CHƯƠNG VII: TIẾNG SÁO LÚC BÌNH MINH.
Ẩn mình trong vệt tối men theo bờ sông, tiếng chim chích liễu1 ríu rít cất lên khúc ca lảnh lót bé nhỏ. Dẫu đã qua mười giờ đêm, bầu trời dường như vẫn cố níu lấy chút quầng sáng mỏng manh cuối cùng còn vương lại của ngày tàn; và cái oi ả ngột ngạt của buổi chiều đã vỡ tan, bị cuốn trôi bởi cái chạm khẽ khàng từ những ngón tay mát rượi của đêm giữa hè ngắn ngủi. Chuột Chũi nằm dài trên bờ sông, vẫn còn thở hổn hển sau sự bức bối của một ngày chói chang không gợn bóng mây, kéo dài từ lúc bình minh đến tận hoàng hôn muộn màng, cậu đang chờ người bạn của mình trở về. Trước đó, cậu đã dạo chơi trên sông cùng vài người bạn, để Chuột Nước tự do đến cuộc hẹn từ lâu với Rái Cá; nhưng khi quay về, cậu chỉ thấy ngôi nhà tối om và vắng vẻ, chẳng có dấu vết nào của Chuột Nước-hẳn anh ấy đang thức khuya hàn huyên cùng người chiến hữu cũ. Trời vẫn còn quá nóng để chui vào trong nhà, nên cậu ngả lưng trên đám lá chút chít mát rượi, ngẫm nghĩ về ngày hôm qua, về những việc đã làm, và thấy mọi thứ trôi qua sao mà tuyệt đến thế.
Chẳng mấy chốc, tiếng bước chân nhẹ nhàng của Chuột Nước vang lên trên lớp cỏ khô ráo. "Ôi, ơn trời cho chút mát lành này!" anh thốt lên rồi ngồi phịch xuống, ánh mắt đăm chiêu nhìn xuống dòng sông, lặng lẽ chìm vào suy tư.
"Anh nán lại ăn tối chứ?" lát sau Chuột Chũi cất lời.
"Đành phải vậy thôi," Chuột Nước đáp. "Họ nhất quyết không cho tôi về sớm hơn. Cậu biết họ luôn hiếu khách thế nào mà. Suốt buổi, họ cố hết sức để làm tôi vui cho đến tận lúc tôi đi. Nhưng tôi lại thấy mình như một kẻ vô tâm trong suốt khoảng thời gian ấy, bởi tôi nhận ra rõ ràng họ đang rất muộn phiền, dù đã cố tình che giấu. Chuột Chũi à, tôi e là họ đang gặp rắc rối. Chú bé Portly lại mất tích rồi; và cậu thừa hiểu cha thằng bé tự hào về nó đến nhường nào, dẫu cậu ấy hiếm khi hé lời."
"Cái gì, đứa nhỏ ấy ư?" Chuột Chũi nhẹ nhàng trấn an. "Chà, cứ cho là vậy đi; nhưng sao phải quá lo lắng cơ chứ? Thằng bé lúc nào chẳng đi lang thang, đi lạc, rồi lại lò dò xuất hiện; nó khoái những chuyến phiêu lưu như thế mà. Nào có chuyện tồi tệ gì từng xảy ra với nó đâu. Mọi người quanh đây đều quen mặt và quý mến thằng bé, hệt như họ quý lão Rái Cá vậy. Anh cứ tin đi, chắc chắn sẽ có con vật nào đó tình cờ gặp và đưa nó về nhà bình an vô sự. Chà, chẳng phải chính chúng ta cũng từng tìm thấy thằng bé cách xa nhà hàng dặm, mà nó vẫn cứ điềm nhiên và vui vẻ đó sao!"
"Đúng là vậy; nhưng lần này thì nghiêm trọng hơn," Chuột Nước nghiêm giọng. "Thằng bé đã bặt tăm vài ngày nay rồi, nhà Rái Cá đã bổ đi tìm khắp nơi, sục sạo từ trên xuống dưới mà vẫn không thấy tăm hơi. Họ cũng đi hỏi han tất cả muông thú trong vòng nhiều dặm quanh đây, mà chẳng một ai biết chút gì về nó. Rõ ràng là Rái Cá đang sốt ruột hơn hẳn những gì cậu ấy thể hiện. Tôi có gặng hỏi và biết được rằng thằng bé Portly dạo này bơi chưa thạo lắm, và tôi đoán cậu ấy đang nghĩ đến cái đập nước. Dạo này nước vẫn đang đổ xuống ào ạt so với thời điểm này trong năm, mà chỗ đó thì lúc nào cũng có sức cám dỗ mãnh liệt với lũ trẻ. Lại còn có cả-chà, những cái bẫy và đủ thứ nguy hiểm khác-cậu biết rồi đấy. Rái Cá không phải kiểu người hay làm lu bù lên về con cái trước khi thực sự có chuyện. Thế mà bây giờ cậu ấy lại đang rất lo lắng. Lúc tôi về, cậu ấy bước ra ngoài cùng tôi-bảo là muốn hít thở chút không khí và vươn vai dãn cốt. Nhưng tôi nhìn thấu tâm can cậu ấy, thế nên tôi rào đón, dò hỏi, và cuối cùng cũng moi được mọi chuyện. Cậu ấy định dành cả đêm nay để canh gác chỗ khúc cạn qua sông2. Cậu biết cái chỗ ngày xưa người ta hay lội qua, vào cái thuở xa xăm trước khi có cây cầu ấy chứ?"
"Tôi biết rõ nơi đó," Chuột Chũi gật đầu. "Nhưng cớ sao Rái Cá lại chọn canh gác ở đó?"
"Chà, có vẻ như chính tại đó cậu ấy đã dạy Portly bài học bơi đầu đời," Chuột Nước rủ rỉ kể. "Ngay từ cái dải sỏi nông choèn gần bờ ấy. Cũng chính nơi đó cậu ấy đã dạy thằng bé câu cá, và cũng là nơi cậu nhóc Portly bắt được con cá đầu tiên trong đời, cái chiến tích mà nó vô cùng tự hào. Đứa trẻ mê tít chỗ đó, và Rái Cá cứ đinh ninh rằng, nếu nó lò dò tìm đường về từ cái xó xỉnh nào đó-nếu lúc này nó thực sự đang ở một nơi nào đó, thằng nhóc tội nghiệp-nó rất có thể sẽ nhắm hướng khúc cạn thân thương mà đi; hoặc lỡ nó tình cờ dạt ngang qua đó, nó sẽ nhớ ngay ra chốn cũ, rồi thể nào cũng dừng lại chơi đùa, có lẽ thế. Vậy nên đêm nào Rái Cá cũng ra đó canh gác-chỉ vì bấu víu vào một cơ may, cậu biết đấy, chỉ vì một cơ may nhỏ nhoi thôi!"
Họ chìm vào im lặng, cả hai tâm trí đều hướng về một hình ảnh-một con vật cô độc, lòng quặn thắt, đang ngồi thu lu bên khúc sông cạn, mòn mỏi dõi mắt ngóng chờ suốt cả một đêm thâu-chỉ vì một cơ may mỏng manh.
"Chà, chà," một lúc sau Chuột Nước lẩm bẩm, "tôi cho là chúng ta nên tính chuyện đi ngủ thôi." Dù miệng nói vậy nhưng anh chẳng buồn nhúc nhích.
"Chuột Nước này," Chuột Chũi lên tiếng, "tôi thực sự không thể nào leo lên giường, nhắm mắt lại và chẳng làm gì cả, ngay cả khi có vẻ như ta chẳng làm được gì. Chúng ta sẽ lấy thuyền ra và chèo ngược dòng. Tầm một tiếng nữa trăng sẽ lên, rồi chúng ta sẽ lùng sục cẩn thận hết mức có thể-dù sao đi nữa, vẫn tốt chán so với việc nằm dài trên giường và chẳng làm gì cả."
"Đúng chóc ý tôi," Chuột Nước hưởng ứng. "Dù sao thì đêm nay cũng chẳng phải cái đêm sinh ra để ngủ; rạng đông cũng sắp ló dạng rồi, và dọc đường chèo thuyền, biết đâu chúng ta lại nhặt nhạnh được chút tin tức gì đó về thằng bé từ những người hay dậy sớm."
Họ đẩy thuyền ra sông, và Chuột Nước cầm lấy đôi mái chèo, cẩn trọng khua nhẹ xuống mặt nước. Ra đến giữa dòng, một vệt sáng hẹp in hình bầu trời mờ ảo trải dài trước mắt; nhưng ở bất cứ nơi nào bóng râm từ bờ sông, bụi rậm hay cây cối phủ xuống, mặt nước lại trở nên đặc quánh, tối sẫm không khác gì đôi bờ, buộc Chuột Chũi phải dựa vào phán đoán mà điều hướng con thuyền. Dù màn đêm buông xuống tối tăm và vắng lặng, không gian vẫn tràn ngập những thanh âm nhỏ bé-tiếng ca hát, tiếng ríu rít và tiếng xào xạc. Đó là nhịp sống của một thế giới cư dân bé nhỏ đang thao thức và miệt mài hoạt động. Họ mải mê với công việc và tiếng gọi của mình xuyên suốt đêm thâu, chờ đến khi ánh bình minh cuối cùng cũng rọi xuống, đưa tất cả trở về với giấc ngủ xứng đáng. Ngay cả tiếng động của dòng chảy cũng trở nên rõ nét hơn ban ngày; những tiếng ùng ục và tiếng "cụp" vang lên thật bất ngờ và gần gũi. Đôi lúc, họ lại giật mình tưởng chừng như vừa nghe thấy một tiếng gọi rõ ràng, rành rọt từ một giọng nói có thật.
Đường chân trời in bóng sắc nét và cứng cáp trên vòm trời, và ở một góc xa xa, một mảng đen kịt hiện ra nổi bật trên nền ánh sáng bàng bạc đang lan rộng và lớn dần. Rồi cuối cùng, vượt qua rìa trái đất đang nín thở chờ đợi, vầng trăng nhô lên với vẻ uy nghi, chậm rãi cho đến khi hoàn toàn thoát khỏi đường chân trời, tự do tự tại trôi lơ lửng giữa không trung. Một lần nữa, mọi thứ lại hiện ra trước mắt họ-những đồng cỏ thênh thang, những khu vườn tĩnh lặng, và chính dòng sông trải dài từ bờ này sang bờ kia. Tất cả được phơi bày êm ả, gột rửa sạch bong mọi vẻ bí ẩn hay rùng rợn, rực rỡ chẳng kém gì ban ngày nhưng lại mang một sắc thái hoàn toàn khác biệt. Những chốn quen thuộc chào đón họ trong những lớp áo mới, như thể chúng vừa lén lút trút bỏ vẻ ngoài cũ kỹ để khoác lên bộ cánh tinh khôi, rồi lặng lẽ quay lại, e ấp mỉm cười chờ xem liệu mình có còn được nhận ra dưới dung mạo này hay không.
Buộc thuyền vào một gốc liễu, đôi bạn bước lên vương quốc bàng bạc tĩnh lặng ấy, kiên nhẫn rà soát từng bụi rậm, từng thân cây rỗng, cho đến những lạch nước, cống nhỏ, những con mương và cả những luồng nước đã cạn khô. Lại bước lên thuyền và băng qua sông, họ cứ thế mải miết ngược dòng. Từ trên cao, vầng trăng thanh bình, cô độc giữa bầu trời quang tạnh không một gợn mây, đã cố gắng đem hết ánh sáng nhạt nhòa của mình để soi đường cho cuộc tìm kiếm của họ. Cho đến khi thời khắc lụi tàn tìm đến, vầng trăng đành miễn cưỡng lặn xuống bờ cõi trái đất, bỏ lại họ giữa cánh đồng và dòng sông một lần nữa chìm vào màn đêm bí ẩn.
Rồi một sự chuyển biến chầm chậm bắt đầu tự hé lộ. Đường chân trời trở nên rõ nét hơn, vạn vật như cánh đồng và cây cối dần hiện ra trong tầm mắt, mang theo một vẻ ngoài khác lạ; tấm màn bí ẩn đang dần được rũ bỏ khỏi chúng. Một chú chim đột ngột cất tiếng hót, rồi lại chìm vào im lặng; một cơn gió nhẹ mơn man thổi tới, làm những đám sậy và cói xào xạc lay động. Chuột Nước, lúc này đang ngồi ở đuôi thuyền nhường cho Chuột Chũi chèo, bất ngờ ngồi thẳng dậy, dồn hết tâm trí để lắng nghe. Chuột Chũi-người chỉ đang khẽ khàng vung những nhát chèo để giữ cho chiếc thuyền trôi nhẹ trên mặt nước trong lúc cẩn thận quan sát hai bên bờ-tò mò quay sang nhìn anh bạn.
"Nó biến mất rồi!" Chuột Nước buông tiếng thở dài, lại ngả lưng ra phía sau chỗ ngồi. "Thật đẹp đẽ, kỳ lạ và mới mẻ làm sao. Nó trôi qua chóng vánh đến mức tôi gần như ước gì mình chưa từng nghe thấy. Nó đã đánh thức trong tôi một khát khao mãnh liệt và đau đớn đến nhường nào, và dường như chẳng có điều gì trên đời này đáng giá hơn việc được nghe lại thanh âm ấy, để được lắng nghe nó mãi mãi. Không! Nó lại vang lên kìa!" anh reo lên, mọi giác quan lại bừng tỉnh. Đắm chìm trong cõi mộng, anh rơi vào sự im lặng miên man như bị bỏ bùa mê.
"Giờ nó đang lướt qua và tôi bắt đầu không còn nghe rõ nữa," anh thì thầm sau đó. "Ôi Chuột Chũi! Vẻ đẹp của nó! Những thanh âm hân hoan ngập tràn niềm vui, tiếng gọi lảnh lót, trong trẻo và hạnh phúc của tiếng tiêu xa xăm! Thứ âm nhạc phi thường ấy, tôi chưa từng mường tượng ra trong mơ, và tiếng gọi ẩn chứa bên trong nó còn mạnh mẽ hơn cả sự ngọt ngào của giai điệu! Chèo đi, Chuột Chũi, chèo nhanh đi cậu! Vì thứ âm nhạc và tiếng gọi đó chắc hẳn là dành cho chúng ta."
Chuột Chũi, dẫu vô cùng thắc mắc, vẫn vâng lời. "Tôi chẳng nghe thấy gì cả," cậu nói, "chỉ có tiếng gió đang đùa nghịch giữa những đám sậy, khóm cói và rặng liễu gai mà thôi."
Chuột Nước chẳng màng trả lời, hoặc cũng có thể anh không hề nghe thấy. Say sưa, thăng hoa và run rẩy, mọi giác quan của anh bị chiếm đoạt hoàn toàn bởi thứ quyền năng thần thánh mới mẻ ấy. Nó đã tóm lấy linh hồn bất lực của anh, đu đưa và vỗ về, như một đứa trẻ sơ sinh yếu ớt nhưng ngập tràn hạnh phúc trong một vòng tay mạnh mẽ, vững chãi.
Giữa sự tĩnh lặng, Chuột Chũi vẫn đều đặn chèo thuyền, và chẳng mấy chốc, họ đến một ngã rẽ nơi dòng sông chia làm đôi, với một nhánh sông dài tĩnh mịch rẽ sang ngang. Bằng một cái hất đầu nhẹ nhàng, Chuột Nước-người từ lâu đã buông thõng sợi dây bánh lái-ra hiệu cho người chèo thuyền rẽ vào nhánh sông tĩnh lặng ấy. Thủy triều ánh sáng đang chầm chậm dâng lên ngày một cao, và giờ đây, họ đã có thể nhìn rõ những sắc màu rực rỡ của thảm hoa như được nạm ngọc ven mép nước.
"Rõ ràng hơn và gần hơn nữa," Chuột Nước sung sướng reo lên. "Giờ thì cậu phải nghe thấy rồi chứ! À-cuối cùng thì-tôi thấy cậu cũng nghe được rồi!"
Nín thở và lặng người đi, Chuột Chũi ngừng bặt tay chèo khi dòng chảy thánh thót của tiếng tiêu hân hoan ấy vỡ òa trên người cậu như một con sóng lớn, thộp lấy cậu, và chiếm đoạt cậu hoàn toàn. Cậu nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên má người đồng chí của mình, và cúi đầu thấu hiểu. Trong một khoảnh khắc, họ dừng lại chốn ấy, nơi những đám hoa chuông tím biếc viền quanh bờ sông khẽ lướt qua; rồi một tiếng gọi rõ ràng-một mệnh lệnh độc đoán song hành cùng giai điệu say đắm lòng người-đã áp đặt ý chí của nó lên Chuột Chũi. Một cách vô thức, cậu lại rướn người vung những mái chèo. Ánh sáng dần trở nên rực rỡ hơn, nhưng chẳng có chú chim nào cất tiếng hót như chúng vẫn thường làm lúc bình minh ló dạng; và nếu không nhờ thứ âm nhạc tuyệt trần kia, vạn vật đã chìm trong một cõi tĩnh lặng đến kỳ diệu.
Hai bên mạn thuyền, khi họ lướt về phía trước, lớp cỏ đồng nội phong phú trong buổi sáng hôm ấy dường như mang một vẻ tươi mát và xanh tươi vô song. Chưa bao giờ họ thấy những đóa hồng rực rỡ đến thế, những nhánh liễu thảo hoang dại đến thế, hay những bông râu dê3 lại tỏa hương ngào ngạt và lan xa đến thế. Rồi tiếng nước réo rắt từ một cái đập cản nước phía trước bắt đầu choán lấy không gian, và cả hai lờ mờ nhận ra rằng mình đang tiến rất gần đến điểm kết thúc-bất kể nơi đó ẩn chứa điều gì, chắc chắn nó đang chờ đợi cuộc viễn chinh của họ.
Tựa như một nửa vầng trăng khổng lồ phủ đầy bọt trắng, điểm xuyết những vệt sáng lấp lánh hòa cùng nhịp uốn lượn sáng rực của làn nước xanh, cái đập lớn đã giăng ngang nhánh sông từ bờ này sang bờ kia. Nó khuấy động toàn bộ bề mặt tĩnh lặng thành những vòng xoáy cuộn trào cùng những vệt bọt trôi lềnh bềnh, dìm tắt mọi âm thanh khác bằng tiếng ầm ầm trang nghiêm mà êm ái của mình. Ngay giữa dòng chảy, nằm gọn trong vòng tay dang rộng lấp lánh của cái đập nước là một hòn đảo nhỏ đang thả neo, được viền quanh bởi rặng liễu, bạch dương bạc và cây tống quán sủ4. Kín đáo, e ấp nhưng đầy ẩn ý, nó buông tấm màn sương che giấu mọi thứ bên trong, gìn giữ tất cả cho đến khi thời khắc thiêng liêng điểm, và cùng với đó là sự xuất hiện của những kẻ đã được cất tiếng gọi và lựa chọn.
Chậm rãi nhưng không một mảy may nghi ngờ hay chần chừ, trong một niềm kỳ vọng trang nghiêm, hai con vật rẽ qua làn nước đang cuồn cuộn vỡ tung để buộc thuyền vào dải ven bờ rực rỡ sắc hoa của hòn đảo. Giữa không gian tĩnh lặng, họ bước lên bờ, rẽ lối đi qua những thảm hoa, lớp cỏ tỏa hương ngát cùng những bụi rậm dẫn lên vùng đất bằng phẳng. Cứ thế, họ tiến bước cho đến khi đặt chân lên một bãi cỏ nhỏ xanh mướt đến diệu kỳ, được ôm trọn bởi những thức quả ngọt lành của chính Mẹ Thiên nhiên-táo dại, anh đào hoang và mận gai.
"Đây chính là nơi đã cất lên khúc hát trong giấc mơ của tôi, nơi thứ âm nhạc ấy đã vẫy gọi," Chuột Nước thì thầm, như thể đang chìm trong một cơn xuất thần. "Nơi đây, tại chốn linh thiêng này, nếu không phải nơi nào khác, chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy Ngài!"
Rồi đột nhiên, Chuột Chũi cảm thấy một Sự Kinh Sợ vĩ đại giáng xuống người mình, một nỗi kính sợ phi thường đến mức biến cơ bắp cậu thành nước, trĩu nặng đầu cậu xuống và cắm rễ đôi chân cậu xuống mặt đất. Đó không phải là nỗi kinh hoàng hoảng loạn - thực ra cậu đang ngập tràn trong cảm giác bình yên và hạnh phúc tột độ - mà là một sự choáng ngợp mãnh liệt bủa vây lấy cậu. Không cần phải ngước nhìn, cậu cũng thừa biết rằng một Sự Hiện Diện uy nghi tột bậc nào đó đang ở ngay sát bên. Khó khăn lắm, cậu mới có thể quay sang tìm người bạn đồng hành. Cậu thấy Chuột Nước đang đứng co rúm bên cạnh, hoàn toàn bị khuất phục và run lên bần bật. Sự tĩnh lặng tuyệt đối vẫn ngự trị giữa muôn vàn cành lá trĩu nặng bóng chim muông xung quanh họ; trong khi đó, ánh sáng rực rỡ cứ ngày một lớn dần.
Có lẽ Chuột Chũi sẽ chẳng bao giờ dám ngước mắt lên, thế nhưng, dẫu tiếng tiêu lúc này đã im bặt, âm vọng của lời kêu gọi và sự triệu tập dường như vẫn mang sức mạnh thống trị và đầy uy nghiêm. Cậu không tài nào cưỡng lại được, cho dù Thần Chết có đang chực chờ để giáng đòn kết liễu cậu ngay tức khắc, một khi đôi mắt phàm trần của cậu trót nhìn vào những điều huyền bí lẽ ra phải được cất giấu. Run rẩy, cậu tuân mệnh, ngẩng cái đầu khiêm nhường lên. Và rồi, giữa không gian trong trẻo tuyệt đối của khoảnh khắc bình minh vừa ló rạng, khi cả Mẹ Thiên nhiên, ửng hồng trong muôn vàn sắc màu rực rỡ khó tin, dường như nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng này, cậu đã nhìn thẳng vào đôi mắt của Vị Bạn Hiền và Người Giúp Đỡ. Cậu nhìn thấy đường vuốt ngược kiêu hãnh của cặp sừng cong, lấp lánh dưới ánh rạng đông ngày một bừng sáng. Cậu nhìn thấy chiếc mũi khoằm nghiêm nghị nằm giữa đôi mắt hiền từ đang cúi nhìn họ đầy hóm hỉnh, trong khi khóe miệng khuất dưới lớp râu rậm khẽ điểm một nụ cười mỉm. Cậu nhìn thấy những bó cơ gợn sóng trên cánh tay vắt ngang bộ ngực nở nang, với bàn tay thon dài mềm mại vẫn đang nán lại trên chiếc kèn pan5 vừa mới rời khỏi đôi môi hé mở. Cậu nhìn thấy những đường cong tuyệt mĩ của đôi chân đầy lông lá đang ngự một cách uy nghi, thanh thản trên thảm cỏ. Và cuối cùng, cậu nhìn thấy, rúc sâu vào giữa đôi guốc của Ngài6, say giấc nồng trong sự bình yên và mãn nguyện tột cùng, là hình hài bé nhỏ, tròn xoe, mập mạp, đầy ngây thơ của bé con nhà Rái Cá. Tất cả những hình ảnh ấy, cậu đã thu trọn vào tầm mắt chỉ trong một khoảnh khắc nín thở và mãnh liệt, sống động vươn lên giữa nền trời buổi sáng. Cậu vẫn sống khi chứng kiến cảnh tượng ấy; và chừng nào còn sống, cậu sẽ còn mãi kinh ngạc.
"Chuột Nước!" cậu cố thu hết chút hơi tàn để cất lên lời thì thầm run rẩy. "Anh có sợ không?"
"Sợ ư?" Chuột Nước lẩm bẩm, đôi mắt anh bừng sáng với một tình yêu thương vô ngôn. "Sợ ư! Sợ Ngài sao? Ôi, không bao giờ, không bao giờ! Thế nhưng-thế nhưng-Ôi, Chuột Chũi, tôi lại đang sợ hãi vô cùng!"
Thế rồi, cả hai con vật cúi rạp mình xuống mặt đất, gập đầu phủ phục và thành kính bái lạy.
Bất thần và tráng lệ, vầng thái dương vàng rực, vĩ đại vươn mình ngoi lên khỏi đường chân trời trước mặt. Những tia nắng đầu tiên phóng ngang qua những vạt đồng cỏ ngập nước bằng phẳng, chiếu thẳng vào mắt hai con vật, khiến chúng chói lòa. Khi ánh mắt có thể tỏ tường trở lại, Khải Tượng linh thiêng kia đã tan biến, để lại cả không gian ngập tràn trong khúc hoan ca của bầy chim đang rộn rã chào đón bình minh.
Giữa lúc họ trân trối ngơ ngác, chìm dần vào nỗi mất mát câm lặng khi từ từ nhận ra tất thảy những gì mình vừa được chiêm ngưỡng và cũng vừa vụt mất, một cơn gió nhẹ đỏng đảnh chợt nhảy múa từ mặt nước vút lên. Cơn gió tung hê những nhành bạch dương, rung lên những đóa hồng đẫm sương đêm, rồi nhẹ nhàng thổi qua, mơn trớn trên khuôn mặt họ. Và đi kèm với cái chạm mềm mại ấy là sự lãng quên tức thì. Bởi lẽ, đó chính là món quà cuối cùng, tuyệt vời nhất mà vị á thần nhân hậu cẩn trọng ban tặng cho những sinh linh mà Ngài đã hiển linh cứu giúp: món quà của sự lãng quên. Ngài ban phép ấy để ngăn ngừa một ký ức choáng ngợp cứ bám rễ và lớn dần, phủ bóng đen lên mọi niềm vui sướng và thú tiêu khiển bình dị. Ngài không muốn một ký ức ám ảnh, vĩ đại phá hỏng toàn bộ cuộc đời về sau của những con vật nhỏ bé vừa được cứu thoát khỏi cơn hoạn nạn, để chúng lại có thể sống hạnh phúc và vô tư lự như thuở ban đầu.
Chuột Chũi dụi mắt, nhìn chằm chằm vào Chuột Nước - người lúc này cũng đang ngơ ngác nhìn quanh với vẻ đầy bối rối. "Xin lỗi, anh vừa nói gì cơ, Chuột Nước?" cậu cất tiếng hỏi.
"Tôi nghĩ tôi chỉ đang bình phẩm," Chuột Nước chậm rãi đáp, "rằng đây là một nơi ẩn náu vô cùng lý tưởng, và nếu có nơi nào để thằng bé dừng chân, thì hẳn chúng sẽ tìm thấy nó ở đây. Ôi nhìn kìa! Chà, thằng bé ở đằng kia, anh bạn nhỏ của chúng ta!" Cùng với một tiếng reo mừng đầy sung sướng, anh nhào về phía Portly đang say giấc nồng.
Nhưng Chuột Chũi vẫn tần ngần đứng yên một lúc, chìm sâu vào dòng suy tưởng. Giống như một kẻ đột ngột bị đánh thức khỏi một giấc mộng tuyệt mỹ, cố gắng vùng vẫy để chắp vá lại từng mảnh ký ức, nhưng chẳng thể níu giữ được gì ngoài một cảm giác mờ ảo về vẻ đẹp của nó, ôi, vẻ đẹp huyền diệu làm sao! Cứ thế, cho đến khi đến lượt cảm giác ấy cũng nhạt nhòa đi, và kẻ mộng du cay đắng chấp nhận sự thức tỉnh lạnh lẽo, tàn nhẫn cùng tất thảy những hình phạt đi kèm với nó. Chuột Chũi cũng thế, sau khi vật lộn với ký ức vụn vỡ của mình trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cậu buồn bã lắc đầu và lững thững bước theo Chuột Nước.
Portly bừng tỉnh với một tiếng reo mừng rỡ, thằng bé vặn vẹo sung sướng khi nhận ra những người bạn của cha, những người đã chơi đùa cùng nó biết bao lần trong mấy ngày qua. Dẫu vậy, chỉ một thoáng sau, khuôn mặt nó bỗng trở nên ngẩn ngơ. Nó bắt đầu chạy vòng quanh, sục sạo khắp nơi, miệng cất lên những tiếng thút thít van nài. Hệt như một đứa trẻ ngoan ngoãn ngủ thiếp đi trong vòng tay êm ái của nhũ mẫu, để rồi khi thức giấc lại thấy mình bơ vơ giữa một chốn xa lạ. Đứa trẻ ấy cũng lùng sục từng góc nhà, lục lọi từng ngăn tủ, chạy nháo nhào từ phòng này sang phòng khác, mặc cho sự tuyệt vọng câm lặng cứ lớn dần trong tim. Portly cũng vậy, thằng bé sục sạo khắp hòn đảo, tìm kiếm kiên trì và không biết mỏi mệt, cho đến khi khoảnh khắc đen tối ập đến, buộc nó phải chấp nhận buông xuôi, ngồi thụp xuống và khóc lóc thảm thiết.
Chuột Chũi vội vã chạy đến để dỗ dành con vật nhỏ tội nghiệp; nhưng Chuột Nước lại nán bước, nhìn đăm đăm và đầy hoài nghi vào những dấu guốc rõ mồn một in hằn sâu trên thảm cỏ.
"Một-con vật vĩ đại-nào đó-đã ở đây," anh lầm bầm thật chậm rãi, chất chứa bao suy tư. Anh đứng đó ngẫm ngợi, ngẫm ngợi mãi; tâm trí anh dường như đang bị khuấy động một cách vô cùng kỳ lạ.
"Đi thôi, Chuột Nước!" Chuột Chũi cất tiếng gọi lớn. "Anh hãy nghĩ đến Rái Cá tội nghiệp, cậu ấy vẫn đang thức trắng để ngóng đợi chúng ta trên kia, ngay cạnh chỗ lội qua sông đấy!"
Chẳng mấy chốc, bé Portly đã nín khóc nhờ lời dỗ dành về một phần thưởng-một chuyến dạo chơi trên chiếc thuyền thật của chú Chuột Nước. Hai con vật dắt cậu nhóc ra bờ nước, cẩn thận đặt cậu ngồi an toàn giữa lòng thuyền, rồi ung dung khua chèo xuôi theo nhánh sông tĩnh lặng. Mặt trời lúc này đã lên cao, tỏa những tia nắng bỏng rát xuống vạn vật. Bầy chim muông hót líu lo tự tại, những đóa hoa dọc hai bên bờ khẽ mỉm cười và gật gù theo chiều gió. Nhưng không hiểu sao-cả Chuột Nước và Chuột Chũi đều có chung suy nghĩ-cảnh sắc dường như thiếu đi chút rực rỡ và lộng lẫy so với những gì họ nhớ rằng mình vừa mới nhìn thấy cách đây chưa lâu ở một nơi nào đó-dù họ chẳng thể nhớ nổi đó là đâu.
Khi vòng ra đến khúc sông chính, họ liền bẻ lái ngược dòng, hướng thẳng tới điểm hẹn nơi người bạn thân vẫn đang lặng lẽ ngóng trông. Tiến gần đến chỗ lội qua sông quen thuộc, Chuột Chũi đưa thuyền sát bờ. Cả hai nhấc bổng bé Portly đặt lên con đường kéo thuyền dọc bờ sông, dặn dò cậu nhóc tự bước đi cùng một cái vỗ lưng tạm biệt đầy trìu mến, rồi mới đẩy thuyền ra lại giữa dòng. Họ dõi mắt theo bóng dáng bé nhỏ đang lạch bạch bước đi với vẻ mặt vô cùng mãn nguyện và ra dáng quan trọng. Họ ngóng nhìn mãi cho đến khi thấy cái mõm nhỏ của chú nhóc bất chợt hếch lên, và những bước đi lạch bạch lóng ngóng bỗng vỡ òa thành một điệu chạy nước kiệu hối hả. Portly lao vụt đi, vừa rít lên the thé vừa uốn éo mừng rỡ khi nhận ra bóng dáng quen thuộc. Nhìn ngược lên dòng sông, họ thấy Rái Cá giật bắn mình, toàn thân căng cứng, choàng tỉnh từ vùng nước nông nơi cậu ta vẫn đang thu mình chờ đợi trong câm lặng. Văng vẳng vọng lại là tiếng kêu ngỡ ngàng và ngập tràn hạnh phúc khi Rái Cá chồm qua đám liễu gai, phóng thẳng lên bờ. Thấy vậy, Chuột Chũi vung nhát chèo mạnh mẽ, xoay mũi thuyền lại, mặc cho dòng nước ăm ắp đưa họ trôi xuôi về bất cứ nơi đâu nó muốn. Cuộc tìm kiếm của họ giờ đây đã khép lại trong niềm vui trọn vẹn.
"Tôi cảm thấy mệt mỏi một cách lạ thường, anh Chuột Nước ạ," Chuột Chũi thốt lên, uể oải tựa người vào mái chèo mặc cho chiếc thuyền tự do trôi dạt. "Có lẽ anh sẽ bảo do chúng ta thức trắng đêm; nhưng chuyện đó thì thấm tháp vào đâu. Mùa này trong năm, tuần nào chúng ta chẳng thức đêm như vậy cả mấy bận. Không phải đâu; tôi cứ có cảm giác như mình vừa trải qua một điều gì đó vô cùng kỳ diệu nhưng cũng hết sức đáng sợ, và mọi thứ chỉ vừa mới trôi qua thôi; vậy mà ngẫm lại, dường như chẳng có sự kiện gì đặc biệt vừa xảy ra cả."
"Hoặc một điều gì đó vô cùng đáng kinh ngạc, tuyệt mỹ và diễm lệ," Chuột Nước lầm bầm, ngả lưng ra sau rồi từ từ nhắm nghiền hai mắt. "Tôi cũng có chung cảm giác với cậu đấy, Chuột Chũi ạ; chỉ đơn giản là mệt lả người, dù đó chẳng phải là cái mệt mỏi về thể xác. Thật may phước vì chúng ta đang xuôi theo dòng nước, cứ để mặc nó đưa chúng ta về nhà. Chao ôi, được tận hưởng ánh nắng mặt trời rọi chiếu, sưởi ấm thấm sâu vào tận xương tủy mới sảng khoái làm sao! Và cậu hãy lắng tai nghe tiếng gió đang nô đùa trong đám sậy kìa!"
"Giống như âm nhạc vậy-thứ âm nhạc vọng lại từ chốn xa xăm," Chuột Chũi nói, gật gù trong cơn buồn ngủ ríu mắt.
"Tôi cũng đang nghĩ như vậy," Chuột Nước thì thầm, giọng mơ màng và uể oải. "Một bản nhạc khiêu vũ-thứ âm điệu lảnh lót lướt đi miên man không điểm dừng-nhưng dường như trong đó có cả ngôn từ-âm nhạc tan chảy vào ngôn ngữ, rồi lại nhẹ nhàng thoát thai khỏi chúng-tôi đã vô tình chộp được vài lời trong những nhịp ngắt quãng-để rồi giai điệu lại trở về với bản nhạc khiêu vũ ban đầu, và cuối cùng chẳng còn lại gì ngoài tiếng thì thầm mỏng manh, dịu êm của những khóm sậy."
"Tai anh thính hơn tôi rồi," Chuột Chũi rầu rĩ đáp. "Tôi chẳng thể bắt được những từ ngữ đó."
"Để tôi cố gắng truyền lại cho cậu nhé," Chuột Nước nhẹ nhàng nói, đôi mắt vẫn nhắm nghiền. "Giờ thì giai điệu lại đang chuyển hóa thành ngôn từ đây-mờ ảo nhưng vẫn rõ mồn một-Tránh cho sự kinh sợ chẳng thể mãi ngự trị-Biến những trò nô đùa của các ngươi thành muộn phiền dang dở-Các ngươi sẽ chứng kiến uy quyền của ta vào thời khắc được cứu rỗi-Nhưng rồi các ngươi sẽ lãng quên! Giờ thì những cây sậy đang nâng bổng lời ca ấy lên-lãng quên, lãng quên, chúng khẽ thở dài, và rồi giai điệu lụi tàn trong một tiếng xào xạc và lời thì thầm gió thoảng. Rồi giọng nói ấy lại vang lên-
"Tránh để xác thân không nhuốm máu và rách nát-Ta tự tay phá bung chiếc bẫy giăng sẵn rập rình-Khi ta tháo tung chiếc thòng lọng oan nghiệt, các ngươi có thể thoáng thấy bóng hình ta-Vì dẫu sao các ngươi chắc chắn cũng sẽ lãng quên! Chèo sát vào đi, Chuột Chũi, lại gần những đám sậy thêm chút nữa! Khó nghe quá, mỗi phút trôi qua âm điệu lại càng mờ dần đi.
"Là người cứu giúp và người chữa lành, ta vỗ về-Những sinh linh bé mọn vất vưởng trong khu rừng ẩm ướt-Những kẻ lạc bước ta tìm thấy, những vết thương ta tận tình rịt thuốc-Hãy bảo tất cả chúng rằng, hãy cứ lãng quên đi! Gần hơn chút nữa đi, Chuột Chũi, gần hơn! Không, vô ích rồi; khúc hát đã tan biến vào cuộc trò chuyện miên man của những cây sậy mất rồi."
"Nhưng những lời đó có nghĩa là gì cơ chứ?" Chuột Chũi tò mò vặn hỏi.
"Chuyện đó thì tôi chịu thôi," Chuột Nước đáp lời đầy mộc mạc. "Tôi chỉ vội truyền lại cho cậu ngay khi thanh âm ấy vừa lướt qua tai tôi. A! Giờ thì chúng lại ùa về, và lần này thật trọn vẹn và rõ mồn một! Lần này, cuối cùng thì, giai điệu ấy là thứ chân thực, không thể nhầm lẫn vào đâu được, vừa giản đơn-vừa say đắm-vừa hoàn hảo--"
"Chà, vậy hãy lắng nghe thử xem nào," Chuột Chũi hối thúc, sau khi đã kiên nhẫn chờ đợi thêm vài phút, cơ thể nửa tỉnh nửa mê dưới ánh nắng chói chang.
Nhưng đáp lại cậu chỉ là một khoảng không tĩnh lặng. Cậu đưa mắt nhìn sang, và chợt thấu hiểu sự im lặng ấy. Với một nụ cười ngập tràn niềm hạnh phúc mãn nguyện trên khuôn mặt, và thứ gì đó tựa như một nét mặt vẫn đang say sưa lắng nghe vương vấn đọng lại, anh chàng Chuột Nước mệt lử đã chìm sâu vào giấc nồng.
-
Chim chích liễu (Willow-wren hay Willow Warbler) là loài chim di cư bé nhỏ thường xuất hiện ở Anh vào mùa hè. Tiếng hót lảnh lót của chúng từ những rặng liễu ven sông là một trong những âm thanh đặc trưng, gợi lên sự thanh bình của hệ sinh thái ven bờ nước Anh. ↩
-
Nguyên gốc là 'ford'. Trước khi hệ thống cầu đường phát triển ở nông thôn Anh, những khúc sông cạn với đáy nhiều sỏi là nơi giao thông quan trọng cho xe cộ và súc vật qua lại. Nó mang ý nghĩa lịch sử về đời sống nông thôn cổ điển. ↩
-
Bông râu dê (Meadowsweet) là một loại thực vật hoang dã mọc phổ biến ở vùng đầm lầy và ven sông ngòi nước Anh. Loài hoa này có mùi hương ngọt ngào vô cùng đặc trưng, thường nở rộ vào giữa mùa hè, tạo nên không khí đồng quê êm đềm. ↩
-
Cây tống quán sủ (Alder) là loài cây gỗ ưa ẩm thường mọc ven các con sông ở châu Âu. Rễ của chúng đan xen dưới nước tạo thành nơi trú ẩn hoàn hảo và an toàn cho nhiều sinh vật thủy sinh, đặc biệt là rái cá. ↩
-
Kèn pan (pan-pipes hay syrinx) là một nhạc cụ cổ đại gồm nhiều ống sậy có độ dài ngắn khác nhau ghép lại. Trong thần thoại Hy Lạp, nó là nhạc cụ gắn liền với hình tượng thần Pan - vị thần bảo hộ của tự nhiên, đồng quê và các loài động vật hoang dã. ↩
-
Nguyên gốc dùng từ 'hooves' (móng guốc). Theo thần thoại, thần Pan có hình dáng nửa người nửa dê với phần dưới là đôi chân dê. Sự xuất hiện của 'đôi guốc' là chỉ dấu đậm nét nhất về danh tính của Vị Á thần đang che chở cho vạn vật. ↩
VII. THE PIPER AT THE GATES OF DAWN
The Willow-Wren was twittering his thin little song, hidden himself in the dark selvedge of the river bank. Though it was past ten o’clock at night, the sky still clung to and retained some lingering skirts of light from the departed day; and the sullen heats of the torrid afternoon broke up and rolled away at the dispersing touch of the cool fingers of the short midsummer night. Mole lay stretched on the bank, still panting from the stress of the fierce day that had been cloudless from dawn to late sunset, and waited for his friend to return. He had been on the river with some companions, leaving the Water Rat free to keep a engagement of long standing with Otter; and he had come back to find the house dark and deserted, and no sign of Rat, who was doubtless keeping it up late with his old comrade. It was still too hot to think of staying indoors, so he lay on some cool dock-leaves, and thought over the past day and its doings, and how very good they all had been.
The Rat’s light footfall was presently heard approaching over the parched grass. “O, the blessed coolness!” he said, and sat down, gazing thoughtfully into the river, silent and pre-occupied.
“You stayed to supper, of course?” said the Mole presently.
“Simply had to,” said the Rat. “They wouldn’t hear of my going before. You know how kind they always are. And they made things as jolly for me as ever they could, right up to the moment I left. But I felt a brute all the time, as it was clear to me they were very unhappy, though they tried to hide it. Mole, I’m afraid they’re in trouble. Little Portly is missing again; and you know what a lot his father thinks of him, though he never says much about it.”
“What, that child?” said the Mole lightly. “Well, suppose he is; why worry about it? He’s always straying off and getting lost, and turning up again; he’s so adventurous. But no harm ever happens to him. Everybody hereabouts knows him and likes him, just as they do old Otter, and you may be sure some animal or other will come across him and bring him back again all right. Why, we’ve found him ourselves, miles from home, and quite self-possessed and cheerful!”
“Yes; but this time it’s more serious,” said the Rat gravely. “He’s been missing for some days now, and the Otters have hunted everywhere, high and low, without finding the slightest trace. And they’ve asked every animal, too, for miles around, and no one knows anything about him. Otter’s evidently more anxious than he’ll admit. I got out of him that young Portly hasn’t learnt to swim very well yet, and I can see he’s thinking of the weir. There’s a lot of water coming down still, considering the time of the year, and the place always had a fascination for the child. And then there are-well, traps and things-you know. Otter’s not the fellow to be nervous about any son of his before it’s time. And now he is nervous. When I left, he came out with me-said he wanted some air, and talked about stretching his legs. But I could see it wasn’t that, so I drew him out and pumped him, and got it all from him at last. He was going to spend the night watching by the ford. You know the place where the old ford used to be, in by-gone days before they built the bridge?”
“I know it well,” said the Mole. “But why should Otter choose to watch there?”
“Well, it seems that it was there he gave Portly his first swimming-lesson,” continued the Rat. “From that shallow, gravelly spit near the bank. And it was there he used to teach him fishing, and there young Portly caught his first fish, of which he was so very proud. The child loved the spot, and Otter thinks that if he came wandering back from wherever he is-if he is anywhere by this time, poor little chap-he might make for the ford he was so fond of; or if he came across it he’d remember it well, and stop there and play, perhaps. So Otter goes there every night and watches-on the chance, you know, just on the chance!”
They were silent for a time, both thinking of the same thing-the lonely, heart-sore animal, crouched by the ford, watching and waiting, the long night through-on the chance.
“Well, well,” said the Rat presently, “I suppose we ought to be thinking about turning in.” But he never offered to move.
“Rat,” said the Mole, “I simply can’t go and turn in, and go to sleep, and do nothing, even though there doesn’t seem to be anything to be done. We’ll get the boat out, and paddle up stream. The moon will be up in an hour or so, and then we will search as well as we can-anyhow, it will be better than going to bed and doing nothing.”
“Just what I was thinking myself,” said the Rat. “It’s not the sort of night for bed anyhow; and daybreak is not so very far off, and then we may pick up some news of him from early risers as we go along.”
They got the boat out, and the Rat took the sculls, paddling with caution. Out in midstream, there was a clear, narrow track that faintly reflected the sky; but wherever shadows fell on the water from bank, bush, or tree, they were as solid to all appearance as the banks themselves, and the Mole had to steer with judgment accordingly. Dark and deserted as it was, the night was full of small noises, song and chatter and rustling, telling of the busy little population who were up and about, plying their trades and vocations through the night till sunshine should fall on them at last and send them off to their well-earned repose. The water’s own noises, too, were more apparent than by day, its gurglings and “cloops” more unexpected and near at hand; and constantly they started at what seemed a sudden clear call from an actual articulate voice.
The line of the horizon was clear and hard against the sky, and in one particular quarter it showed black against a silvery climbing phosphorescence that grew and grew. At last, over the rim of the waiting earth the moon lifted with slow majesty till it swung clear of the horizon and rode off, free of moorings; and once more they began to see surfaces-meadows wide-spread, and quiet gardens, and the river itself from bank to bank, all softly disclosed, all washed clean of mystery and terror, all radiant again as by day, but with a difference that was tremendous. Their old haunts greeted them again in other raiment, as if they had slipped away and put on this pure new apparel and come quietly back, smiling as they shyly waited to see if they would be recognised again under it.
Fastening their boat to a willow, the friends landed in this silent, silver kingdom, and patiently explored the hedges, the hollow trees, the runnels and their little culverts, the ditches and dry water-ways. Embarking again and crossing over, they worked their way up the stream in this manner, while the moon, serene and detached in a cloudless sky, did what she could, though so far off, to help them in their quest; till her hour came and she sank earthwards reluctantly, and left them, and mystery once more held field and river.
Then a change began slowly to declare itself. The horizon became clearer, field and tree came more into sight, and somehow with a different look; the mystery began to drop away from them. A bird piped suddenly, and was still; and a light breeze sprang up and set the reeds and bulrushes rustling. Rat, who was in the stern of the boat, while Mole sculled, sat up suddenly and listened with a passionate intentness. Mole, who with gentle strokes was just keeping the boat moving while he scanned the banks with care, looked at him with curiosity.
“It’s gone!” sighed the Rat, sinking back in his seat again. “So beautiful and strange and new. Since it was to end so soon, I almost wish I had never heard it. For it has roused a longing in me that is pain, and nothing seems worth while but just to hear that sound once more and go on listening to it for ever. No! There it is again!” he cried, alert once more. Entranced, he was silent for a long space, spellbound.
“Now it passes on and I begin to lose it,” he said presently. “O Mole! the beauty of it! The merry bubble and joy, the thin, clear, happy call of the distant piping! Such music I never dreamed of, and the call in it is stronger even than the music is sweet! Row on, Mole, row! For the music and the call must be for us.”
The Mole, greatly wondering, obeyed. “I hear nothing myself,” he said, “but the wind playing in the reeds and rushes and osiers.”
The Rat never answered, if indeed he heard. Rapt, transported, trembling, he was possessed in all his senses by this new divine thing that caught up his helpless soul and swung and dandled it, a powerless but happy infant in a strong sustaining grasp.
In silence Mole rowed steadily, and soon they came to a point where the river divided, a long backwater branching off to one side. With a slight movement of his head Rat, who had long dropped the rudder-lines, directed the rower to take the backwater. The creeping tide of light gained and gained, and now they could see the colour of the flowers that gemmed the water’s edge.
“Clearer and nearer still,” cried the Rat joyously. “Now you must surely hear it! Ah-at last-I see you do!”
Breathless and transfixed the Mole stopped rowing as the liquid run of that glad piping broke on him like a wave, caught him up, and possessed him utterly. He saw the tears on his comrade’s cheeks, and bowed his head and understood. For a space they hung there, brushed by the purple loose-strife that fringed the bank; then the clear imperious summons that marched hand-in-hand with the intoxicating melody imposed its will on Mole, and mechanically he bent to his oars again. And the light grew steadily stronger, but no birds sang as they were wont to do at the approach of dawn; and but for the heavenly music all was marvellously still.
On either side of them, as they glided onwards, the rich meadow-grass seemed that morning of a freshness and a greenness unsurpassable. Never had they noticed the roses so vivid, the willow-herb so riotous, the meadow-sweet so odorous and pervading. Then the murmur of the approaching weir began to hold the air, and they felt a consciousness that they were nearing the end, whatever it might be, that surely awaited their expedition.
A wide half-circle of foam and glinting lights and shining shoulders of green water, the great weir closed the backwater from bank to bank, troubled all the quiet surface with twirling eddies and floating foam-streaks, and deadened all other sounds with its solemn and soothing rumble. In midmost of the stream, embraced in the weir’s shimmering arm-spread, a small island lay anchored, fringed close with willow and silver birch and alder. Reserved, shy, but full of significance, it hid whatever it might hold behind a veil, keeping it till the hour should come, and, with the hour, those who were called and chosen.
Slowly, but with no doubt or hesitation whatever, and in something of a solemn expectancy, the two animals passed through the broken tumultuous water and moored their boat at the flowery margin of the island. In silence they landed, and pushed through the blossom and scented herbage and undergrowth that led up to the level ground, till they stood on a little lawn of a marvellous green, set round with Nature’s own orchard-trees-crab-apple, wild cherry, and sloe.
“This is the place of my song-dream, the place the music played to me,” whispered the Rat, as if in a trance. “Here, in this holy place, here if anywhere, surely we shall find Him!”
Then suddenly the Mole felt a great Awe fall upon him, an awe that turned his muscles to water, bowed his head, and rooted his feet to the ground. It was no panic terror-indeed he felt wonderfully at peace and happy-but it was an awe that smote and held him and, without seeing, he knew it could only mean that some august Presence was very, very near. With difficulty he turned to look for his friend and saw him at his side cowed, stricken, and trembling violently. And still there was utter silence in the populous bird-haunted branches around them; and still the light grew and grew.
Perhaps he would never have dared to raise his eyes, but that, though the piping was now hushed, the call and the summons seemed still dominant and imperious. He might not refuse, were Death himself waiting to strike him instantly, once he had looked with mortal eye on things rightly kept hidden. Trembling he obeyed, and raised his humble head; and then, in that utter clearness of the imminent dawn, while Nature, flushed with fullness of incredible colour, seemed to hold her breath for the event, he looked in the very eyes of the Friend and Helper; saw the backward sweep of the curved horns, gleaming in the growing daylight; saw the stern, hooked nose between the kindly eyes that were looking down on them humourously, while the bearded mouth broke into a half-smile at the corners; saw the rippling muscles on the arm that lay across the broad chest, the long supple hand still holding the pan-pipes only just fallen away from the parted lips; saw the splendid curves of the shaggy limbs disposed in majestic ease on the sward; saw, last of all, nestling between his very hooves, sleeping soundly in entire peace and contentment, the little, round, podgy, childish form of the baby otter. All this he saw, for one moment breathless and intense, vivid on the morning sky; and still, as he looked, he lived; and still, as he lived, he wondered.
“Rat!” he found breath to whisper, shaking. “Are you afraid?”
“Afraid?” murmured the Rat, his eyes shining with unutterable love. “Afraid! Of Him? O, never, never! And yet-and yet-O, Mole, I am afraid!”
Then the two animals, crouching to the earth, bowed their heads and did worship.
Sudden and magnificent, the sun’s broad golden disc showed itself over the horizon facing them; and the first rays, shooting across the level water-meadows, took the animals full in the eyes and dazzled them. When they were able to look once more, the Vision had vanished, and the air was full of the carol of birds that hailed the dawn.
As they stared blankly in dumb misery deepening as they slowly realised all they had seen and all they had lost, a capricious little breeze, dancing up from the surface of the water, tossed the aspens, shook the dewy roses and blew lightly and caressingly in their faces; and with its soft touch came instant oblivion. For this is the last best gift that the kindly demi-god is careful to bestow on those to whom he has revealed himself in their helping: the gift of forgetfulness. Lest the awful remembrance should remain and grow, and overshadow mirth and pleasure, and the great haunting memory should spoil all the after-lives of little animals helped out of difficulties, in order that they should be happy and lighthearted as before.
Mole rubbed his eyes and stared at Rat, who was looking about him in a puzzled sort of way. “I beg your pardon; what did you say, Rat?” he asked.
“I think I was only remarking,” said Rat slowly, “that this was the right sort of place, and that here, if anywhere, we should find him. And look! Why, there he is, the little fellow!” And with a cry of delight he ran towards the slumbering Portly.
But Mole stood still a moment, held in thought. As one wakened suddenly from a beautiful dream, who struggles to recall it, and can re-capture nothing but a dim sense of the beauty of it, the beauty! Till that, too, fades away in its turn, and the dreamer bitterly accepts the hard, cold waking and all its penalties; so Mole, after struggling with his memory for a brief space, shook his head sadly and followed the Rat.
Portly woke up with a joyous squeak, and wriggled with pleasure at the sight of his father’s friends, who had played with him so often in past days. In a moment, however, his face grew blank, and he fell to hunting round in a circle with pleading whine. As a child that has fallen happily asleep in its nurse’s arms, and wakes to find itself alone and laid in a strange place, and searches corners and cupboards, and runs from room to room, despair growing silently in its heart, even so Portly searched the island and searched, dogged and unwearying, till at last the black moment came for giving it up, and sitting down and crying bitterly.
The Mole ran quickly to comfort the little animal; but Rat, lingering, looked long and doubtfully at certain hoof-marks deep in the sward.
“Some-great-animal-has been here,” he murmured slowly and thoughtfully; and stood musing, musing; his mind strangely stirred.
“Come along, Rat!” called the Mole. “Think of poor Otter, waiting up there by the ford!”
Portly had soon been comforted by the promise of a treat-a jaunt on the river in Mr. Rat’s real boat; and the two animals conducted him to the water’s side, placed him securely between them in the bottom of the boat, and paddled off down the backwater. The sun was fully up by now, and hot on them, birds sang lustily and without restraint, and flowers smiled and nodded from either bank, but somehow-so thought the animals-with less of richness and blaze of colour than they seemed to remember seeing quite recently somewhere-they wondered where.
The main river reached again, they turned the boat’s head upstream, towards the point where they knew their friend was keeping his lonely vigil. As they drew near the familiar ford, the Mole took the boat in to the bank, and they lifted Portly out and set him on his legs on the tow-path, gave him his marching orders and a friendly farewell pat on the back, and shoved out into mid-stream. They watched the little animal as he waddled along the path contentedly and with importance; watched him till they saw his muzzle suddenly lift and his waddle break into a clumsy amble as he quickened his pace with shrill whines and wriggles of recognition. Looking up the river, they could see Otter start up, tense and rigid, from out of the shallows where he crouched in dumb patience, and could hear his amazed and joyous bark as he bounded up through the osiers on to the path. Then the Mole, with a strong pull on one oar, swung the boat round and let the full stream bear them down again whither it would, their quest now happily ended.
“I feel strangely tired, Rat,” said the Mole, leaning wearily over his oars as the boat drifted. “It’s being up all night, you’ll say, perhaps; but that’s nothing. We do as much half the nights of the week, at this time of the year. No; I feel as if I had been through something very exciting and rather terrible, and it was just over; and yet nothing particular has happened.”
“Or something very surprising and splendid and beautiful,” murmured the Rat, leaning back and closing his eyes. “I feel just as you do, Mole; simply dead tired, though not body tired. It’s lucky we’ve got the stream with us, to take us home. Isn’t it jolly to feel the sun again, soaking into one’s bones! And hark to the wind playing in the reeds!”
“It’s like music-far away music,” said the Mole nodding drowsily.
“So I was thinking,” murmured the Rat, dreamful and languid. “Dance-music-the lilting sort that runs on without a stop-but with words in it, too-it passes into words and out of them again-I catch them at intervals-then it is dance-music once more, and then nothing but the reeds’ soft thin whispering.”
“You hear better than I,” said the Mole sadly. “I cannot catch the words.”
“Let me try and give you them,” said the Rat softly, his eyes still closed. “Now it is turning into words again-faint but clear-Lest the awe should dwell-And turn your frolic to fret-You shall look on my power at the helping hour-But then you shall forget! Now the reeds take it up-forget, forget, they sigh, and it dies away in a rustle and a whisper. Then the voice returns-
“Lest limbs be reddened and rent-I spring the trap that is set-As I loose the snare you may glimpse me there-For surely you shall forget! Row nearer, Mole, nearer to the reeds! It is hard to catch, and grows each minute fainter.
“Helper and healer, I cheer-Small waifs in the woodland wet-Strays I find in it, wounds I bind in it-Bidding them all forget! Nearer, Mole, nearer! No, it is no good; the song has died away into reed-talk.”
“But what do the words mean?” asked the wondering Mole.
“That I do not know,” said the Rat simply. “I passed them on to you as they reached me. Ah! now they return again, and this time full and clear! This time, at last, it is the real, the unmistakable thing, simple-passionate-perfect--”
“Well, let’s have it, then,” said the Mole, after he had waited patiently for a few minutes, half-dozing in the hot sun.
But no answer came. He looked, and understood the silence. With a smile of much happiness on his face, and something of a listening look still lingering there, the weary Rat was fast asleep.