng có một âm mưu chính trị thâm sâu nào đó đang quay cuồng quanh tôi, và vì một lý do nào đó vượt ngoài tầm hiểu biết của mình, mạng sống của tôi đang nằm trong tầm ngắm của những kẻ chủ mưu. Nghe thật cao siêu và ngớ ngẩn, nhưng hãy thử nhìn vào các sự kiện mà xem! Tại sao một tên trộm lại tìm cách đột nhập qua cửa sổ phòng ngủ, nơi chẳng có hy vọng gì vơ vét được thứ chiến lợi phẩm nào, và tại sao hắn lại mang theo một con dao dài trên tay?"

"Anh có chắc đó không phải là một cái xà beng của kẻ cạy khóa không?"

"Ồ, không, đó là một con dao. Tôi đã thấy rõ ánh kim loại lóe lên từ lưỡi dao."

"Nhưng vì lý do quái quỷ gì mà anh lại bị truy sát với lòng thù hận đến thế?"

"À, đó chính là câu hỏi đấy."

"Chà, nếu Holmes cũng có cùng quan điểm như vậy, điều đó sẽ lý giải cho hành động của anh ấy, phải không? Cứ cho rằng giả thuyết của anh là đúng đi, nếu anh ấy có thể tóm được kẻ đã đe dọa anh đêm qua, thì anh ấy sẽ tiến được một bước dài trong việc truy ra kẻ đã đánh cắp bản hiệp ước hải quân. Thật nực cười nếu cho rằng anh có tới hai kẻ thù, một kẻ cướp của anh, còn kẻ kia lại rắp tâm đe dọa tính mạng anh."

"Nhưng Holmes đã bảo rằng anh ấy không có ý định đến Briarbrae cơ mà."

"Tôi quen biết anh ấy đã lâu," tôi đáp, "nhưng tôi chưa từng thấy anh ấy làm bất cứ điều gì mà không có một lý do vô cùng chính đáng," và với câu nói đó, cuộc trò chuyện của chúng tôi rẽ sang những chủ đề khác.

Nhưng ngày hôm ấy quả là một ngày mệt nhoài đối với tôi. Phelps vẫn còn yếu ớt sau trận ốm triền miên, và tai họa giáng xuống đã khiến cậu trở nên hay than vãn và bất an. Tôi đã cố hết sức để lôi kéo sự chú ý của cậu sang Afghanistan, sang Ấn Độ, sang những vấn đề xã hội, sang bất cứ thứ gì có thể kéo tâm trí cậu ra khỏi lối mòn ấy. Nhưng cậu luôn quay trở lại với bản hiệp ước đã mất của mình, trăn trở, suy đoán, phỏng đoán xem Holmes đang làm gì, Huân tước Holdhurst đang thực thi những bước đi nào, và sáng mai chúng tôi sẽ nhận được tin tức gì. Khi màn đêm buông xuống, nỗi phấn khích của cậu trở nên thống khổ đến nhường nào.

"Anh có đặt niềm tin tuyệt đối vào Holmes không?" cậu hỏi.

"Tôi đã chứng kiến anh ấy làm được một số điều rất đáng nể."

"Nhưng anh ấy chưa từng làm sáng tỏ bất cứ điều gì tối tăm như vụ này chứ?"

"Ồ, có chứ; tôi biết anh ấy đã giải quyết những câu hỏi còn ít manh mối hơn cả câu hỏi của anh."

"Nhưng không phải ở những nơi mà những lợi ích to lớn như thế này đang bị đe dọa chứ?"

"Tôi không rõ điều đó. Theo như tôi biết, anh ấy đã hành động thay mặt cho ba hoàng gia đang trị vì ở châu Âu trong những vấn đề rất sống còn."

"Nhưng anh là người hiểu rõ anh ấy, Watson. Anh ấy là một kẻ khó đoán đến mức tôi chẳng bao giờ thực sự biết phải nghĩ gì về anh ấy. Anh có nghĩ anh ấy đang tràn trề hy vọng không? Anh có nghĩ anh ấy mong đợi sẽ thành công trong việc này không?"

"Anh ấy chẳng nói gì cả."

"Đó là một dấu hiệu tồi tệ."

"Trái lại, tôi nhận thấy rằng chính khi anh ấy bị mất dấu thì anh ấy mới thường lên tiếng. Phải đến lúc anh ấy đang lần theo một manh mối mà chưa hoàn toàn chắc chắn đó là manh mối đúng, thì anh ấy mới là người ít nói nhất. Nào, anh bạn thân mến, chúng ta chẳng giúp ích được gì bằng cách tự làm mình lo lắng thêm đâu, vậy nên hãy nghe lời tôi khuyên mà đi ngủ đi, để còn tỉnh táo đón nhận bất cứ điều gì có thể đang chờ đón chúng ta vào ngày mai."

Cuối cùng tôi cũng thuyết phục được người bạn đồng hành nghe theo lời mình, dù tôi biết từ thái độ bồn chồn của cậu rằng chẳng có mấy hy vọng cậu sẽ ngủ được. Quả thực, tâm trạng của cậu đã lan sang cả tôi, vì chính tôi cũng nằm trằn trọc suốt nửa đêm, trăn trở về vấn đề kỳ lạ này, và bịa ra hàng trăm giả thuyết, mà mỗi giả thuyết sau lại càng vô lý hơn giả thuyết trước. Tại sao Holmes lại ở lại Woking? Tại sao anh lại yêu cầu cô Harrison ở nguyên trong phòng bệnh suốt cả ngày? Tại sao anh lại cẩn thận đến mức không để cho những người ở Briarbrae hay biết rằng anh định ở lại gần họ? Tôi vắt óc suy nghĩ cho đến khi chìm vào giấc ngủ trong chính nỗ lực tìm kiếm một lời giải thích có thể bao quát được tất cả những sự kiện này.

Đã bảy giờ khi tôi tỉnh giấc, và tôi lập tức đến phòng Phelps, chỉ để thấy cậu hốc hác và kiệt quệ sau một đêm thức trắng. Câu hỏi đầu tiên của cậu là liệu Holmes đã đến hay chưa.

"Anh ấy sẽ có mặt ở đây đúng như lời đã hứa," tôi nói, "không sớm hơn cũng không muộn hơn một giây nào."

Và lời tôi nói quả không sai, vì chỉ vừa qua tám giờ một chút, một chiếc xe ngựa đã lao đến trước cửa và người bạn của chúng tôi bước ra từ đó. Đứng bên cửa sổ, chúng tôi thấy bàn tay trái của anh được băng bó và khuôn mặt anh hết sức nhăn nhó, nhợt nhạt. Anh bước vào nhà, nhưng phải một lúc sau mới lên lầu.

"Anh ấy trông như một kẻ chiến bại," Phelps kêu lên.

Tôi buộc phải thú nhận rằng cậu đã đúng. "Xét cho cùng," tôi nói, "manh mối của vụ việc có lẽ nằm ngay tại đây, trong thành phố này."

Phelps buột ra một tiếng rên rỉ.

"Tôi chẳng biết mọi chuyện thế nào nữa," cậu nói, "nhưng tôi đã đặt quá nhiều hy vọng vào sự trở lại của anh ấy. Nhưng chắc chắn là hôm qua tay anh ấy đâu có bị băng bó như thế. Chuyện gì có thể đã xảy ra cơ chứ?"

"Anh không bị thương đấy chứ, Holmes?" tôi hỏi khi bạn tôi bước vào phòng.

"Chậc, chỉ là một vết xước do chính sự vụng về của tôi thôi mà," anh đáp, gật đầu chào buổi sáng hai chúng tôi. "Vụ án này của anh, anh Phelps, quả thực là một trong những vụ án đen tối nhất mà tôi từng điều tra."

"Tôi e rằng anh sẽ thấy nó vượt quá khả năng của mình mất."

"Đó quả là một trải nghiệm rất đáng chú ý."

"Dải băng đó kể lên những cuộc phiêu lưu đây," tôi nhận xét. "Anh không định kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra sao?"

"Để sau bữa sáng đã, Watson thân mến. Hãy nhớ rằng sáng nay tôi đã hít thở bầu không khí Surrey suốt ba mươi dặm đường đấy nhé. Mà này, tôi cho là vẫn chưa có hồi âm nào từ mẩu quảng cáo tìm người đánh xe ngựa của tôi chứ? Chà, chà, chúng ta chẳng thể hy vọng lúc nào cũng ghi bàn được."

Bàn ăn đã được dọn ra, và ngay khi tôi định rung chuông thì bà Hudson bước vào với trà và cà phê. Vài phút sau, bà mang vào ba chiếc nắp đậy, và tất cả chúng tôi kéo ghế lại gần bàn, Holmes thì đang đói ngấu nghiến, tôi thì tò mò, còn Phelps thì chìm trong trạng thái u sầu ảm đạm nhất.

"Bà Hudson đã thể hiện bản lĩnh của mình đây," Holmes lên tiếng, mở nắp một đĩa gà nấu cà ri. "Kỹ năng nấu nướng của bà ấy có hơi hạn chế, nhưng bà ấy có ý tưởng về bữa sáng chẳng thua kém gì một phụ nữ Scotland. Nào, anh có món gì ở đây vậy, Watson?"

"Giăm bông và trứng," tôi đáp.

"Tốt! Anh định dùng món gì đây, anh Phelps - thịt gà cà ri hay trứng, hay anh sẽ tự nhiên gắp lấy?"

"Cảm ơn anh. Tôi chẳng thể ăn được gì cả," Phelps nói.

"Ồ, thôi nào! Hãy thử món ăn ngay trước mặt anh xem."

"Cảm ơn anh, tôi thực sự không muốn."

"Chà, vậy thì," Holmes nói, kèm theo một cái nháy mắt tinh nghịch, "tôi cho rằng anh không phản đối việc giúp tôi một tay chứ?"

Phelps nhấc nắp đậy lên, và ngay khi làm vậy, cậu hét lên một tiếng, rồi ngồi đó trân trân nhìn với khuôn mặt trắng bệch như chính chiếc đĩa trước mặt. Nằm vắt ngang giữa đĩa là một cuộn giấy nhỏ màu xanh xám. Cậu chộp lấy nó, nuốt trọn nó bằng ánh mắt, rồi nhảy múa điên cuồng quanh phòng, ôm chặt nó vào ngực và hét lên trong niềm sung sướng tột cùng. Rồi cậu ngã nhào xuống chiếc ghế bành, rũ rượi và kiệt sức vì chính những xúc cảm của mình đến nỗi chúng tôi phải đổ rượu mạnh xuống họng cậu để giữ cậu khỏi ngất lịm.

"Nào! Nào!" Holmes dỗ dành, vỗ nhẹ vào vai cậu. "Thật quá tệ khi khiến anh bất ngờ đến thế này, nhưng Watson đây sẽ nói với anh rằng tôi chẳng bao giờ cưỡng lại được một chút chất kịch tính."

Phelps nắm lấy tay anh và hôn lên đó. "Chúa phù hộ cho anh!" cậu kêu lên. "Anh đã cứu vãn danh dự của tôi."

"Chà, danh dự của chính tôi cũng đang bị đe dọa đấy thôi, anh biết đấy," Holmes đáp. "Tôi xin cam đoan với anh rằng thất bại trong một vụ án cũng đáng ghê tởm đối với tôi y như việc anh làm hỏng một sứ mệnh vậy."

Phelps nhét tài liệu quý giá vào túi áo trong cùng.

"Tôi chẳng còn tâm trạng nào mà làm gián đoạn bữa sáng của anh thêm nữa, ấy thế mà tôi lại đang cháy lòng muốn biết anh đã lấy được nó bằng cách nào và nó đã ở đâu."

Sherlock Holmes nốc cạn một tách cà phê, rồi chuyển sự chú ý sang món giăm bông và trứng. Sau đó, anh đứng dậy, châm tẩu thuốc, và ngồi yên vị vào chiếc ghế của mình.

"Tôi sẽ kể cho anh nghe tôi đã làm những gì trước đã, rồi tôi đã đến đó như thế nào," anh bắt đầu. "Sau khi rời các anh ở nhà ga, tôi đã có một chuyến tản bộ thú vị xuyên qua những cảnh quan tuyệt đẹp của vùng Surrey để đến một ngôi làng nhỏ xinh xắn mang tên Ripley, nơi tôi dùng trà tại một quán trọ, và đã đề phòng bằng cách đổ đầy bình nước của mình cùng với việc nhét một túi bánh mì kẹp thịt vào túi. Tôi nán lại đó cho đến tối, rồi lại lên đường đi Woking, và thấy mình đang đứng trên con đường chính bên ngoài Briarbrae ngay sau khi mặt trời lặn.

"Chà, tôi đợi cho đến khi con đường vắng tanh - tôi đoán là nó chẳng bao giờ là một con đường đông đúc vào bất kỳ thời điểm nào - rồi tôi trèo qua hàng rào vào khuôn viên điền trang."

"Nhưng chắc chắn là cổng đã mở cơ mà!" Phelps thốt lên.

"Đúng vậy, nhưng tôi lại có một sở thích đặc biệt trong những chuyện như thế này. Tôi chọn chỗ có ba cây thông đứng sừng sững, và nấp sau bức bình phong của chúng, tôi trèo qua mà không có chút nguy cơ nào để bất kỳ ai trong nhà có thể nhìn thấy. Tôi thu mình xuống giữa những bụi cây ở phía bên kia, rồi bò từ lùm cây này sang lùm cây khác - xin hãy chứng kiến tình trạng thảm hại của đầu gối quần tôi đây - cho đến khi tôi tới được bụi đỗ quyên ngay đối diện cửa sổ phòng ngủ của anh. Ở đó, tôi ngồi xổm xuống và chờ đợi những diễn biến tiếp theo.

"Rèm cửa trong phòng anh không buông xuống, và tôi có thể nhìn thấy cô Harrison đang ngồi đọc sách bên chiếc bàn. Lúc mười giờ mười lăm, cô ấy gập sách lại, cài chặt cửa chớp rồi đi ngủ.

"Tôi nghe thấy tiếng cô ấy đóng cửa, và cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng cô ấy đã xoay chìa khóa trong ổ."

"Chìa khóa!" Phelps kêu lên.

"Đúng vậy; tôi đã dặn cô Harrison khóa cửa từ bên ngoài và mang theo chìa khi đi ngủ. Cô ấy đã tuân thủ từng lời chỉ dẫn của tôi một cách chính xác, và chắc chắn rằng nếu không có sự hợp tác của cô ấy thì hẳn giờ đây anh đã chẳng có tờ giấy ấy trong túi áo rồi. Sau đó, cô ấy rời đi và ánh đèn tắt ngúm, còn tôi thì bị bỏ lại ngồi xổm trong bụi đỗ quyên.

"Đêm hôm ấy trời đẹp, nhưng vẫn là một đêm thức trắng mệt nhoài. Tất nhiên là nó mang cái thứ phấn khích mà người thợ săn cảm nhận được khi nằm bên dòng nước chờ đợi con thú lớn xuất hiện. Dẫu vậy, nó dài lê thê - gần dài bằng cái đêm, Watson ạ, khi anh và tôi cùng chờ đợi trong căn phòng tử thần lúc chúng ta xem xét vấn đề nhỏ của Vụ Dải Băng Lốm Đốm. Có một chiếc đồng hồ nhà thờ ở phía dưới Woking cứ mỗi mười lăm phút lại điểm một tiếng, và đã hơn một lần tôi nghĩ rằng nó đã ngừng chạy mất rồi. Thế nhưng, cuối cùng vào khoảng hai giờ sáng, tôi đột nhiên nghe thấy âm thanh nhẹ nhàng của một chốt cửa bị đẩy ngược lại và tiếng cọt kẹt của một chiếc chìa khóa. Một khoảnh khắc sau, cánh cửa dành cho người hầu được mở ra, và gã Joseph Harrison bước ra ngoài dưới ánh trăng."

"Joseph!" Phelps kêu lên.

"Hắn để đầu trần, nhưng có quàng một chiếc áo khoác đen ngang vai để có thể che kín mặt ngay lập tức nếu có bất kỳ tiếng động báo động nào. Hắn đi nhón gót dưới bóng của bức tường, và khi đến bên cửa sổ, hắn luồn một con dao dài lưỡi qua khung cửa rồi đẩy chốt gài ngược lại. Sau đó, hắn mở toang cửa sổ, và thọc con dao qua khe hở của cửa chớp, đẩy thanh ngáng cửa lên rồi vung chúng bật mở.

"Từ chỗ nằm của mình, tôi có một góc nhìn hoàn hảo vào bên trong căn phòng và từng cử động của hắn. Hắn thắp hai ngọn nến đặt trên lò sưởi, rồi tiến hành lật ngược góc tấm thảm ở khu vực gần cửa ra vào. Chẳng mấy chốc, hắn khựng lại và chọn ra một miếng ván hình vuông, loại thường được chừa ra để thợ sửa ống nước có thể tiếp cận với các mối nối của đường ống dẫn khí đốt. Thực ra, miếng ván ấy che phủ chính mối nối chữ T phân nhánh ra đường ống cung cấp cho nhà bếp bên dưới. Từ chỗ cất giấu này, hắn rút ra cuộn giấy nhỏ kia, đẩy miếng ván xuống, sắp xếp lại tấm thảm, thổi tắt nến, và bước thẳng vào vòng tay tôi khi tôi đang đứng chờ sẵn hắn bên ngoài cửa sổ.

"Chà, hắn ác hiểm hơn nhiều so với những gì tôi từng nghĩ, cái gã Joseph ấy. Hắn lao thẳng vào tôi với con dao, và tôi đã phải quật ngã hắn tới hai lần, và chịu một vết cắt ngang các khớp ngón tay, trước khi giành được thế thượng phong. Hắn nhìn tôi bằng ánh mắt đầy sát khí với con mắt duy nhất còn nhìn thấy được khi cuộc vật lộn kết thúc, nhưng rồi hắn cũng nghe theo lẽ phải và giao nộp những tờ giấy. Có được chúng trong tay, tôi thả cho hắn đi, nhưng sáng nay tôi đã đánh điện toàn bộ thông tin chi tiết cho Forbes. Nếu anh ta đủ nhanh nhạy để tóm được con chim của mình thì tốt. Nhưng nếu, như tôi nghi ngờ một cách sâu cay, anh ta chỉ thấy cái tổ trống không khi đến nơi, thì điều đó lại càng tốt cho chính phủ. Tôi đoán rằng Huân tước Holdhurst, và cả anh Percy Phelps nữa, hẳn sẽ rất mong sự việc này không bao giờ phải đưa ra trước tòa án cảnh sát."

"Lạy Chúa tôi!" thân chủ của chúng tôi thở hổn hển. "Ý anh là suốt mười tuần đằng đẵng đau khổ vừa qua, những tờ giấy bị đánh cắp ấy vẫn luôn ở ngay trong chính căn phòng này, ngay bên cạnh tôi?"

"Đúng vậy."

"Và Joseph! Joseph là một tên vô lại và một tên trộm!"

"Hừm! Tôi e rằng bản chất của Joseph còn thâm độc và nguy hiểm hơn nhiều so với những gì người ta có thể đánh giá qua vẻ bề ngoài của hắn. Từ những gì tôi nghe được từ hắn sáng nay, tôi suy ra rằng hắn đã thua lỗ nặng nề khi lao vào cổ phiếu, và sẵn sàng làm bất cứ điều gì trên đời này để cải thiện vận may của mình. Vốn là một kẻ hoàn toàn ích kỷ, khi cơ hội bày ra trước mắt, hắn đã không để cho hạnh phúc của em gái hay danh tiếng của anh cản tay hắn lại."

Percy Phelps ngả người ra sau ghế. "Đầu óc tôi quay cuồng," cậu nói. "Những lời của anh khiến tôi choáng váng."

"Cái khó chính trong vụ án của anh," Holmes nhận xét, bằng cái cách lên lớp quen thuộc của mình, "nằm ở chỗ có quá nhiều bằng chứng. Những gì cốt yếu đã bị che lấp và chôn vùi bởi những thứ chẳng liên quan gì. Trong số tất cả những sự kiện được bày ra trước mắt chúng ta, chúng ta phải chọn lấy những thứ mà mình coi là thiết yếu, rồi ghép chúng lại với nhau theo đúng trật tự của chúng, để tái cấu trúc lại chuỗi sự kiện hết sức đặc biệt này. Tôi bắt đầu nghi ngờ Joseph từ sự thực rằng anh đã định về nhà cùng hắn vào đêm hôm đó, và vì vậy, khả năng rất cao là hắn sẽ ghé qua gọi anh, bởi hắn thông thuộc Bộ Ngoại giao, trên đường về. Khi tôi nghe nói rằng có kẻ đã khát khao lẻn vào phòng ngủ đến vậy, nơi mà không một ai ngoài Joseph có thể cất giấu thứ gì - anh đã kể cho chúng tôi trong lời tường thuật của mình về việc anh đã đuổi Joseph ra khỏi phòng thế nào khi anh về cùng với bác sĩ - thì mọi nghi ngờ của tôi đã chuyển thành sự chắc chắn, đặc biệt là khi nỗ lực ấy được thực hiện vào ngay đêm đầu tiên y tá vắng nhà, cho thấy kẻ xâm nhập đã quá rành rẽ đường đi lối lại trong ngôi nhà."

"Tôi đã mù quáng làm sao!"

"Các sự kiện của vụ án, theo như tôi đã dựng lại, là như thế này: gã Joseph Harrison đã vào văn phòng qua lối cửa phố Charles, và vì thông thạo lối đi, hắn bước thẳng vào phòng anh ngay sau khi anh rời khỏi đó. Thấy không có ai, hắn liền rung chuông, và ngay khoảnh khắc ấy, mắt hắn đập ngay vào tờ giấy trên mặt bàn. Một cái liếc mắt cũng đủ cho hắn thấy rằng cơ hội đã đặt vào tay hắn một tài liệu cấp Nhà nước có giá trị khổng lồ, và trong nháy mắt, hắn đã nhét nó vào túi và biến mất. Vài phút trôi qua, như anh còn nhớ đấy, trước khi người gác cổng còn ngái ngủ thu hút sự chú ý của anh vào tiếng chuông, và chừng ấy thời gian là đủ để tên trộm tẩu thoát.

"Hắn đã tìm đường đến Woking bằng chuyến tàu đầu tiên, và sau khi xem xét chiến lợi phẩm cũng như xác nhận rằng nó thực sự có giá trị to lớn, hắn đã giấu nó vào một nơi mà hắn cho là rất an toàn, với ý định sẽ lấy ra trong một hoặc hai ngày tới và mang đến đại sứ quán Pháp, hoặc bất cứ nơi nào hắn nghĩ sẽ thu được một cái giá hời. Thế rồi anh đột ngột trở về. Chẳng hề có lấy một lời cảnh báo, hắn bị tống ra khỏi phòng, và từ đó trở đi, luôn có ít nhất hai người túc trực trong phòng để ngăn hắn lấy lại kho báu. Tình cảnh ấy hẳn đã khiến hắn phát điên lên được. Nhưng cuối cùng, hắn nghĩ mình đã nhìn thấy cơ hội. Hắn đã định lẻn vào, nhưng bị đánh bại bởi sự tỉnh táo của anh. Anh hẳn còn nhớ rằng đêm ấy anh đã không uống liều thuốc ngủ thường lệ."

"Tôi nhớ."

"Tôi đoán chừng hắn đã dàn xếp để liều thuốc đó phát huy tác dụng, và hắn hoàn toàn trông cậy vào việc anh sẽ mê man bất tỉnh. Tất nhiên, tôi hiểu rằng hắn sẽ lặp lại nỗ lực đó bất cứ khi nào có thể thực hiện một cách an toàn. Việc cô rời khỏi phòng đã trao cho hắn đúng cơ hội mà hắn mong muốn. Tôi đã giữ cô Harrison ở trong phòng suốt cả ngày để hắn không thể nào lường trước được chúng ta. Rồi sau đó, vì đã gieo vào đầu hắn ý tưởng rằng chẳng còn trở ngại nào cả, tôi đã đứng gác đúng như những gì tôi vừa mô tả. Tôi đã biết rằng những tờ giấy ấy rất có khả năng nằm ngay trong căn phòng, nhưng tôi chẳng có chút ham muốn nào phải lật tung toàn bộ ván sàn và ốp chân tường lên để lùng sục chúng. Thế nên, tôi để mặc hắn tự mình lấy chúng ra khỏi chỗ cất giấu, và nhờ thế tự tiết kiệm cho mình vô khối phiền toái. Còn điểm nào khác mà tôi có thể làm sáng tỏ thêm không?"

"Tại sao hắn lại thử đột nhập bằng cửa sổ trong lần đầu tiên," tôi hỏi, "trong khi hắn có thể đi vào bằng cửa chính?"

"Muốn đến được cửa chính, hắn sẽ phải đi ngang qua bảy phòng ngủ. Còn mặt khác, hắn có thể ra bãi cỏ một cách hết sức dễ dàng. Còn gì nữa không?"

"Anh có nghĩ rằng," Phelps lên tiếng, "hắn có bất kỳ ý định giết người nào không? Con dao chỉ được dùng như một công cụ thôi sao?"

"Cũng có thể là vậy," Holmes đáp, nhún vai. "Tôi chỉ có thể nói một cách chắc chắn rằng gã Joseph Harrison là một quý ông mà tôi cực kỳ không sẵn lòng phó thác bản thân mình vào lòng thương xót của hắn ta."



  1. Wicket là bộ ba cọc gỗ được cắm xuống đất trong môn bóng gậy (cricket) - một môn thể thao rất phổ biến ở Anh. Ở đây, những cậu bé dùng các thanh gỗ này như một thứ vũ khí để trêu chọc bạn. 

  2. Đèn Bunsen là loại đèn đốt bằng khí ga sinh ra ngọn lửa rất nóng nhưng không có khói, được phát minh bởi nhà hóa học Robert Bunsen và sử dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm khoa học. 

  3. Hay còn gọi là Triple Alliance, một liên minh quân sự được ký kết vào năm 1882 giữa Đế quốc Đức, Đế quốc Áo-Hung và Vương quốc Ý, đóng vai trò quan trọng trong cục diện chính trị châu Âu trước Thế chiến thứ nhất. 

  4. Scotland Yard là trụ sở của Lực lượng Cảnh sát Đô thành Luân Đôn (Metropolitan Police), nổi tiếng với lực lượng thám tử chuyên điều tra các vụ án hình sự và là hình ảnh quen thuộc trong văn học trinh thám Anh. 

  5. Huguenot là nhóm người theo đạo Tin Lành ở Pháp vào thế kỷ 16-17. Do bị bức hại tôn giáo, rất nhiều người Huguenot đã phải tị nạn sang Anh và hòa nhập vào xã hội bản địa, giải thích lý do tại sao một người Anh lại mang họ Pháp. 

  6. Coldstream Guards là một trong những trung đoàn bộ binh lâu đời nhất và danh giá nhất của Quân đội Hoàng gia Anh, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vương quyền. 

  7. Clapham Junction là một trạm trung chuyển và nhà ga đường sắt khổng lồ ở phía tây nam Luân Đôn, nổi tiếng với mật độ tàu chạy qua dày đặc vào bậc nhất châu Âu thời bấy giờ. 

  8. Nguyên gốc là 'hansom cab', một loại xe ngựa nhẹ có hai bánh do một con ngựa kéo, người đánh xe ngồi ở vị trí cao phía sau hành khách. Nó di chuyển nhanh và rất phổ biến trên đường phố Luân Đôn thời Victoria như một loại taxi thời nay. 

  9. Là hệ thống nhận diện tội phạm đầu tiên trên thế giới do Alphonse Bertillon sáng chế vào cuối thế kỷ 19, dựa trên việc đo đạc tỉ mỉ các bộ phận cơ thể người (như chiều dài đầu, ngón tay) để lưu trữ vào hồ sơ trước khi kỹ thuật lấy dấu vân tay ra đời.