🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG III: KHU RỪNG HOANG.

Từ lâu, Chuột Chũi đã luôn mong mỏi được làm quen với bác Lửng. Theo mọi lời đồn đại, bác ấy hẳn là một nhân vật vô cùng quan trọng; dẫu hiếm khi lộ diện, bác vẫn khiến muôn loài quanh vùng cảm nhận được tầm ảnh hưởng vô hình của mình. Tuy nhiên, mỗi lần Chuột Chũi ngỏ ý nguyện này với Chuột Nước, cậu lại thấy mình bị từ chối khéo léo.

"Không sao đâu," Chuột Nước thường trấn an. "Rồi một ngày nào đó bác Lửng sẽ xuất hiện thôi-bác ấy hay trồi lên bất thình lình lắm-và khi đó tôi sẽ giới thiệu cậu với bác. Một người tuyệt vời, tuyệt vời nhất quả đất! Nhưng cậu không chỉ phải chấp nhận bác ấy theo cách cậu thấy, mà còn phải thuận theo thời điểm cậu tình cờ gặp bác ấy nữa."

"Anh không thể mời bác ấy đến đây dùng bữa tối hay gì đó sao?" Chuột Chũi hỏi.

"Bác ấy sẽ không đến đâu," Chuột Nước đáp gọn lỏn. "Bác Lửng chúa ghét giao tế xã hội, ghét những lời mời mọc, những bữa tiệc tối, và tất cả những thứ đại loại thế."

"Vậy thì, rủi như chúng ta đến thăm bác ấy thì sao?" Chuột Chũi gợi ý.

"Ồ, tôi dám chắc bác ấy sẽ chẳng vừa lòng chút nào đâu," Chuột Nước chột dạ nói. "Bác ấy vốn rất nhút nhát, chắc chắn sẽ phật ý cho xem. Ngay cả tôi đây cũng chưa bao giờ dám mạo muội đến thăm nhà bác ấy, dù tôi biết bác ấy rất rõ. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể đi được. Chuyện đó là hoàn toàn không thể, bởi vì bác ấy sống ở ngay chính giữa Khu Rừng Hoang."

"Chà, cứ cho là thế đi," Chuột Chũi vớt vát. "Nhưng anh từng bảo tôi rằng Khu Rừng Hoang cũng an toàn thôi mà, anh biết đấy."

"Ồ, tôi biết, tôi biết chứ," Chuột Nước lảng tránh. "Nhưng tôi nghĩ tốt nhất là lúc này chúng ta chưa nên đến đó. Không phải ngay lúc này. Đường xa xôi lắm, và dù sao thì vào thời điểm này trong năm bác ấy cũng chẳng có ở nhà đâu. Rồi sẽ có ngày bác ấy ghé qua, nếu cậu chịu khó lặng yên chờ đợi."

Chuột Chũi đành phải bằng lòng với điều đó. Nhưng bác Lửng chẳng bao giờ ghé qua. Mỗi ngày lại mang đến những thú vui riêng của nó, nên mãi cho đến khi mùa hè đã lùi xa, khi cái lạnh, sương giá cùng những con đường lầy lội giam chân họ ở trong nhà nhiều hơn, và dòng nước dâng cao chảy xiết qua bên ngoài cửa sổ với tốc độ thách thức mọi loại thuyền bè, Chuột Chũi mới thấy tâm trí mình lại một lần nữa day dứt hướng về bác Lửng xám đơn độc, người cứ thui thủi sống cuộc đời của riêng mình trong cái hang nằm sâu giữa Khu Rừng Hoang.

Vào mùa đông, Chuột Nước ngủ rất nhiều, anh hay đi ngủ sớm và thức dậy muộn. Trong khoảng thời gian ban ngày ngắn ngủi, đôi khi anh viết lách vài bài thơ hoặc làm ba cái việc nhà lặt vặt; và, dĩ nhiên, luôn có những con vật tạt ngang qua để chuyện trò. Thành thử vô số câu chuyện đã được kể lại, những lời bàn tán rôm rả về mùa hè đã qua cùng tất thảy những kỷ niệm của nó.

Đó quả thật là một chương rực rỡ làm sao khi người ta ngoái nhìn lại! Với những bức tranh minh họa quá đỗi phong phú và ngập tràn màu sắc! Vở kịch bên bờ sông đã diễn ra một cách êm đềm, mở ra từng cảnh nối tiếp nhau trong một cuộc diễu hành trang nghiêm. Hoa đuôi chồn tía đến sớm, rung rinh những lọn tóc rối bồng bềnh dọc theo rìa của tấm gương nước, nơi khuôn mặt của chính nó mỉm cười đáp lại. Hoa cỏ liễu, mỏng manh và trầm mặc, tựa một đám mây hoàng hôn màu hồng, cũng không chậm trễ nối gót theo sau. Hoa chuông đồng, khoác áo tím tay trong tay với áo trắng, rón rén bước ra chiếm lấy vị trí của mình trong đội hình. Cuối cùng, vào một buổi sáng, đóa hồng dại rụt rè và chậm chạp sải những bước chân tinh tế lên sân khấu; và người ta biết, như thể tiếng nhạc bộ dây đã xướng lên những hợp âm trang nghiêm dẫn dắt vào một điệu gavotte1, rằng tháng Sáu rốt cuộc cũng đã đến. Vẫn còn một thành viên của đoàn diễn đang được ngóng chờ; chàng mục đồng để các tiên nữ trêu ghẹo, chàng hiệp sĩ mà các quý cô mòn mỏi ngóng trông bên khung cửa sổ, vị hoàng tử với nụ hôn sẽ đánh thức nàng mùa hè đang say ngủ2 bừng tỉnh đón lấy sự sống và tình yêu. Nhưng khi loài hoa trân châu, vui tươi và ngát hương trong chiếc áo chẽn màu hổ phách, duyên dáng bước vào vị trí của mình trong đoàn, thì vở kịch đã sẵn sàng để bắt đầu.

Và đó quả là một vở kịch tuyệt diệu! Những con vật ngái ngủ, rúc mình trong hang trong lúc mưa to gió lớn đang quật vào cửa, cùng nhau hồi tưởng lại những buổi sáng tĩnh lặng, một giờ trước khi mặt trời mọc, khi lớp sương mù trắng xóa chưa tan còn dùng dằng bám chặt lấy mặt nước; rồi cái cảm giác sảng khoái của cú lặn ngụp lúc tinh mơ, cuộc chạy đua dọc bờ sông, và sự biến đổi rực rỡ của đất, trời, và nước, khi mặt trời đột ngột hiện diện cùng họ, biến màu xám xịt hóa thành sắc vàng lấp lánh, mang theo muôn vàn màu sắc bừng tỉnh và trỗi dậy từ mặt đất. Họ nhớ lại những giấc ngủ trưa lười nhác giữa trưa hè oi ả, rúc sâu trong những bụi cây xanh mướt, ánh mặt trời rọi qua kẽ lá tạo thành những vệt sáng và những đốm vàng li ti; những buổi chiều chèo thuyền và tắm táp, những cuộc dạo chơi dọc theo những con đường mòn phủ bụi, băng qua những cánh đồng lúa mì vàng rực; và cuối cùng là buổi tối dài mát mẻ, khi biết bao mối liên kết được tạo dựng, bao tình bạn đơm hoa kết trái, và vô vàn chuyến phiêu lưu được lên kế hoạch cho ngày mai. Có hằng hà sa số chuyện để hàn huyên trong những ngày đông ngắn ngủi ấy, khi bầy thú thấy mình quây quần quanh đống lửa. Dẫu vậy, Chuột Chũi vẫn có khá nhiều thời gian rảnh rỗi. Thế nên, vào một buổi chiều, khi Chuột Nước đang ngồi lọt thỏm trên chiếc ghế bành trước ngọn lửa bập bùng, chập chờn giữa những giấc ngủ gật và nỗ lực gọt giũa những vần thơ còn trúc trắc, Chuột Chũi đã quyết định tự mình ra ngoài khám phá Khu Rừng Hoang, với hy vọng biết đâu có thể làm quen được với bác Lửng.

Đó là một buổi chiều tĩnh lặng và buốt giá với bầu trời xám xịt, cứng cỏi trên đầu, khi cậu lẳng lặng lẻn khỏi căn phòng khách ấm áp để bước vào bầu không khí trong trẻo ngoài kia. Khung cảnh đồng quê trải ra trơ trọi và hoàn toàn trụi lá quanh cậu, và cậu nghĩ rằng mình chưa bao giờ nhìn thấu đáo và tường tận đến thế vào bên trong của mọi vật như cái ngày đông ấy, ngày mà Thiên nhiên đang chìm sâu vào giấc ngủ thường niên và dường như đã đạp tung chăn mền. Những bụi rậm, thung lũng, mỏ đá cùng tất cả những nơi ẩn náu vốn là những kho báu bí ẩn vẫy gọi khám phá trong mùa hè um tùm rậm rạp, giờ đây phơi bày bản thân và mọi bí mật của chúng một cách thảm hại. Chúng dường như đang nài nỉ cậu hãy lượng thứ bỏ qua sự trần trụi nghèo nàn của chúng một thời gian, cho đến khi chúng có thể tung hoành trong những bộ cánh lộng lẫy như trước, để lại đánh lừa và dụ dỗ cậu bằng những mánh khóe quen thuộc. Đứng ở một góc độ nào đó, điều này thật đáng thương, nhưng lại đáng khích lệ-thậm chí còn làm tinh thần thêm phấn chấn. Cậu cảm thấy hân hoan vì mình trót phải lòng vùng nông thôn mộc mạc, cứng cỏi, đã bị tước đi vẻ lộng lẫy phô trương. Cậu đã đi xuống tận gốc rễ trần trụi của nó, và nhận ra chúng thật đẹp đẽ, mạnh mẽ và giản đơn. Cậu chẳng còn màng đến thứ cỏ ba lá ấm áp hay sự vui đùa trêu chọc của những bãi cỏ đang kết hạt; những bức màn cỏ cây, tấm rèm nhấp nhô của cây sồi và cây du dường như vắng mặt lúc này lại hay; và với một tinh thần vô cùng phấn chấn, cậu vững bước tiến về phía Khu Rừng Hoang, nơi đang trải ra trước mặt cậu, thấp tè và đầy đe dọa, tựa như một rạn san hô đen ngòm giữa một vùng biển phương Nam tĩnh lặng.

Ban đầu, khi mới chập chững bước vào, chẳng có gì khiến Chuột Chũi phải e sợ. Những cành cây khô gãy răng rắc dưới chân, vài khúc gỗ mục ngáng đường làm cậu vấp váp, hay dăm đám nấm mọc trên gốc cây mang hình thù như những bức bích họa kỳ dị-đôi lúc khiến cậu giật mình vì trông mường tượng giống một thứ gì đó vừa quen thuộc vừa xa xăm. Nhưng tất thảy đều chỉ mang lại cảm giác vui vẻ và thú vị. Chính sự tò mò ấy đã dẫn dắt cậu bước tiếp, tiến sâu hơn vào nơi ánh sáng dần nhạt nhòa. Những tán cây bắt đầu cúi rạp xuống ngày một gần hơn, trong khi những hốc cây hai bên đường như đang nhăn nhó, nhe nanh múa vuốt với cậu.

Lúc này, vạn vật chìm trong sự tĩnh lặng đến rợn người. Bóng tối buông xuống đều đặn và mau lẹ, bủa vây từ trước ra sau, còn chút ánh sáng thoi thóp thì dường như đang bị rút cạn đi như nước triều rút.

Rồi, những khuôn mặt bắt đầu xuất hiện.

Thoạt đầu, ngay phía sau lưng, một hình ảnh mờ ảo hiện ra khiến cậu ngờ ngợ rắng mình vừa nhìn thấy một khuôn mặt; một khuôn mặt nhỏ thó, nhọn hoắt và đầy vẻ ác hiểm, đang chằm chằm nhìn cậu từ một hốc cây. Thế nhưng, khi cậu giật mình quay phắt lại để đối diện, thứ đó đã biến mất tăm.

Cậu rảo bước nhanh hơn, cố gắng gượng cười tự nhủ đừng bắt đầu tưởng tượng linh tinh nữa, nếu không sự sợ hãi này sẽ chẳng bao giờ kết thúc. Cậu lướt qua một hốc cây khác, rồi lại một cái nữa, và một cái nữa; cho đến khi-có!-không!-chắc chắn là có! Một khuôn mặt nhỏ hẹp với đôi mắt lạnh lẽo như sắt đá lóe lên trong chớp mắt từ một cái hang, rồi vụt biến mất. Cậu thoáng chùn bước, cố gắng xốc lại tinh thần để sải bước đi tiếp. Rồi đột nhiên, như thể chúng vẫn luôn rình rập ở đó từ thuở nào, từng cái hốc, dù xa hay gần-và có đến hàng trăm cái như thế-dường như đều chứa chấp một khuôn mặt riêng biệt. Chúng thoắt ẩn thoắt hiện, chĩa thẳng vào cậu những ánh nhìn độc địa và đầy thù hận. Tất cả đều mang chung một đôi mắt xám ngoét, độc ác và sắc lẹm như dao.

Cậu tự nhủ, giá mà mình có thể tránh xa những cái hang trên các bờ đất, thì hẳn sẽ chẳng còn khuôn mặt nào vây bám nữa. Nghĩ vậy, cậu liền rời khỏi lối mòn, lao mình vào những khu vực hoang sơ chưa từng có dấu chân qua lại của khu rừng.

Rồi, những tiếng huýt sáo bắt đầu rít lên.

Lần đầu lọt vào tai, âm thanh ấy the thé và yếu ớt, vọng lại từ tít đằng xa phía sau; nhưng chẳng hiểu sao nó lại hối thúc cậu cắm cổ lao về phía trước. Rồi sau đó, vẫn là tiếng rít the thé mỏng manh ấy, lại vang lên từ xa xăm phía trước, khiến cậu khựng lại và chỉ muốn quay đầu bỏ chạy. Khi cậu còn đang đứng đực ra trong sự do dự, âm thanh đó bỗng bùng nổ từ cả hai phía, dường như bắt nhịp với nhau và lan truyền khắp chiều dài khu rừng cho đến tận vùng ven rìa xa xôi nhất. Chúng đã thức giấc, đang cảnh giác và sẵn sàng hành động, rõ ràng là vậy, dẫu cho "chúng" có là bất cứ thứ gì đi chăng nữa! Còn cậu-cậu chỉ có một thân một mình, tay không tấc sắt, cách xa mọi sự cứu viện; và màn đêm thì đang buông xuống mỗi lúc một dày đặc.

Kế đến, những tiếng sột soạt của những bước chân bắt đầu vang lên.

Ban đầu, cậu cứ ngỡ đó chỉ là tiếng lá rụng rơi xào xạc, bởi âm thanh ấy thoạt nghe sao mà nhẹ nhàng và mỏng mảnh đến thế. Thế rồi, khi tiếng động lớn dần lên, nó bắt đầu mang một nhịp điệu đều đặn, và cậu lờ mờ nhận ra đó chẳng phải thứ gì khác ngoài tiếng lách-tách, lách-tách của những bàn chân nhỏ xíu từ một khoảng cách hãy còn rất xa. Tiếng động ấy vang lên từ phía trước hay phía sau? Thoạt tiên có vẻ như ở một bên, rồi lại chuyển sang bên kia, và cuối cùng là vây bọc từ cả hai phía. Âm thanh lớn dần và nhân lên gấp bội, cho đến khi-trong lúc cậu đang nghiêng ngóng hết bên này sang bên kia để dỏng tai lắng nghe trong nỗi bất an-nó dường như đang siết chặt vòng vây quanh cậu. Giữa lúc cậu đang đứng chôn chân chịu trận, một con thỏ bỗng từ đâu cắm đầu chạy thục mạng xuyên qua những hàng cây, lao thẳng về phía cậu. Cậu chờ đợi, đinh ninh rằng nó sẽ giảm tốc độ hoặc rẽ ngoặt sang một hướng khác để né mình. Nhưng không, con vật gần như sượt qua người cậu rồi lao vút đi, khuôn mặt nó đanh lại vì căng thẳng, đôi mắt trợn trừng hoảng loạn. "Cút khỏi đây ngay, mày bị điên à, tránh đường cho tao!" Chuột Chũi nghe tiếng nó lầm bầm mắng mỏ khi lách qua một gốc cây rồi lặn mất tăm xuống một cái hang cư ngụ an toàn.

Tiếng lách tách ngày một dồn dập cho đến khi nó nghe rào rào như một trận mưa đá bất thần trút xuống tấm thảm lá khô trải dài quanh cậu. Giờ đây, cả khu rừng dường như đang chạy trốn, chạy thục mạng, săn lùng, rượt đuổi, bủa vây lấy một thứ gì đó, hay-một ai đó? Trong cơn hoảng loạn tột độ, cậu cũng cắm cổ bỏ chạy, chạy một cách vô định, chẳng biết mình đang cắm đầu đi về đâu. Cậu va đập vào đủ thứ, vấp ngã chồng chéo lên đủ thứ và lọt thỏm vào đủ thứ; cậu luồn lách qua chướng ngại vật rồi lại cuống cuồng né tránh mọi thứ chắn ngang đường. Cuối cùng, cậu tìm thấy một nơi nương náu trong hốc cây sâu thăm thẳm, tối om của một gốc sồi già. Nơi này mang lại cho cậu một chỗ ẩn nấp kín đáo-thậm chí có lẽ là cả sự an toàn, nhưng giờ thì ai mà biết chắc được cơ chứ? Dẫu sao đi nữa, cậu cũng đã quá kiệt sức để có thể chạy thêm bước nào. Cậu chỉ biết cuộn tròn người rúc vào lớp lá khô đang dạt sâu bên trong hốc cây, thấp thỏm hy vọng mình sẽ được an toàn trong chốc lát. Và khi nằm đó, thở dốc và run rẩy từng cơn, vểnh tai lắng nghe những tiếng huýt sáo và tiếng bước chân lách tách bên ngoài, cuối cùng cậu đã thấu hiểu một cách trọn vẹn cái thứ đáng sợ tột cùng mà những cư dân nhỏ bé khác nơi đồng nội và bờ giậu từng phải đối mặt chốn này-khoảnh khắc tăm tối nhất của cuộc đời họ. Đó chính là thứ mà Chuột Nước đã tuyệt vọng cố gắng bảo vệ cậu nhưng bất thành-Nỗi kinh hoàng của Khu Rừng Hoang!

Trong khi đó, Chuột Nước, giữa sự ấm áp và thoải mái, đang thiu thiu ngủ gục bên lò sưởi. Tờ giấy ghi những vần thơ dang dở tuột khỏi đầu gối, đầu anh ngửa ra sau, miệng khẽ hé, tâm trí lang thang dọc theo những bãi bờ xanh mướt của dòng sông trong mộng. Rồi một hòn than trượt xuống, ngọn lửa nổ lách tách và lóe lên một tia sáng, làm anh giật mình bừng tỉnh. Nhớ lại công việc dở dang, anh nhoài người xuống sàn nhặt những câu thơ lên, trầm ngâm nghiền ngẫm chốc lát, rồi đảo mắt tìm Chuột Chũi để hỏi xem cậu có biết vần nào êm tai cho câu này câu nọ không.

Nhưng Chuột Chũi không có ở đó.

Anh lắng tai nghe ngóng một chốc. Ngôi nhà dường như tĩnh lặng lạ thường.

Sau đó anh cất tiếng gọi, "Chuột Chũi ơi!" vài lần, và vì không thấy ai thưa, anh đứng dậy bước ra ngoài sảnh.

Chiếc mũ của Chuột Chũi đã biến mất khỏi cái cọc quen thuộc. Đôi ủng cao su của cậu, vốn luôn nằm ngay ngắn cạnh giá để ô, cũng không còn nữa.

Chuột Nước bước ra khỏi nhà, cẩn thận xem xét lớp bùn lầy trên mặt đất bên ngoài, hy vọng tìm thấy chút dấu vết của Chuột Chũi. Chắc chắn là chúng đây rồi. Đôi ủng cao su còn mới tinh, vừa mới sắm cho mùa đông, những nốt sần trên đế vẫn còn in hằn sắc nét. Anh có thể nhìn rõ dấu chân cậu in trên bùn, chạy thành một đường thẳng tắp đầy kiên định, dẫn thẳng vào Khu Rừng Hoang.

Sắc mặt Chuột Nước trở nên nghiêm trọng, anh đứng lặng người suy nghĩ một hai phút. Rồi anh quay trở vào nhà, nịt một chiếc thắt lưng quanh eo, giắt vào đó cặp súng lục, vớ lấy cây gậy ngắn nhưng to khỏe dựng ở góc sảnh, và rảo bước nhanh về phía Khu Rừng Hoang.

Trời đã ngả bóng chạng vạng khi anh đến rìa rặng cây đầu tiên. Không chút do dự, anh lao thẳng vào rừng, ánh mắt lo lắng ráo riết sục sạo hai bên để tìm kiếm bất kỳ dấu vết nào của bạn mình. Chỗ này chỗ kia, những khuôn mặt nhỏ thó, gớm ghiếc thò ra khỏi mấy cái hang, nhưng lập tức rụt biến đi ngay tắp lự khi thấy bóng dáng con vật dũng cảm, cặp súng lục dắt lưng, cùng cây gậy to lớn, thô ráp lăm lăm trong tay anh. Tiếng huýt sáo và tiếng lách tách mà anh nghe rất rõ khi mới bước chân vào rừng, giờ nhỏ dần rồi tắt hẳn, mọi thứ chìm vào im lặng tĩnh mịch. Anh gan dạ xông pha dọc theo chiều dài khu rừng, tiến thẳng đến tận rìa xa nhất. Rồi, bỏ mặc mọi nẻo đường mòn, anh sục sạo ngang dọc, nhọc nhằn tìm kiếm trên từng tấc đất, miệng không ngừng cất tiếng gọi rành rọt, "Chuột Chũi, Chuột Chũi, Chuột Chũi ơi! Cậu ở đâu? Là tôi đây - anh bạn Chuột Nước cũ kỹ của cậu đây!"

Anh đã kiên nhẫn lùng sục trong rừng suốt một giờ đồng hồ hoặc hơn thế, thì cuối cùng, trong niềm vui sướng tột độ, anh cũng nghe thấy một tiếng kêu đáp lời yếu ớt. Lấy âm thanh làm kim chỉ nam, anh lần mò giữa bóng tối đang buông dần để tiến đến gốc một cây sồi già. Ở đó có một cái hốc, và từ trong hốc vọng ra một giọng nói mỏng manh, "Anh Chuột Nước! Có thật là anh đó không?"

Chuột Nước trườn vào trong hốc, và tại đó, anh tìm thấy Chuột Chũi, kiệt sức và vẫn còn đang run rẩy. "Ôi anh Chuột Nước!" cậu nức nở, "tôi đã sợ chết khiếp đi được, anh không thể tưởng tượng nổi đâu!"

"Ồ, tôi hoàn toàn hiểu mà," Chuột Nước dịu dàng nói. "Cậu thực sự không nên đi làm cái việc dại dột đó, Chuột Chũi ạ. Tôi đã cố gắng hết sức để ngăn cậu rồi cơ mà. Những cư dân sống ở bờ sông chúng tôi hầu như chẳng bao giờ bước chân đến đây một mình. Nếu bắt buộc phải đến, ít nhất chúng tôi cũng sẽ đi từng cặp; như thế thường sẽ an toàn. Hơn nữa, có hàng trăm điều mà người ta buộc phải biết, những thứ mà chúng tôi rành rẽ còn cậu thì không, ít nhất là vào lúc này. Nào là mật khẩu, nào là ám hiệu, rồi những câu thần chú uy lực, những loại thảo dược phải mang theo trong túi, những vần thơ phải nhẩm đi nhẩm lại, cả những ngón đòn và mánh khóe cần thực hành. Tất thảy đều khá đơn giản một khi cậu đã tường tận, nhưng nếu vóc dáng cậu nhỏ bé thì nhất thiết phải biết, bằng không cậu sẽ tự rước họa vào thân. Tất nhiên, nếu cậu là bác Lửng hay Rái Cá, thì câu chuyện lại hoàn toàn khác."

"Thế ngài Cóc dũng cảm chắc hẳn sẽ không ngại đến đây một mình đâu, anh nhỉ?" Chuột Chũi hỏi.

"Ông bạn Cóc già ấy à?" Chuột Nước bật cười sảng khoái. "Cậu ta á, có cho cả một mũ đầy tiền vàng guinea3 thì cậu ta cũng chẳng dám vác mặt đến đây một mình đâu."

Chuột Chũi cảm thấy cõi lòng nhẹ bẫng trước tiếng cười vô tư của Chuột Nước, cũng như khi nhìn thấy cây gậy và những khẩu súng lục sáng loáng của anh. Cậu ngừng run rẩy, bắt đầu lấy lại can đảm và trở lại là chính mình.

"Bây giờ thì," Chuột Nước lên tiếng ngay sau đó, "chúng ta thực sự phải xốc lại tinh thần và bắt đầu đi về nhà khi trời vẫn còn chút ánh sáng. Chắc chắn không thể qua đêm ở đây được đâu, cậu hiểu chứ. Phần vì lạnh cóng cả người đấy."

"Anh Chuột Nước thân mến," Chuột Chũi tội nghiệp thều thào, "tôi vô cùng xin lỗi, nhưng tôi thực sự đã kiệt sức, đó là sự thật. Anh phải cho tôi nghỉ ngơi ở đây một lát nữa để lấy lại sức, nếu anh muốn tôi lê bước được về đến nhà."

"Ồ, được thôi," Chuột Nước tốt bụng đáp, "cứ nghỉ ngơi đi. Dù sao thì giờ trời cũng gần như tối đen như mực rồi; chắc lát nữa trăng sẽ lên thôi."

Thế là Chuột Chũi rúc sâu vào đống lá khô và duỗi dài người ra. Rất nhanh, cậu chìm vào giấc ngủ, dù đó là một giấc ngủ chập chờn và đứt quãng; trong khi Chuột Nước cũng cố gắng tự ủ ấm bằng mọi cách có thể, nằm kiên nhẫn chờ đợi, tay lăm lăm khẩu súng lục.

Khi Chuột Chũi cuối cùng cũng tỉnh giấc, sảng khoái hơn nhiều và đã lấy lại tinh thần thường ngày, Chuột Nước mới nói, "Bây giờ thì! Tôi sẽ ngó ra ngoài một chút xem mọi thứ có yên tĩnh không, rồi chúng ta thực sự phải lên đường thôi."

Anh đi đến lối vào nơi ẩn náu của họ và thò đầu ra ngoài. Rồi Chuột Chũi nghe thấy anh hạ giọng lẩm bẩm một mình, "Chà! Chà! Đây... mới... là... vấn... đề!"

"Có chuyện gì vậy, anh Chuột Nước?" Chuột Chũi hỏi.

"Tuyết đang rơi," Chuột Nước đáp gọn lỏn; "hay đúng hơn, là đang trút xuống. Tuyết rơi rất dày."

Chuột Chũi bước tới, cúi xuống bên cạnh bạn mình, và khi nhìn ra ngoài, cậu thấy khu rừng vốn dĩ rất đáng sợ nay đã khoác lên mình một diện mạo hoàn toàn khác lạ. Những cái hang, hốc cây, vũng nước, cạm bẫy, cùng biết bao mối đe dọa đen tối rình rập người qua đường đang nhanh chóng bị chôn vùi. Một tấm thảm lấp lánh tựa chốn thần tiên đang giăng mắc khắp mọi nơi, trông quá đỗi mỏng manh để những bàn chân thô ráp giẫm đạp lên. Một lớp bụi tuyết mịn ngập tràn trong không trung, mơn trớn đôi má bằng một cảm giác mơn man râm ran khi chạm vào, và những thân cây đen nhánh hiện ra trong một thứ ánh sáng hắt lên từ bên dưới.

"Chà, chà, hết cách rồi," Chuột Nước nói, sau một hồi cân nhắc. "Tôi e là chúng ta phải khởi hành, và phó mặc cho may rủi thôi. Điều tệ nhất là, tôi không biết chính xác chúng ta đang ở đâu. Và giờ thì tuyết làm cho mọi thứ trông khác hẳn."

Quả đúng là như vậy. Chuột Chũi khó lòng nhận ra đây vẫn là khu rừng ban nãy. Tuy nhiên, họ đã dũng cảm bước đi, chọn con đường có vẻ hứa hẹn nhất. Họ nép chặt vào nhau, khoác lên mình sự vui vẻ kiên cường, vờ như đang nhận ra một người bạn cũ trong mỗi thân cây mới đang chào đón họ một cách lạnh lẽo và câm lặng, hay vờ như nhìn thấy những khoảng trống, những khe hở, hay những lối đi với những khúc cua quen thuộc, giữa sự đơn điệu của không gian trắng xóa và những thân cây đen nhánh sừng sững không đổi dời.

Một hai giờ đồng hồ trôi qua-hoặc có lẽ lâu hơn thế, bởi cả hai đã hoàn toàn mất đi khái niệm về thời gian. Gục ngã trong sự chán nản, rã rời và mất phương hướng tột độ, họ buông mình xuống một thân cây mục nát để thở dốc và tính xem bước tiếp theo phải làm gì. Cả cơ thể đau nhức rã rời, bầm dập sau hàng loạt cú ngã nhào; vạt áo ướt sũng lạnh buốt vì đôi ba lần hụt bước lọt thỏm xuống hố sâu. Tuyết mỗi lúc một giăng dày, níu chặt lấy những bước chân nhỏ bé đang cố lê lết qua lớp màn trắng xóa. Quanh họ, muôn vàn thân cây ken đặc, xám ngoét và vô hồn, gốc nào trông cũng giống hệt gốc nào. Khu rừng chết tiệt này tựa hồ chẳng có điểm đầu, chẳng có điểm cuối, mọi thứ cứ mờ mịt lặp lại một cách đáng sợ, và tồi tệ hơn cả là không có lấy một tia hy vọng về lối ra.

"Chúng ta chẳng thể chôn chân mãi ở đây được," Chuột Nước lên tiếng. "Phải rán sức thêm chút nữa, phải làm gì đó thôi. Trời lạnh thấu xương rồi, và tuyết sẽ nhanh chóng đóng dày đến mức chẳng ai lội qua nổi." Anh đảo mắt quanh một vòng, cân nhắc tình hình. "Nghe tôi này," anh nói tiếp, "tôi đang nghĩ thế này. Có một cái thung lũng nhỏ ngay trước mặt chúng ta kìa, chỗ đất đai có vẻ nhấp nhô và gồ ghề đấy. Chúng ta sẽ đi xuống dưới ấy, thử tìm một chỗ trú ẩn xem sao, một cái hang hay cái hốc nào đó có nền đất khô ráo chẳng hạn. Ở đó chúng ta sẽ tạm lánh gió tuyết, nghỉ ngơi lấy lại sức trước khi tiếp tục lên đường. Cả hai chúng ta đều đã kiệt sức cả rồi. Hơn nữa, biết đâu tuyết lại tạnh, hoặc có phép màu nào đó xảy ra không chừng."

Vậy là một lần nữa, họ lại ráng gượng dậy, lóp ngóp dắt díu nhau xuống thung lũng, mải miết lùng sục một cái hang hay vách đất khô ráo hòng trốn khỏi từng đợt gió rít gào và bão tuyết quật liên hồi. Giữa lúc cả hai đang dò dẫm quanh những mô đất nhấp nhô mà Chuột Nước vừa chỉ, thì đột nhiên Chuột Chũi vấp lảo đảo, ngã sấp mặt xuống nền tuyết, buột miệng bật ra một tiếng rú thảm thiết.

"Ôi cái chân của tôi!" cậu rền rĩ. "Cái ống chân tội nghiệp của tôi!" Thế rồi, cậu chàng ngồi phệt hẳn xuống tuyết, hai chân trước cứ thế ôm chặt lấy cái chân đau điếng.

"Anh bạn Chuột Chũi tội nghiệp!" Chuột Nước dịu dàng an ủi.

"Hôm nay cậu vất vả quá rồi nhỉ? Đưa tôi xem cái chân nào. Trời ạ," anh chép miệng, vội quỳ một gối xuống nền tuyết lạnh để kiểm tra, "ống chân bị rách một đường rồi, không sai vào đâu được. Đợi tôi lấy chiếc khăn tay ra đã nhé, tôi sẽ băng lại cẩn thận cho cậu."

"Chắc tôi va phải cái cành khô hay gốc cây nào giấu mình dưới tuyết rồi," Chuột Chũi mếu máo rên rỉ. "Ôi trời đất ơi! Ôi, đau quá đi mất!"

"Vết rách này sắc lẻm," Chuột Nước vừa nói vừa cẩn thận xem xét miệng vết thương thêm lần nữa. "Cành khô hay gốc cây chẳng thể nào cứa ra một vết như thế này được. Trông cứ như bị quẹt phải mép của một món đồ kim loại bén ngót vậy. Lạ thật đấy!" Anh cau mày ngẫm nghĩ một chốc, ánh mắt đầy tò mò dò xét những gò đất nhấp nhô và sườn dốc đang bủa vây quanh họ.

"Ôi dào, quan tâm làm quái gì đến cái thứ vớ vẩn rạch chân tôi kia chứ," Chuột Chũi càu nhàu, cơn đau buốt khiến cậu chẳng buồn để ý đến cả câu chữ. "Dù là cái thá gì đi nữa thì nó cũng làm tôi đau chết đi được đây này."

Nhưng Chuột Nước, sau khi đã tỉ mỉ dùng khăn tay băng bó cẩn thận cho bạn mình, liền nhổm dậy, rời khỏi đó và bắt đầu lúi húi đào bới giữa lớp tuyết dày. Anh ra sức cào, xúc, cặm cụi khám phá, cả bốn chân thoăn thoắt làm việc không ngơi nghỉ. Trong khi đó, Chuột Chũi ngồi chờ với vẻ bồn chồn thiếu kiên nhẫn, thi thoảng lại làu bàu, "Ôi trời, thôi nào, Chuột Nước ơi!"

Đột nhiên, Chuột Nước reo lên "Hurra!" rồi lại tiếp tục "Hurra-ura-ura-ura-ura!" ầm ĩ, và bắt đầu lóng ngóng múa may một điệu nhảy chiến thắng giữa nền tuyết trắng xóa.

"Rốt cuộc thì anh đã tìm thấy cái quái gì thế, Chuột Nước?" Chuột Chũi cất giọng hỏi, tay vẫn ôm khư khư cái chân đau.

"Lại đây mà xem!" Chuột Nước sung sướng đáp lời, chân vẫn không ngừng nhảy nhót tưng bừng.

Chuột Chũi tập tễnh lết tới và nhoài người nhìn cho kỹ.

"Chà," mất một lúc, cậu mới thủng thẳng cất lời, "Tôi THẤY nó rồi. Từng thấy cái thứ y hệt thế này trước đây rồi, hằng hà sa số lần là đằng khác. Tôi gọi đó là một món đồ quen thuộc. Một cái thanh gạt bùn giày4! Chà, thì đã sao? Có cái lý do gì để anh phải nhảy nhót điên cuồng quanh cái thanh gạt bùn giày cơ chứ?"

"Thế cậu không nhìn ra nó có nghĩa là gì à, cái đồ-cái đồ đầu đất này?" Chuột Nước ré lên, chẳng còn lấy một giọt kiên nhẫn.

"Tất nhiên là tôi biết nó có nghĩa là gì rồi," Chuột Chũi cự nự. "Nó chỉ đơn giản nói lên rằng có một kẻ nào đó RẤT vô ý vô tứ, hay quên đến mức vứt tớ hớ cái đồ gạt bùn của mình giữa lòng Khu Rừng Hoang, ngay cái chỗ mà nó chắc chắn sẽ ngáng chân tất thảy mọi người. Tôi gọi đó là sự tắc trách đến mức thảm họa. Ghi sổ đấy, về đến nhà tôi sẽ đi làm cho ra nhẽ với-với một ai đó, cứ chống mắt lên mà xem tôi có làm không!"

"Ôi, chúa ơi! Ôi, đất mẹ ơi!" Chuột Nước vò đầu bứt tai, hoàn toàn bất lực trước sự tối dạ của cậu bạn. "Đây này, dẹp cái màn lý sự đi và xúm vào cào giúp tôi một tay!" Nói đoạn, anh lại lao vào cuộc đào bới, cào móng hối hả khiến tuyết văng tung tóe mù mịt xung quanh.

Sau một hồi quần quật mệt đứt hơi, công sức của anh cũng được đền đáp xứng đáng. Lấp ló dưới lớp tuyết là một tấm thảm chùi chân đã sờn cũ hiện ra trước mắt.

"Thấy chưa, tôi đã bảo cậu thế nào?" Chuột Nước reo lên đầy vẻ đắc thắng.

"Chẳng bảo cái gì sất," Chuột Chũi đáp trả bằng sự chân thật đến ngây ngô. "Thế này nhé," cậu dài giọng, "có vẻ như anh lại vừa khai quật thêm một món rác sinh hoạt nữa, vừa hỏng vừa bị vứt xó, và tôi đoán điều đó làm anh sung sướng đến phát điên. Anh thích thì cứ xông vào mà nhảy múa tung tăng quanh nó đi, làm cho xong cái trò ấy đi, để rồi sau đó chúng ta còn cất bước và thôi cái trò lãng phí thời gian bên mấy đống giẻ rách này. Liệu chúng ta có thể ĂN một tấm thảm chùi chân được không? Hay chui xuống dưới tấm thảm chùi chân mà ngủ hở? Hay là leo lên tấm thảm chùi chân rồi biến nó thành xe trượt tuyết để bay thẳng về nhà, hả cái đồ gặm nhấm phiền phức kia?"

"Cậu-đang-có-ý-nói-rằng," Chuột Nước gắt gỏng thốt lên, giọng lạc cả đi vì kích động, "rằng tấm thảm chùi chân này không nói cho cậu biết một điều gì sao?"

"Thật sự đấy, Chuột Nước ạ," Chuột Chũi vặc lại, giọng đã thấm chút cáu bẳn, "Tôi nghĩ chúng ta đã nếm đủ cái sự điên rồ này rồi đấy. Có ai trên đời này từng nghe nói một tấm thảm chùi chân lại biết mở miệng nói điều gì với ai bao giờ chưa? Chúng làm gì biết làm cái trò đó. Chúng không sinh ra để làm thế. Thảm chùi chân thì nên biết thân biết phận nằm yên ở chỗ của chúng mới đúng."

"Bây giờ vểnh tai lên mà nghe đây, cái đồ-cái đồ dở hơi đầu đất này," Chuột Nước vặn lại, cơn giận đã thực sự bốc hỏa lên đỉnh đầu, "cái trò cãi cọ này phải chấm dứt. Cấm mở miệng thêm nửa lời, mau vào cào đi-cào, bới, đào và lùng sục mọi ngóc ngách đi, nhất là dọc theo mấy cái sườn dốc gồ ghề kia kìa, nếu như cậu còn muốn đêm nay có một chỗ ngả lưng khô ráo và ấm áp. Nhớ lấy, đây là cơ hội cuối cùng của chúng ta đấy!"

Bỏ ngoài tai mọi sự hậm hực, Chuột Nước lao vào tấn công một bờ tuyết ngay cạnh, dùng cây gậy chọc ngoáy, thăm dò mọi bề rồi điên cuồng vục móng đào bới; Chuột Chũi thấy vậy cũng tất bật nhào vào cào phụ, phần nhiều là để chiều lòng Chuột Nước hơn là thực sự tin tưởng vào cái trò này. Bởi trong thâm tâm, cậu vẫn đinh ninh rằng bạn mình đã bị cái lạnh làm cho mất trí mất rồi.

Khoảng mười phút hì hục trôi qua, mũi gậy của Chuột Nước bỗng nện phải một vật gì đó phát ra tiếng kêu cồm cộp, nghe rỗng tuếch. Anh mím môi hì hục đào mãi cho đến khi lách được một chân qua để sờ soạng; sau đó rối rít gọi Chuột Chũi đến tiếp ứng. Hai con vật nhỏ bé dốc cạn chút sức lực tàn, hăm hở dọn dẹp, cho đến khi thành quả lao động của chúng phơi bày trọn vẹn trước đôi mắt mở to sững sờ của Chuột Chũi, kẻ cho đến tận phút chót vẫn còn nuôi mầm hoài nghi.

Nép mình bên sườn của thứ ngỡ như chỉ là một bờ tuyết vô tri, một cánh cửa nhỏ nhắn mà vững chãi, sơn màu xanh lục sẫm, hiện ra uy nghi. Kề bên là một chiếc chuông kéo bằng sắt đen bóng, và ngay phía dưới, trên một tấm biển đồng5 nhỏ nhắn, lấp lánh dưới ánh trăng bàng bạc, những dòng chữ in hoa vuông vức và sắc nét kiêu hãnh xướng tên:

ÔNG LỬNG.

Chuột Chũi ngã ngửa hẳn ra nền tuyết trắng, ngập ngụa trong cơn choáng ngợp và niềm vui sướng tột độ. "Chuột Nước ôi!" cậu reo lên, giọng run run đầy hối lỗi, "anh quả là một kỳ tích! Một điều kỳ diệu bằng xương bằng thịt, chính xác anh là như vậy đấy. Giờ thì tôi hiểu cả rồi! Anh đã xâu chuỗi mọi thứ, từng bước một, ngay trong cái đầu uyên bác ấy. Kể từ lúc tôi vấp ngã và bị rách toạc ống chân, anh chăm chú nhìn vết thương, và bùm một cái, bộ óc vĩ đại của anh liền thầm reo lên, 'Đồ gạt bùn giày!' Rồi anh hì hục lao vào cào bới, và y như rằng, lôi lên được đúng thanh gạt bùn giày tai ác nọ! Anh có dừng lại ở đó không? Không hề. Kẻ khác chắc mẩm đã hài lòng lắm rồi, nhưng anh thì không. Trí tuệ siêu phàm của anh vẫn hoạt động hết công suất. 'Chỉ cần tìm thấy một tấm thảm chùi chân thôi,' anh lẩm bẩm, 'là giả thuyết của ta hoàn toàn được chứng minh!' Và dĩ nhiên, anh tóm gọn được tấm thảm chùi chân. Anh quá đỗi thông minh, tôi dám cá là anh có thể tìm ra bất cứ thứ gì trên đời này nếu anh muốn. 'Bây giờ,' anh kết luận, 'chắc chắn phải có một cánh cửa, rõ mồn một như thể ta đang nhìn chằm chằm vào nó. Việc phải làm bây giờ chỉ là khui nó ra thôi!' Trời đất ơi, tôi từng đọc về mấy màn phá án đỉnh cao cỡ này trong sách, nhưng nay mới tận mắt chứng kiến ngoài đời thực. Anh đáng lẽ phải ở những nơi vinh quang, nơi người ta ca tụng tài năng của anh mới phải. Anh đúng là đang tự chôn vùi bản thân ở cái chốn này, giữa những kẻ phàm phu tục tử như chúng tôi. Giá như tôi có được cái đầu như anh, Chuột Nước à--"

"Nhưng ngặt nỗi cậu thì không có," Chuột Nước cộc lốc ngắt lời, nghe đến là chướng tai, "vậy nên tôi đoán cậu định cắm rễ trên tuyết cả đêm nay chỉ để diễn thuyết hả? Bật dậy ngay đi, bám chặt lấy cái dây chuông kéo kìa, rồi dùng hết sức bình sinh mà kéo giật xuống, trong lúc tôi đập cửa báo hiệu!"

Và thế là, trong lúc Chuột Nước lấy gậy nện rầm rầm vào cánh cửa gỗ, Chuột Chũi liền bật vọt lên tóm chặt lấy sợi dây chuông kéo, đu đưa lơ lửng giữa không trung với cả hai chân nhấc bổng khỏi mặt đất. Giữa màn đêm lạnh lẽo, từ một nơi sâu thẳm xa xăm phía sau cánh cửa, vang lên những hồi chuông trầm đục, từng nhịp thong thả cất lên đầy linh thiêng như một lời hồi đáp.



  1. Gavotte là một điệu khiêu vũ dân gian truyền thống của Pháp, rất thịnh hành trong giới quý tộc châu Âu thế kỷ 17-18. 

  2. Tác giả mượn hình ảnh ẩn dụ (allusion) kinh điển từ câu chuyện cổ tích Công chúa ngủ trong rừng (Sleeping Beauty). 

  3. Guinea là đồng tiền vàng của Anh, trị giá 21 shilling, được sử dụng phổ biến từ thế kỷ 17. Đến thời điểm cuốn sách ra mắt (1908), đồng tiền này tuy không còn được đúc mới nhưng vẫn được dùng làm đơn vị định giá cho những xa xỉ phẩm, phí dịch vụ chuyên gia hay trong giao dịch của giới quý tộc. 

  4. Boot-scraper (đồ gạt bùn) là một thanh hoặc khung kim loại nhỏ thường được gắn chặt trước hiên các ngôi nhà cổ ở Anh. Công dụng của nó là để người đi đường cạo sạch bùn đất dính trên đế ủng sau khi đi dạo qua những vùng đồng quê lầy lội. 

  5. Tấm biển đồng (brass plate) khắc tên gắn trước cửa nhà là một chi tiết mang đậm dấu ấn xã hội Anh thời Victoria/Edwardian. Thường được dùng cho tư gia hoặc văn phòng của các chuyên gia danh giá như bác sĩ, luật sư.