CHƯƠNG XI: "NHƯ GIÔNG BÃO MÙA HÈ, NƯỚC MẮT CẬU TUÔN RƠI".
Chuột Nước chìa một cái chân nhỏ nhắn, gọn gàng màu nâu ra, túm chặt lấy gáy Cóc, và ra sức kéo một cái thật mạnh. Thế là Cóc, sũng nước và nặng trĩu, được kéo lên từ từ nhưng chắc chắn qua mép hố. Cuối cùng, cậu cũng đứng an toàn và lành lặn trong sảnh. Dĩ nhiên là bùn đất và rong rêu dính đầy người, nước thì ròng ròng chảy thành vũng, nhưng cậu lại vui vẻ và hăng hái như xưa. Giờ đây, cậu đã lại được đứng trong ngôi nhà của một người bạn. Những màn trốn tránh, luồn lách đã qua đi. Cậu có thể rũ bỏ cái lớp cải trang chẳng hề xứng tầm với thân phận mình, thứ đã bắt cậu nhọc công đóng kịch đến mệt mỏi.
"Ôi, Chuột Nước ơi!" cậu thốt lên. "Cậu không tưởng tượng nổi tớ đã trải qua những chuyện gì kể từ lần cuối tớ gặp cậu đâu! Những thử thách ngập đầu, những đau khổ tột cùng, và tớ đã gánh chịu tất cả với một phong thái thật cao cả! Rồi những cuộc đào tẩu ngoạn mục, những màn cải trang xuất thần, những chiêu trò luồn cúi tinh vi, tất cả đều được tớ lên kế hoạch và thực hiện tài tình! Tớ bị tống vào ngục-và hiển nhiên là đã thoát ra được! Bị ném xuống kênh đào-rồi tự bơi vào bờ! Cuỗm một con ngựa-bán lấy một khoản tiền khẳm! Xỏ mũi tất thảy mọi người-khiến bọn họ răm rắp làm theo ý tớ! Ồ, tớ đúng là một con Cóc thông minh xuất chúng, không chê vào đâu được! Cậu đoán thử xem chiến tích cuối cùng của tớ là gì nào? Cứ đợi đấy tớ kể cho mà nghe--"
"Cóc," Chuột Nước nghiêm giọng gắt, "cậu hãy đi lên lầu ngay lập tức. Cởi ngay cái mớ giẻ rách bằng vải thô trông như tàn dư của một bà thợ giặt nào đó ra, tắm rửa thật sạch sẽ, rồi lấy mấy bộ quần áo của tôi mà mặc vào. Và hãy cố bước xuống đây với bộ dạng của một quý ngài nếu cậu có thể; bởi vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi chưa từng thấy một sinh vật nào xộc xệch, nhếch nhác và khả nghi hơn cậu đâu! Nào, dẹp ngay thói huênh hoang cãi lý đi và nhanh cái chân lên! Lát nữa tôi có chuyện phải nói với cậu đấy!"
Ban đầu Cóc định nán lại cãi bướng vài câu. Cậu đã quá ngán ngẩm cảnh bị sai bảo hết lần này đến lần khác hồi còn nằm ấp trong tù, và giờ mọi chuyện lại lặp lại; mà lại từ miệng một con Chuột cơ chứ! Tuy nhiên, khi bắt gặp bộ dạng phản chiếu của chính mình trong chiếc gương treo trên giá để mũ-với chiếc mũ trùm đầu màu đen cũ rích đội lệch xệch lố lăng che mất một con mắt-cậu liền đổi ý. Cóc lẳng lặng đi lên phòng thay đồ của Chuột Nước với dáng vẻ vô cùng nhún nhường. Tại đó, cậu chà xát, kỳ cọ kỹ lưỡng, thay bộ đồ mới, rồi đứng chết trân hồi lâu trước gương, say sưa ngắm nghía bản thân với vẻ tự hào mãn nguyện. Cậu thầm nghĩ đám người kia hẳn phải là những tên đại ngốc thì mới lầm tưởng cậu-dù chỉ một giây-là một mụ thợ giặt bần hàn.
Đến khi cậu bước xuống lầu, bữa trưa đã được dọn sẵn trên bàn. Cóc vô cùng sung sướng khi thấy đồ ăn, bởi cậu đã trải qua vài phen kinh hồn bạt vía và hao tổn sức lực khá nhiều kể từ bữa sáng tuyệt hảo mà người phụ nữ Digan1 chiêu đãi. Trong lúc dùng bữa, Cóc kể cho Chuột Nước nghe tường tận những cuộc phiêu lưu của mình, chủ yếu tô vẽ sự thông minh, tài ứng biến nhạy bén trong tình huống khẩn cấp, cùng độ khôn ngoan mưu mẹo của cậu trong những tình thế ngặt nghèo; cậu ra sức ba hoa cốt để chứng tỏ mình vừa trải qua một chuyến đi chơi rực rỡ và đầy màu sắc. Nhưng cậu càng luyên thuyên khoác lác, Chuột Nước lại càng trở nên nghiêm nghị và trầm ngâm.
Đến khi Cóc rốt cuộc cũng cạn lời, một sự im lặng bao trùm trong thoáng chốc. Rồi Chuột Nước lên tiếng: "Này Cóc, tôi không muốn làm cậu buồn bực sau tất thảy những gì cậu đã nếm trải; nhưng, nghiêm túc nhé, cậu không thấy bản thân đã hành xử như một thằng ngốc tồi tệ sao? Chính miệng cậu vừa thừa nhận đấy, cậu đã bị còng tay, bị gông cùm, bị bỏ đói, bị truy nã, bị dọa cho khiếp vía, bị lăng nhục, bị lôi ra làm trò cười, và bị ném xuống nước một cách nhục nhã-mà lại bởi một người đàn bà! Thế thì có gì vui vẻ trong chuyện đó? Trò đùa ấy hay ho ở chỗ nào? Và tất cả chỉ vì cậu nhất quyết đòi đi ăn cắp một chiếc ô tô. Cậu thừa biết mình chưa bao giờ gặp điều gì ngoài rắc rối với ô tô, kể từ giây phút đầu tiên cậu trố mắt nhìn thấy một chiếc. Nhưng nếu cậu muốn dính líu đến chúng-như cậu vẫn thường làm chỉ năm phút sau khi khởi hành-thì tại sao lại phải ăn cắp? Cứ tự rước lấy tàn tật đi, nếu cậu thấy thế là thú vị; cứ làm cho phá sản đi, để đổi gió, nếu cậu đã quyết tâm: nhưng tại sao lại chọn làm một tên tù? Đến bao giờ cậu mới chịu cư xử có lý trí, nghĩ đến bạn bè một chút, và cố gắng làm một điều gì đó để họ được nở mày nở mặt? Cậu nghĩ tôi cảm thấy sung sướng lắm sao khi đi dạo vòng quanh và phải nghe những con vật khác xì xào rằng tôi là cái gã chơi thân với đám tù tội?"
Thực ra, có một điểm rất đáng tự hào trong bản tính của Cóc: cậu là một con vật vô cùng tốt bụng và chẳng bao giờ để bụng chuyện bị những người bạn chân chính mắng mỏ. Hơn nữa, dù có cố chấp đến đâu, cậu vẫn luôn biết cách nhìn nhận vấn đề từ góc độ khác. Vì vậy, trong khi Chuột Nước đang thao thao bất tuyệt với giọng vô cùng nghiêm túc, cậu cứ tự nhủ một cách đầy nổi loạn-"Nhưng chuyện đó rất vui mà! Vô cùng thú vị!"-và liên tục phát ra những tiếng động kìm nén kỳ lạ trong cuống họng như k-i-ck-ck-ck, và poop-p-p, cùng những âm thanh nghe như tiếng khịt mũi bị bóp nghẹt hay tiếng bật nắp chai soda. Thế nhưng đến khi Chuột Nước dứt lời, cậu lại thở dài thườn thượt. Cậu nói, với một vẻ ngoan ngoãn và nhún nhường đáng ngạc nhiên: "Cậu nói chí lý lắm, Chuột Nước ạ! Lúc nào cậu cũng thấu tình đạt lý như thế cả! Đúng vậy, tớ là một thằng ngốc già nua, kiêu ngạo, tớ hoàn toàn nhận ra điều đó; nhưng từ giờ tớ sẽ làm một con Cóc ngoan, không dở chứng như thế nữa. Còn về những chiếc ô tô, tớ chẳng thiết tha gì đến chúng nữa kể từ cú lặn ngụp cuối cùng dưới dòng sông kia của cậu. Thú thật là, trong lúc đang đu bám vào mép hố nhà cậu và cố thở lấy thở để, tớ bỗng lóe lên một ý tưởng-một ý tưởng thực sự xuất chúng-về những chiếc xuồng máy-kìa, kìa! Đừng có bực mình thế, anh bạn già, đừng dậm chân cộc cộc và làm đổ đồ đạc như thế chứ; chỉ là một ý nghĩ thôi mà, chúng ta sẽ không nói thêm nửa lời về nó nữa. Chúng ta sẽ uống cà phê, và hút một điếu xì gà, trò chuyện nhẹ nhàng một lát, rồi tớ sẽ thong thả tản bộ về Dinh thự Cóc. Tớ sẽ khoác lại bộ cánh của chính mình, và bắt đầu lại mọi thứ theo cách cũ. Tớ đã trải qua quá đủ các cuộc phiêu lưu rồi. Tớ sẽ sống một cuộc đời yên bình, ổn định, đáng kính, loay hoay chăm chút cơ ngơi của tớ, cải tạo nó, và thỉnh thoảng làm đôi chút việc vườn tược cây cối. Sẽ luôn có một bữa tối tươm tất chờ đón bạn bè tớ mỗi khi họ ghé thăm; và tớ sẽ sắm một cỗ xe ngựa kéo để dong ruổi khắp các miền quê, giống hệt như tớ đã từng làm trong những tháng ngày tươi đẹp thuở trước, khi tớ chưa bị sự bồn chồn hành hạ và muốn làm những chuyện động trời."
"Thong thả tản bộ về Dinh thự Cóc ư?" Chuột Nước kêu lên, vô cùng kích động. "Cậu đang lảm nhảm cái quái gì vậy? Ý cậu là cậu vẫn chưa nghe tin gì sao?"
"Nghe tin gì cơ?" Cóc hỏi, mặt tái mét. "Nói tiếp đi, Chuột Nước! Nhanh lên! Đừng giấu tớ! Tớ chưa nghe chuyện gì cơ?"
"Cậu định nói với tôi là," Chuột Nước hét lên, dùng nắm đấm nhỏ xíu nện thùm thụp xuống mặt bàn, "cậu chưa nghe ngóng được chút tin tức gì về bọn Chồn Tuyết và Chồn Cà Phê ư?"
"Cái gì, bọn ranh con Khu Rừng Hoang ư?" Cóc kêu lên, tay chân run rẩy lẩy bẩy. "Chưa, chưa một lời nào! Bọn chúng đã làm gì?"
"-Và bọn chúng đã ập đến và chiếm đoạt Dinh thự Cóc ra sao ư?" Chuột Nước nói tiếp.
Cóc chống khuỷu tay lên bàn, tì cằm lên hai bàn tay trước; một giọt nước mắt to tướng dâng lên trong mỗi hốc mắt cậu, trào ra và rơi tõm xuống bàn, tõm! tõm!
"Kể tiếp đi, Chuột Nước," một lát sau cậu lầm bầm; "hãy kể tớ nghe mọi chuyện. Điều tồi tệ nhất đã qua rồi. Tớ lại trở thành một con vật bình thường. Tớ có thể chịu đựng được."
"Khi cậu-vướng vào-cái-cái rắc rối đó của cậu," Chuột Nước chậm rãi nói, từng chữ rành rọt; "ý tôi là, khi cậu-biến mất khỏi xã hội một thời gian, vì một sự hiểu lầm về một-một cỗ máy, cậu biết đấy-"
Cóc chỉ gật đầu.
"Chà, chuyện đó bị bàn tán xôn xao lắm, lẽ đương nhiên thôi," Chuột Nước kể tiếp, "không chỉ dọc theo bờ sông, mà ngay cả trong Khu Rừng Hoang. Các loài vật bắt đầu chia bè kết phái, chuyện đó lúc nào cũng xảy ra mà. Cư dân Bờ Sông thì bênh vực cậu, cho rằng cậu đã bị đối xử tàn nhẫn, và thời buổi này trên đời chẳng làm gì có công lý nữa. Nhưng lũ vật trong Khu Rừng Hoang thì buông lời cay độc, bảo rằng đáng đời cậu, và đã đến lúc những chuyện tày đình như thế này phải bị dập tắt. Bọn chúng trở nên láo xược, vểnh mặt đi rêu rao khắp nơi rằng lần này thì cậu tiêu đời rồi! Cậu sẽ chẳng bao giờ ló mặt về nữa, không bao giờ, không bao giờ!"
Cóc lại gật đầu một lần nữa, vẫn câm lặng.
"Bọn chúng đúng là cái lũ súc sinh tiểu nhân như thế đấy," Chuột Nước nói tiếp. "Nhưng Chuột Chũi và bác Lửng, họ vẫn kiên quyết khẳng định, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, rằng cậu sẽ sớm quay trở lại thôi, bằng một cách nào đó. Họ không biết chính xác là bằng cách nào, nhưng chắc chắn là bằng một cách nào đó!"
Cóc từ từ ngồi thẳng lưng dậy, nở một nụ cười tự mãn.
"Họ dùng lịch sử để lập luận," Chuột Nước kể tiếp. "Họ bảo rằng chẳng có bộ luật hình sự nào từng tồn tại mà có thể khuất phục được sự trơ tráo và tài ngụy biện của cậu, kết hợp với sức mạnh của một cái hầu bao rủng rỉnh. Thế là họ dọn đồ đạc vào Dinh thự Cóc, ngủ lại đó, giữ cho nơi ấy luôn thông thoáng, và chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để đón cậu xuất hiện. Dĩ nhiên là họ không thể lường trước được chuyện gì sắp giáng xuống; tuy nhiên, họ cũng có linh cảm chẳng lành về bọn thú ở Khu Rừng Hoang. Bây giờ tôi đi đến phần đau đớn và bi thảm nhất trong câu chuyện đây. Một đêm tối trời nọ-một đêm rất tối trời, gió rít từng cơn điên cuồng, trời lại còn mưa như trút nước nữa chứ-một bầy chồn cà phê, vũ trang tận răng, đã lặng lẽ trườn lên lối đi dành cho xe ngựa để tiến thẳng vào cửa chính. Cùng lúc đó, một nhóm chồn sương liều mạng, băng qua khu vườn rau, đã chiếm giữ sân sau và khu văn phòng; trong khi một đạo quân chồn tuyết tiên phong, những kẻ bất chấp thủ đoạn, đã đánh chiếm nhà kính trồng cây cùng phòng bida, và chặn mọi lối thoát từ các cửa sổ kiểu Pháp2 mở ra bãi cỏ.
"Chuột Chũi và bác Lửng đang sưởi ấm bên đống lửa trong phòng hút thuốc, mải mê kể chuyện cho nhau nghe và không mảy may nghi ngờ điều gì-bởi vì đó chẳng phải là một đêm thích hợp để bất kỳ con vật nào mò mẫm ra ngoài-thì bọn ác ôn khát máu đó phá tung cửa, lao vào họ từ tứ phía. Họ đã chiến đấu anh dũng hết sức có thể, nhưng nào có ích gì cơ chứ? Họ không tấc sắt trong tay, bị đánh úp bất ngờ, vả lại hai con vật thì làm sao chống cự lại hàng trăm con cơ chứ? Bọn chúng đã tóm gọn và dùng gậy gộc đánh đập họ một cách tàn nhẫn-hai sinh vật đáng thương và tận trung đó-rồi tống cổ họ ra ngoài trời lạnh giá ẩm ướt, kèm theo vô vàn lời lẽ lăng mạ và thô bỉ vô cớ!"
Đến đây, Cóc vô tình phá lên cười khúc khích, nhưng rồi cậu vội vàng chấn chỉnh lại bản thân, cố nặn ra vẻ mặt cực kỳ nghiêm trang.
"Và bọn thú ở Khu Rừng Hoang đã ngang nhiên sống trong Dinh thự Cóc kể từ ngày đó," Chuột Nước nói tiếp; "và cư xử vô cùng trơ tráo! Nằm ườn trên giường đến tận nửa ngày, ăn sáng vào đủ mọi khung giờ quái gở, và nghe đâu nơi đó bừa bộn đến mức nhức mắt! Ăn thức ăn của cậu, uống rượu của cậu, lôi cậu ra làm trò cười nhạt nhẽo, và hát những bài ca lố lăng, về-chà, về nhà tù, quan tòa, và cảnh sát; những bài hát bôi nhọ cá nhân cực kỳ kinh khủng, và chẳng có lấy nửa điểm hài hước. Bọn chúng còn rêu rao với những người buôn bán và mọi kẻ qua đường rằng bọn chúng đã đến để cắm rễ ở đó mãi mãi."
"Ồ, thế à!" Cóc quát lớn, đứng phắt dậy và vớ lấy một cây gậy. "Để rồi xem tôi sẽ giải quyết chuyện đó nhanh gọn đến mức nào!"
"Vô ích thôi, Cóc ạ!" Chuột Nước gọi với theo cậu. "Tốt hơn hết là cậu hãy quay lại và ngồi xuống đi; cậu sẽ chỉ chuốc lấy rắc rối vào thân thôi."
Nhưng Cóc đã hùng hổ bỏ đi, không gì có thể níu cậu lại được. Cậu rảo bước nhanh trên đường, cây gậy vác kiêu hãnh trên vai, bốc hỏa và lầm bầm chửi rủa trong cơn thịnh nộ. Cho đến khi cậu đến gần cổng trước của cơ ngơi mình, đột nhiên một con chồn sương màu vàng dài ngoẵng ôm khư khư khẩu súng bật nảy lên từ phía sau hàng rào gỗ.
"Kẻ nào đến đó?" con chồn sương hất hàm hỏi một cách gay gắt.
"Thật vớ vẩn và nực cười!" Cóc quát, máu nóng sôi sùng sục. "Mi có ý gì khi dám ăn nói với ta như thế hả? Bước ra khỏi đó ngay lập tức, nếu không ta sẽ--"
Con chồn sương không thèm đáp lấy một lời, nó đưa thẳng khẩu súng lên vai. Cóc khôn ngoan nằm rạp xuống mặt đường, và Đoàng! một viên đạn sượt vèo qua đầu cậu.
Cóc giật thót tim kinh hãi, luống cuống lồm cồm bò dậy rồi vắt chân lên cổ chạy thục mạng xuống đường nhanh nhất có thể; trong lúc bỏ chạy, cậu còn nghe thấy tiếng con chồn sương đang cười rống lên, hòa quyện với những tiếng cười rin rít lanh lảnh và kinh khủng khác hùa theo, vang vọng khắp một cõi.
Cậu quay trở về, vô cùng chán nản, và kể lể lại cho Chuột Nước nghe.
"Tôi đã bảo cậu thế nào?" Chuột Nước nói. "Vô ích thôi. Bọn chúng đã bố trí lính gác nghiêm ngặt, và tên nào cũng được vũ trang tận răng. Cậu chỉ có cách chờ đợi thôi."
Thế nhưng, Cóc vẫn không cam tâm bỏ cuộc ngay lập tức. Cậu lôi chiếc thuyền ra, và bắt đầu chèo ngược dòng sông đến nơi mà mặt tiền hướng ra vườn của Dinh thự Cóc kéo dài xuống tận mép nước.
Khi đến nơi có thể nhìn bao quát ngôi nhà cũ của mình, cậu nghỉ tay chèo, thận trọng quan sát địa hình. Mọi thứ có vẻ rất yên bình, hoang vắng và tĩnh lặng. Cậu có thể nhìn thấy toàn bộ mặt tiền của Dinh thự Cóc tắm mình trong ánh nắng chiều rực rỡ, những con chim bồ câu đang đậu thành từng cặp hoặc từng nhóm ba dọc theo đường rãnh mái nhà; khu vườn khoe sắc rực rỡ dưới nắng; con lạch nhỏ dẫn vào nhà thuyền, cây cầu gỗ nhỏ bắc vắt ngang; tất cả đều tĩnh mịch, không một bóng người, dường như đang khắc khoải chờ đợi chủ nhân trở về. Cậu nghĩ mình sẽ thử đi vào nhà thuyền trước. Cậu chèo thuyền vào cửa lạch một cách cực kỳ rón rén, và vừa mới lướt qua dưới gầm cầu, thì... Choang!
Một tảng đá tảng rơi thẳng từ trên xuống, đập vỡ vụn đáy thuyền. Chiếc thuyền ngập nước rồi chìm nghỉm, và Cóc thấy mình đang quẫy đạp điên cuồng trong vùng nước sâu. Ngước nhìn lên, cậu thấy hai con chồn tuyết đang tì tay qua lan can cầu, thích thú chiêm ngưỡng bộ dạng thảm hại của cậu. "Lần tới sẽ là cái đầu của mi đấy, Cóc con ạ!" chúng hét lớn mỉa mai. Cóc tức tối bơi vào bờ, trong khi bọn chồn tuyết cứ cười lăn cười bò, dựa dẫm vào nhau mà cười, rồi lại cười rũ rượi tiếp, cho đến khi chúng gần như sái quai hàm đến hai lần-ý là, dĩ nhiên, mỗi đứa bị một bên.
Cóc mệt mỏi lê bước trở về bằng đường bộ, và thuật lại những trải nghiệm ê chề của mình cho Chuột Nước nghe một lần nữa.
"Chà, tôi đã dặn cậu điều gì nào?" Chuột Nước nói với vẻ cực kỳ bực dọc. "Và, bây giờ, nhìn xem! Hãy xem cậu vừa đi đâu và làm ra trò trống gì! Cậu đã làm tiêu tùng chiếc thuyền mà tôi vô cùng nâng niu, đó là những gì cậu vừa làm đấy! Và hoàn toàn phá hỏng bộ quần áo tử tế mà tôi đã cho cậu mượn! Thật sự đấy, Cóc ạ, trong tất thảy những con vật chuyên mang đến rắc rối-tôi tự hỏi làm thế quái nào mà cậu có thể giữ được bất kỳ một người bạn nào cơ chứ!"
Cóc ngay lập tức nhận ra mình đã hành động hồ đồ và ngu ngốc đến mức nào. Cậu xám hối thừa nhận những lỗi lầm cùng sự cứng đầu của mình, và chính thức xin lỗi Chuột Nước vì đã làm mất thuyền và hỏng quần áo. Và cậu chốt lại bằng sự đầu hàng chân thành-thứ vũ khí luôn làm tiêu tan mọi lời chỉ trích của bạn bè và kéo họ về lại phe mình: "Chuột Nước ơi! Tớ thấy tớ đúng là một con Cóc bướng bỉnh và ngoan cố! Kể từ giờ phút này trở đi, hãy tin tớ, tớ sẽ khiêm nhường và ngoan ngoãn phục tùng, và sẽ không hó hé làm bất cứ chuyện gì nếu không có sự chỉ bảo ân cần và sự ưng thuận tuyệt đối từ cậu!"
"Nếu đúng là như vậy," Chuột Nước tốt bụng, người giờ đã nguôi ngoai cơn giận, nói, "vậy thì lời khuyên của tôi dành cho cậu, xét thấy trời cũng đã muộn, là hãy an tọa và tận hưởng bữa tối của cậu-bữa tối sẽ được dọn lên bàn trong chớp mắt thôi-và hãy thật kiên nhẫn. Bởi vì tôi tin chắc chúng ta chẳng thể làm nên trò trống gì cho đến khi gặp được Chuột Chũi và bác Lửng, nghe ngóng những tin tức sốt dẻo nhất từ họ, rồi tổ chức một cuộc họp để cầu viện lời khuyên của họ trong vấn đề nan giải này."
"Ồ, à, ừ, tất nhiên rồi, Chuột Chũi và bác Lửng," Cóc nói một cách hờ hững nhẹ bẫng. "Họ dạo này thế nào rồi, những người anh em chí cốt? Tớ đã quên khuấy mất họ."
"Cậu hỏi nghe hay nhỉ!" Chuột Nước đáp trả bằng giọng trách móc nặng nề. "Trong khi cậu cưỡi những chiếc ô tô đắt tiền rong ruổi khắp đất nước, kiêu hãnh phi nước đại trên những con ngựa nòi thuần chủng, và ăn sáng bằng những của ngon vật lạ trứ danh, thì hai sinh vật tội nghiệp và tận tụy đó đã phải cắm trại phơi sương ngoài trời, bất chấp mọi điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Ban ngày thì sống chui lủi cực khổ, ban đêm thì co ro trên nền đất lạnh giá; canh gác dinh thự của cậu, tuần tra các ranh giới cơ ngơi của cậu, luôn để mắt cảnh giác bọn chồn tuyết và chồn cà phê, vắt óc tính toán và lên kế hoạch tìm cách giành lại tài sản cho cậu. Cậu không xứng đáng có được những người bạn chân thành và tận trung đến thế đâu, Cóc ạ, thực sự là cậu không xứng đáng đâu. Sẽ có một ngày, khi đã quá muộn màng, cậu sẽ phải nếm mùi hối hận vì đã không biết trân trọng họ hơn khi cậu còn có họ kề bên!"
"Tớ đúng là một con thú vô ơn bội bạc, tớ biết mà," Cóc nức nở, tuôn rơi những giọt nước mắt đắng cay. "Hãy để tớ đi ra ngoài và tìm họ, lao ra màn đêm tăm tối, lạnh lẽo, chia sớt những gian truân của họ, và cố gắng chứng minh bằng--Khoan đã! Chắc chắn tớ vừa nghe thấy tiếng loảng xoảng của bát đĩa trên mâm! Bữa tối cuối cùng cũng đến rồi, hoan hô! Lại đây mau nào, Chuột Nước ơi!"
Chuột Nước sực nhớ ra rằng gã Cóc tội nghiệp đã phải ăn cơm tù khám lạnh trong một thời gian khá dài, do đó cần phải dành cho cậu ấy những đặc ân tha thứ lớn. Vậy nên, anh lẽo đẽo đi theo Cóc đến bàn ăn, và với tấm lòng hiếu khách, anh khuyến khích cậu bạn của mình trong nỗ lực dũng mãnh nhằm bù đắp cho những tháng ngày thiếu thốn vừa qua.
Họ vừa dùng xong bữa và mới thả mình xuống ghế bành thì một tiếng gõ cửa nặng nề vang lên.
Cóc tỏ ra bồn chồn, nhưng Chuột Nước chỉ bí ẩn gật đầu với cậu rồi bước thẳng ra mở cửa. Người bước vào là bác Lửng.
Bác mang dáng vẻ mệt mỏi của một người phải chịu cảnh màn trời chiếu đất suốt nhiều đêm, xa cách hẳn những tiện nghi và sự thoải mái chốn thân quen. Đôi giày bác dính đầy bùn đất, còn quần áo thì xộc xệch, lôi thôi; nhưng xét cho cùng, ngay cả ở những thời điểm tươm tất nhất, bác Lửng cũng chưa bao giờ là người chải chuốt. Bác nghiêm trang bước đến, bắt tay Cóc và cất giọng: "Chào mừng cháu về nhà, Cóc ạ! Than ôi, bác đang nói cái gì thế này? Nhà, quả thực là nhà! Lần trở về này tồi tệ quá. Cháu Cóc bất hạnh!" Nói rồi, bác quay lưng lại với Cóc, kéo ghế ngồi vào bàn, và tự lấy cho mình một miếng bánh nướng nhân thịt nguội thật to.
Cóc khá hoảng hốt trước màn chào hỏi đầy vẻ nghiêm trọng và sặc mùi điềm báo ấy. Nhưng Chuột Nước đã kề tai cậu thì thầm: "Đừng bận tâm, đừng để ý, và cũng khoan nói gì với bác ấy. Bác ấy lúc nào cũng ủ rũ và chán nản khi bụng đang réo gọi. Chừng nửa giờ nữa, bác ấy sẽ biến thành một người hoàn toàn khác cho xem."
Họ lặng lẽ chờ đợi, và một lát sau, lại có tiếng gõ cửa nhẹ hơn vang lên. Chuột Nước lại gật đầu với Cóc, ra mở cửa và dẫn Chuột Chũi bước vào. Trông Chuột Chũi thật nhếch nhác, bộ dạng như chưa từng được tắm gội, lông lá dính đầy những cọng rơm và mẩu cỏ khô.
"Hoan hô! Anh bạn Cóc cũ của chúng ta đây rồi!" Chuột Chũi reo lên, khuôn mặt rạng rỡ hẳn. "Thật tuyệt vời khi thấy cậu đã trở lại!" Chuột Chũi bắt đầu nhảy nhót vòng quanh Cóc. "Chúng tôi chưa bao giờ dám mơ là cậu lại xuất hiện sớm đến vậy! Chà, hẳn là cậu đã phải chật vật lắm mới xoay sở thoát ngục được. Cậu quả là một con Cóc thông minh, mưu trí và lanh lợi!"
Chuột Nước hoảng hốt vội kéo khuỷu tay Chuột Chũi, nhưng đã quá muộn. Cóc bắt đầu phùng mang trợn mắt lên tự mãn mất rồi.
"Thông minh á? Ồ, không đâu!" Cóc nói. "Tôi thực sự không thông minh đâu, bạn bè tôi vẫn nhận xét thế mà. Tôi chỉ mới phá ngục từ một nhà tù kiên cố nhất nước Anh thôi, chỉ có vậy thôi! Và cướp một chuyến tàu hỏa rồi tẩu thoát trên đó, chỉ có vậy thôi! Và cải trang đi khắp nơi xỏ mũi tất cả mọi người, chỉ có vậy thôi! Ồ, không đâu! Tôi chỉ là một gã ngốc nghếch, đúng, tôi đấy! Để tôi kể cho cậu nghe một hai cuộc phiêu lưu nho nhỏ của tôi, Chuột Chũi ạ, rồi cậu sẽ tự phán xét nhé!"
"Thôi được rồi, thôi được rồi," Chuột Chũi đáp, bước lại gần bàn ăn; "cứ cho là cậu sẽ kể lể trong lúc tôi ăn đi. Từ sáng đến giờ bụng tôi chưa được lót miếng nào cả! Ôi trời ơi là trời!" Và cậu ngồi phịch xuống, gắp cho mình một phần hậu hĩnh thịt bò nguội và dưa chua.
Cóc đứng dang hai chân trên tấm thảm trước lò sưởi, thọc hai chân trước vào túi quần rồi lôi ra một nắm tiền xu bằng bạc. "Nhìn này!" cậu kêu lên, chìa những đồng xu ra. "Vài phút làm việc mà thù lao cũng không tệ chứ hả? Cậu nghĩ tôi đã kiếm được mớ này bằng cách nào, Chuột Chũi? Buôn ngựa! Tôi đã làm thế đấy!"
"Kể tiếp đi, Cóc," Chuột Chũi vừa ăn vừa giục, vô cùng thích thú.
"Cóc này, làm ơn im lặng đi!" Chuột Nước gắt. "Và cậu đừng có hùa theo khích lệ cậu ấy nữa, Chuột Chũi, cậu thừa biết tính cậu ấy rồi mà. Làm ơn cho chúng tôi biết ngay tình hình hiện tại ra sao, và điều tốt nhất bây giờ nên làm là gì, vì cuối cùng Cóc cũng đã trở về."
"Tình hình hiện tại tồi tệ đến mức không thể tồi tệ hơn được nữa," Chuột Chũi vừa càu nhàu vừa nhai; "còn phải làm gì ư, có trời mới biết! Bác Lửng và tôi đã đi rình rập quanh đó hết lần này đến lần khác, cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng chứng kiến chung một cảnh tượng. Lính gác được bố trí khắp nơi, súng lăm lăm chĩa vào chúng tôi, gạch đá thì ném rào rào. Lúc nào cũng có kẻ đứng gác, và khi bọn chúng nhìn thấy chúng tôi, ôi trời đất ơi! Bọn chúng cười cợt mới nham nhở làm sao! Đó mới là điều khiến tôi sôi máu nhất!"
"Quả là một tình thế vô cùng nan giải," Chuột Nước nói, nhíu mày suy nghĩ. "Nhưng tôi nghĩ giờ tôi đã hình dung ra điều Cóc thực sự nên làm. Tôi sẽ nói cho các cậu nghe. Cậu ấy nên--"
"Không, cậu ấy không nên làm thế!" Chuột Chũi la lên, miệng vẫn còn nhai nhóp nhép. "Không đời nào! Cậu không hiểu đâu. Điều cậu ấy nên làm là, cậu ấy nên--"
"Chà, dù sao thì tớ cũng sẽ không làm như thế đâu!" Cóc gào lên, bắt đầu trở nên phấn khích. "Tớ sẽ không để cho các cậu sai bảo đâu! Chúng ta đang nói về nhà của tớ, tớ biết chính xác những gì phải làm và tớ sẽ cho các cậu biết. Tớ sẽ--"
Đến lúc này, cả ba cùng gân cổ lên cãi cọ, tiếng ồn thật sự đinh tai nhức óc. Bỗng một giọng nói the thé, khô khan vang lên: "Tất cả các cậu, trật tự ngay lập tức!" Ngay tắp lự, mọi người đều im bặt.
Đó là bác Lửng. Sau khi chén sạch chiếc bánh nướng, bác quay người lại trên ghế và nhìn họ bằng ánh mắt nghiêm khắc. Thấy mình đã thu hút được sự chú ý và rõ ràng bọn họ đang đợi bác lên tiếng, bác lại quay trở về phía bàn và với tay lấy miếng pho mát. Sự kính trọng đối với con vật tuyệt vời với những phẩm chất vững vàng ấy lớn đến mức không ai dám ho he một lời cho đến khi bác hoàn toàn kết thúc bữa ăn và phủi sạch những vụn bánh trên đầu gối. Cóc vặn vẹo thân mình đầy bức bối, nhưng Chuột Nước đã tóm chặt lấy cậu.
Khi bác Lửng đã no nê, bác đứng dậy khỏi chỗ ngồi, tiến đến trước lò sưởi và trầm ngâm suy nghĩ. Cuối cùng bác cũng cất lời.
"Cóc!" bác nói bằng giọng nghiêm khắc. "Cháu đúng là một con vật tồi tệ, chuyên gây rắc rối! Cháu không thấy xấu hổ về bản thân mình sao? Cháu nghĩ cha cháu, người bạn cũ của bác, sẽ nói gì nếu ông ấy có mặt ở đây đêm nay, và chứng kiến tất cả những việc cháu đang làm?"
Cóc, lúc này đang nằm trên ghế sofa, vắt vẻo đôi chân lên cao, liền úp mặt xuống, người rung lên theo từng tiếng nức nở ăn năn.
"Thôi, thôi nào!" bác Lửng nói tiếp, với giọng điệu nhân từ hơn. "Đừng bận tâm nữa. Nín đi. Chúng ta sẽ để cho chuyện đã qua trôi vào dĩ vãng, và cố gắng làm lại từ đầu. Nhưng những gì Chuột Chũi nói là hoàn toàn đúng. Bọn chồn tuyết đang canh gác ở mọi ngóc ngách, và chúng là những tên lính gác cừ khôi nhất thế giới. Nghĩ đến việc tấn công nơi đó là hoàn toàn vô ích. Chúng quá mạnh so với chúng ta."
"Thế là mọi chuyện đã kết thúc," Cóc nức nở, vùi mặt vào những chiếc gối tựa trên sofa. "Cháu sẽ đăng ký tòng quân, và không bao giờ được nhìn thấy Dinh thự Cóc thân yêu của cháu nữa!"
"Nào, vui lên đi, Cóc con!" bác Lửng vỗ về. "Có nhiều cách để giành lại một nơi thay vì dùng vũ lực tấn công nó. Bác vẫn chưa nói hết đâu. Bây giờ bác sẽ kể cho cháu nghe một bí mật tuyệt vời."
Cóc từ từ ngồi dậy và quệt nước mắt. Những bí mật bao giờ cũng có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với cậu, bởi vì cậu vốn dĩ chẳng bao giờ giữ kín được chuyện gì, và cậu cực kỳ thích cái cảm giác hồi hộp đầy tội lỗi mỗi khi đi kể cho người khác nghe, sau khi đã thành tâm thề thốt sẽ giữ mồm giữ miệng.
"Có-một-đường-hầm-bí-mật," bác Lửng chậm rãi nhả từng chữ một cách đầy ấn tượng, "dẫn từ bờ sông ngay gần đây, đi thẳng đến giữa Dinh thự Cóc."
"Ồ, vớ vẩn thật! Bác Lửng ạ," Cóc nói, có vẻ khá khinh khỉnh. "Bác lại đi nghe lỏm mấy câu chuyện thêu dệt ở mấy quán rượu quanh đây rồi. Cháu nắm rõ từng tấc đất của Dinh thự Cóc, từ trong ra ngoài. Chẳng có gì như thế cả, cháu cam đoan với bác đấy!"
"Người bạn trẻ của bác," bác Lửng nói, vẻ vô cùng nghiêm nghị, "cha cháu, một người vô cùng đáng kính-đáng kính hơn rất nhiều so với những kẻ khác mà bác biết-là một người bạn đặc biệt của bác, và đã kể cho bác nghe rất nhiều điều mà ông ấy sẽ không bao giờ mơ tới việc nói cho cháu biết. Ông ấy đã khám phá ra lối đi đó-dĩ nhiên không phải ông ấy tạo ra nó, nó đã được đào từ hàng trăm năm trước khi ông ấy đến sống ở đó-và ông ấy đã tu sửa, dọn dẹp nó sạch sẽ, vì ông ấy nghĩ rằng nó có thể hữu ích vào một ngày nào đó trong trường hợp gặp rắc rối hay nguy hiểm. Và ông ấy đã chỉ nó cho bác xem. 'Đừng cho con trai tôi biết về nó,' ông ấy nói. 'Thằng bé là một đứa trẻ ngoan, nhưng tính tình lại rất bồng bột, dễ thay đổi, và hoàn toàn không thể giữ mồm giữ miệng được. Nếu nó có bao giờ gặp phải khó khăn thực sự, và đường hầm đó có thể giúp ích cho nó, thì ông hãy cho nó biết về lối đi bí mật đó; nhưng tuyệt đối không được nói trước.'"
Những người khác nhìn chằm chằm vào Cóc để xem phản ứng của cậu. Ban đầu Cóc có vẻ hơi hờn dỗi; nhưng rồi cậu bừng sáng ngay lập tức, giống hệt như một anh chàng tốt bụng như cậu vốn có.
"Chà, chà," cậu nói; "có lẽ cháu cũng hơi nhiều chuyện thật. Một anh chàng nổi tiếng như cháu đây-bạn bè luôn vây quanh cháu-chúng cháu tán gẫu, chúng cháu tỏa sáng, chúng cháu kể những câu chuyện dí dỏm-và bằng một cách nào đó, cái miệng của cháu lại hoạt động quá năng suất. Cháu có khiếu nói chuyện mà. Cháu đã được bảo rằng cháu nên có một salon3, dù cháu cũng chẳng hiểu cái đó nghĩa là gì. Nhưng đừng bận tâm. Nói tiếp đi, bác Lửng. Lối đi đó của bác sẽ giúp chúng ta như thế nào?"
"Gần đây bác đã phát hiện ra một vài điều," bác Lửng nói tiếp. "Bác đã bảo Rái Cá cải trang thành thợ quét ống khói, vác những chiếc chổi trên vai ghé qua cửa sau xin việc. Tối ngày mai sẽ có một bữa tiệc lớn. Đó là sinh nhật của một ai đó-sinh nhật của tên Thủ lĩnh Chồn, bác tin là vậy-và tất cả lũ chồn cà phê sẽ tụ tập lại trong phòng ăn, ăn uống, cười nói và vui vẻ, không hề mảy may nghi ngờ điều gì. Không súng ống, không gươm giáo, không gậy gộc, không mang theo bất kỳ loại vũ khí nào!"
"Nhưng lính gác vẫn sẽ được bố trí như thường lệ," Chuột Nước nhận xét.
"Chính xác," bác Lửng nói; "đó là mấu chốt. Lũ chồn cà phê sẽ hoàn toàn tin tưởng vào những tên lính gác xuất sắc của chúng. Và đó là lúc đường hầm phát huy tác dụng. Cái đường hầm vô cùng hữu ích đó dẫn thẳng đến dưới phòng để thức ăn của quản gia4, ngay cạnh phòng ăn!"
"Aha! Cái tấm ván cọt kẹt trong phòng để thức ăn của quản gia!" Cóc nói. "Bây giờ thì cháu đã hiểu rồi!"
"Chúng ta sẽ lặng lẽ lẻn vào phòng để thức ăn-" Chuột Chũi kêu lên.
"-với súng lục, gươm giáo và gậy gộc của chúng ta-" Chuột Nước hét lên.
"-và lao vào bọn chúng," bác Lửng tiếp lời.
"-và phang bọn chúng, và phang bọn chúng, và phang bọn chúng!" Cóc gào lên trong sự ngây ngất, chạy vòng quanh căn phòng, và phấn khích nhảy qua cả những chiếc ghế.
"Rất tốt," bác Lửng nói, trở lại với thái độ khô khan thường ngày, "kế hoạch của chúng ta đã được định đoạt, và không còn gì để các cháu phải tranh cãi hay cãi vã nữa. Trời đã rất khuya rồi, tất cả đi ngủ ngay lập tức đi. Chúng ta sẽ tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong suốt buổi sáng ngày mai."
Đương nhiên là Cóc ngoan ngoãn đi ngủ cùng với những người khác-cậu biết thừa lúc này tốt nhất là không nên cãi lời-mặc dù cậu cảm thấy quá phấn khích đến nỗi khó mà chợp mắt nổi. Nhưng cậu đã trải qua một ngày dài với biết bao nhiêu biến cố dồn dập; và những chiếc ga trải giường cùng chăn ấm nệm êm quả là những thứ thật thân thiết, dễ chịu biết bao, nhất là sau khi phải nằm trên những cọng rơm khô ráp, ít ỏi trải trên nền đá lạnh lẽo của một phòng giam đầy gió lùa. Đầu cậu vừa đặt xuống gối chưa đầy vài giây thì đã ngáy khò khò một cách hạnh phúc. Đương nhiên là cậu đã nằm mơ rất nhiều. Cậu mơ thấy những con đường bỗng dưng chạy trốn ngay khi cậu cần đến chúng, mơ thấy những con kênh đuổi theo và tóm gọn lấy cậu, và cả một chiếc xà lan giong buồm lao thẳng vào phòng tiệc mang theo đống quần áo bẩn giặt dở của cả tuần, ngay lúc cậu đang tổ chức một bữa dạ tiệc linh đình. Rồi cậu lại thấy mình đơn độc trong đường hầm bí mật, cố gắng lê bước tiến về phía trước, nhưng nó cứ uốn éo, xoay vòng, tự rung lắc và dựng ngược cả lên. Tuy nhiên, bằng một cách kỳ diệu nào đó, cuối cùng cậu thấy mình đã quay trở lại Dinh thự Cóc, an toàn và chiến thắng khải hoàn, với tất cả bạn bè vây quanh, chân thành khẳng định với cậu rằng cậu quả thực là một con Cóc vô cùng thông minh.
Cậu đánh một giấc đến tận sáng muộn ngày hôm sau. Khi xuống lầu, cậu thấy những con vật khác đã dùng xong bữa sáng từ lâu. Chẳng rõ Chuột Chũi đã lỉnh đi đâu mất hút từ lúc nào mà không hé răng nửa lời. Bác Lửng an tọa trên chiếc ghế bành, nhàn nhã đọc báo, dường như chẳng hề bận tâm mảy may đến những chuyện động trời sắp sửa diễn ra vào tối nay. Trái lại, Chuột Nước đang tất bật chạy tới chạy lui quanh phòng, hai tay ôm khệ nệ đủ loại vũ khí rồi chia thành bốn đống nhỏ trên sàn. Anh lầm bầm đầy phấn khích theo từng nhịp chạy: "Đây-là-một-thanh-gươm-cho-Chuột-Nước, đây-là-một-thanh-gươm-cho-Chuột-Chũi, đây-là-một-thanh-gươm-cho-Cóc, đây-là-một-thanh-gươm-cho-bác-Lửng! Đây-là-một-khẩu-súng-lục-cho-Chuột-Nước, đây-là-một-khẩu-súng-lục-cho-Chuột-Chũi, đây-là-một-khẩu-súng-lục-cho-Cóc, đây-là-một-khẩu-súng-lục-cho-bác-Lửng!" Anh cứ lẩm nhẩm nhịp nhàng như thế, đều đặn không ngừng, trong lúc bốn đống vũ khí cứ ngày một cao dần lên.
"Tốt lắm, Chuột Nước," bác Lửng lên tiếng, khẽ liếc nhìn con vật nhỏ đang loay hoay qua mép tờ báo; "bác không trách cháu đâu. Nhưng chỉ cần chúng ta vượt qua được đám chồn tuyết cùng những khẩu súng chết tiệt của chúng, bác cam đoan ta sẽ chẳng cần đến bất kỳ thanh gươm hay khẩu súng lục nào sất. Bốn người chúng ta, với gậy gộc trong tay, một khi lọt được vào phòng ăn thì, chà, chỉ năm phút thôi là quét sạch sành sanh bọn chúng. Bác thừa sức tự mình dọn dẹp toàn bộ, chỉ là bác không muốn tước đi niềm vui của các cháu thôi!"
"Cẩn tắc vô áy náy vẫn hơn," Chuột Nước đáp lời đầy suy tư, vừa lau chùi nòng khẩu súng lục trên tay áo vừa nheo mắt ngắm nghía nó.
Cóc, sau khi đánh chén xong bữa sáng, bèn vớ lấy một cây gậy chắc nịch rồi vung vẩy hăng say, giáng những cú đòn hiểm hóc vào những kẻ thù tưởng tượng. "Tớ sẽ học chúng một bài vì dám cướp nhà tớ!" cậu hét lên. "Tớ sẽ học bọn chúng, tớ sẽ học bọn chúng!"
"Đừng nói 'học chúng một bài' 5 chứ, Cóc," Chuột Nước sửng sốt lên tiếng. "Thế đâu phải là tiếng Anh chuẩn."
"Tại sao cháu cứ hễ mở miệng là cằn nhằn Cóc thế hả?" bác Lửng gắt gỏng. "Tiếng Anh của nó thì có vấn đề gì cơ chứ? Nó cũng giống như cách bác đang dùng thôi, và nếu nó đủ tốt đối với bác, thì cũng phải đủ tốt đối với cháu chứ!"
"Cháu rất xin lỗi," Chuột Nước nhún nhường đáp. "Chỉ là cháu nghĩ nó nên là 'dạy cho chúng một bài học', chứ không phải là 'học chúng một bài'."
"Nhưng chúng ta đâu có muốn dạy chúng," bác Lửng gạt đi. "Chúng ta muốn cho chúng học một bài-cho chúng học một bài, cho chúng học một bài! Và hơn thế nữa, chúng ta sẽ làm thế!"
"Ồ, được rồi, bác muốn nói sao cũng được," Chuột Nước buông lời. Bản thân anh cũng đang bắt đầu thấy bối rối về vấn đề này. Một lát sau, anh lui vào góc phòng, nơi người ta nghe thấy tiếng anh rù rì, "Cho chúng một bài học, dạy cho chúng, dạy cho chúng, cho chúng một bài học!" cho đến khi bác Lửng gắt gỏng nhắc anh im miệng lại.
Ngay sau đó, Chuột Chũi khệnh khạng bước vào phòng, vẻ mặt toát lên sự đắc ý tột độ. "Tôi vừa có một thú vui tuyệt đỉnh!" cậu ríu rít khoe ngay tắp lự; "Tôi vừa chọc tức đám chồn tuyết!"
"Tôi hy vọng là cậu đã cẩn thận đấy nhé, Chuột Chũi?" Chuột Nước lo lắng hỏi dò.
"Tôi cũng mong vậy," Chuột Chũi đáp đầy tự tin. "Tôi nảy ra ý tưởng đó khi tạt vào bếp xem bữa sáng của Cóc đã được ủ nóng chưa. Tôi thấy bộ đồ bà thợ giặt mà hôm qua cậu ấy mặc khi về nhà đang treo trên giá phơi trước lò sưởi. Thế là tôi mặc nó vào, đội cả chiếc mũ trùm đầu, quấn luôn chiếc khăn choàng, rồi hiên ngang tiến thẳng đến Dinh thự Cóc. Đám lính gác tất nhiên đang làm nhiệm vụ, lăm lăm súng ống cùng ba cái câu hỏi ngớ ngẩn kiểu 'Kẻ nào đến đó?' và đủ thứ vớ vẩn khác của chúng. 'Chào buổi sáng, các quý ngài!' tôi cất giọng vô cùng cung kính. 'Hôm nay các ngài có muốn giặt giũ gì không?'
"Bọn chúng hất hàm nhìn tôi đầy kiêu ngạo, cứng nhắc và hống hách, rồi quát, 'Đi đi, mụ thợ giặt kia! Chúng ta không giặt giũ gì trong lúc đang làm nhiệm vụ cả.' 'Hay là để lúc khác vậy?' tôi ướm thử. Hô, hô, hô! Tôi có hài hước không hả Cóc?"
"Đồ động vật nông cạn, bốc đồng!" Cóc trịch thượng phán. Sự thật là, cậu đang ghen tị nổ đom đóm mắt với những gì Chuột Chũi vừa làm. Đó chính xác là điều cậu khao khát tự tay thực hiện, giá như cậu nghĩ ra trò đó trước, và không ngủ quên mất.
"Vài tên chồn đỏ bừng cả mặt," Chuột Chũi kể tiếp, "rồi tên Hạ sĩ quan phụ trách cụt lủn hất giọng, 'Bây giờ thì đi đi, người phụ nữ tốt bụng, đi ngay! Đừng có làm lính của ta lười nhác và đứng buôn chuyện ở vị trí gác nữa.' 'Đi á?' tôi đáp; 'một lát nữa kẻ phải chạy trốn sẽ không phải là tôi đâu!'"
"Ôi Chũi ơi, sao cậu dám làm vậy chứ?" Chuột Nước thảng thốt.
Bác Lửng đặt tờ báo xuống.
"Tôi có thể thấy chúng vểnh tai lên nhìn nhau," Chuột Chũi thao thao bất tuyệt; "rồi tên Hạ sĩ quan bảo chúng, 'Đừng bận tâm đến mụ ta; mụ ta chẳng biết mụ ta đang lảm nhảm gì đâu.'"
"'Ồ! Vậy sao?' tôi bĩu môi. 'Thôi được rồi, để tôi nói cho các người nghe điều này nhé. Con gái tôi giặt giũ cho ông Lửng, nên nó sẽ cho các người thấy xem tôi có biết mình đang nói gì không; và các người cũng sẽ sớm nếm mùi thôi! Một trăm con lửng khát máu, vác theo súng trường, sẽ tập kích Dinh thự Cóc ngay trong đêm nay, qua ngả bãi chăn ngựa. Sáu chiếc thuyền chở đầy Chuột, trang bị súng lục và gươm giáo, sẽ ngược dòng sông lên bến và đổ bộ vào khu vườn; trong khi một đội quân Cóc tinh nhuệ, lừng danh với cái tên Tử sĩ, hay còn gọi là Những con Cóc Quyết Tử vì Vinh Quang, sẽ ập vào tấn công vườn cây ăn quả và càn quét mọi thứ trên đường đi, gào thét đòi nợ máu. Sẽ chẳng còn mống nào để các người hầu hạ giặt giũ đâu, đến khi chúng xử lý xong các người, trừ khi các người cuốn gói chuồn khỏi đây khi còn kịp!' Xong xuôi tôi liền bỏ chạy, và khi đã khuất tầm nhìn, tôi lập tức trốn đi; lát sau tôi rón rén bò ngược lại dọc theo con hào và nhìn trộm chúng qua hàng rào. Tất cả bọn chúng đều tỏ ra lo lắng và hoảng loạn tột độ, chạy nháo nhào mọi hướng cùng một lúc, đâm sầm cả vào nhau. Kẻ nào cũng lo ra lệnh mà chẳng ai chịu lắng nghe ai; còn tên Hạ sĩ quan thì cứ luân phiên cử từng toán chồn đi tuần các khu vực xa xôi trong khuôn viên, rồi lại cử bọn khác chạy theo gọi chúng quay về. Rồi tôi nghe thấy bọn chúng lầm bầm với nhau, 'Bọn chồn cà phê sướng thật; chúng được chăn ấm nệm êm trong phòng tiệc, tha hồ ăn uống nhậu nhẹt, nâng ly chúc tụng, ca hát và tận hưởng đủ mọi thú vui, trong khi chúng ta phải đứng gác chèo queo trong cái lạnh và bóng tối, để rồi cuối cùng bị băm vằm thành từng mảnh bởi bọn Lửng khát máu!'"
"Ôi, cậu đúng là một thằng ngốc, Chuột Chũi ạ!" Cóc gào lên, "Cậu đã làm hỏng bét mọi chuyện rồi!"
"Chuột Chũi," bác Lửng cất giọng trầm ấm và điềm đạm thường ngày, "bác nhận thấy cháu có nhiều lý trí trong ngón tay út của mình hơn là một số con vật khác có trong toàn bộ cơ thể mập mạp của chúng. Cháu đã xoay sở một cách xuất sắc, và bác bắt đầu đặt nhiều kỳ vọng vào cháu đấy. Chuột Chũi ngoan! Chuột Chũi thông minh!"
Cóc gần như phát điên vì ghen tị, đặc biệt là bởi cậu không thể nào hiểu nổi tại sao Chuột Chũi lại có thể mưu trí đến nhường ấy; nhưng may mắn cho cậu, trước khi cậu kịp vùng vằng hay tự rước lấy lời chế nhạo của bác Lửng, thì chuông báo giờ ăn trưa đã vang lên.
Đó là một bữa ăn tuy mộc mạc nhưng no nê-với thịt xông khói, đậu ván, và một chiếc bánh pudding mì ống; khi tất cả đã đánh chén sạch sẽ, bác Lửng ngả lưng xuống chiếc ghế bành rồi nói, "Chà, chúng ta có một núi công việc phải giải quyết vào tối nay đấy, và có lẽ sẽ khá muộn trước khi mọi chuyện êm xuôi; vì thế bác sẽ chợp mắt một lát khi còn có thể." Nói đoạn, bác kéo chiếc khăn tay che kín mặt và chẳng mấy chốc đã ngáy vang nhà.
Chuột Nước, với bản tính lo âu và cần mẫn, lập tức bắt tay vào tiếp tục những công đoạn chuẩn bị của mình. Anh cứ lăng xăng chạy qua chạy lại giữa bốn đống đồ nhỏ, miệng lầm bầm lẩm nhẩm, "Đây-là-một-chiếc-thắt-lưng-cho-Chuột-Nước, đây-là-một-chiếc-thắt-lưng-cho-Chuột-Chũi, đây-là-một-chiếc-thắt-lưng-cho-Cóc, đây-là-một-chiếc-thắt-lưng-cho-bác-Lửng!" và cứ thế, với mỗi một món đồ trang bị mới toanh được mang ra, dường như chẳng bao giờ có hồi kết. Thế là Chuột Chũi khoác tay Cóc, dẫn cậu ra ngoài trời, ấn cậu ngồi xuống một chiếc ghế mây, rồi bảo cậu hãy kể tuốt tuột mọi cuộc phiêu lưu của mình từ đầu đến cuối, điều mà Cóc vô cùng sẵn lòng tuân lệnh. Chuột Chũi là một người thính giả tuyệt vời, và Cóc, khi không có ai bắt bẻ những lời khoác lác của mình hay buông lời chỉ trích thiếu thiện chí, đã thả phanh khoe khoang. Quả thực, phần lớn những gì cậu thuật lại thuộc về một khía cạnh lý tưởng hơn của cái gọi là những-chuyện-đã-có-thể-xảy-ra-giá-như-tôi-kịp-nghĩ-ra-lúc-đó-chứ-không-phải-là-mười-phút-sau. Đó luôn luôn là những cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất và ly kỳ nhất; và tại sao chúng lại không thể thực sự là của chúng ta, cũng như những chuyện kém hoàn hảo hơn đã thực sự xảy ra chứ?
-
Digan (hay Gypsy/Romani) là một dân tộc du mục sống rải rác khắp châu Âu. Trong văn học Anh cổ điển, họ thường được khắc họa với lối sống rày đây mai đó trên những cỗ xe ngựa, sống tự do và phóng khoáng ngoài lề xã hội. ↩
-
Cửa sổ kiểu Pháp (French window) là loại cửa lớn có khung kính kéo dài từ trần xuống sát sàn, thường có hai cánh mở ra ngoài ban công hoặc sân vườn. Đây là chi tiết kiến trúc phổ biến trong các dinh thự thượng lưu. ↩
-
Từ tiếng Pháp, chỉ một phòng khách lớn trong các dinh thự thời xưa, thường là nơi giới trí thức, nghệ sĩ và quý tộc tụ họp để đàm đạo về văn chương, nghệ thuật và chính trị. ↩
-
Nguyên gốc là 'butler's pantry'. Trong các dinh thự lớn ở Anh thời xưa, đây là một căn phòng nhỏ nằm giữa bếp và phòng ăn. Nó được dùng để cất giữ đồ bạc, đồ sứ quý giá và là nơi quản gia sửa soạn lại thức ăn trước khi dọn lên bàn tiệc. ↩
-
Một "tổn thất biên dịch", Cóc dùng từ "learn ’em". Trong tiếng Anh, từ 'learn' đôi khi bị dùng sai ngữ pháp thay cho 'teach' (dạy). ↩
XI. “LIKE SUMMER TEMPESTS CAME HIS TEARS”
The Rat put out a neat little brown paw, gripped Toad firmly by the scruff of the neck, and gave a great hoist and a pull; and the water-logged Toad came up slowly but surely over the edge of the hole, till at last he stood safe and sound in the hall, streaked with mud and weed to be sure, and with the water streaming off him, but happy and high-spirited as of old, now that he found himself once more in the house of a friend, and dodgings and evasions were over, and he could lay aside a disguise that was unworthy of his position and wanted such a lot of living up to.
“O, Ratty!” he cried. “I’ve been through such times since I saw you last, you can’t think! Such trials, such sufferings, and all so nobly borne! Then such escapes, such disguises such subterfuges, and all so cleverly planned and carried out! Been in prison-got out of it, of course! Been thrown into a canal-swam ashore! Stole a horse-sold him for a large sum of money! Humbugged everybody-made ’em all do exactly what I wanted! Oh, I am a smart Toad, and no mistake! What do you think my last exploit was? Just hold on till I tell you--”
“Toad,” said the Water Rat, gravely and firmly, “you go off upstairs at once, and take off that old cotton rag that looks as if it might formerly have belonged to some washerwoman, and clean yourself thoroughly, and put on some of my clothes, and try and come down looking like a gentleman if you can; for a more shabby, bedraggled, disreputable-looking object than you are I never set eyes on in my whole life! Now, stop swaggering and arguing, and be off! I’ll have something to say to you later!”
Toad was at first inclined to stop and do some talking back at him. He had had enough of being ordered about when he was in prison, and here was the thing being begun all over again, apparently; and by a Rat, too! However, he caught sight of himself in the looking-glass over the hat-stand, with the rusty black bonnet perched rakishly over one eye, and he changed his mind and went very quickly and humbly upstairs to the Rat’s dressing-room. There he had a thorough wash and brush-up, changed his clothes, and stood for a long time before the glass, contemplating himself with pride and pleasure, and thinking what utter idiots all the people must have been to have ever mistaken him for one moment for a washerwoman.
By the time he came down again luncheon was on the table, and very glad Toad was to see it, for he had been through some trying experiences and had taken much hard exercise since the excellent breakfast provided for him by the gipsy. While they ate Toad told the Rat all his adventures, dwelling chiefly on his own cleverness, and presence of mind in emergencies, and cunning in tight places; and rather making out that he had been having a gay and highly-coloured experience. But the more he talked and boasted, the more grave and silent the Rat became.
When at last Toad had talked himself to a standstill, there was silence for a while; and then the Rat said, “Now, Toady, I don’t want to give you pain, after all you’ve been through already; but, seriously, don’t you see what an awful ass you’ve been making of yourself? On your own admission you have been handcuffed, imprisoned, starved, chased, terrified out of your life, insulted, jeered at, and ignominiously flung into the water-by a woman, too! Where’s the amusement in that? Where does the fun come in? And all because you must needs go and steal a motor-car. You know that you’ve never had anything but trouble from motor-cars from the moment you first set eyes on one. But if you will be mixed up with them-as you generally are, five minutes after you’ve started-why steal them? Be a cripple, if you think it’s exciting; be a bankrupt, for a change, if you’ve set your mind on it: but why choose to be a convict? When are you going to be sensible, and think of your friends, and try and be a credit to them? Do you suppose it’s any pleasure to me, for instance, to hear animals saying, as I go about, that I’m the chap that keeps company with gaol-birds?”
Now, it was a very comforting point in Toad’s character that he was a thoroughly good-hearted animal and never minded being jawed by those who were his real friends. And even when most set upon a thing, he was always able to see the other side of the question. So although, while the Rat was talking so seriously, he kept saying to himself mutinously, “But it was fun, though! Awful fun!” and making strange suppressed noises inside him, k-i-ck-ck-ck, and poop-p-p, and other sounds resembling stifled snorts, or the opening of soda-water bottles, yet when the Rat had quite finished, he heaved a deep sigh and said, very nicely and humbly, “Quite right, Ratty! How sound you always are! Yes, I’ve been a conceited old ass, I can quite see that; but now I’m going to be a good Toad, and not do it any more. As for motor-cars, I’ve not been at all so keen about them since my last ducking in that river of yours. The fact is, while I was hanging on to the edge of your hole and getting my breath, I had a sudden idea-a really brilliant idea-connected with motor-boats-there, there! don’t take on so, old chap, and stamp, and upset things; it was only an idea, and we won’t talk any more about it now. We’ll have our coffee, and a smoke, and a quiet chat, and then I’m going to stroll quietly down to Toad Hall, and get into clothes of my own, and set things going again on the old lines. I’ve had enough of adventures. I shall lead a quiet, steady, respectable life, pottering about my property, and improving it, and doing a little landscape gardening at times. There will always be a bit of dinner for my friends when they come to see me; and I shall keep a pony-chaise to jog about the country in, just as I used to in the good old days, before I got restless, and wanted to do things.”
“Stroll quietly down to Toad Hall?” cried the Rat, greatly excited. “What are you talking about? Do you mean to say you haven’t heard?”
“Heard what?” said Toad, turning rather pale. “Go on, Ratty! Quick! Don’t spare me! What haven’t I heard?”
“Do you mean to tell me,” shouted the Rat, thumping with his little fist upon the table, “that you’ve heard nothing about the Stoats and Weasels?”
What, the Wild Wooders?” cried Toad, trembling in every limb. “No, not a word! What have they been doing?”
“-And how they’ve been and taken Toad Hall?” continued the Rat.
Toad leaned his elbows on the table, and his chin on his paws; and a large tear welled up in each of his eyes, overflowed and splashed on the table, plop! plop!
“Go on, Ratty,” he murmured presently; “tell me all. The worst is over. I am an animal again. I can bear it.”
“When you-got-into that-that-trouble of yours,” said the Rat, slowly and impressively; “I mean, when you-disappeared from society for a time, over that misunderstanding about a-a machine, you know-”
Toad merely nodded.
“Well, it was a good deal talked about down here, naturally,” continued the Rat, “not only along the river-side, but even in the Wild Wood. Animals took sides, as always happens. The River-bankers stuck up for you, and said you had been infamously treated, and there was no justice to be had in the land nowadays. But the Wild Wood animals said hard things, and served you right, and it was time this sort of thing was stopped. And they got very cocky, and went about saying you were done for this time! You would never come back again, never, never!”
Toad nodded once more, keeping silence.
“That’s the sort of little beasts they are,” the Rat went on. “But Mole and Badger, they stuck out, through thick and thin, that you would come back again soon, somehow. They didn’t know exactly how, but somehow!”
Toad began to sit up in his chair again, and to smirk a little.
“They argued from history,” continued the Rat. “They said that no criminal laws had ever been known to prevail against cheek and plausibility such as yours, combined with the power of a long purse. So they arranged to move their things in to Toad Hall, and sleep there, and keep it aired, and have it all ready for you when you turned up. They didn’t guess what was going to happen, of course; still, they had their suspicions of the Wild Wood animals. Now I come to the most painful and tragic part of my story. One dark night-it was a very dark night, and blowing hard, too, and raining simply cats and dogs-a band of weasels, armed to the teeth, crept silently up the carriage-drive to the front entrance. Simultaneously, a body of desperate ferrets, advancing through the kitchen-garden, possessed themselves of the backyard and offices; while a company of skirmishing stoats who stuck at nothing occupied the conservatory and the billiard-room, and held the French windows opening on to the lawn.
“The Mole and the Badger were sitting by the fire in the smoking-room, telling stories and suspecting nothing, for it wasn’t a night for any animals to be out in, when those bloodthirsty villains broke down the doors and rushed in upon them from every side. They made the best fight they could, but what was the good? They were unarmed, and taken by surprise, and what can two animals do against hundreds? They took and beat them severely with sticks, those two poor faithful creatures, and turned them out into the cold and the wet, with many insulting and uncalled-for remarks!”
Here the unfeeling Toad broke into a snigger, and then pulled himself together and tried to look particularly solemn.
“And the Wild Wooders have been living in Toad Hall ever since,” continued the Rat; “and going on simply anyhow! Lying in bed half the day, and breakfast at all hours, and the place in such a mess (I’m told) it’s not fit to be seen! Eating your grub, and drinking your drink, and making bad jokes about you, and singing vulgar songs, about-well, about prisons and magistrates, and policemen; horrid personal songs, with no humour in them. And they’re telling the tradespeople and everybody that they’ve come to stay for good.”
“O, have they!” said Toad getting up and seizing a stick. “I’ll jolly soon see about that!”
“It’s no good, Toad!” called the Rat after him. “You’d better come back and sit down; you’ll only get into trouble.”
But the Toad was off, and there was no holding him. He marched rapidly down the road, his stick over his shoulder, fuming and muttering to himself in his anger, till he got near his front gate, when suddenly there popped up from behind the palings a long yellow ferret with a gun.
“Who comes there?” said the ferret sharply.
“Stuff and nonsense!” said Toad, very angrily. “What do you mean by talking like that to me? Come out of that at once, or I’ll--”
The ferret said never a word, but he brought his gun up to his shoulder. Toad prudently dropped flat in the road, and Bang! a bullet whistled over his head.
The startled Toad scrambled to his feet and scampered off down the road as hard as he could; and as he ran he heard the ferret laughing and other horrid thin little laughs taking it up and carrying on the sound.
He went back, very crestfallen, and told the Water Rat.
“What did I tell you?” said the Rat. “It’s no good. They’ve got sentries posted, and they are all armed. You must just wait.”
Still, Toad was not inclined to give in all at once. So he got out the boat, and set off rowing up the river to where the garden front of Toad Hall came down to the waterside.
Arriving within sight of his old home, he rested on his oars and surveyed the land cautiously. All seemed very peaceful and deserted and quiet. He could see the whole front of Toad Hall, glowing in the evening sunshine, the pigeons settling by twos and threes along the straight line of the roof; the garden, a blaze of flowers; the creek that led up to the boat-house, the little wooden bridge that crossed it; all tranquil, uninhabited, apparently waiting for his return. He would try the boat-house first, he thought. Very warily he paddled up to the mouth of the creek, and was just passing under the bridge, when ... Crash!
A great stone, dropped from above, smashed through the bottom of the boat. It filled and sank, and Toad found himself struggling in deep water. Looking up, he saw two stoats leaning over the parapet of the bridge and watching him with great glee. “It will be your head next time, Toady!” they called out to him. The indignant Toad swam to shore, while the stoats laughed and laughed, supporting each other, and laughed again, till they nearly had two fits-that is, one fit each, of course.
The Toad retraced his weary way on foot, and related his disappointing experiences to the Water Rat once more.
“Well, what did I tell you?” said the Rat very crossly. “And, now, look here! See what you’ve been and done! Lost me my boat that I was so fond of, that’s what you’ve done! And simply ruined that nice suit of clothes that I lent you! Really, Toad, of all the trying animals-I wonder you manage to keep any friends at all!”
The Toad saw at once how wrongly and foolishly he had acted. He admitted his errors and wrong-headedness and made a full apology to Rat for losing his boat and spoiling his clothes. And he wound up by saying, with that frank self-surrender which always disarmed his friend’s criticism and won them back to his side, “Ratty! I see that I have been a headstrong and a wilful Toad! Henceforth, believe me, I will be humble and submissive, and will take no action without your kind advice and full approval!”
“If that is really so,” said the good-natured Rat, already appeased, “then my advice to you is, considering the lateness of the hour, to sit down and have your supper, which will be on the table in a minute, and be very patient. For I am convinced that we can do nothing until we have seen the Mole and the Badger, and heard their latest news, and held conference and taken their advice in this difficult matter.”
“Oh, ah, yes, of course, the Mole and the Badger,” said Toad, lightly. “What’s become of them, the dear fellows? I had forgotten all about them.”
“Well may you ask!” said the Rat reproachfully. “While you were riding about the country in expensive motor-cars, and galloping proudly on blood-horses, and breakfasting on the fat of the land, those two poor devoted animals have been camping out in the open, in every sort of weather, living very rough by day and lying very hard by night; watching over your house, patrolling your boundaries, keeping a constant eye on the stoats and the weasels, scheming and planning and contriving how to get your property back for you. You don’t deserve to have such true and loyal friends, Toad, you don’t, really. Some day, when it’s too late, you’ll be sorry you didn’t value them more while you had them!”
“I’m an ungrateful beast, I know,” sobbed Toad, shedding bitter tears. “Let me go out and find them, out into the cold, dark night, and share their hardships, and try and prove by--Hold on a bit! Surely I heard the chink of dishes on a tray! Supper’s here at last, hooray! Come on, Ratty!”
The Rat remembered that poor Toad had been on prison fare for a considerable time, and that large allowances had therefore to be made. He followed him to the table accordingly, and hospitably encouraged him in his gallant efforts to make up for past privations.
They had just finished their meal and resumed their arm-chairs, when there came a heavy knock at the door.
Toad was nervous, but the Rat, nodding mysteriously at him, went straight up to the door and opened it, and in walked Mr. Badger.
He had all the appearance of one who for some nights had been kept away from home and all its little comforts and conveniences. His shoes were covered with mud, and he was looking very rough and touzled; but then he had never been a very smart man, the Badger, at the best of times. He came solemnly up to Toad, shook him by the paw, and said, “Welcome home, Toad! Alas! what am I saying? Home, indeed! This is a poor home-coming. Unhappy Toad!” Then he turned his back on him, sat down to the table, drew his chair up, and helped himself to a large slice of cold pie.
Toad was quite alarmed at this very serious and portentous style of greeting; but the Rat whispered to him, “Never mind; don’t take any notice; and don’t say anything to him just yet. He’s always rather low and despondent when he’s wanting his victuals. In half an hour’s time he’ll be quite a different animal.”
So they waited in silence, and presently there came another and a lighter knock. The Rat, with a nod to Toad, went to the door and ushered in the Mole, very shabby and unwashed, with bits of hay and straw sticking in his fur.
“Hooray! Here’s old Toad!” cried the Mole, his face beaming. “Fancy having you back again!” And he began to dance round him. “We never dreamt you would turn up so soon! Why, you must have managed to escape, you clever, ingenious, intelligent Toad!”
The Rat, alarmed, pulled him by the elbow; but it was too late. Toad was puffing and swelling already.
“Clever? O, no!” he said. “I’m not really clever, according to my friends. I’ve only broken out of the strongest prison in England, that’s all! And captured a railway train and escaped on it, that’s all! And disguised myself and gone about the country humbugging everybody, that’s all! O, no! I’m a stupid ass, I am! I’ll tell you one or two of my little adventures, Mole, and you shall judge for yourself!”
“Well, well,” said the Mole, moving towards the supper-table; “supposing you talk while I eat. Not a bite since breakfast! O my! O my!” And he sat down and helped himself liberally to cold beef and pickles.
Toad straddled on the hearth-rug, thrust his paw into his trouser-pocket and pulled out a handful of silver. “Look at that!” he cried, displaying it. “That’s not so bad, is it, for a few minutes’ work? And how do you think I done it, Mole? Horse-dealing! That’s how I done it!”
“Go on, Toad,” said the Mole, immensely interested.
“Toad, do be quiet, please!” said the Rat. “And don’t you egg him on, Mole, when you know what he is; but please tell us as soon as possible what the position is, and what’s best to be done, now that Toad is back at last.”
“The position’s about as bad as it can be,” replied the Mole grumpily; “and as for what’s to be done, why, blest if I know! The Badger and I have been round and round the place, by night and by day; always the same thing. Sentries posted everywhere, guns poked out at us, stones thrown at us; always an animal on the look-out, and when they see us, my! how they do laugh! That’s what annoys me most!”
“It’s a very difficult situation,” said the Rat, reflecting deeply. “But I think I see now, in the depths of my mind, what Toad really ought to do. I will tell you. He ought to--”
“No, he oughtn’t!” shouted the Mole, with his mouth full. “Nothing of the sort! You don’t understand. What he ought to do is, he ought to--”
“Well, I shan’t do it, anyway!” cried Toad, getting excited. “I’m not going to be ordered about by you fellows! It’s my house we’re talking about, and I know exactly what to do, and I’ll tell you. I’m going to--”
By this time they were all three talking at once, at the top of their voices, and the noise was simply deafening, when a thin, dry voice made itself heard, saying, “Be quiet at once, all of you!” and instantly every one was silent.
It was the Badger, who, having finished his pie, had turned round in his chair and was looking at them severely. When he saw that he had secured their attention, and that they were evidently waiting for him to address them, he turned back to the table again and reached out for the cheese. And so great was the respect commanded by the solid qualities of that admirable animal, that not another word was uttered until he had quite finished his repast and brushed the crumbs from his knees. The Toad fidgeted a good deal, but the Rat held him firmly down.
When the Badger had quite done, he got up from his seat and stood before the fireplace, reflecting deeply. At last he spoke.
“Toad!” he said severely. “You bad, troublesome little animal! Aren’t you ashamed of yourself? What do you think your father, my old friend, would have said if he had been here to-night, and had known of all your goings on?”
Toad, who was on the sofa by this time, with his legs up, rolled over on his face, shaken by sobs of contrition.
“There, there!” went on the Badger, more kindly. “Never mind. Stop crying. We’re going to let bygones be bygones, and try and turn over a new leaf. But what the Mole says is quite true. The stoats are on guard, at every point, and they make the best sentinels in the world. It’s quite useless to think of attacking the place. They’re too strong for us.”
“Then it’s all over,” sobbed the Toad, crying into the sofa cushions. “I shall go and enlist for a soldier, and never see my dear Toad Hall any more!”
“Come, cheer up, Toady!” said the Badger. “There are more ways of getting back a place than taking it by storm. I haven’t said my last word yet. Now I’m going to tell you a great secret.”
Toad sat up slowly and dried his eyes. Secrets had an immense attraction for him, because he never could keep one, and he enjoyed the sort of unhallowed thrill he experienced when he went and told another animal, after having faithfully promised not to.
“There-is-an-underground-passage,” said the Badger, impressively, “that leads from the river-bank, quite near here, right up into the middle of Toad Hall.”
“O, nonsense! Badger,” said Toad, rather airily. “You’ve been listening to some of the yarns they spin in the public-houses about here. I know every inch of Toad Hall, inside and out. Nothing of the sort, I do assure you!”
“My young friend,” said the Badger, with great severity, “your father, who was a worthy animal-a lot worthier than some others I know-was a particular friend of mine, and told me a great deal he wouldn’t have dreamt of telling you. He discovered that passage-he didn’t make it, of course; that was done hundreds of years before he ever came to live there-and he repaired it and cleaned it out, because he thought it might come in useful some day, in case of trouble or danger; and he showed it to me. ‘Don’t let my son know about it,’ he said. ‘He’s a good boy, but very light and volatile in character, and simply cannot hold his tongue. If he’s ever in a real fix, and it would be of use to him, you may tell him about the secret passage; but not before.’”
The other animals looked hard at Toad to see how he would take it. Toad was inclined to be sulky at first; but he brightened up immediately, like the good fellow he was.
“Well, well,” he said; “perhaps I am a bit of a talker. A popular fellow such as I am-my friends get round me-we chaff, we sparkle, we tell witty stories-and somehow my tongue gets wagging. I have the gift of conversation. I’ve been told I ought to have a salon, whatever that may be. Never mind. Go on, Badger. How’s this passage of yours going to help us?”
“I’ve found out a thing or two lately,” continued the Badger. “I got Otter to disguise himself as a sweep and call at the back-door with brushes over his shoulder, asking for a job. There’s going to be a big banquet to-morrow night. It’s somebody’s birthday-the Chief Weasel’s, I believe-and all the weasels will be gathered together in the dining-hall, eating and drinking and laughing and carrying on, suspecting nothing. No guns, no swords, no sticks, no arms of any sort whatever!”
“But the sentinels will be posted as usual,” remarked the Rat.
“Exactly,” said the Badger; “that is my point. The weasels will trust entirely to their excellent sentinels. And that is where the passage comes in. That very useful tunnel leads right up under the butler’s pantry, next to the dining-hall!”
“Aha! that squeaky board in the butler’s pantry!” said Toad. “Now I understand it!”
“We shall creep out quietly into the butler’s pantry-” cried the Mole.
“-with our pistols and swords and sticks-” shouted the Rat.
“-and rush in upon them,” said the Badger.
“-and whack ’em, and whack ’em, and whack ’em!” cried the Toad in ecstasy, running round and round the room, and jumping over the chairs.
“Very well, then,” said the Badger, resuming his usual dry manner, “our plan is settled, and there’s nothing more for you to argue and squabble about. So, as it’s getting very late, all of you go right off to bed at once. We will make all the necessary arrangements in the course of the morning to-morrow.”
Toad, of course, went off to bed dutifully with the rest-he knew better than to refuse-though he was feeling much too excited to sleep. But he had had a long day, with many events crowded into it; and sheets and blankets were very friendly and comforting things, after plain straw, and not too much of it, spread on the stone floor of a draughty cell; and his head had not been many seconds on his pillow before he was snoring happily. Naturally, he dreamt a good deal; about roads that ran away from him just when he wanted them, and canals that chased him and caught him, and a barge that sailed into the banqueting-hall with his week’s washing, just as he was giving a dinner-party; and he was alone in the secret passage, pushing onwards, but it twisted and turned round and shook itself, and sat up on its end; yet somehow, at the last, he found himself back in Toad Hall, safe and triumphant, with all his friends gathered round about him, earnestly assuring him that he really was a clever Toad.
He slept till a late hour next morning, and by the time he got down he found that the other animals had finished their breakfast some time before. The Mole had slipped off somewhere by himself, without telling any one where he was going to. The Badger sat in the arm-chair, reading the paper, and not concerning himself in the slightest about what was going to happen that very evening. The Rat, on the other hand, was running round the room busily, with his arms full of weapons of every kind, distributing them in four little heaps on the floor, and saying excitedly under his breath, as he ran, “Here’s-a-sword-for-the-Rat, here’s-a-sword-for-the Mole, here’s-a-sword-for-the-Toad, here’s-a-sword-for-the-Badger! Here’s-a-pistol-for-the-Rat, here’s-a-pistol-for-the-Mole, here’s-a-pistol-for-the-Toad, here’s-a-pistol-for-the-Badger!” And so on, in a regular, rhythmical way, while the four little heaps gradually grew and grew.
“That’s all very well, Rat,” said the Badger presently, looking at the busy little animal over the edge of his newspaper; “I’m not blaming you. But just let us once get past the stoats, with those detestable guns of theirs, and I assure you we shan’t want any swords or pistols. We four, with our sticks, once we’re inside the dining-hall, why, we shall clear the floor of all the lot of them in five minutes. I’d have done the whole thing by myself, only I didn’t want to deprive you fellows of the fun!”
“It’s as well to be on the safe side,” said the Rat reflectively, polishing a pistol-barrel on his sleeve and looking along it.
The Toad, having finished his breakfast, picked up a stout stick and swung it vigorously, belabouring imaginary animals. “I’ll learn ’em to steal my house!” he cried. “I’ll learn ’em, I’ll learn ’em!”
“Don’t say ‘learn ’em,’ Toad,” said the Rat, greatly shocked. “It’s not good English.”
“What are you always nagging at Toad for?” inquired the Badger, rather peevishly. “What’s the matter with his English? It’s the same what I use myself, and if it’s good enough for me, it ought to be good enough for you!”
“I’m very sorry,” said the Rat humbly. “Only I think it ought to be ‘teach ’em,’ not ‘learn ’em.’”
“But we don’t want to teach ’em,” replied the Badger. “We want to learn ’em-learn ’em, learn ’em! And what’s more, we’re going to do it, too!”
“Oh, very well, have it your own way,” said the Rat. He was getting rather muddled about it himself, and presently he retired into a corner, where he could be heard muttering, “Learn ’em, teach ’em, teach ’em, learn ’em!” till the Badger told him rather sharply to leave off.
Presently the Mole came tumbling into the room, evidently very pleased with himself. “I’ve been having such fun!” he began at once; “I’ve been getting a rise out of the stoats!”
“I hope you’ve been very careful, Mole?” said the Rat anxiously.
“I should hope so, too,” said the Mole confidently. “I got the idea when I went into the kitchen, to see about Toad’s breakfast being kept hot for him. I found that old washerwoman-dress that he came home in yesterday, hanging on a towel-horse before the fire. So I put it on, and the bonnet as well, and the shawl, and off I went to Toad Hall, as bold as you please. The sentries were on the look-out, of course, with their guns and their ‘Who comes there?’ and all the rest of their nonsense. ‘Good morning, gentlemen!’ says I, very respectful. ‘Want any washing done to-day?’
“They looked at me very proud and stiff and haughty, and said, ‘Go away, washerwoman! We don’t do any washing on duty.’ ‘Or any other time?’ says I. Ho, ho, ho! Wasn’t I funny, Toad?”
“Poor, frivolous animal!” said Toad, very loftily. The fact is, he felt exceedingly jealous of Mole for what he had just done. It was exactly what he would have liked to have done himself, if only he had thought of it first, and hadn’t gone and overslept himself.
“Some of the stoats turned quite pink,” continued the Mole, “and the Sergeant in charge, he said to me, very short, he said, ‘Now run away, my good woman, run away! Don’t keep my men idling and talking on their posts.’ ‘Run away?’ says I; ‘it won’t be me that’ll be running away, in a very short time from now!’”
“O Moly, how could you?” said the Rat, dismayed.
The Badger laid down his paper.
“I could see them pricking up their ears and looking at each other,” went on the Mole; “and the Sergeant said to them, ‘Never mind her; she doesn’t know what she’s talking about.’”
“‘O! don’t I?’” said I. “‘Well, let me tell you this. My daughter, she washes for Mr. Badger, and that’ll show you whether I know what I’m talking about; and you’ll know pretty soon, too! A hundred bloodthirsty badgers, armed with rifles, are going to attack Toad Hall this very night, by way of the paddock. Six boatloads of Rats, with pistols and cutlasses, will come up the river and effect a landing in the garden; while a picked body of Toads, known at the Die-hards, or the Death-or-Glory Toads, will storm the orchard and carry everything before them, yelling for vengeance. There won’t be much left of you to wash, by the time they’ve done with you, unless you clear out while you have the chance!’ Then I ran away, and when I was out of sight I hid; and presently I came creeping back along the ditch and took a peep at them through the hedge. They were all as nervous and flustered as could be, running all ways at once, and falling over each other, and every one giving orders to everybody else and not listening; and the Sergeant kept sending off parties of stoats to distant parts of the grounds, and then sending other fellows to fetch ’em back again; and I heard them saying to each other, ‘That’s just like the weasels; they’re to stop comfortably in the banqueting-hall, and have feasting and toasts and songs and all sorts of fun, while we must stay on guard in the cold and the dark, and in the end be cut to pieces by bloodthirsty Badgers!”’
“Oh, you silly ass, Mole!” cried Toad, “You’ve been and spoilt everything!”
“Mole,” said the Badger, in his dry, quiet way, “I perceive you have more sense in your little finger than some other animals have in the whole of their fat bodies. You have managed excellently, and I begin to have great hopes of you. Good Mole! Clever Mole!”
The Toad was simply wild with jealousy, more especially as he couldn’t make out for the life of him what the Mole had done that was so particularly clever; but, fortunately for him, before he could show temper or expose himself to the Badger’s sarcasm, the bell rang for luncheon.
It was a simple but sustaining meal-bacon and broad beans, and a macaroni pudding; and when they had quite done, the Badger settled himself into an arm-chair, and said, “Well, we’ve got our work cut out for us to-night, and it will probably be pretty late before we’re quite through with it; so I’m just going to take forty winks, while I can.” And he drew a handkerchief over his face and was soon snoring.
The anxious and laborious Rat at once resumed his preparations, and started running between his four little heaps, muttering, “Here’s-a-belt-for-the-Rat, here’s-a-belt-for-the-Mole, here’s-a-belt-for-the-Toad, here’s-a-belt-for-the-Badger!” and so on, with every fresh accoutrement he produced, to which there seemed really no end; so the Mole drew his arm through Toad’s, led him out into the open air, shoved him into a wicker chair, and made him tell him all his adventures from beginning to end, which Toad was only too willing to do. The Mole was a good listener, and Toad, with no one to check his statements or to criticise in an unfriendly spirit, rather let himself go. Indeed, much that he related belonged more properly to the category of what-might-have-happened-had-I-only-thought-of-it-in-time-instead-of ten-minutes-afterwards. Those are always the best and the raciest adventures; and why should they not be truly ours, as much as the somewhat inadequate things that really come off?