XII. Vấn Đề Cuối Cùng

Lòng nặng trĩu, tôi cầm bút viết nên những dòng cuối cùng này để lưu giữ lại tài năng kiệt xuất của người bạn tôi - ngài Sherlock Holmes. Rời rạc và vụng về, tôi đã cố hết sức kể lại những cuộc phiêu lưu kỳ lạ mà tôi được sánh bước cùng anh, kể từ mối nhân duyên đầu tiên gắn kết chúng tôi trong thời khắc của Hồ Sơ Vụ Án Màu Đỏ Thẫm1, cho đến phút anh can thiệp vào vụ Bản Hiệp ước Hải quân2 - một cuộc ra tay chắc chắn đã ngăn chặn được một cuộc khủng hoảng quốc tế nghiêm trọng. Tôi từng định dừng lại ở đó, và không nhắc gì đến sự kiện đã khoét vào đời tôi một khoảng trống mà suốt hai năm qua vẫn chưa thể lấp đầy. Thế nhưng, những lá thư gần đây của Đại tá James Moriarty - viết ra để bênh vực danh dự cho người anh trai - đã buộc tôi phải lên tiếng. Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phơi bày sự thật trước công chúng, đúng như những gì đã thực sự xảy ra. Chỉ một mình tôi biết chân tướng tuyệt đối của vụ việc, và tôi tin rằng đã đến lúc không nên giấu giếm thêm nữa. Theo những gì tôi được biết, chỉ có ba mẩu tin xuất hiện trên báo chí: một mẩu trên tờ Journal de Genève3 ngày 6 tháng 5 năm 1891, một mẩu của hãng Reuter4 đăng trên các báo Anh quốc ngày 7 tháng 5, và cuối cùng là bức thư gần đây mà tôi vừa nhắc đến. Trong số này, mẩu thứ nhất và thứ hai cực kỳ vắn tắt, còn mẩu cuối cùng - như tôi sẽ chứng minh ngay sau đây - là một sự xuyên tạc hoàn toàn sự thật. Nhiệm vụ của tôi bây giờ là lần đầu tiên thuật lại những gì đã thực sự diễn ra giữa Giáo sư Moriarty và ngài Sherlock Holmes.

Có lẽ độc giả vẫn còn nhớ, sau khi tôi kết hôn và bắt đầu hành nghề y tư nhân, mối quan hệ vô cùng khăng khít giữa Holmes và tôi đã phần nào đổi khác. Anh vẫn thỉnh thoảng tìm đến tôi mỗi khi cần một người đồng hành trong lúc điều tra, nhưng những dịp như vậy ngày càng thưa dần, cho đến năm 1890, tôi chỉ còn lưu trong hồ sơ vỏn vẹn ba vụ án. Suốt mùa đông năm ấy và đầu mùa xuân năm 1891, tôi đọc trên báo thấy chính phủ Pháp đã thuê anh giải quyết một vấn đề cực kỳ hệ trọng, và tôi nhận được hai bức thư ngắn của Holmes, gửi từ Narbonne và Nîmes, qua đó tôi đoán rằng thời gian anh lưu lại nước Pháp hãy còn khá dài. Bởi vậy, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy anh bước vào phòng khám của tôi vào tối ngày 24 tháng 4. Tôi nhận ra ngay trông anh còn xanh xao và gầy guộc hơn cả thường lệ.

"Đúng thế, tôi đã vắt kiệt sức mình hơi quá," anh nhận xét, đáp lại ánh mắt tôi thay vì lời nói. "Gần đây tôi hơi căng thẳng. Anh có phiền không nếu tôi đóng mấy cánh cửa chớp lại?"

Ánh sáng duy nhất trong phòng lúc này đến từ ngọn đèn trên chiếc bàn nơi tôi đang ngồi đọc sách. Holmes khẽ khàng men dọc theo bức tường, kéo sập từng cánh cửa chớp rồi cài then thật cẩn thận.

"Anh đang sợ điều gì sao?" tôi hỏi.

"Phải, tôi sợ."

"Sợ gì vậy?"

"Súng hơi."

"Holmes thân mến, anh nói thế là có ý gì?"

"Tôi nghĩ anh hiểu tôi đủ rõ, Watson ạ, để biết rằng tôi tuyệt đối không phải là kẻ yếu bóng vía. Nhưng đồng thời, sẽ là ngu xuẩn chứ không phải can đảm, nếu từ chối thừa nhận mối nguy hiểm khi nó đã ở ngay trước mắt. Phiền anh cho tôi mượn một que diêm được chứ?" Anh rít một hơi thuốc lá thật sâu, như thể sự xoa dịu ấy khiến anh dễ chịu hơn đôi phần.

"Tôi phải xin lỗi vì đã ghé thăm quá muộn thế này," anh nói tiếp, "và tôi cũng phải xin anh một ân huệ hết sức khác thường - hãy cho phép tôi rời khỏi nhà anh ngay lúc này bằng cách trèo qua bức tường ngoài vườn sau."

"Nhưng tất cả những chuyện này rốt cuộc có nghĩa là gì?" tôi hỏi.

Anh chìa tay ra, và dưới ánh đèn, tôi thấy hai khớp ngón tay anh bị toạc da, máu vẫn còn đang rỉ ra.

"Chẳng phải chuyện viển vông đâu, anh thấy rồi đấy," anh mỉm cười nói. "Trái lại, nó đủ cứng để đánh gãy tay một người cơ đấy. Bà Watson có ở nhà không?"

"Cô ấy đi vắng rồi."

"Thế à! Vậy anh ở một mình sao?"

"Hoàn toàn một mình."

"Vậy thì càng dễ dàng hơn cho tôi ngỏ lời mời anh cùng tôi sang Lục địa chơi một tuần."

"Đi đâu?"

"Ồ, đâu cũng được. Với tôi, nơi nào cũng thế cả."

Có điều gì đó cực kỳ kỳ lạ trong toàn bộ sự việc này. Bản tính Holmes vốn không phải mẫu người đi nghỉ dưỡng mà chẳng vì mục đích gì, và gương mặt nhợt nhạt hốc hác của anh cho tôi biết thần kinh anh đang bị dồn nén đến tột cùng. Anh nhìn thấy vẻ thắc mắc trong mắt tôi, rồi chạm các đầu ngón tay vào nhau, tựa khuỷu tay lên đầu gối, anh bắt đầu giải thích tình hình.

“Hẳn là anh chưa từng nghe nói đến Giáo sư Moriarty?” anh hỏi.

“Chưa bao giờ.”

“Đấy, cái thiên tài và sự kỳ vĩ của hắn nằm trọn trong điều đó!” anh kêu lên. “Hắn giăng lưới khắp London, vậy mà không một ai hay biết đến sự tồn tại của hắn. Chính điều ấy đã đưa hắn lên một tầm cao tuyệt đối trong biên niên sử tội phạm. Watson, tôi nói với anh bằng tất cả sự nghiêm túc, rằng nếu tôi có thể đánh bại hắn, nếu tôi có thể giải phóng xã hội khỏi bàn tay hắn, thì tôi sẽ coi sự nghiệp của mình đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ nhất, và sẵn lòng lui về một cuộc sống trầm lắng hơn. Nói thật với anh, những vụ án gần đây tôi hỗ trợ cho hoàng gia Scandinavia và nền cộng hòa Pháp đã giúp tôi có được một vị thế vững chắc, đủ để tôi an nhàn theo đuổi cuộc đời tĩnh tại mà bản tính tôi vốn ưa thích, và dành trọn tâm trí cho những nghiên cứu hóa học. Nhưng tôi không tài nào nghỉ ngơi nổi, Watson ạ, tôi không thể ngồi yên trên ghế khi trong đầu vẫn còn vương vấn ý nghĩ rằng một kẻ như Giáo sư Moriarty đang nhởn nhơ tản bộ trên các nẻo đường London mà chẳng gặp phải một thách thức nào.”

“Vậy rốt cuộc hắn đã làm những gì?”

“Sự nghiệp của hắn thực sự phi thường. Hắn xuất thân từ một gia đình danh giá, được hưởng một nền giáo dục xuất sắc, và thiên bẩm đã phú cho hắn một năng khiếu toán học lỗi lạc vào bậc nhất. Mới ở tuổi hai mươi mốt, hắn đã viết một luận thuyết về Định lý Nhị thức5 khiến cả châu Âu phải kinh ngạc. Nhờ công trình ấy, hắn giành được chiếc ghế Giảng sư Toán học tại một trong những trường đại học nhỏ của chúng ta, và tưởng chừng như trước mắt hắn là cả một tương lai rạng ngời đang rộng mở. Thế nhưng, trong huyết quản hắn lại chảy dòng máu của những khuynh hướng di truyền tàn độc khủng khiếp nhất. Một dòng máu tội ác len lỏi trong từng mạch máu của hắn, và thay vì bị kìm nén, nó lại được mài giũa, được nhân lên gấp vạn lần và trở nên hiểm nguy khôn lường bởi chính trí tuệ siêu việt của hắn. Những lời đồn đại đen tối bắt đầu vây bủa hắn ngay tại thị trấn đại học, và cuối cùng hắn buộc phải từ bỏ chức vị, dạt về London, nơi hắn mở lớp luyện thi cho các sĩ quan Quân đội. Thế giới bên ngoài chỉ biết đến chừng ấy về hắn, nhưng những gì tôi sắp kể cho anh nghe đây là kết quả của chính những điều tôi đã tự mình khám phá ra.

“Anh biết đấy, Watson, trên đời này không ai thấu hiểu thế giới ngầm của London bằng tôi. Trong suốt nhiều năm trời, tôi liên tục cảm nhận được đằng sau lưng bọn tội phạm có một thế lực ngầm, một quyền lực tổ chức sâu rộng vô hình luôn đứng chắn ngang luật pháp và giương cao tấm khiên che chở cho những kẻ làm điều ác. Hết lần này đến lần khác, qua đủ mọi thể loại vụ án - từ làm giả, trộm cướp, cho đến giết người - tôi đều mơ hồ nhận ra sự hiện diện của một bàn tay vô hình, và tôi đã suy luận ra sự can thiệp của nó trong vô số những tội ác chưa từng bị phanh phui mà tôi không trực tiếp tham gia điều tra. Suốt bao năm ròng, tôi đã dốc sức xé toạc bức màn bí ẩn bao phủ thế lực ấy, và cuối cùng cũng đến lúc tôi tóm được sợi chỉ mảnh - rồi kiên nhẫn lần theo nó, vượt qua hàng ngàn khúc quanh tài tình, cho đến khi nó dẫn tôi đến thẳng chân dung của vị cựu Giáo sư Moriarty, nhà toán học lừng danh.

“Hắn chính là Napoleon của thế giới tội phạm6 đấy, Watson ạ. Hắn là kẻ tổ chức đằng sau một nửa những vụ việc tàn ác và gần như toàn bộ những tội lỗi không bao giờ bị phát giác trong thành phố rộng lớn này. Hắn là một thiên tài, một triết gia, một bộ óc tư duy trừu tượng hiếm có. Hắn sở hữu một trí tuệ siêu phàm bậc nhất. Hắn ngồi im phăng phắc, như một con nhện khổng lồ giữa trung tâm mạng lưới của mình, nhưng mạng lưới ấy tỏa ra hàng ngàn sợi tơ li ti, và hắn cảm nhận được từng rung động nhỏ nhất trên mỗi sợi tơ đó. Chính bản thân hắn hầu như chẳng mấy khi nhúng tay vào việc gì. Hắn chỉ thuần túy hoạch định kế hoạch. Nhưng bè lũ tay sai của hắn thì đông đúc vô kể và được tổ chức hoàn hảo đến từng chi tiết. Nếu cần thực hiện một vụ phạm tội, một tài liệu cần đánh cắp, một ngôi nhà cần lục soát, hay một con người cần thủ tiêu - chỉ cần một lời nhắn đến tay vị Giáo sư, mọi chuyện sẽ lập tức được sắp xếp và thi hành. Tên tay sai có thể bị bắt. Trong trường hợp đó, tiền bảo lãnh hoặc luật sư bào chữa giỏi nhất sẽ lập tức xuất hiện. Nhưng cái thế lực trung tâm - kẻ đã giật dây cho tên tay sai ấy - thì không bao giờ bị tóm, thậm chí không bao giờ bị nghi ngờ. Đó chính là tổ chức mà tôi đã dày công suy luận ra, Watson, và tôi đã dồn toàn bộ tâm lực của mình để vạch trần nó, để đập tan nó thành tro bụi.

“Thế nhưng, vị Giáo sư ấy đã dựng lên quanh mình những lớp rào chắn tinh vi đến mức, cho dù tôi có xoay xở cách nào đi chăng nữa, việc tìm ra chứng cứ đủ sức kết tội hắn trước tòa dường như là điều bất khả thi. Anh biết rõ khả năng của tôi mà, Watson thân mến, ấy vậy mà sau ba tháng ròng rã, tôi buộc lòng phải thừa nhận rằng mình đã gặp phải một đối thủ ngang tài ngang sức. Sự ghê tởm của tôi trước những tội ác hắn gây ra gần như bị nhấn chìm trong nỗi ngưỡng mộ tôi dành cho tài năng của hắn. Nhưng rồi cuối cùng, hắn cũng trượt chân - chỉ một cú sảy chân nhỏ thôi, nhỏ đến mức khó lòng nhận ra - nhưng đó lại là sai lầm chí mạng mà hắn không thể nào cứu vãn nổi khi tôi đã bám sát hắn đến tận gót. Tôi đã nắm được thời cơ, và bắt đầu từ điểm mấu chốt ấy, tôi lặng lẽ giăng lưới bao vây hắn cho đến tận giờ phút này, khi mọi mũi dây đã sẵn sàng siết chặt. Chỉ còn ba ngày nữa thôi - tức là vào thứ Hai tới - mọi việc sẽ chín muồi, và vị Giáo sư cùng toàn bộ những tên chân rết chủ chốt trong băng đảng của hắn sẽ nằm gọn trong tay cảnh sát. Sau đó sẽ là phiên tòa hình sự long trời lở đất nhất của thế kỷ, khép lại hơn bốn mươi bí ẩn chưa từng có lời giải, và cả lũ chúng sẽ cùng nhau nhận án treo cổ. Nhưng nếu chúng ta hành động quá vội vàng, anh hiểu đấy, lũ chúng vẫn có thể vuột khỏi tay chúng ta ngay cả vào phút chót.

“Lúc này đây, giá như tôi có thể hoàn tất mọi việc mà không để Giáo sư Moriarty phát giác, thì mọi sự đã đâu vào đấy cả rồi. Nhưng hắn quá đỗi xảo quyệt. Hắn nhìn thấu từng bước chân tôi đi, từng vòng vây tôi siết chặt quanh hắn. Hết lần này đến lần khác hắn tìm cách thoát thân, và cũng hết lần này đến lần khác tôi chặn đứng hắn ngay trước ngưỡng cửa tự do. Tôi nói cho anh nghe, bạn thân mến, nếu có ai viết ra một bản tường thuật chi tiết về cuộc đối đầu âm thầm ấy, nó sẽ mãi mãi giữ vững vị trí như một màn giao tranh chớp nhoáng và phòng thủ lỗi lạc nhất trong lịch sử của ngành trinh thám. Tôi chưa bao giờ vươn tới đỉnh cao đến thế, và cũng chưa từng bị một đối thủ dồn ép tôi đến mức này. Hắn chém xuống những nhát thật sâu, thật hiểm, và tôi vừa kịp đỡ lấy từng đường kiếm. Sáng nay, những bước cuối cùng đã hoàn tất, chỉ còn ba ngày nữa là có thể khép lại toàn bộ vụ án. Tôi đang ngồi trong phòng, lặng lẽ suy ngẫm về mọi việc thì cánh cửa bỗng bật mở, và Giáo sư Moriarty hiện ra sừng sững ngay trước mặt tôi.

“Thần kinh của tôi vốn khá vững vàng, Watson ạ, nhưng tôi phải thú thật rằng tôi đã giật bắn người khi thấy chính kẻ mà suốt ngày đêm tôi chỉ nghĩ đến, lại đứng ngay trước ngưỡng cửa phòng mình. Dung mạo của hắn đối với tôi đã trở nên quá đỗi quen thuộc. Hắn cao một cách khác thường và gầy nhẳng, vầng trán hắn nhô ra tạo thành một vòng cung trắng nhợt, và hai hốc mắt hõm sâu hun hút. Hắn cạo râu nhẵn nhụi, xanh xao và mang dáng dấp khổ hạnh, phảng phất đâu đó nét gì đó rất mực học giả trên gương mặt. Đôi vai hắn còng xuống vì những năm tháng dài miệt mài nghiên cứu, khuôn mặt hắn chìa ra phía trước và không ngừng lúc lắc từ bên này sang bên kia theo một nhịp điệu kỳ quái, gợi liên tưởng đến loài bò sát. Hắn nhìn tôi chằm chặp với vẻ tò mò tột độ qua đôi mắt nheo lại đầy toan tính.

“‘Trán của ngài không phát triển được như tôi vẫn hình dung,’ cuối cùng hắn cất giọng. ‘Thật là một thói quen hết sức nguy hiểm khi nhét súng đã lên nòng vào túi áo khoác đấy.’

“Sự thật là, ngay từ khoảnh khắc hắn bước chân vào phòng, tôi đã lập tức nhận thức được mình đang đứng trước một mối hiểm họa khôn lường. Con đường duy nhất để hắn thoát thân chính là phải bịt chặt miệng tôi vĩnh viễn. Không chậm một giây, tôi rút khẩu súng lục từ trong ngăn kéo ra, nhét vào túi áo, và nhắm thẳng vào hắn qua lớp vải. Nghe hắn nói vậy, tôi liền rút súng ra, lên cò và đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Hắn vẫn nhoẻn miệng cười và chớp chớp đôi mắt, nhưng có điều gì đó trong cái nhìn của hắn khiến tôi thầm mừng vì mình đã chuẩn bị sẵn vũ khí.

“‘Rõ ràng là ngài không biết tôi,’ hắn nói.

“‘Trái lại,’ tôi đáp. ‘Tôi cho rằng rõ ràng là tôi biết ông đấy. Mời ông ngồi xuống. Tôi có thể dành cho ông năm phút, nếu ông thực sự có điều gì muốn nói.’

“‘Tất cả những gì tôi định nói, hẳn đều đã lướt qua tâm trí ngài rồi,’ hắn bảo.

“‘Vậy thì có lẽ câu trả lời của tôi cũng đã lướt qua tâm trí ông,’ tôi đáp trả.

“‘Ngài vẫn giữ nguyên quyết định ư?’

“‘Tuyệt đối.’

“Hắn thọc tay vào túi, và tôi lập tức nâng nòng súng lên khỏi mặt bàn. Nhưng hắn chỉ rút ra một cuốn sổ tay nhỏ, trong đó nguệch ngoạc ghi chép vài dòng ngày tháng.

“‘Ngài đã cản đường tôi vào ngày mùng 4 tháng Một,’ hắn nói. ‘Đến ngày 23, ngài bắt đầu khiến tôi khó chịu; sang giữa tháng Hai, ngài đã trở thành một mối bận tâm thực sự; cuối tháng Ba, ngài phá hỏng hoàn toàn mọi kế hoạch của tôi; và giờ đây, vào lúc cuối tháng Tư, tôi nhận thấy mình bị dồn vào chân tường, đến mức mà, do sự truy đuổi không ngơi nghỉ của ngài, tôi đứng trước nguy cơ đánh mất tự do. Tình thế đã trở nên không thể cứu vãn nổi.’

“‘Ông có đề xuất gì chăng?’ tôi hỏi.

“‘Ngài phải dừng tay lại thôi, ngài Holmes,’ hắn nói, khuôn mặt đung đưa nhè nhẹ. ‘Ngài thực sự phải dừng lại, ngài biết đấy.’

“‘Sau ngày thứ Hai tới,’ tôi đáp.

“‘Chậc, chậc,’ hắn tặc lưỡi. ‘Tôi hoàn toàn tin chắc rằng một người thông minh cỡ ngài hẳn sẽ nhận ra chuyện này chỉ có thể kết thúc bằng một lối duy nhất. Ngài cần phải rút lui. Ngài đã chèo lái mọi chuyện đi xa đến mức khiến chúng tôi chẳng còn cách giải quyết nào khác. Phải nói thật rằng, được chứng kiến cách ngài xoay xở vụ này quả là một trải nghiệm trí tuệ hết sức thú vị, và tôi nói thật lòng, tôi sẽ vô cùng lấy làm tiếc nếu buộc phải viện đến những biện pháp cực đoan. Ngài đang cười kia, nhưng tôi xin cam đoan với ngài là tôi thực sự sẽ làm điều đó.’

“‘Nguy hiểm vốn là một phần trong nghề của tôi,’ tôi nhận xét.

“‘Đây không phải là nguy hiểm,’ hắn nói. ‘Đây là sự diệt vong tất yếu không thể tránh khỏi. Ngài đang đứng chắn ngang con đường, không phải của riêng một cá nhân, mà là của một tổ chức hùng mạnh mà quy mô của nó, dù ngài có tài giỏi đến mấy, cũng chưa thể hình dung nổi. Ngài phải tránh sang một bên, ngài Holmes, bằng không ngài sẽ bị nghiền nát.’

“‘Tôi e rằng,’ tôi đáp và đứng dậy, ‘trong lúc mải mê với cuộc đàm đạo thú vị này, tôi đang lỡ mất một công việc hệ trọng đang chờ mình ở một nơi khác.’

“Hắn cũng đứng dậy, im lặng nhìn tôi, khẽ lắc đầu đầy vẻ buồn bã.

“‘Thôi được,’ cuối cùng hắn buông lời. ‘Thật đáng tiếc, nhưng tôi đã làm tất cả những gì trong khả năng của mình. Tôi biết rõ từng nước cờ tiếp theo của ngài. Ngài sẽ không thể làm gì được trước ngày thứ Hai. Đây là một cuộc đấu tay đôi giữa tôi và ngài thôi, ngài Holmes. Ngài mong sẽ lôi được tôi ra trước vành móng ngựa7. Tôi nói cho ngài biết, tôi sẽ không bao giờ đứng ở đó. Ngài mong sẽ đánh bại được tôi. Tôi nói cho ngài biết, ngài sẽ không bao giờ làm được điều đó. Nếu ngài đủ thông minh để mang đến sự hủy diệt cho tôi, thì hãy tin chắc một điều rằng, tôi cũng sẽ dành cho ngài một kết cục y hệt.’

“‘Ông đã dành cho tôi vài lời khen tặng, Giáo sư Moriarty,’ tôi nói. ‘Xin cho phép tôi được đáp lễ bằng cách nói rằng, nếu tôi nắm chắc được vế đầu tiên, thì vì lợi ích chung của công chúng, tôi sẵn lòng đón nhận vế thứ hai.’

“‘Tôi có thể hứa với ngài vế thứ hai, nhưng vế thứ nhất thì không,’ hắn gầm gừ, rồi quay ngoắt chiếc lưng còng về phía tôi, đôi mắt nheo nheo chớp chớp, và lặng lẽ bước ra khỏi phòng.

“Đó chính là cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa tôi và Giáo sư Moriarty. Tôi thú thực rằng nó đã để lại trong tôi một ấn tượng vô cùng nặng nề và khó chịu. Cái cách nói chuyện nhẹ nhàng, chính xác đến từng chữ của hắn tạo ra một sức thuyết phục chân thực đến lạnh người, một thứ mà không tên lưu manh đầu đường xó chợ nào có thể sánh được. Dĩ nhiên là anh sẽ hỏi: ‘Vậy sao anh không nhờ đến sự bảo vệ của cảnh sát?’ Lý do là vì tôi tin chắc rằng đòn tấn công sẽ đến từ chính bè lũ tay sai của hắn. Tôi đã có những bằng chứng rành rành cho điều ấy.”

“Anh đã bị tấn công rồi sao?” tôi hỏi.

“Watson thân mến, Giáo sư Moriarty không phải loại người để cỏ mọc dưới chân mình. Vào khoảng giữa trưa, tôi ra ngoài để giải quyết vài việc ở phố Oxford. Khi tôi vừa bước qua góc đường dẫn từ phố Bentinck ra ngã tư phố Welbeck, một cỗ xe tải hai ngựa lao tới với tốc độ kinh hoàng, quẹo cua gấp và phi thẳng vào tôi như một tia chớp. Tôi chỉ kịp nhảy vọt lên vỉa hè và cứu lấy mạng mình trong gang tấc. Cỗ xe lao vút qua ngõ Marylebone rồi biến mất trong nháy mắt. Sau vụ đó, tôi bám sát vỉa hè mà đi, Watson ạ, thế nhưng khi tôi men dọc phố Vere, một viên gạch từ trên mái nhà rơi xuống và vỡ tan tành ngay dưới chân tôi. Tôi gọi cảnh sát đến và yêu cầu kiểm tra hiện trường. Trên mái nhà có những đống ngói và gạch được chất thành đống để chuẩn bị sửa chữa, và họ muốn tôi tin rằng chỉ là gió thổi bay một viên gạch mà thôi. Tất nhiên là tôi hiểu quá rõ sự tình, nhưng tôi chẳng thể chứng minh được điều gì. Sau đó, tôi bắt một chiếc xe ngựa đến phòng của anh trai tôi ở Pall Mall, và ở lì trong đó suốt cả ngày. Rồi tôi đến chỗ anh đây, và trên đường đi, tôi lại bị một tên côn đồ cầm gậy tấn công. Tôi đã quật ngã hắn, và cảnh sát hiện đang tạm giữ hắn; nhưng tôi có thể nói với anh với một sự tự tin tuyệt đối rằng, sẽ chẳng bao giờ người ta tìm thấy bất kỳ mối liên hệ nào giữa tên du côn đã làm toạc cả các đốt ngón tay tôi đây, với vị cựu giáo viên toán học nhút nhát, người mà tôi dám chắc là đang say sưa giải những bài toán trên tấm bảng đen ở cách đây mười dặm đường. Hẳn là anh sẽ chẳng ngạc nhiên đâu, Watson, khi hành động đầu tiên của tôi lúc bước vào nhà anh là đóng sập mọi cánh cửa chớp lại, và rằng tôi buộc phải xin phép anh cho tôi rời khỏi ngôi nhà này bằng một lối ra kín đáo hơn cánh cửa chính.”

Tôi vốn đã luôn ngưỡng mộ lòng can đảm của bạn mình, nhưng chưa bao giờ tôi cảm nhận được điều đó sâu sắc như lúc này, khi anh lặng lẽ ngồi đó và bình thản điểm lại từng sự kiện trong chuỗi những sự kiện mà riêng từng cái một thôi cũng đã đủ để tạo nên một ngày kinh hoàng cho bất kỳ ai.

“Anh sẽ ở lại đây qua đêm chứ?” tôi hỏi.

“Không, bạn thân mến, anh sẽ thấy tôi là một vị khách hết sức nguy hiểm đấy. Tôi đã lên sẵn kế hoạch rồi, và mọi việc sẽ ổn cả thôi. Mọi chuyện giờ đã đi quá xa và có thể tự vận hành mà không cần đến sự can thiệp của tôi cho đến thời khắc diễn ra cuộc bắt giữ, mặc dù sự hiện diện của tôi là cần thiết để buộc tội chúng. Bởi vậy, điều tốt nhất lúc này là tôi nên lánh mặt đi trong vài ngày, trước khi cảnh sát chính thức được tự do hành động. Sẽ là một niềm vinh hạnh vô cùng lớn lao đối với tôi, nếu anh có thể cùng tôi sang Lục địa.”

“Phòng khám của tôi dạo này cũng khá vắng khách,” tôi đáp, “và tôi lại có một người đồng nghiệp tốt bụng ở ngay nhà bên cạnh. Tôi rất vui lòng được đi cùng anh.”

“Và chúng ta sẽ khởi hành vào sáng mai chứ?”

“Nếu điều đó thực sự cần thiết.”

“Ồ, có chứ, rất cần thiết đấy. Đây là những chỉ dẫn dành cho anh, và tôi mong anh, Watson thân mến, sẽ tuân thủ đến từng chữ một, bởi vì hiện giờ anh và tôi đang cùng nhau chơi một ván bài đôi để chống lại tên ác ôn thông minh nhất và tổ chức tội phạm quyền lực nhất trên toàn cõi châu Âu này. Nào, hãy lắng nghe cho kỹ đây! Tối nay, anh hãy gửi toàn bộ hành lý mình định mang theo cho một người đưa tin thật đáng tin cậy, chuyển thẳng đến ga Victoria8, nhưng tuyệt đối không được ghi địa chỉ người nhận. Sáng mai, anh hãy gọi một chiếc xe ngựa hansom9, và dặn người xà ích đừng lên chiếc xe thứ nhất hay thứ hai nào xuất hiện. Anh sẽ nhảy lên chiếc xe ấy và đi thẳng đến cuối dãy Arcade Lowther phía phố Strand, trao địa chỉ cho người đánh xe trên một mảnh giấy nhỏ, kèm theo lời dặn đừng bao giờ vứt nó đi. Hãy chuẩn bị sẵn tiền xe, và ngay khi xe vừa dừng bánh, anh hãy lao nhanh qua khu Arcade, canh thời gian thật chính xác để đến phía bên kia đường vào đúng chín giờ mười lăm phút. Ở đó, anh sẽ thấy một chiếc xe ngựa brougham10 nhỏ đang đợi sát ngay vỉa hè, do một người đàn ông mặc chiếc áo khoác đen dày cộm, có viền cổ màu đỏ thẫm, đang cầm cương. Anh hãy bước lên chiếc xe đó, và anh sẽ đến ga Victoria vừa kịp lúc để bắt chuyến tàu tốc hành đi Lục địa.”

“Tôi sẽ gặp anh ở đâu?”

“Ngay tại nhà ga. Toa hạng nhất thứ hai tính từ đầu tàu sẽ được đặt riêng cho hai chúng ta.”

“Vậy toa tàu là điểm hẹn của chúng ta?”

“Đúng vậy.”

Tôi đã cố hết sức nài nỉ Holmes ở lại qua đêm, nhưng vô ích. Rõ ràng anh cho rằng sự hiện diện của mình có thể mang tai họa đến cho ngôi nhà anh đang trú ngụ, và chính nỗi lo ấy đã thôi thúc anh phải rời đi ngay. Sau vài lời trao đổi vội vã về kế hoạch cho ngày hôm sau, anh đứng dậy và cùng tôi bước ra khu vườn, trèo qua bức tường dẫn ra phố Mortimer, rồi lập tức huýt sáo gọi một chiếc hansom. Tôi lặng lẽ đứng đó, lắng nghe tiếng bánh xe anh khuất dần trong màn đêm lạnh lẽo.

Sáng hôm sau, tôi tuân thủ từng chỉ dẫn của Holmes đến từng chữ. Chúng tôi gọi một chiếc hansom với đủ mọi biện pháp đề phòng để tránh dính phải chiếc xe mà bọn chúng đã giăng sẵn. Ngay sau bữa sáng, tôi đi thẳng đến Lowther Arcade11 rồi lao nhanh qua khu phố đó với tốc độ nhanh nhất có thể. Một chiếc brougham đã chờ sẵn ở đó. Người đánh xe là một quý ông to lớn quấn mình trong chiếc áo choàng tối màu. Ngay khi tôi vừa đặt chân lên xe, ông ta quất roi, cho ngựa phóng thẳng đến ga Victoria. Lúc tôi bước xuống, chiếc xe lập tức quay đầu rồi lao đi khuất dạng, không một lần ngoảnh lại nhìn tôi.

Cho đến thời điểm này, mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ. Hành lý của tôi đã đợi sẵn ở ga, và tôi chẳng gặp chút trở ngại nào khi tìm toa tàu mà Holmes đã chỉ định - nhất là khi đó lại là toa duy nhất trên cả đoàn tàu có treo tấm biển "Đã đặt trước." Điều duy nhất khiến tôi bất an lúc này chính là sự vắng mặt của Holmes. Đồng hồ nhà ga chỉ còn bảy phút nữa là đến giờ khởi hành. Tôi tuyệt vọng đảo mắt tìm kiếm bóng dáng thanh thoát quen thuộc của người bạn mình giữa đám đông hành khách và người đưa tiễn. Chẳng thấy anh đâu. Tôi dành ra vài phút giúp đỡ một vị linh mục người Ý lớn tuổi - ông cụ đang loay hoay cố giải thích cho người khuân vác bằng thứ tiếng Anh bập bẹ rằng hành lý của mình cần được ký gửi đi Paris. Xong việc, tôi lại đưa mắt nhìn quanh thêm một lượt rồi quay về toa của mình. Tại đây, tôi phát hiện ra người khuân vác, bất chấp tấm vé đã đặt chỗ, đã xếp cho tôi ngồi chung với chính vị linh mục già nua người Ý lụ khụ ấy. Thật vô ích nếu cố giải thích với ông ta rằng sự có mặt của ông là một điều phiền toái, bởi tiếng Ý của tôi còn tệ hơn cả tiếng Anh của ông. Thế là tôi đành cam chịu nhún vai, rồi lại tiếp tục thấp thỏm ngóng chờ người bạn của mình. Một nỗi sợ lạnh buốt len lỏi trong tôi khi tôi nghĩ rằng sự vắng mặt của anh có thể đồng nghĩa với một đòn tấn công nào đó đã giáng xuống trong đêm qua. Các cánh cửa toa tàu đã đóng sập lại và tiếng còi đã rúc lên, thì bất thình lình -

"Watson thân mến," một giọng nói cất lên, "anh thậm chí còn chẳng buồn nói với tôi một câu chào buổi sáng."

Tôi quay ngoắt lại, sững sờ đến tột độ. Vị giáo sĩ già đang xoay mặt về phía tôi. Chỉ trong một khoảnh khắc, những nếp nhăn hằn sâu biến mất, chiếc mũi rời khỏi cằm, môi dưới thôi nhô ra và cái miệng ngừng lẩm bẩm, đôi mắt đục mờ bỗng lấy lại ánh tinh anh sắc sảo, tấm lưng còng bỗng vươn thẳng lên. Rồi giây tiếp theo, toàn bộ thân hình lại xẹp xuống như cũ, và Holmes đã biến mất nhanh như lúc anh xuất hiện.

"Lạy Chúa!" tôi thốt lên. "Anh làm tôi hết hồn!"

"Mọi biện pháp đề phòng vẫn là cần thiết," anh thì thầm. "Tôi có lý do để tin rằng bọn chúng đang bám sát gót chúng ta. À, chính Moriarty đang đến kia kìa."

Đoàn tàu đã bắt đầu lăn bánh khi Holmes cất lời. Ngoảnh lại nhìn, tôi thấy một người đàn ông cao lớn đang hung hăng rẽ đám đông mà lao tới, tay vẫy loạn xạ như muốn bắt đoàn tàu dừng lại. Nhưng đã quá muộn. Chúng tôi đang tăng tốc rất nhanh, và chỉ trong khoảnh khắc, con tàu đã lao vút ra khỏi nhà ga.

"Dù đã dùng đủ mọi biện pháp đề phòng, anh thấy đấy, chúng ta vẫn suýt nữa thì bị tóm," Holmes vừa cười vừa nói. Anh đứng dậy, cởi bỏ chiếc áo chùng đen cùng chiếc mũ cải trang, rồi nhét gọn chúng vào túi xách tay.

"Anh đã xem tờ báo sáng nay chưa, Watson?"

"Chưa."

"Vậy là anh chưa biết chuyện xảy ra ở phố Baker rồi."

"Phố Baker sao?"

"Đêm qua bọn chúng đã phóng hỏa đốt phòng của chúng ta. May là không thiệt hại gì nghiêm trọng."

"Lạy Chúa, Holmes! Chuyện này thật quá sức chịu đựng."

"Chắc hẳn sau khi tên du côn kia bị bắt, bọn chúng đã hoàn toàn mất dấu tôi. Nếu không, chúng chẳng đời nào tưởng tượng được rằng tôi dám quay về phòng. Dù sao thì chúng cũng đã theo dõi anh rất kỹ, và đó chính là lý do khiến Moriarty lần ra đến tận Victoria. Anh không mắc sai sót gì trên đường đến đây chứ?"

"Tôi đã làm đúng y như lời anh dặn."

"Anh có tìm thấy chiếc brougham không?"

"Có, nó đã đợi sẵn ở đó."

"Anh có nhận ra người đánh xe không?"

"Không."

"Đó là Mycroft, anh trai tôi đấy. Thật tiện lợi biết bao khi có thể xoay xở trong một vụ như thế này mà không cần phải tiết lộ bí mật cho bất kỳ kẻ làm thuê nào. Nhưng giờ thì chúng ta phải tính kế đối phó với Moriarty thôi."

"Vì đây là tàu tốc hành và có tàu thủy chạy nối tiếp ngay sau chuyến này, tôi nghĩ chúng ta đã cắt đuôi hắn khá hiệu quả rồi."

"Watson thân mến, rõ ràng là anh vẫn chưa hiểu điều tôi muốn nói khi tôi bảo rằng tên này sở hữu một trí tuệ ngang ngửa với tôi. Anh không tưởng tượng nổi đâu - nếu tôi là kẻ truy đuổi, tôi sẽ chẳng để mình bị chặn đứng bởi một trở ngại nhỏ nhặt như thế. Vậy thì tại sao anh lại đánh giá hắn thấp đến vậy?"

"Thế hắn sẽ làm gì?"

"Những gì tôi sẽ làm chứ sao."

"Vậy anh sẽ làm gì?"

"Thuê một chuyến tàu đặc biệt."

"Nhưng thế nào cũng trễ."

"Hoàn toàn không. Chuyến tàu này sẽ dừng ở Canterbury; còn tàu thủy thì lúc nào cũng trễ ít nhất mười lăm phút. Hắn sẽ đuổi kịp chúng ta ngay tại đó."

"Người ta sẽ tưởng chúng ta mới là tội phạm mất thôi. Hãy bắt giữ hắn ngay khi hắn vừa tới nơi."

"Làm vậy sẽ phá hỏng công sức suốt ba tháng trời của chúng ta. Chúng ta bắt được con cá lớn, nhưng lũ cá nhỏ sẽ chạy tứ tán khỏi lưới hết. Đến thứ Hai, chúng ta sẽ tóm trọn cả ổ. Không, chưa thể bắt giữ hắn vào lúc này được."

"Vậy thì làm sao?"

"Chúng ta sẽ xuống tàu ở Canterbury."

"Rồi sau đó?"

"À, sau đó chúng ta sẽ thực hiện một chuyến đi băng đồng đến Newhaven, rồi từ đó qua Dieppe. Moriarty, một lần nữa, sẽ làm đúng những gì tôi sẽ làm. Hắn sẽ đến Paris, đánh dấu hành lý của chúng ta, và kiên nhẫn chờ đợi suốt hai ngày ở kho hành lý. Trong lúc đó, chúng ta sẽ sắm cho mình vài chiếc túi du lịch bằng thảm, ủng hộ nền sản xuất của những quốc gia mình đi qua, và thong dong tìm đường đến Thụy Sĩ, qua ngả Luxembourg rồi đến Basle."

Thế là tại Canterbury, chúng tôi bước xuống tàu, và ngay lập tức biết tin mình sẽ phải chờ đến một tiếng đồng hồ mới có chuyến tàu tiếp theo đi Newhaven.

Tôi vẫn còn đang bùi ngùi dõi mắt nhìn theo toa hành lý chất đầy quần áo của mình đang lao đi xa dần, thì Holmes kéo nhẹ tay áo tôi và chỉ tay về phía đường ray.

"Anh thấy chưa, hắn đến rồi kia kìa," anh nói.

Ở phía xa, từ giữa những cánh rừng xứ Kent, một vệt khói mỏng manh đang bốc lên. Một phút sau, tôi đã có thể nhìn thấy một toa xe và đầu máy lao vun vút dọc theo khúc cua mở dẫn vào nhà ga. Chúng tôi vừa kịp nấp sau một đống hành lý thì đoàn tàu phóng qua trong tiếng gầm rền lách cách, phả thẳng vào mặt chúng tôi một luồng hơi nóng rực.

"Hắn qua rồi," Holmes nói, khi chúng tôi cùng nhìn theo toa xe lắc lư qua những đoạn ghi đan chéo. "Anh thấy đấy, trí thông minh của người bạn chúng ta cũng có giới hạn của nó. Sẽ là một đòn quyết định nếu hắn suy luận ra được điều tôi suy luận và hành động y hệt như vậy."

"Và hắn sẽ làm gì nếu đuổi kịp chúng ta?"

"Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn sẽ thực hiện một cuộc tấn công chí mạng nhắm thẳng vào tôi. Nhưng này, đây là một cuộc chơi mà cả hai bên đều có thể tham gia. Câu hỏi lúc này là chúng ta nên dùng bữa trưa sớm ngay tại đây, hay liều nhịn đói cho đến khi tới được nhà ăn ở Newhaven?"

Đêm hôm ấy, chúng tôi đến Brussels và lưu lại đó hai ngày. Sang ngày thứ ba, chúng tôi lại tiếp tục hành trình đến Strasbourg. Vào sáng thứ Hai, Holmes đánh một bức điện cho cảnh sát London, và đến tối, chúng tôi nhận được hồi âm gửi thẳng đến khách sạn. Holmes xé toạc phong bì, rồi buông một tiếng chửi thề đầy cay đắng và ném mạnh bức điện vào lò sưởi.

"Đáng lẽ tôi phải biết trước mới phải!" anh rên rỉ. "Hắn đã trốn thoát rồi!"

"Moriarty sao?"

"Họ đã tóm trọn toàn bộ băng đảng, ngoại trừ hắn. Hắn đã luồn lách thoát được. Dĩ nhiên rồi - khi tôi đã rời khỏi đất nước, chẳng còn ai đủ sức đối đầu với hắn nữa. Thế mà tôi cứ ngỡ mình đã đặt sẵn ván cờ vào tay họ rồi. Watson này, tôi nghĩ tốt nhất là anh nên quay trở về nước Anh."

"Tại sao chứ?"

"Vì lúc này, tôi sẽ là một người bạn đồng hành hết sức nguy hiểm. Kế sinh nhai của hắn đã tan thành mây khói. Hắn sẽ chẳng còn đường sống nào nếu quay lại London. Nếu tôi đọc đúng con người hắn, hắn sẽ dồn toàn bộ tâm trí và sức lực vào việc trả thù tôi. Trong cuộc gặp ngắn ngủi giữa chúng tôi, hắn đã nói thẳng điều đó, và tôi đoán hắn thực sự có ý như vậy. Tôi chân thành khuyên anh hãy quay về với công việc khám bệnh của mình."

Lời khuyên ấy khó lòng lay chuyển được một người lính cựu chiến binh, đồng thời cũng là một người bạn già như tôi. Chúng tôi ngồi lại trong phòng ăn ở Strasbourg, tranh luận suốt nửa giờ đồng hồ, nhưng ngay tối hôm ấy, chúng tôi lại tiếp tục lên đường và hướng thẳng về phía Genève.

Suốt một tuần tuyệt đẹp, chúng tôi lang thang dọc ngược Thung lũng Rhone, rồi rẽ nhánh ở Leuk, băng qua Đèo Gemmi12 vẫn còn chìm sâu trong tuyết trắng, sau đó ngang qua Interlaken để đến Meiringen. Đó là một chuyến đi thực sự mê hồn - sắc xanh mơn mởn của mùa xuân trải dài dưới chân, còn màu trắng tinh khôi của mùa đông phủ kín trên đầu. Thế nhưng, tôi nhận thấy rõ rằng chẳng có một khoảnh khắc nào Holmes quên đi cái bóng đen đang đè nặng lên cuộc đời mình. Dù là trong những ngôi làng bình yên của dãy Alps hay trên những con đèo hoang vắng hun hút, qua ánh mắt láo liên không ngơi nghỉ và cái nhìn soi xét sắc lẹm của anh đối với từng gương mặt lướt ngang qua, tôi biết anh tin chắc rằng, dù có đi đến tận đâu, chúng tôi cũng không thể nào rũ bỏ được mối hiểm họa đang bám riết lấy gót chân mình.

Tôi nhớ có một lần, khi đang băng qua đèo Gemmi và thong thả dạo bước dọc theo bờ hồ Daubensee ảm đạm, một tảng đá lớn bỗng trượt khỏi sườn núi phía bên phải chúng tôi, vang lên tiếng răng rắc khô khốc rồi ầm ầm lăn xuống hồ ngay phía sau lưng. Lập tức, Holmes lao vút lên sườn núi, đứng trên một mỏm đá chót vót và rướn cổ nhìn ra tứ phía. Người hướng dẫn viên đã cố hết sức trấn an anh rằng lở đá là chuyện thường xảy ra vào mùa xuân ở vùng này, nhưng vô ích. Anh chẳng nói gì, chỉ mỉm cười với tôi bằng vẻ mặt của một kẻ vừa tận mắt chứng kiến điều mà mình đã tiên liệu từ trước nay đã trở thành sự thật.

Thế nhưng, dù luôn đặt mình trong trạng thái cảnh giác cao độ, anh chưa bao giờ tỏ ra chán nản. Trái lại, tôi không thể nhớ nổi mình đã từng thấy anh có tinh thần phấn chấn đến thế bao giờ. Hết lần này đến lần khác, anh nhắc đi nhắc lại rằng, nếu có thể chắc chắn rằng xã hội đã được giải thoát khỏi Giáo sư Moriarty, anh sẽ sẵn lòng khép lại sự nghiệp của mình trong vui vẻ.

"Tôi nghĩ mình có thể đi xa đến mức khẳng định rằng, Watson ạ, tôi đã không sống một cuộc đời hoàn toàn vô ích," anh nhận xét. "Nếu hồ sơ của tôi khép lại vào đêm nay, tôi vẫn có thể thanh thản nhìn lại nó. Bầu không khí London đã trở nên trong lành hơn nhờ vào sự tồn tại của tôi. Trong hơn một ngàn vụ án, tôi chưa từng một lần sử dụng khả năng của mình vào mục đích sai trái. Gần đây, tôi bị cuốn hút bởi việc tìm hiểu những vấn đề mà thiên nhiên đặt ra, hơn là những vấn đề hời hợt do chính cái tình trạng xã hội nhân tạo của chúng ta gây nên. Cuốn hồi ký của anh rồi sẽ đi đến hồi kết, Watson ạ, vào cái ngày tôi đánh dấu đỉnh cao sự nghiệp của mình bằng việc bắt giữ hoặc tiêu diệt tên tội phạm nguy hiểm và tài năng nhất châu Âu."

Tôi sẽ kể nốt những gì còn lại - thật ngắn gọn nhưng chính xác. Đây không phải là một chủ đề mà tôi muốn nhắc đến, nhưng tôi ý thức sâu sắc rằng nhiệm vụ của mình là không được phép bỏ sót bất kỳ chi tiết nào.

Vào ngày mùng 3 tháng Năm, chúng tôi đặt chân đến ngôi làng nhỏ Meiringen và dừng chân nơi quán trọ Englischer Hof, lúc bấy giờ do ông Peter Steiler làm chủ. Vị chủ quán của chúng tôi là một người sáng dạ và nói tiếng Anh cực kỳ lưu loát, nhờ từng có ba năm làm bồi bàn tại khách sạn Grosvenor ở London. Nghe theo lời ông, vào xế trưa ngày mùng 4, chúng tôi cùng nhau khởi hành, dự định băng qua những ngọn đồi và nghỉ đêm tại thôn Rosenlaui. Tuy nhiên, ông dặn đi dặn lại rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đừng bỏ lỡ thác nước Reichenbach nằm lưng chừng đồi - nhất định phải đi vòng qua một chút để chiêm ngưỡng.

Nơi ấy quả là một chốn kinh hoàng. Dòng thác cuồn cuộn tiếp thêm sức mạnh từ băng tuyết tan, lao thẳng xuống một vực sâu hun hút, tung lên những cột bụi nước trắng xóa nom tựa khói bốc từ một tòa nhà đang rực cháy. Hẻm núi nơi con sông trút mình xuống là một vực thẳm khổng lồ, vây quanh bởi lớp đá đen tuyền bóng loáng, thắt hẹp dần thành một hố sâu sôi sục bọt nước trắng phau, cuộn trào rồi bắn tung tóe qua những mép đá lởm chởm nhọn hoắt. Dòng nước xanh thẫm gầm thét lao xuống không ngơi, và tấm màn bụi nước dày đặc long lanh réo rắt bốc lên, khiến người ta choáng váng trước vòng xoáy và âm thanh ầm ầm không dứt. Chúng tôi đứng sát rìa vực, ngó xuống ánh sáng lấp lóa của dòng nước tan vỡ đập vào những tảng đá đen tuốt tận dưới sâu, rồi lắng nghe cái âm thanh kỳ quái - tựa tiếng la hét của con người - vọng lên cùng bụi nước từ dưới lòng vực thẳm.

Người ta đã đục một lối đi vòng qua thác nước để du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh, nhưng con đường đột ngột kết thúc, và du khách buộc phải quay về lối cũ. Chúng tôi vừa xoay người định quay lại thì thấy một cậu bé người Thụy Sĩ chạy dọc theo lối mòn, trên tay cầm một bức thư. Bức thư mang con dấu của chính khách sạn chúng tôi vừa rời đi, và do chính tay ông chủ quán gửi cho tôi. Hóa ra, chỉ vài phút sau khi chúng tôi khởi hành, một quý bà người Anh đã đến khách sạn - bà đang ở giai đoạn cuối của căn bệnh lao phổi. Bà vừa trải qua mùa đông tại Davos Platz và đang trên đường đến Lucerne để gặp bạn bè thì bất ngờ lên cơn xuất huyết. Người ta cho rằng bà chỉ còn sống được vài giờ nữa, nhưng bà sẽ cảm thấy được an ủi vô cùng nếu có thể gặp một vị bác sĩ người Anh, và, nếu tôi vui lòng quay trở lại, vân vân... Ông Steiler nhân hậu còn cam đoan trong phần tái bút rằng ông sẽ coi sự đồng ý của tôi như một ân huệ lớn lao, bởi quý bà ấy kiên quyết từ chối gặp bác sĩ Thụy Sĩ, và ông không thể không cảm thấy mình đang gánh trên vai một trách nhiệm nặng nề.

Đó là một lời thỉnh cầu không thể nào ngoảnh mặt làm ngơ. Làm sao có thể từ chối yêu cầu của một nữ đồng hương đang hấp hối nơi đất khách quê người? Thế nhưng, lòng tôi vẫn đầy đắn đo khi nghĩ đến chuyện phải rời xa Holmes. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất rằng anh sẽ giữ cậu bé người Thụy Sĩ ở lại làm người dẫn đường và bầu bạn, trong khi tôi quay về Meiringen. Bạn tôi bảo sẽ nán lại bên thác nước một lát, rồi thong thả băng đồi đến Rosenlaui, nơi tôi sẽ hội ngộ cùng anh vào buổi tối. Khi quay bước ra đi, tôi ngoái đầu nhìn lại và thấy Holmes đứng tựa lưng vào một tảng đá, hai tay khoanh lại, mắt lặng ngắm dòng nước cuồn cuộn chảy xiết. Đó là lần cuối cùng trên cõi đời này tôi được nhìn thấy anh.

Khi tôi gần tới cuối con dốc, tôi ngoảnh đầu nhìn lại. Đứng từ vị trí ấy, không thể trông thấy thác nước, nhưng tôi có thể nhìn rõ con đường mòn ngoằn ngoèo vòng qua sườn đồi dẫn tới đó. Và dọc theo lối mòn này, tôi nhớ mình đã thoáng thấy một người đàn ông đang sải bước rất nhanh.

Tôi có thể trông rõ hình dáng đen sẫm của ông ta in bóng lên nền xanh của triền đồi phía sau. Tôi chú ý đến ông ta, đến cái vẻ hối hả khẩn trương trong từng bước chân, nhưng rồi hình ảnh ấy cũng nhanh chóng trôi tuột khỏi tâm trí khi tôi vội vã tiếp tục cuộc hành trình của riêng mình.

Có lẽ phải mất hơn một tiếng đồng hồ tôi mới về đến Meiringen. Lão Steiler đang đứng ngay trước cổng khách sạn của ông.

"Thế nào rồi," tôi vừa hấp tấp bước tới vừa hỏi, "tôi hy vọng là tình trạng của bà ấy không tệ hơn chứ?"

Một thoáng ngỡ ngàng lướt qua khuôn mặt ông ta, và ngay khi đôi lông mày ông khẽ nhíu lại, tim tôi đã chùng xuống như đeo chì.

"Không phải ông đã viết bức thư này sao?" tôi buột miệng, rút bức thư từ trong túi ra. "Không hề có người phụ nữ Anh nào đang ốm trong khách sạn ư?"

"Chắc chắn là không!" ông ta kêu lên. "Nhưng nó có con dấu của khách sạn đây mà! À, hẳn là nó được viết bởi cái ông người Anh cao lớn vừa đến ngay sau khi ngài rời đi. Ông ta nói rằng-"

Nhưng tôi không còn đủ kiên nhẫn để nghe bất kỳ lời giải thích nào của ông chủ quán nữa. Trong cơn hãi hùng tột độ, tôi lao như bay dọc theo con phố làng, nhắm thẳng vào con đường mà tôi vừa mới đi xuống. Lúc xuống, tôi đã mất một tiếng. Bất chấp mọi nỗ lực điên cuồng, tôi phải mất thêm hai tiếng nữa mới quay lại được tới thác nước Reichenbach. Cây gậy leo núi Alpine13 của Holmes vẫn còn nguyên đó, tựa vào tảng đá nơi tôi đã rời xa anh. Nhưng không hề có một dấu vết nào của anh, và tôi gào thét lên trong vô vọng. Lời hồi đáp duy nhất chỉ là chính giọng nói của tôi dội ngược lại từ những vách đá cheo leo xung quanh.

Chính hình ảnh cây gậy Alpine ấy đã khiến tôi ớn lạnh đến tận xương tủy. Vậy ra anh đã không hề đi về phía Rosenlaui. Anh đã ở lại trên con đường mòn hẹp chưa đầy một mét ấy - một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực thẳm sâu hun hút không đáy - cho tới khi kẻ thù đuổi kịp anh. Cậu bé người Thụy Sĩ cũng đã biến mất không một dấu vết. Có lẽ cậu ta đã nhận tiền của Moriarty và để mặc hai người đàn ông đối mặt với nhau. Và rồi, chuyện gì đã xảy ra sau đó? Ai có thể kể cho chúng ta biết chuyện gì đã xảy ra sau khoảnh khắc ấy?

Tôi đứng ngây người chừng một, hai phút để trấn tĩnh lại, bởi tôi đã hoàn toàn choáng váng trước sự khủng khiếp của biến cố. Rồi tôi bắt đầu nghĩ đến những phương pháp của Holmes và cố gắng áp dụng chúng để tái dựng lại tấn bi kịch này. Đáng buồn thay, mọi thứ lại quá dễ dàng để đọc ra. Trong lúc trò chuyện, chúng tôi chưa từng đi tới tận cuối con đường, và cây gậy Alpine đánh dấu chính xác vị trí chúng tôi đã đứng. Lớp đất hơi sẫm màu lúc nào cũng mềm nhão vì những hạt bụi nước bay không ngớt, đến nỗi một con chim đậu xuống cũng có thể để lại dấu chân trên đó. Hai dải dấu chân in hằn rõ mồn một dọc theo phần cuối của con đường, cả hai đều hướng ra xa khỏi tôi. Không có một dấu chân nào quay trở lại. Cách đoạn cuối vài thước, nền đất bị xới tung lên thành một bãi bùn nhão nhoẹt, còn những cành cây và dương xỉ viền quanh miệng vực thì bị xé rách, tơi tả đến thảm thương. Tôi nằm sấp xuống, thò đầu qua mép vực, mặc cho bụi nước bắn tung tóe tứ phía xung quanh. Trời đã nhá nhem tối kể từ lúc tôi rời đi, và giờ đây tôi chỉ còn thấy lác đác đây đó vài đốm ẩm ướt le lói trên những vách đá đen thẫm, và tít tận dưới sâu kia là ánh sáng chập chờn của dòng nước vỡ tan. Tôi lại hét lên; nhưng chỉ có cái âm thanh nửa người nửa quỷ kỳ dị của thác nước vọng ngược lại bên tai.

Nhưng số phận đã an bài để rốt cuộc, tôi vẫn được nhận một lời chào tạm biệt cuối cùng từ người bạn, người đồng chí của mình. Tôi đã kể rằng chiếc gậy Alpine của anh được tựa vào một tảng đá nhô ra bên lối đi. Từ đỉnh của tảng đá ấy, một tia sáng lấp lánh của vật gì đó chói lọi đập thẳng vào mắt tôi, và khi đưa tay lên với, tôi phát hiện ra đó chính là chiếc hộp đựng thuốc lá bằng bạc mà anh vẫn luôn mang theo bên mình. Khi tôi nhấc nó lên, một mẩu giấy vuông nhỏ nằm bên dưới phấp phới bay xuống đất. Mở ra xem, tôi nhận ra đó là ba trang giấy được xé từ cuốn sổ tay của anh và gửi cho tôi. Có một nét rất đặc trưng của con người này: dòng địa chỉ vẫn hết sức chính xác đến từng chi tiết, và nét chữ vẫn cứng cáp, rõ ràng như thể nó được viết ngay trong chính phòng làm việc của anh vậy.

"Watson thân mến," anh viết, "tôi viết những dòng này nhờ sự chiếu cố của Giáo sư Moriarty, người đang chờ tôi để tiến hành cuộc thảo luận cuối cùng về những vấn đề giữa hai chúng ta. Ông ấy vừa phác thảo cho tôi nghe những thủ đoạn mà ông ấy đã dùng để qua mặt cảnh sát Anh và bám sát từng đường đi nước bước của chúng ta. Chúng quả thực càng củng cố thêm đánh giá rất cao mà tôi vốn dành cho tài năng của ông ấy. Tôi vui mừng khi nghĩ rằng mình sắp có khả năng giải thoát xã hội khỏi mọi hậu họa tiếp theo từ sự tồn tại của ông ấy, dẫu tôi e rằng cái giá phải trả sẽ mang đến đau thương cho bè bạn của tôi, và nhất là cho anh, Watson thân mến. Dù sao đi nữa, tôi đã từng giải thích với anh rằng sự nghiệp của tôi sớm muộn cũng đã đi đến hồi kết, và chẳng có kết cục nào khiến tôi mãn nguyện hơn kết cục này. Quả thực, nếu có thể thú nhận toàn bộ cùng anh, thì tôi đã hoàn toàn biết chắc chắn rằng bức thư gửi từ Meiringen là một cái bẫy, và tôi đã để anh ra đi với lòng tin chắc rằng một hồi kết như thế này rồi sẽ xảy ra. Xin hãy nói với Thanh tra Patterson rằng những giấy tờ mà anh ấy cần để kết tội băng đảng được cất ở ngăn M, đựng trong một phong bì màu xanh lam có đề tên 'Moriarty.' Tôi đã thu xếp ổn thỏa mọi tài sản của mình trước khi rời nước Anh và giao phó cho anh trai tôi, Mycroft. Xin gửi lời chào của tôi đến bà Watson, và hãy tin rằng tôi vẫn luôn là, anh bạn thân mến của tôi,

"Người bạn chân thành của anh, "Sherlock Holmes."

Vài dòng tiếp theo đây có lẽ cũng đủ để thuật lại chút ít những gì còn sót lại. Cuộc khám nghiệm của các chuyên gia hầu như không để lại chút nghi ngờ nào: một cuộc giằng co sống chết giữa hai người đàn ông đã kết thúc - như nó khó lòng tránh khỏi trong một hoàn cảnh như thế - bằng việc cả hai cùng lảo đảo rơi xuống vực, ôm chặt lấy nhau. Mọi nỗ lực tìm kiếm thi thể đều hoàn toàn vô vọng, và ở nơi ấy, sâu thẳm bên dưới vạc nước xoáy cuồn cuộn và bọt trắng sục sôi kinh hoàng kia, kẻ tội phạm nguy hiểm nhất và vị anh hùng vô địch bảo vệ luật pháp của thế hệ họ sẽ nằm lại mãi mãi. Người thanh niên Thụy Sĩ kia rồi cũng chẳng bao giờ được tìm thấy, và không còn gì để nghi ngờ rằng cậu ta chính là một trong vô số những tên tay sai mà Moriarty đã thuê mướn. Về phần băng đảng, công chúng hẳn vẫn còn nhớ rõ những bằng chứng mà Holmes đã thu thập đã lật tẩy tổ chức của chúng triệt để đến mức nào, và bàn tay của người đã khuất đã giáng xuống chúng nặng nề ra sao. Rất ít thông tin chi tiết về tên thủ lĩnh đáng sợ của chúng được tiết lộ trong suốt quá trình tố tụng, và nếu giờ đây tôi buộc phải đưa ra một lời tuyên bố rành mạch về sự nghiệp của hắn, thì đó là bởi những kẻ hâm mộ thiếu suy nghĩ đã tìm cách gột rửa thanh danh cho hắn bằng những lời công kích nhắm vào người mà tôi sẽ mãi mãi coi là con người tốt đẹp nhất và khôn ngoan nhất mà tôi từng được biết trên đời.



  1. Cuốn tiểu thuyết 'A Study in Scarlet' (Cuộc điều tra màu đỏ), tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của nhân vật Sherlock Holmes và bác sĩ Watson. 

  2. Tên một vụ án nổi tiếng khác của Sherlock Holmes (The Naval Treaty) liên quan đến việc bảo vệ một tài liệu mật của chính phủ Anh. 

  3. Một tờ nhật báo nổi tiếng của Thụy Sĩ xuất bản bằng tiếng Pháp tại thành phố Geneva (Genève), ra đời từ năm 1826. 

  4. Tức hãng tin Reuters, một trong những cơ quan thông tấn quốc tế lớn và uy tín nhất thế giới, được thành lập tại Anh vào giữa thế kỷ 19. 

  5. Một định lý toán học quan trọng về việc khai triển các biểu thức đại số. Chi tiết này nhằm nhấn mạnh bộ óc toán học thiên tài và trí tuệ xuất chúng của Giáo sư Moriarty. 

  6. Napoleon Bonaparte là vị hoàng đế và nhà quân sự kiệt xuất của Pháp. Việc ví Moriarty như 'Napoleon' ngụ ý hắn là kẻ cầm đầu vĩ đại, có quyền lực thao túng và tư duy chiến lược vô song trong thế giới ngầm. 

  7. Bục đứng dành cho bị cáo trong các phiên tòa xét xử. Ý nói Holmes muốn đưa Moriarty ra xét xử trước pháp luật để hắn phải đền tội. 

  8. Một trong những nhà ga đường sắt trung tâm lớn và nhộn nhịp nhất ở London, là điểm xuất phát chính của các chuyến tàu đi sang lục địa châu Âu. 

  9. Hansom cab là một loại xe ngựa kéo hai bánh có mui trần chở khách, chạy rất nhanh và linh hoạt, vô cùng phổ biến ở London vào thời nữ hoàng Victoria. 

  10. Một loại xe ngựa kéo bốn bánh có mui kín, trang trọng và riêng tư hơn xe hansom, thường được giới thượng lưu sử dụng. 

  11. Một khu phố mua sắm có mái che tuyệt đẹp ở London thời bấy giờ, nổi tiếng với các cửa hàng bán đồ chơi và hàng hóa cao cấp. 

  12. Một con đèo vô cùng nổi tiếng và hiểm trở nằm trên dãy núi Alps thuộc lãnh thổ Thụy Sĩ. 

  13. Loại gậy dài bằng gỗ chắc chắn có đầu bọc kim loại nhọn, thường được những người đi bộ đường dài ở dãy Alps thời xưa sử dụng để giữ thăng bằng trên tuyết và đá trơn trượt.