IX. Bệnh Nhân Nội Trú

Khi lướt qua loạt hồi ký có phần rời rạc mà tôi đã cố gắng dùng để minh họa đôi nét về trí tuệ phi thường của anh bạn Sherlock Holmes, tôi không khỏi băn khoăn trước cái khó trong việc chọn ra những ví dụ thực sự xứng đáng với mục đích của mình. Bởi lẽ, trong những vụ án mà Holmes phô diễn trọn vẹn sức mạnh suy luận phân tích, và chứng minh được giá trị của phương pháp điều tra độc đáo mà anh sở hữu, thì bản thân các tình tiết thường lại quá nhỏ nhặt hoặc tầm thường đến mức tôi cảm thấy chẳng có lý do gì để phơi bày chúng trước mắt công chúng. Ngược lại, cũng không ít lần anh tham gia vào những cuộc điều tra mà chuỗi sự kiện thì vô cùng đáng chú ý và kịch tính, thế nhưng phần đóng góp của chính anh trong việc vén màn sự thật lại không nổi bật như tôi - với tư cách người chép sử cho anh - hằng mong đợi. Vụ án nhỏ tôi từng ghi lại dưới nhan đề "A Study in Scarlet1", và một vụ khác sau này liên quan đến sự mất tích bí ẩn của con tàu Gloria Scott, có thể xem là những ví dụ tiêu biểu cho tình thế tiến thoái lưỡng nan luôn rình rập các nhà sử học. Có lẽ trong câu chuyện tôi sắp thuật lại dưới đây, vai trò của anh bạn tôi không được tô đậm cho lắm; nhưng toàn bộ chuỗi sự kiện lại đáng kinh ngạc đến mức tôi chẳng đành lòng lược bỏ nó khỏi tập hồi ký này.

Tôi không thể xác định chính xác ngày tháng, vì một vài ghi chép của tôi về vụ việc này đã bị thất lạc, nhưng chắc chắn nó diễn ra vào khoảng cuối năm đầu tiên khi Holmes và tôi cùng chia sẻ căn hộ ở phố Baker. Hôm ấy là một ngày tháng Mười giông bão, và cả hai chúng tôi đều ru rú trong nhà suốt cả ngày. Tôi thì e ngại sức khỏe yếu ớt của mình không chịu nổi cơn gió thu sắc lạnh ngoài kia, còn anh thì mải miết chìm đắm trong một vài thí nghiệm hóa học phức tạp - thứ luôn cuốn hút anh hoàn toàn mỗi khi anh bắt tay vào làm. Thế nhưng, đến chập tối, việc làm vỡ một ống nghiệm đã buộc cuộc nghiên cứu của anh phải dừng lại đột ngột. Anh bật dậy khỏi ghế, buông một tiếng kêu mất kiên nhẫn cùng vầng trán nhăn nhó.

"Hỏng mất một ngày làm việc rồi, Watson," anh nói, sải bước ra phía cửa sổ. "Ha! Những vì sao đã hiện ra và gió đã lặng. Anh thấy thế nào về một chuyến đi dạo quanh London?"

Tôi đã ngán ngẩm cái không gian chật hẹp của căn phòng khách đến tận cổ, thế nên vui vẻ nhận lời ngay. Suốt ba tiếng đồng hồ, hai chúng tôi sánh bước bên nhau, mải mê ngắm nhìn bức tranh muôn màu luôn chuyển động của cuộc sống đang cuồn cuộn tuôn chảy qua các con phố Fleet và Strand. Holmes đã rũ bỏ được cơn bực dọc nhất thời, và lối trò chuyện đặc trưng của anh - với những quan sát tỉ mỉ sắc bén cùng những suy luận tinh tế đến khó tin - lại khiến tôi say mê và thích thú vô cùng. Mãi đến mười giờ, chúng tôi mới quay về phố Baker. Một chiếc xe ngựa đã đỗ sẵn trước cửa nhà.

"Hừm! Một bác sĩ - bác sĩ đa khoa, tôi nhận ra đấy," Holmes nói. "Hành nghề chưa lâu, nhưng cũng có khá nhiều việc để làm. Ắt hẳn là đến để tham khảo ý kiến của chúng ta! Thật may là chúng ta đã về kịp!"

Tôi đã đủ quen thuộc với các phương pháp của Holmes để có thể theo kịp mạch suy luận của anh, và tôi hiểu rằng chính tính chất cùng tình trạng của những dụng cụ y tế khác nhau trong chiếc giỏ mây treo dưới ánh đèn bên trong xe ngựa đã cung cấp dữ liệu cho anh đi đến kết luận nhanh chóng ấy. Ánh đèn hắt ra từ cửa sổ phòng chúng tôi báo hiệu rằng vị khách ghé thăm muộn màng này quả thực là dành cho chúng tôi. Với một chút tò mò không biết điều gì đã khiến một đồng nghiệp y khoa lại tìm đến chúng tôi vào giờ này, tôi theo chân Holmes bước vào phòng.

Một người đàn ông xanh xao với khuôn mặt thon dài và bộ râu quai nón màu hung nhạt đứng dậy khỏi chiếc ghế bên lò sưởi khi chúng tôi bước vào. Ông ta có lẽ chưa quá ba mươi ba hay ba mươi tư tuổi, thế nhưng vẻ hốc hác và làn da nhợt nhạt ốm yếu kia đã tố cáo một cuộc đời bị vắt kiệt sức lực, một tuổi thanh xuân bị tước đoạt từ lúc nào. Thái độ của ông mang nét lo âu và rụt rè, tựa như một quý ông có tâm hồn nhạy cảm. Bàn tay trắng gầy guộc mà ông đặt lên bệ lò sưởi lúc đứng lên trông giống tay của một nghệ sĩ hơn là của một bác sĩ phẫu thuật. Y phục của ông mang vẻ nhã nhặn và sẫm màu - áo khoác đuôi tôm đen, quần tây tối màu, điểm thêm chút sắc màu nơi chiếc cà vạt.

"Chào buổi tối, bác sĩ," Holmes vui vẻ cất tiếng. "Tôi rất mừng khi thấy ông chỉ phải chờ đợi có vài phút."

"Anh đã nói chuyện với người đánh xe của tôi rồi sao?"

"Không đâu, chính ngọn nến trên chiếc bàn nhỏ kia đã mách bảo tôi điều đó. Xin ông cứ an tọa và cho tôi biết tôi có thể giúp gì cho ông."

"Tên tôi là Bác sĩ Percy Trevelyan," vị khách của chúng tôi lên tiếng, "và tôi sống ở số 403, phố Brook."

"Ông có phải là tác giả của một chuyên khảo về những tổn thương thần kinh không rõ ràng hay không?" tôi hỏi.

Đôi má nhợt nhạt của ông bỗng ửng hồng lên vì vui sướng khi biết công trình của mình đã được người khác biết đến.

"Tôi hiếm khi nghe ai nhắc đến tác phẩm ấy đến nỗi tôi cứ ngỡ nó đã hoàn toàn chìm vào quên lãng," ông đáp. "Nhà xuất bản đã gửi cho tôi một bản báo cáo doanh số vô cùng đáng thất vọng. Hẳn chính ông đây cũng là một bác sĩ?"

"Một bác sĩ phẫu thuật quân y đã về hưu."

"Sở thích riêng của tôi từ trước đến nay vẫn luôn là các chứng bệnh thần kinh. Tôi đã từng ấp ủ hy vọng biến nó thành một chuyên khoa tuyệt đối, thế nhưng, dĩ nhiên, buổi ban đầu thì ai cũng phải nắm bắt bất cứ cơ hội nào mình có thể có. Tuy nhiên, việc này không liên quan đến vấn đề chính, anh Sherlock Holmes à, và tôi hết sức trân trọng thời gian quý báu của anh. Sự thực là, gần đây có một chuỗi sự kiện vô cùng kỳ lạ đã xảy ra ngay tại nhà tôi ở phố Brook, và tối nay chúng đã lên đến đỉnh điểm khiến tôi cảm thấy không thể trì hoãn thêm một giờ phút nào nữa mới tìm đến để xin anh lời khuyên cùng sự trợ giúp."

Sherlock Holmes ngồi xuống và châm tẩu thuốc. "Tôi rất sẵn lòng giúp ông cả hai việc ấy," anh nói. "Xin hãy kể cho tôi nghe thật chi tiết những tình huống đã khiến ông phải bận tâm."

"Có một vài điều trong số đó thì nhỏ nhặt quá," Bác sĩ Trevelyan nói, "đến mức tôi thực tình gần như cảm thấy xấu hổ khi nhắc đến. Nhưng vấn đề này lại quá đỗi khó hiểu, và chiều hướng gần đây của nó thì rối rắm vô cùng, cho nên tôi sẽ trình bày tất cả ra trước anh, rồi anh sẽ là người phán xét xem điều gì là quan trọng và điều gì không.

"Để bắt đầu, tôi buộc lòng phải kể đôi điều về quãng thời gian học đại học của mình. Như anh đã biết, tôi là sinh viên Đại học London, và tôi tin chắc là anh sẽ không cho rằng tôi đang tự đề cao bản thân quá đáng nếu tôi nói rằng con đường học vấn của tôi được các giáo sư đánh giá là đầy hứa hẹn. Sau khi tốt nghiệp, tôi tiếp tục cống hiến cho công tác nghiên cứu, đảm nhiệm một vị trí nhỏ tại Bệnh viện King's College, và may mắn thay, tôi đã khơi dậy được một sự quan tâm đáng kể nhờ công trình nghiên cứu về bệnh lý học của chứng giữ nguyên thế2. Cuối cùng, tôi đã giành được giải thưởng và huy chương Bruce Pinkerton với bản chuyên khảo về các tổn thương thần kinh mà anh bạn của anh vừa mới nhắc đến. Tôi sẽ chẳng hề nói quá nếu cho rằng, vào thời điểm ấy, tất cả mọi người đều có chung một ấn tượng rằng một sự nghiệp vẻ vang đang chờ đợi tôi ở phía trước.

"Nhưng trở ngại lớn nhất lại nằm ở chỗ tôi thiếu vốn. Như anh hẳn sẽ dễ dàng hình dung, một chuyên gia với tham vọng cao buộc phải bắt đầu sự nghiệp tại một trong hàng chục con phố thuộc khu vực Quảng trường Cavendish3, và tất cả những nơi ấy đều đòi hỏi chi phí thuê nhà cũng như sắm sửa đồ đạc vô cùng khổng lồ. Bên cạnh khoản chi phí ban đầu này, anh ta còn phải chuẩn bị sẵn sàng để tự trang trải cuộc sống trong suốt vài năm, đồng thời thuê một cỗ xe ngựa cùng một con ngựa tươm tất. Làm được điều này hoàn toàn vượt quá tầm với của tôi, và tôi chỉ có thể hy vọng rằng, bằng cách sống thật tiết kiệm, trong vòng mười năm tới mình sẽ dành dụm đủ tiền để có thể treo tấm bảng hiệu của mình lên. Thế nhưng, bất ngờ thay, một sự việc đã xảy ra, mở ra trước mắt tôi một viễn cảnh hoàn toàn mới mẻ.

"Đó là chuyến viếng thăm của một quý ông tên là Blessington, một con người hoàn toàn xa lạ với tôi. Ông ta đến phòng tôi vào một buổi sáng nọ, và lao thẳng ngay vào công việc trong chốc lát.

"'Anh có phải là Percy Trevelyan, người từng có một quá trình học tập xuất sắc và mới đây đã giành được một giải thưởng lớn hay không?' ông ta hỏi.

"Tôi cúi đầu chào.

"'Hãy trả lời tôi một cách thẳng thắn,' ông ta tiếp tục, 'bởi vì anh sẽ sớm nhận ra lợi ích của mình khi làm điều đó. Anh có tất cả sự thông minh cần thiết để trở thành một người thành công. Vậy anh có sự khéo léo hay không?'

"Tôi không thể nhịn cười trước sự thẳng thừng của câu hỏi.

"'Tôi tin rằng mình có một chút,' tôi đáp.

"'Có thói hư tật xấu nào không? Không dính dáng đến rượu chè chứ, hả?'

"'Thực sự, thưa ông!' tôi kêu lên.

"'Hoàn toàn đúng! Vậy thì tốt rồi! Nhưng tôi buộc phải hỏi. Với ngần ấy phẩm chất, tại sao anh lại không hành nghề cơ chứ?'

"Tôi nhún vai.

"'Thôi nào, thôi nào!' ông ta nói với vẻ lăng xăng. 'Vẫn là câu chuyện muôn thuở thôi. Trong đầu có nhiều thứ hơn là trong túi, phải không? Anh sẽ nói sao nếu tôi giúp anh khởi nghiệp ngay tại phố Brook?'

"Tôi há hốc miệng nhìn ông ta đầy kinh ngạc.

"'Ồ, tất cả là vì tôi, chứ không phải vì anh đâu,' ông ta kêu lên. 'Tôi sẽ hoàn toàn thẳng thắn với anh, và nếu điều đó hợp với anh thì nó cũng sẽ rất hợp với tôi. Anh thấy đấy, tôi có vài ngàn bảng để đầu tư, và tôi nghĩ tôi sẽ rót chúng vào anh.'

"'Nhưng tại sao chứ?' tôi há hốc mồm.

"'Chà, nó cũng giống như bất kỳ phi vụ đầu cơ nào khác thôi, và còn an toàn hơn hầu hết những phi vụ khác nữa.'

"'Vậy thì tôi phải làm những gì?'

"'Tôi sẽ nói cho anh biết. Tôi sẽ thuê nhà, sắm sửa đồ đạc, trả lương cho người hầu, và điều hành toàn bộ nơi này. Tất cả những gì anh phải làm chỉ là ngồi lì trên ghế trong phòng khám mà thôi. Tôi sẽ chu cấp cho anh tiền tiêu vặt và đủ mọi thứ. Đổi lại, anh giao cho tôi ba phần tư số tiền anh kiếm được, còn anh giữ lại một phần tư cho riêng mình.'

"Đó chính là lời đề nghị kỳ lạ, anh Holmes ạ, mà con người tên Blessington ấy đã đưa ra với tôi. Tôi sẽ không làm anh mệt mỏi với câu chuyện về cách chúng tôi mặc cả và đàm phán. Cuối cùng, vào Ngày Lễ Đức Mẹ4 tiếp theo, tôi chuyển đến ngôi nhà ấy và bắt đầu hành nghề với những điều kiện gần như y hệt như ông ta đã đề xuất. Đích thân ông ta cũng đến sống cùng tôi với tư cách là một bệnh nhân nội trú. Hình như tim ông ta yếu, và ông ta cần được theo dõi y tế thường xuyên. Ông ta biến hai căn phòng đẹp nhất ở tầng hai thành một phòng khách và phòng ngủ cho riêng mình. Ông ta là một con người với những thói quen hết sức kỳ quặc, luôn xa lánh mọi người và rất hiếm khi bước chân ra khỏi nhà. Cuộc sống của ông ta khá thất thường, thế nhưng xét về một khía cạnh, ông ta lại chính là hiện thân của sự ngăn nắp. Mỗi buổi tối, vào cùng một khung giờ, ông ta bước vào phòng khám, xem xét sổ sách, đặt xuống năm shilling ba xu cho mỗi đồng guinea5 mà tôi kiếm được, rồi mang phần còn lại cất vào chiếc két sắt trong căn phòng riêng của mình.

"Tôi có thể tự tin mà nói rằng ông ta chưa từng có lý do gì để phải hối hận về khoản đầu cơ ấy. Ngay từ lúc ban đầu, mọi chuyện đã là một thành công vang dội. Một vài ca bệnh tốt cùng với danh tiếng mà tôi đã gây dựng được trong bệnh viện đã nhanh chóng đưa tôi lên một vị trí hàng đầu, và trong suốt vài năm qua, tôi đã biến ông ta thành một con người giàu có.

"Về tiểu sử cùng mối quan hệ giữa tôi và ông Blessington, như vậy là đã đủ rồi, anh Holmes ạ. Giờ đây tôi chỉ còn phải kể cho anh nghe điều gì đã xảy ra khiến tôi phải có mặt ở nơi đây trong đêm nay.

"Vài tuần trước, ông Blessington xuống gặp tôi trong một trạng thái, như tôi nhận thấy, là vô cùng kích động. Ông ta nhắc đến một vụ trộm nào đó, theo lời ông ta kể, đã xảy ra ở khu West End6, và tôi vẫn còn nhớ ông ta đã tỏ ra phấn khích một cách hoàn toàn thái quá về chuyện ấy, tuyên bố rằng không nên để trôi qua dù chỉ một ngày trước khi chúng tôi cho lắp thêm những then cài chắc chắn hơn cho tất cả cửa sổ lẫn cửa ra vào. Suốt cả tuần liền, ông ta liên tục chìm trong một trạng thái bồn chồn kỳ lạ, không ngừng liếc trộm ra ngoài cửa sổ, và bỏ hẳn thói quen đi dạo ngắn vốn thường là khúc dạo đầu cho bữa tối của mình. Từ thái độ của ông ta, tôi có cảm giác rằng ông ta đang khiếp sợ tột độ một thứ gì đó - hoặc một ai đó - nhưng hễ tôi gặng hỏi về điểm này, ông ta liền trở nên xúc phạm đến mức tôi buộc phải từ bỏ đề tài ấy. Dần dần, khi thời gian trôi qua, nỗi sợ hãi của ông ta tưởng chừng như đã tan biến, và ông ta đã lấy lại được những thói quen cũ của mình, thì một sự kiện mới lại xô ông ta vào tình trạng suy sụp đáng thương như hiện tại.

"Chuyện đã xảy ra là thế này. Hai ngày trước, tôi nhận được bức thư mà bây giờ tôi sẽ đọc cho anh nghe. Chẳng có địa chỉ hay ngày tháng nào được ghi trên đó cả.

"'Một nhà quý tộc người Nga hiện đang cư trú tại Anh,' bức thư viết, 'sẽ rất vui mừng nếu nhận được sự trợ giúp về mặt chuyên môn từ Bác sĩ Percy Trevelyan. Trong suốt vài năm qua, ông ấy đã là nạn nhân của những cơn giữ nguyên thế - một chứng bệnh mà, như mọi người đều rõ, Bác sĩ Trevelyan chính là một chuyên gia hàng đầu. Ông ấy dự định sẽ ghé thăm vào khoảng sáu giờ mười lăm phút chiều mai, nếu Bác sĩ Trevelyan thấy thuận tiện để có mặt tại nhà.'

"Bức thư này khiến tôi vô cùng thích thú, bởi lẽ khó khăn lớn nhất trong việc nghiên cứu chứng giữ nguyên thế chính là sự hiếm gặp đến khó tin của căn bệnh này. Vậy nên anh có thể tin rằng tôi đã có mặt sẵn trong phòng khám của mình khi, vào đúng giờ đã định, cậu giúp việc dẫn bệnh nhân bước vào.

"Đó là một người đàn ông lớn tuổi, gầy gò, nghiêm trang và tầm thường - hoàn toàn chẳng giống chút nào với hình dung của người ta về một quý tộc Nga. Tôi ấn tượng hơn nhiều với ngoại hình của người bạn đồng hành đi cùng ông ta. Đó là một thanh niên cao lớn, đẹp trai đến kinh ngạc, với khuôn mặt ngăm đen đầy vẻ hung dữ, cùng tay chân và bộ ngực của một lực sĩ Hercules7. Anh ta đỡ lấy cánh tay người đàn ông kia khi họ bước vào, rồi dìu ông ta đến một chiếc ghế với một sự dịu dàng mà người ta khó lòng mong đợi từ vẻ bề ngoài lực lưỡng ấy.

"'Xin bác sĩ thứ lỗi cho việc tôi đã bước vào như thế này,' anh ta nói với tôi, bằng một thứ tiếng Anh pha chút giọng nói ngọng. 'Đây là cha tôi, và sức khỏe của ông là vấn đề vô cùng hệ trọng đối với tôi.'

"Tôi cảm động trước nỗi lo lắng của người con trai hiếu thảo ấy. 'Có lẽ anh muốn ở lại trong suốt quá trình thăm khám chăng?' tôi nói.

"'Không đời nào,' anh ta kêu lên cùng với một cử chỉ kinh hoàng. 'Điều đó sẽ khiến tôi đau đớn hơn mức mình có thể diễn tả thành lời. Nếu phải chứng kiến cha mình lên một trong những cơn co giật khủng khiếp ấy, tôi tin chắc rằng mình sẽ không thể nào vượt qua nổi. Hệ thần kinh của bản thân tôi đặc biệt nhạy cảm. Nếu được sự cho phép của ông, tôi xin phép ở lại ngoài phòng chờ trong khi ông thăm khám cho cha tôi.'

"Dĩ nhiên là tôi đồng ý, và người thanh niên liền lui ra. Bệnh nhân và tôi sau đó đi sâu vào thảo luận về ca bệnh của ông ta, và tôi đã ghi chép lại mọi thứ một cách đầy đủ. Ông ta không có gì nổi bật về mặt trí tuệ, những câu trả lời của ông ta thường tối nghĩa, điều mà tôi cho là do vốn ngôn ngữ của ông ta còn hạn chế. Thế nhưng, bất thình lình, ngay khi tôi đang ngồi viết, ông ta đột nhiên ngừng trả lời tất cả những câu hỏi của tôi, và khi tôi quay đầu về phía ông ta, tôi sững sờ kinh hãi nhận ra ông ta đang ngồi cứng đơ trên ghế, chằm chằm nhìn tôi với một khuôn mặt hoàn toàn vô hồn và đờ đẫn. Ông ta lại rơi vào nanh vuốt của căn bệnh bí ẩn của mình.

"Như tôi vừa nói đấy, cảm giác đầu tiên của tôi là sự thương xót xen lẫn kinh hoàng. Cảm giác thứ hai, tôi e rằng, lại nghiêng về phía sự thỏa mãn nghề nghiệp. Tôi ghi lại mạch và thân nhiệt của bệnh nhân, kiểm tra độ co cứng của các cơ và quan sát phản xạ của ông ta. Chẳng có biểu hiện nào khác thường rõ rệt trong bất kỳ hạng mục nào, và điều ấy hoàn toàn phù hợp với những kinh nghiệm trước đây của tôi. Trước kia, tôi đã thu được kết quả tốt trong những trường hợp tương tự bằng phương pháp cho hít amyl nitrite8, và thời điểm hiện tại dường như là một cơ hội tuyệt vời để thử nghiệm công hiệu của nó. Chiếc lọ đang nằm ở tầng dưới, trong phòng thí nghiệm của tôi, thế nên, để mặc bệnh nhân của mình ngồi yên trên ghế, tôi chạy xuống để lấy nó. Có một chút chậm trễ trong lúc tìm kiếm - cứ cho là khoảng năm phút đi - và rồi tôi quay trở lên. Hãy thử tưởng tượng nỗi kinh ngạc của tôi khi thấy căn phòng trống rỗng và bệnh nhân đã biến mất tăm.

"Dĩ nhiên, hành động đầu tiên của tôi là chạy ngay ra phòng chờ. Cậu con trai cũng đã đi mất. Cánh cửa tiền sảnh đã được khép lại, nhưng không hề đóng chặt. Cậu giúp việc chuyên tiếp đón bệnh nhân của tôi là một cậu bé mới đến và chẳng hề nhanh nhẹn chút nào. Cậu ta đợi ở tầng dưới, và chỉ chạy lên để tiễn bệnh nhân khi tôi rung chuông phòng khám. Cậu ta chẳng nghe thấy gì hết, và sự việc vẫn cứ là một bí ẩn hoàn toàn. Ông Blessington từ cuộc đi dạo trở về ngay sau đó, nhưng tôi không hề hé răng nói với ông ta bất cứ điều gì về chuyện này, bởi vì, nói thật lòng, dạo gần đây tôi có thói quen hạn chế tiếp xúc với ông ta càng ít càng tốt.

"Chà, tôi chưa từng nghĩ rằng mình sẽ còn được gặp lại hai cha con người Nga ấy thêm một lần nào nữa, thế nên anh có thể hình dung được nỗi ngạc nhiên của tôi khi, vào đúng giờ này tối nay, cả hai người họ lại bước vào phòng khám của tôi, y hệt như lần trước.

"'Tôi cảm thấy mình mắc nợ bác sĩ rất nhiều lời xin lỗi vì sự ra đi quá đỗi đột ngột của ngày hôm qua,' bệnh nhân của tôi lên tiếng.

"'Tôi thú thực rằng tôi đã vô cùng ngạc nhiên trước điều ấy,' tôi đáp.

"'Chà, sự thực là thế này,' ông ta nhận xét, 'mỗi khi hồi phục sau những cơn bệnh như vậy, tâm trí tôi lúc nào cũng mơ hồ về tất cả những gì đã diễn ra trước đó. Tôi đã tỉnh dậy trong một căn phòng xa lạ - ít nhất đó là cảm giác của tôi khi ấy - và rồi đi thẳng ra ngoài đường trong một trạng thái ngây dại khi bác sĩ không có mặt ở đó.'

"'Còn tôi,' người con trai nói, 'khi thấy cha mình đi ngang qua cửa phòng chờ, đã tự nhiên nghĩ rằng cuộc thăm khám đã kết thúc. Mãi cho đến khi về đến nhà, tôi mới bắt đầu nhận ra tình hình thực sự là như thế nào.'

"'Chà,' tôi vừa cười vừa nói, 'chẳng có tổn hại gì xảy ra cả, ngoại trừ việc ông đã khiến tôi vô cùng bối rối; vậy nên nếu ngài vui lòng bước vào phòng chờ, tôi sẽ rất sẵn lòng tiếp tục cuộc thăm khám của chúng ta vốn đã bị kết thúc quá đỗi đột ngột như thế kia.'

"Trong khoảng nửa giờ đồng hồ, tôi đã thảo luận về các triệu chứng của vị quý ông lớn tuổi ấy với ông ta, và sau khi đã kê xong đơn thuốc, tôi trông thấy ông ta khoác tay người con trai mình rời đi.

"Tôi đã kể với anh rằng ông Blessington thường chọn đúng giờ này trong ngày để tập thể dục. Ông ta trở về ngay sau đó và đi thẳng lên lầu. Một lát sau, tôi nghe thấy tiếng ông ta chạy ầm ầm xuống cầu thang, rồi xông thẳng vào phòng khám của tôi như một kẻ mất trí vì hoảng loạn.

"'Ai đã vào phòng tôi hả?' ông ta gào lên.

"'Chẳng có ai hết,' tôi đáp.

"'Nói dối!' ông ta hét lên. 'Lên đây mà xem!'

"Tôi bỏ qua sự thô lỗ trong ngôn từ của ông ta, bởi lẽ trông ông ta như thể đã mất đến một nửa trí khôn vì sợ hãi. Khi tôi theo chân ông ta bước lên lầu, ông ta chỉ tay vào những dấu chân in trên tấm thảm sáng màu.

"'Ông định bảo rằng đó là dấu chân của tôi hay sao?' ông ta kêu lên.

"Những dấu chân ấy chắc chắn là lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ dấu chân nào mà ông ta có thể tạo ra, và rõ ràng là chúng vẫn còn khá mới. Chiều nay trời đã đổ mưa rất to, như anh đã biết đấy, và những bệnh nhân của tôi là những vị khách duy nhất ghé thăm. Vậy thì hẳn là người đàn ông ngồi ngoài phòng chờ, vì một lý do không rõ nào đó, trong lúc tôi đang bận rộn với người kia, đã lẻn lên phòng của vị bệnh nhân nội trú của tôi. Chẳng có thứ gì bị đụng chạm hay bị lấy đi mất, nhưng những dấu chân kia chính là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy sự xâm nhập là một sự thực.

"Ông Blessington tỏ ra kích động về chuyện này hơn mức tôi có thể tưởng tượng, mặc dù dĩ nhiên nó cũng đủ để khuấy động sự bình yên trong tâm trí của bất cứ ai. Ông ta ngồi phịch xuống một chiếc ghế bành và thực sự bật khóc, và tôi gần như chẳng thể làm sao để ông ta nói năng cho mạch lạc nổi. Chính ông ta là người đã gợi ý tôi đến tìm anh, và dĩ nhiên là tôi lập tức nhận thấy sự đúng đắn của lời đề nghị ấy, bởi vì sự cố này chắc chắn là hết sức kỳ lạ, mặc dù ông ta dường như đã đánh giá quá cao tầm quan trọng của nó. Nếu anh sẵn lòng cùng tôi đi xe ngựa trở về nhà, ít nhất anh cũng có thể xoa dịu được ông ta, mặc dù tôi khó lòng hy vọng rằng anh có thể giải thích nổi sự việc đáng chú ý này."

Sherlock Holmes đã lắng nghe toàn bộ câu chuyện dài ấy với một sự tập trung khiến tôi hiểu rằng trí tò mò của anh đã bị khuấy động đến tận cùng. Gương mặt anh vẫn giữ vẻ thản nhiên thường lệ, nhưng đôi mí mắt thì sụp xuống nặng nề hơn, và làn khói từ chiếc tẩu cũng cuộn lên mỗi lúc một dày đặc, như thể nhấn mạnh từng tình tiết quái dị trong lời kể của vị bác sĩ. Khi vị khách của chúng tôi dứt lời, Holmes bật dậy không nói một câu, đưa cho tôi chiếc mũ của mình, chộp lấy mũ của anh trên mặt bàn, rồi theo chân Bác sĩ Trevelyan ra tới cửa. Chỉ trong vòng mười lăm phút, chúng tôi đã được thả xuống ngay trước cửa khu nhà của vị bác sĩ trên phố Brook - một trong những tòa nhà ảm đạm, mặt tiền phẳng lặng mà người ta thường gắn liền với những phòng khám tại khu West End. Một cậu bé giúp việc nhỏ thó ra mở cửa, và chúng tôi lập tức bước lên dãy cầu thang rộng phủ thảm dày.

Thế nhưng một sự cố hết sức kỳ quặc đã khiến cả ba chúng tôi phải khựng lại. Ngọn đèn phía trên lầu bỗng nhiên tắt phụt, và từ trong màn đêm vọng ra một giọng nói the thé, run rẩy.

“Tôi có súng đấy,” giọng nói ấy ré lên. “Tôi thề danh dự rằng tôi sẽ nổ súng nếu các người bước thêm bước nào nữa.”

“Chuyện này thực sự quá quắt rồi đấy, ông Blessington,” Bác sĩ Trevelyan kêu lên.

“Ồ, thì ra là bác sĩ,” giọng nói ấy đáp, kèm theo một tiếng thở phào nhẹ nhõm. “Nhưng còn hai quý ông kia, liệu họ có đúng là những gì họ tự xưng hay không?”

Chúng tôi có thể cảm nhận được một ánh mắt dò xét kéo dài xuyên qua bóng tối.

“Được rồi, được rồi, không có gì đâu,” giọng nói ấy cuối cùng cũng cất lên. “Các vị có thể lên đây, và tôi xin lỗi nếu những biện pháp phòng ngừa của tôi đã làm phiền các vị.”

Vừa nói, ông ta vừa thắp lại ngọn đèn ga trên cầu thang, và chúng tôi nhìn thấy trước mặt mình một con người có vẻ ngoài hết sức kỳ quặc - cả ngoại hình lẫn giọng nói đều tố cáo một hệ thần kinh đang ở trạng thái căng như dây đàn. Ông ta rất mập, nhưng trông như thể đã từng mập hơn thế rất nhiều, khiến cho lớp da trên mặt chảy xệ xuống thành những túi mỡ lòng thòng, chẳng khác gì đôi má ủ rũ của một con chó săn mặt xệ. Nước da ông ta xanh xao ốm yếu, và mái tóc mỏng màu hung dường như dựng đứng cả lên theo từng đợt xúc động. Trong tay ông ta là một khẩu súng lục, nhưng ông ta đã nhét vội nó vào túi khi chúng tôi tiến lại gần.

“Chào buổi tối, anh Holmes,” ông ta nói. “Tôi tin chắc rằng tôi vô cùng biết ơn anh vì đã tới đây. Chưa bao giờ có ai cần đến lời khuyên của anh hơn tôi lúc này. Tôi cho rằng Bác sĩ Trevelyan đã kể cho anh nghe về vụ đột nhập hết sức vô lý vào phòng tôi rồi chứ.”

“Đúng vậy,” Holmes đáp. “Hai kẻ đó là ai, thưa ông Blessington, và tại sao chúng lại muốn quấy rầy ông?”

“Chà, chà,” vị bệnh nhân nội trú ấp úng, với một vẻ bối rối lộ rõ, “tất nhiên là rất khó để nói ra điều đó. Anh khó lòng mong đợi tôi trả lời được câu hỏi ấy, anh Holmes ạ.”

“Ý ông là ông không hề biết ư?”

“Mời vào trong, xin làm ơn. Xin hãy bước nhanh vào đây.”

Ông ta dẫn đường vào phòng ngủ của chính mình, một căn phòng rộng rãi và được bài trí tiện nghi.

“Anh nhìn đây,” ông ta nói, chỉ tay về phía một chiếc rương lớn màu đen đặt ở cuối giường. “Tôi chưa bao giờ là một kẻ giàu có thực sự, anh Holmes ạ - suốt cả cuộc đời tôi mới chỉ đầu tư đúng một lần, như Bác sĩ Trevelyan sẽ xác nhận với anh. Nhưng tôi không hề tin tưởng các chủ ngân hàng. Tôi chưa từng tin một chủ ngân hàng nào, anh Holmes à. Giữa chúng ta với nhau thôi nhé, toàn bộ chút tài sản ít ỏi của tôi đều nằm gọn trong chiếc rương kia, vậy nên anh có thể hiểu được điều đó có ý nghĩa với tôi đến nhường nào khi những kẻ lạ mặt cứ thế xông thẳng vào phòng mình.”

Holmes nhìn Blessington bằng một cái nhìn dò xét sắc lạnh rồi khẽ lắc đầu.

“Tôi hoàn toàn không thể đưa ra lời khuyên nào cho ông nếu ông cố tình lừa dối tôi,” anh nói.

“Nhưng tôi đã kể cho anh tất cả mọi chuyện rồi cơ mà.”

Holmes quay gót với một cử chỉ đầy vẻ chán chường. “Chúc ngủ ngon, Bác sĩ Trevelyan,” anh nói.

“Và không một lời khuyên nào cho tôi sao?” Blessington kêu lên, giọng như vỡ ra.

“Lời khuyên của tôi dành cho ông, thưa ông, là hãy nói ra sự thật.”

Một phút sau chúng tôi đã đứng ngoài phố và sải bước về nhà. Chúng tôi băng qua phố Oxford rồi đi được nửa đường phố Harley9 trước khi tôi kịp thốt nên lời với người bạn đồng hành của mình.

“Xin lỗi vì đã lôi anh ra ngoài trong một chuyến đi vô ích như vậy, Watson,” cuối cùng anh lên tiếng. “Nhưng sâu thẳm bên trong, đây vẫn là một vụ án khá thú vị đấy.”

“Tôi chẳng hiểu được bao nhiêu về vụ này,” tôi thú nhận.

“Chà, rõ như ban ngày là có hai kẻ - có thể nhiều hơn, nhưng ít nhất là hai - đang quyết tâm, vì một lý do nào đó, muốn tiếp cận gã Blessington này. Tôi không hề nghi ngờ gì về việc cả trong lần đầu tiên lẫn lần thứ hai, chính gã thanh niên kia đã lẻn vào phòng của Blessington, trong khi đồng bọn của hắn, bằng một mưu mẹo hết sức khôn khéo, đã giữ chân vị bác sĩ để ông ta không thể can thiệp.”

“Còn chứng bệnh giữ nguyên thế thì sao?”

“Một màn giả mạo tinh vi đấy, Watson ạ, dù tôi khó lòng dám bóng gió điều đó với vị chuyên gia của chúng ta. Đây là một chứng bệnh rất dễ làm giả. Chính tôi cũng đã từng làm rồi.”

“Và sau đó thì sao?”

“Hoàn toàn tình cờ, Blessington đã ra ngoài trong cả hai dịp đó. Lý do bọn chúng chọn một giờ thăm khám khác thường như vậy hiển nhiên là để đảm bảo không có một bệnh nhân nào khác trong phòng chờ. Thế nhưng, thật trớ trêu là giờ đó lại trùng đúng với giờ tập thể dục của Blessington, điều này dường như cho thấy chúng không nắm rõ lắm về thói quen hằng ngày của ông ta. Tất nhiên, nếu mục đích của chúng chỉ đơn thuần là cướp của, thì ít ra chúng cũng đã cố lục lọi đồ đạc. Hơn nữa, tôi có thể đọc được trong mắt một người đàn ông khi anh ta đang sợ hãi cho chính mạng sống của mình. Và thật khó lòng tưởng tượng nổi rằng gã này lại có thể gây thù chuốc oán với hai kẻ thâm thù đến vậy mà hoàn toàn không hay biết gì. Vì thế, tôi cho rằng ông ta chắc chắn biết rõ những kẻ này là ai, và chỉ vì những lý do riêng mà ông ta cố tình che giấu. Rất có thể ngày mai ông ta sẽ ở trong một tâm trạng cởi mở hơn.”

“Liệu có một khả năng nào khác không,” tôi gợi ý, “dù có lẽ cực kỳ khó xảy ra, nhưng vẫn có thể hình dung được ấy? Liệu toàn bộ câu chuyện về hai cha con người Nga mắc chứng giữ nguyên thế kia có phải là do chính Bác sĩ Trevelyan bịa ra không? Một người vì mục đích riêng của mình đã tự ý vào phòng Blessington chăng?”

Dưới ánh đèn ga đường phố, tôi thoáng thấy Holmes nở một nụ cười đầy thích thú trước bước suy luận táo bạo này của tôi.

“Anh bạn thân mến của tôi,” anh nói, “đó là một trong những hướng giải quyết đầu tiên nảy ra trong đầu tôi, nhưng tôi đã nhanh chóng có thể xác thực lời kể của vị bác sĩ. Gã thanh niên kia đã để lại dấu vết giày trên thảm cầu thang, thế nên tôi hoàn toàn chẳng cần phải yêu cầu xem thêm những dấu vết mà hắn đã để lại trong phòng nữa. Khi tôi nói với anh rằng giày của hắn có mũi vuông thay vì mũi nhọn như giày của Blessington, và dài hơn giày của vị bác sĩ đúng một inch một phần ba, thì anh sẽ thừa nhận rằng không còn một chút nghi ngờ nào về danh tính của hắn nữa. Nhưng giờ thì chúng ta có thể đi ngủ được rồi, bởi tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu sáng mai chúng ta không nhận được thêm tin tức gì từ phố Brook.”

Lời tiên tri của Sherlock Holmes đã sớm ứng nghiệm, và ứng nghiệm theo một cách đầy kịch tính. Vào lúc bảy giờ rưỡi sáng hôm sau, dưới những tia nắng đầu tiên của ánh ban mai, tôi thấy anh đứng bên giường mình, khoác trên người bộ áo choàng tắm.

"Có một chiếc xe ngựa đang đợi chúng ta, Watson," anh nói.

"Có chuyện gì vậy?"

"Vụ việc ở phố Brook."

"Có tin tức mới sao?"

"Bi thảm, nhưng còn chưa rõ ràng," anh đáp, vừa nói vừa kéo tấm rèm cửa lên. "Nhìn này - một mảnh giấy xé từ cuốn sổ tay, trên đó có dòng chữ nguệch ngoạc bằng bút chì: 'Vì Chúa, hãy đến ngay - P.T.' Vị bác sĩ, người bạn của chúng ta, hẳn đã rơi vào tình thế vô cùng rối trí khi viết những dòng này. Đi thôi, anh bạn thân mến, đây là một lời kêu cứu khẩn cấp đấy."

Chỉ trong khoảng mười lăm phút sau, chúng tôi đã có mặt tại nhà vị bác sĩ. Ông chạy ra đón chúng tôi với gương mặt đầy vẻ kinh hoàng.

"Ôi, thật là một chuyện kinh khủng!" ông kêu lên, hai tay ôm lấy thái dương.

"Sao vậy?"

"Blessington đã tự sát rồi!"

Holmes huýt sáo.

"Vâng, ông ta đã treo cổ tự vẫn trong đêm."

Chúng tôi bước vào trong, và vị bác sĩ đi trước dẫn đường, đưa chúng tôi đến nơi rõ ràng là phòng chờ của ông.

"Tôi thực sự hầu như không biết mình đang làm gì nữa," ông thốt lên. "Cảnh sát đã có mặt trên lầu rồi. Chuyện này khiến tôi rúng động vô cùng."

"Ông phát hiện ra từ lúc nào?"

"Mỗi sáng sớm, người ta đều bưng cho ông ta một tách trà. Khi cô hầu phòng bước vào, khoảng bảy giờ, thì gã đàn ông bất hạnh đó đã treo lủng lẳng giữa phòng rồi. Ông ta buộc dây vào cái móc vốn dùng để treo chiếc đèn lớn, rồi nhảy từ trên đỉnh chiếc hộp mà chúng ta đã thấy hôm qua xuống."

Holmes đứng lặng, chìm trong suy tư một lúc.

"Nếu ông cho phép," cuối cùng anh nói, "tôi muốn lên lầu để xem xét vấn đề này."

Cả hai chúng tôi bước lên, vị bác sĩ theo sau.

Đó là một cảnh tượng khủng khiếp đập vào mắt chúng tôi khi bước qua cửa phòng ngủ. Tôi đã từng nhắc đến cái ấn tượng nhão nhợt, bệu bã mà gã đàn ông Blessington này gây ra. Khi gã ta treo lủng lẳng trên cái móc ấy, ấn tượng đó lại càng bị phóng đại và trở nên ghê rợn đến mức trông hắn gần như không còn giống con người nữa. Chiếc cổ bị kéo dài ra như cổ một con gà bị vặt lông, khiến cho phần còn lại của cơ thể, trong sự tương phản, trông càng phì nộn và méo mó một cách thiếu tự nhiên. Gã chỉ mặc độc một chiếc áo ngủ dài, và đôi mắt cá chân sưng tấy cùng cặp bàn chân kỳ dị thò ra cứng đơ bên dưới vạt áo. Đứng cạnh gã là một thanh tra cảnh sát trông có vẻ lanh lợi, đang ghi chép vào cuốn sổ tay của mình.

"A, anh Holmes," ông ta nhiệt tình lên tiếng khi bạn tôi bước vào, "tôi rất vui được gặp anh."

"Chào buổi sáng, thanh tra Lanner," Holmes đáp; "tôi tin chắc ông sẽ không cho tôi là kẻ tọc mạch. Ông đã nghe nói về những sự kiện dẫn đến chuyện này chưa?"

"Rồi, tôi có nghe được đôi chút."

"Ông đã hình thành ý kiến gì chưa?"

"Theo tôi thấy, người đàn ông này đã bị nỗi sợ hãi đẩy đến mức mất trí. Anh xem này, chiếc giường đã có người ngủ rất say. Đây là dấu vết lún sâu của ông ta. Anh biết đấy, khoảng năm giờ sáng là thời điểm phổ biến nhất cho những vụ tự sát. Có lẽ đó là lúc ông ta treo cổ. Mọi thứ trông như được tính toán rất kỹ lưỡng."

"Tôi cho rằng ông ta đã chết được khoảng ba tiếng, dựa trên độ cứng của cơ bắp," tôi nói.

"Có nhận thấy điều gì khác thường trong căn phòng không?" Holmes hỏi.

"Người ta đã tìm thấy một chiếc tuốc nơ vít và vài chiếc đinh ốc trên giá để bồn rửa tay. Dường như ông ta cũng hút thuốc rất nhiều trong đêm. Đây là bốn mẩu xì gà tôi nhặt được trong lò sưởi."

"Hừm!" Holmes nói, "ông có tìm thấy tẩu hút xì gà của ông ta không?"

"Không, tôi chẳng thấy cái nào."

"Vậy thì, hộp đựng xì gà của ông ta?"

"Có, nó ở trong túi áo khoác của ông ta."

Holmes mở hộp ra và ngửi điếu xì gà duy nhất còn sót lại bên trong.

"Ồ, đây là điếu Havana10, còn những điếu kia là loại xì gà đặc biệt mà người Hà Lan nhập khẩu từ thuộc địa Đông Ấn11 của họ. Anh biết đấy, chúng thường được bọc trong rơm và mỏng hơn so với chiều dài của bất kỳ nhãn hiệu nào khác." Anh nhặt bốn mẩu xì gà lên và kiểm tra chúng bằng chiếc kính lúp bỏ túi.

"Hai mẩu trong số này được hút bằng tẩu, còn hai mẩu kia thì không," anh nói. "Hai mẩu bị cắt bằng một con dao không mấy sắc bén, và hai mẩu còn lại thì có phần đầu bị cắn đứt bởi một hàm răng cực kỳ sắc khỏe. Đây không phải là một vụ tự sát, thanh tra Lanner ạ. Đây là một vụ giết người máu lạnh, được lên kế hoạch hết sức chu đáo."

"Không thể nào!" viên thanh tra kêu lên.

"Và tại sao lại không thể?"

"Tại sao lại có kẻ giết người bằng cách treo cổ nạn nhân một cách vụng về như thế?"

"Đó chính là điều chúng ta phải tìm ra."

"Làm sao chúng có thể vào được?"

"Qua cửa trước."

"Buổi sáng nay cửa đã được gài then cơ mà."

"Thì nó được gài then sau khi chúng rời đi."

"Làm sao anh biết?"

"Tôi đã nhìn thấy dấu vết của chúng. Xin lỗi các vị một lát, tôi có thể cung cấp cho ông vài thông tin chi tiết hơn về vấn đề này."

Anh đi về phía cánh cửa, vặn ổ khóa và kiểm tra nó theo cái cách cẩn trọng vốn đã trở thành thói quen của mình. Sau đó, anh rút chiếc chìa khóa ở bên trong ra và cũng kiểm tra kỹ lưỡng không kém. Chiếc giường, tấm thảm, những chiếc ghế, bệ lò sưởi, thi thể và sợi dây thừng lần lượt được xem xét, cho đến khi cuối cùng anh tỏ vẻ hài lòng. Với sự trợ giúp của tôi cùng viên thanh tra, anh cắt cái xác khốn khổ xuống và trân trọng đặt nó dưới một tấm khăn trải giường.

"Thế còn sợi dây thừng này thì sao?" anh hỏi.

"Nó được cắt ra từ cuộn dây này," Bác sĩ Trevelyan nói, vừa kéo một cuộn dây lớn từ dưới gầm giường ra. "Ông ấy đặc biệt sợ hỏa hoạn, nên luôn để nó bên mình để có thể tẩu thoát qua cửa sổ trong trường hợp cầu thang bị cháy."

"Điều đó chắc hẳn đã giúp chúng đỡ tốn công sức," Holmes nhận xét, giọng trầm ngâm. "Đúng vậy, những sự thật thực tế đã rất rõ ràng, và tôi sẽ ngạc nhiên nếu đến chiều tôi vẫn chưa thể cho ông biết lý do đằng sau chúng. Tôi sẽ mang theo bức ảnh của Blessington mà tôi thấy ở trên bệ lò sưởi, vì nó có thể giúp ích cho các cuộc điều tra của tôi."

"Nhưng anh chưa nói cho chúng tôi biết điều gì cả!" vị bác sĩ kêu lên.

"Ồ, không có gì phải nghi ngờ về trình tự các sự kiện," Holmes nói. "Có ba kẻ tham gia vào việc này: người thanh niên, ông già, và một kẻ thứ ba mà tôi chưa có manh mối nào về danh tính. Hai kẻ đầu tiên, tôi không cần phải nhắc lại, chính là những kẻ đã giả danh thành vị bá tước người Nga và con trai ông ta. Vì thế, chúng ta có thể đưa ra một bản mô tả rất đầy đủ về chúng. Chúng được một đồng bọn ở bên trong ngôi nhà cho vào. Nếu tôi có thể đưa ra một lời khuyên, thưa thanh tra, thì đó là hãy bắt giữ cậu giúp việc - người mà theo tôi được biết là chỉ mới vào phục vụ cho ông gần đây thôi, thưa bác sĩ."

"Không tìm thấy tên tiểu quỷ đó đâu cả," Bác sĩ Trevelyan nói; "cô hầu phòng và người nấu bếp vừa mới đi tìm cậu ta rồi."

Holmes nhún vai.

"Cậu ta đã đóng một vai trò không kém phần quan trọng trong vở kịch này," anh nói. "Ba người đàn ông đã nhón chân bước lên cầu thang: người lớn tuổi nhất đi đầu, người trẻ tuổi đi thứ hai, và kẻ vô danh đi sau cùng-"

"Anh Holmes thân mến!" tôi thốt lên.

"Ồ, không thể nghi ngờ gì về việc các dấu chân đã xếp chồng lên nhau. Tôi có lợi thế là từ tối qua đã tìm hiểu xem vết nào là của ai. Sau đó, chúng lên đến phòng của ông Blessington và thấy cửa đã bị khóa. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của một sợi dây kim loại, chúng đã vặn được chốt cửa. Ngay cả khi không dùng kính lúp, ông vẫn có thể nhận thấy qua những vết xước trên phần ngạnh khóa này - nơi áp lực đã được tạo ra.

"Khi đã vào trong phòng, hành động đầu tiên của chúng hẳn là bịt miệng ông Blessington lại. Có lẽ ông ta đang ngủ, hoặc cũng có thể ông ta đã tê liệt vì quá sợ hãi nên không thể thốt lên tiếng nào. Những bức tường này rất dày, và cũng dễ hiểu thôi rằng, ngay cả khi ông ta có kịp hét lên, thì cũng chẳng ai nghe thấy.

"Sau khi đã trói chặt ông ta, rõ ràng là chúng đã tiến hành một cuộc hội ý nào đó. Có lẽ nó giống như một kiểu thủ tục xét xử vậy. Quá trình đó hẳn phải kéo dài một lúc, bởi chính vào lúc ấy những điếu xì gà này đã được hút. Kẻ lớn tuổi hơn ngồi ở chiếc ghế mây đằng kia; hắn chính là kẻ dùng tẩu hút xì gà. Gã trẻ hơn thì ngồi ở đằng kia; hắn gõ tàn thuốc vào tủ ngăn kéo. Còn tên thứ ba thì đi tới đi lui. Blessington, tôi nghĩ vậy, ngồi thẳng người trên giường - nhưng tôi không thể hoàn toàn chắc chắn về điểm này.

"Chà, mọi chuyện kết thúc bằng việc chúng bắt lấy Blessington và treo cổ ông ta. Mọi thứ đã được tính toán từ trước, nên tôi tin rằng chúng đã mang theo một loại ròng rọc hoặc hệ thống móc nào đó để dùng làm giá treo cổ. Chiếc tuốc nơ vít và những chiếc đinh ốc đó, theo như tôi hình dung, là để cố định nó. Tuy nhiên, khi nhìn thấy chiếc móc sẵn có, chúng đương nhiên đã tiết kiệm được kha khá công sức. Xong việc, chúng tẩu thoát, và cánh cửa được đồng bọn của chúng gài then lại từ phía sau."

Tất cả chúng tôi đều vô cùng chăm chú lắng nghe bản tường thuật về những diễn biến trong đêm - một bản tường thuật mà Holmes đã suy luận ra từ những dấu hiệu tinh vi và tỉ mỉ đến nỗi, ngay cả khi anh đã chỉ ra cho chúng tôi, chúng tôi cũng khó lòng theo kịp được mạch lý luận của anh. Viên thanh tra vội vã rời đi ngay lúc đó để thu thập thông tin về cậu giúp việc, trong khi Holmes và tôi quay về phố Baker dùng bữa sáng.

"Tôi sẽ về lúc ba giờ," anh nói khi chúng tôi dùng xong bữa. "Cả viên thanh tra lẫn vị bác sĩ sẽ gặp tôi ở đây vào giờ đó, và tôi hy vọng đến lúc ấy tôi đã làm sáng tỏ được mọi điểm tối tăm mà vụ án này vẫn còn đang che giấu."

Những vị khách của chúng tôi đến đúng giờ đã hẹn, nhưng phải đến gần bốn giờ kém mười lăm, bạn tôi mới xuất hiện. Tuy nhiên, nhìn vẻ mặt của anh lúc bước vào, tôi biết rằng mọi chuyện đều suôn sẻ.

"Có tin tức gì không, thanh tra?"

"Chúng tôi đã tóm được cậu bé rồi, thưa ngài."

"Tuyệt vời, và tôi cũng đã tìm ra bọn chúng."

"Anh đã tìm ra chúng rồi sao!" cả ba chúng tôi đồng thanh kêu lên.

"Chà, ít nhất thì tôi cũng đã biết được thân phận của chúng. Kẻ tự xưng là Blessington này, đúng như tôi dự đoán, rất nổi tiếng tại trụ sở cảnh sát - và những kẻ tấn công ông ta cũng vậy. Tên của chúng là Biddle, Hayward và Moffat."

"Băng đảng ngân hàng Worthingdon!" viên thanh tra kêu lên.

"Chính xác," Holmes nói.

"Vậy thì Blessington chắc chắn chính là Sutton rồi."

"Hoàn toàn đúng," Holmes nói.

"Chà, thế thì mọi chuyện đã rõ như ban ngày rồi," viên thanh tra nói.

Nhưng Trevelyan và tôi nhìn nhau đầy hoang mang.

"Chắc chắn ông phải nhớ vụ án lớn ở ngân hàng Worthingdon chứ," Holmes nói. "Năm kẻ đã tham gia vào vụ đó - bốn tên này và một tên thứ năm tên là Cartwright. Tobin, người gác cổng, đã bị sát hại, và lũ trộm đã cuỗm đi bảy nghìn bảng Anh. Chuyện đó xảy ra vào năm 1875. Cả năm tên đều bị bắt, nhưng bằng chứng chống lại chúng hoàn toàn không đủ sức thuyết phục. Gã Blessington - hay Sutton này - kẻ tồi tệ nhất trong băng đảng, đã trở thành kẻ chỉ điểm. Nhờ lời khai của hắn, Cartwright bị treo cổ, còn ba tên kia mỗi tên lãnh án mười lăm năm tù khổ sai. Khi chúng được ra tù cách đây mấy ngày - tức là sớm hơn vài năm so với thời hạn - như ông thấy đấy, chúng đã tự giao cho mình nhiệm vụ truy lùng kẻ phản bội và báo thù cho cái chết của đồng bọn. Chúng đã hai lần tìm cách tiếp cận hắn và đều thất bại; đến lần thứ ba, như ông thấy đấy, chúng đã thành công. Còn điều gì cần tôi giải thích thêm không, Bác sĩ Trevelyan?"

"Tôi nghĩ anh đã làm cho mọi thứ trở nên vô cùng rõ ràng rồi," vị bác sĩ nói. "Chắc chắn cái ngày mà ông ta cảm thấy bất an ấy chính là ngày ông ta đọc được tin chúng được thả trên các tờ báo."

"Đúng vậy. Câu chuyện của ông ta về vụ trộm chỉ là một màn kịch mà thôi."

"Nhưng tại sao ông ta không thể nói với anh điều này?"

"Chà, thưa ông, biết rõ tính cách thù dai của những cộng sự cũ, ông ta đã cố gắng giấu kín danh tính thật của mình với tất cả mọi người càng lâu càng tốt. Bí mật của ông ta là một bí mật đáng xấu hổ, và ông ta không thể nào ép mình thú nhận nó. Tuy nhiên, dù ông ta có là kẻ khốn nạn đến đâu đi chăng nữa, thì ông ta vẫn đang sống dưới lá chắn của luật pháp Anh quốc. Và tôi không nghi ngờ gì nữa, thưa thanh tra, ông sẽ thấy rằng, tuy lá chắn ấy có thể đã không bảo vệ được ông ta, thì thanh gươm công lý vẫn luôn ở đó để báo thù."

Đó là những tình tiết kỳ lạ liên quan đến Bệnh nhân Nội trú và Vị Bác sĩ phố Brook. Kể từ đêm hôm ấy, cảnh sát không còn thấy bóng dáng của ba kẻ sát nhân đâu nữa. Người ta đồn đoán tại Scotland Yard rằng chúng nằm trong số hành khách của con tàu hơi nước xấu số Norah Creina, con tàu đã bị chìm cách đây vài năm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn trên vùng biển ngoài khơi Bồ Đào Nha, cách Oporto vài dặm về phía bắc. Quá trình tố tụng chống lại cậu giúp việc đã đổ vỡ do thiếu bằng chứng, và Bí ẩn Phố Brook, như cách người ta vẫn thường gọi, cho đến nay vẫn chưa bao giờ được giải quyết một cách trọn vẹn trên bất kỳ phương tiện báo chí đại chúng nào.



  1. Tác phẩm "A Study in Scarlet" (Cuộc điều tra màu đỏ) là tiểu thuyết đầu tiên của Arthur Conan Doyle viết về Sherlock Holmes, xuất bản năm 1887. 

  2. Chứng giữ nguyên thế (catalepsy) là một tình trạng bệnh lý mà cơ thể trở nên cứng đờ, mất cảm giác và khả năng vận động tự chủ, thường liên quan đến các rối loạn thần kinh. 

  3. Quảng trường Cavendish (Cavendish Square) ở khu West End của London, được biết đến vào thế kỷ 19 như một khu vực danh giá dành cho giới y khoa và các bác sĩ danh tiếng mở phòng khám tư. 

  4. Ngày Lễ Đức Mẹ (Lady Day) rơi vào ngày 25 tháng 3 hàng năm, theo truyền thống ở Anh là một trong bốn ngày thanh toán tiền thuê nhà và các khoản nợ trong năm. 

  5. Trước năm 1971, tiền tệ Anh chia 1 guinea bằng 21 shilling (1 shilling = 12 xu). 5 shilling 3 xu tương đương đúng 1/4 của 1 guinea, tương ứng với tỷ lệ 25% doanh thu vị bác sĩ được giữ lại như thỏa thuận. 

  6. West End là khu vực phía tây trung tâm London, nơi tập trung các nhà hát, khu mua sắm xa xỉ và là nơi sinh sống của tầng lớp thượng lưu, giàu có thời bấy giờ. 

  7. Hercules (Heracles) là vị á thần nổi tiếng nhất trong thần thoại Hy Lạp, biểu tượng cho sức mạnh thể chất phi thường và lòng dũng cảm. 

  8. Amyl nitrite là một hợp chất hóa học được dùng trong y học thời đó để làm giãn mạch máu, thường dùng qua đường hít để điều trị các cơn đau thắt ngực hoặc các cơn co giật thần kinh. 

  9. Phố Harley ở London nổi tiếng toàn thế giới từ thế kỷ 19 như là trung tâm của các phòng khám y tế tư nhân cao cấp và các bác sĩ chuyên khoa hàng đầu. 

  10. Havana là loại xì gà thượng hạng được sản xuất tại thủ đô Havana của Cuba, nổi tiếng thế giới về chất lượng và hương vị. 

  11. Thuộc địa Đông Ấn của Hà Lan (nay là quốc gia Indonesia). Vào thế kỷ 19, đây là nguồn cung cấp hương liệu và xì gà quan trọng cho châu Âu.