🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG X: NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU TIẾP THEO CỦA CÓC.

Cửa trước của bọng cây hướng về phía đông, nên Cóc bị đánh thức từ rất sớm. Một phần vì tia nắng ban mai rực rỡ chiếu thẳng vào người, phần khác bởi những ngón chân lạnh cóng khiến cậu mơ màng tưởng mình đang ở nhà. Trong giấc mơ ấy, cậu nằm trên giường giữa căn phòng sang trọng với ô cửa sổ kiểu Tudor vào một đêm đông buốt giá; nhưng chăn gối của cậu bỗng nổi loạn, cằn nhằn rằng chúng không thể chịu đựng cái lạnh thêm phút giây nào nữa, rồi co cẳng chạy tót xuống bếp để sưởi ấm bên ngọn lửa; cậu lê đôi chân trần đuổi theo, dọc theo vô vàn hành lang lát đá lạnh lẽo, vừa tranh cãi vừa hết lời van nài lũ chăn gối hãy biết điều đôi chút. Có lẽ cậu đã thức giấc sớm hơn, nếu không nhờ mấy tuần liền phải ngủ trên đống rơm rạ lót sàn đá nhà tù, làm cậu gần như quên khuấy đi cảm giác thân thuộc của những lớp chăn bông êm ái đắp kín cằm.

Ngồi dậy, trước tiên cậu dụi mắt, xoa bóp những ngón chân đang biểu tình ầm ĩ. Cậu thẫn thờ giây lát, tự hỏi mình đang ở chốn nao, ánh mắt dáo dác tìm kiếm bức tường đá lạnh lẽo và ô cửa sổ nhỏ có chấn song quen thuộc. Rồi, với một nhịp tim đập rộn ràng vỡ òa, cậu nhớ ra tất cả-cuộc tẩu thoát ngoạn mục, chuyến trốn chạy mạo hiểm, sự truy đuổi gắt gao. Và trên hết, điều tuyệt vời nhất: cậu đã hoàn toàn tự do!

Tự do! Chỉ riêng tiếng gọi ấy và ý niệm ấy thôi cũng đã đáng giá bằng năm mươi chiếc chăn bông lộng lẫy. Nghĩ về thế giới tươi vui ngoài kia, lòng cậu ấm áp từ đầu đến chân. Cả thế giới dường như đang háo hức chờ đón cậu bước vào với tư thế ngẩng cao đầu, sẵn sàng phụng sự và chiều chuộng cậu, mong mỏi được kề vai sát cánh như thuở nào, trước khi tai họa giáng xuống. Cậu khẽ rùng mình, dùng ngón tay vuốt những chiếc lá khô vương trên tóc. Sau khi chải chuốt chỉnh tề, cậu hiên ngang bước ra đón lấy vạt nắng mai hiền hòa. Dẫu tiết trời còn se lạnh, lòng cậu lại sục sôi niềm kiêu hãnh; dẫu bụng cồn cào vì đói, trái tim cậu lại tràn trề hy vọng. Mọi nỗi kinh hoàng bạt vía của ngày hôm qua đã bị xua tan hoàn toàn bởi sự nghỉ ngơi, giấc ngủ sâu và ánh mặt trời chân thành, ấm áp.

Sáng đầu hè tinh khôi ấy, cậu như ôm trọn cả thế giới vào lòng. Khi cậu thong dong luồn lách qua khu rừng đẫm sương đêm, vạn vật tĩnh mịch và êm đềm lạ thường. Những cánh đồng xanh mướt trải dài nối tiếp những rặng cây kia chính là vương quốc của cậu, mặc sức vẫy vùng. Ngay cả con đường đất dưới chân cậu, giữa không gian hoang sơ vắng lặng này, dường như cũng giống một chú chó hoang đang cuống quýt kiếm tìm bạn đồng hành. Thế nhưng, thứ Cóc cất công tìm kiếm lại là một thứ biết nói, một người có thể rành rọt chỉ cho cậu lối đi. Thật thi vị biết nhường nào khi mang một cõi lòng nhẹ bẫng, một lương tâm trong trẻo, túi rủng rỉnh tiền bạc, và chẳng lo bị kẻ nào lùng sục tóm vào tù mọt gông, để cứ thế nhẩn nha bước theo tiếng gọi của con đường mà chẳng cần màng tới đích đến. Khổ nỗi, chàng Cóc thực tế của chúng ta lại bận tâm vô cùng. Cậu suýt nữa đã giáng cho con đường một cú đá vì sự im lặng vô tích sự của nó, trong khi từng khắc trôi qua với cậu đều quý giá như vàng.

Chẳng bao lâu sau, con đường quê rụt rè ấy đã hội ngộ một người anh em nhỏ bé nhút nhát mang hình hài con kênh. Kênh ta bám lấy tay đường, thong dong rảo bước song song trong một niềm tin tưởng tuyệt đối, nhưng vẫn giữ thái độ kiệm lời, chẳng màng giao du với kẻ lạ mặt. "Mặc xác chúng!" Cóc tự nhủ. "Nhưng nói gì thì nói, có một điều chắc chắn: cả hai đứa nó phải đang xuất phát từ đâu đó và hướng tới đâu đó. Không thể chối cãi được. Cứ tiến bước đi, chàng Cóc của ta!" Nghĩ vậy, cậu kiên nhẫn bách bộ dọc theo bờ nước.

Quay quanh một khúc cua của con kênh, một chú ngựa cô độc lầm lũi cất bước nặng nhọc, cúi gập mình về phía trước như thể đang chìm đắm trong một dòng suy tưởng miên man. Nối từ những sợi dây cương nơi vòng cổ chú ta là một sợi thừng dài căng bạt, chùng xuống theo từng nhịp bước, đầu dây đằng xa rỏ xuống những giọt nước lấp lánh như ngọc trai. Cóc né sang một bên nhường đường cho con ngựa, rồi đứng nán lại chờ xem số phận sẽ ném cho mình điều gì.

Với một vòng xoáy nước tĩnh lặng êm ru nơi mũi thuyền tù, một chiếc sà lan lướt nhẹ đến sát cạnh cậu. Mạn thuyền sơn phết sặc sỡ nhô ngang tầm với con đường kéo thuyền. Nhân ảnh duy nhất trên sà lan là một người phụ nữ to béo đội chiếc mũ vải che nắng, với một cánh tay vạm vỡ đang tựa dọc theo bánh lái.

“Một buổi sáng tốt lành, thưa bà!” người phụ nữ cất tiếng chào khi lái thuyền ngang tầm Cóc.

“Tôi dám chắc là vậy, thưa bà!” Cóc lịch thiệp đáp lời, sóng bước trên con đường kéo thuyền ngang qua bà ta. “Tôi dám chắc đây đúng là một buổi sáng tốt lành đối với những ai chẳng phải còng lưng gánh chịu nỗi khổ sở cùng cực như tôi. Chuyện là vầy, cô con gái đã đi lấy chồng của tôi gửi thư hỏa tốc, bảo tôi phải đến chỗ nó ngay lập tức. Thế là tôi vội vã lên đường, chẳng biết ất giáp chuyện gì đang hoặc sắp xảy ra, nhưng bụng dạ cứ nơm nớp lo sợ điều tồi tệ nhất, thưa bà, chắc bà cũng thấu hiểu nếu bà là một người mẹ. Rồi tôi đành bỏ mặc việc làm ăn tự thân vận động-bà phải biết là tôi làm nghề giặt ủi, thưa bà-tôi còn phải để lại bầy con thơ ở nhà tự lo liệu cho nhau, mà trên đời này đào đâu ra lũ tiểu yêu nghịch ngợm và phiền nhiễu hơn thế nữa cơ chứ, thưa bà; sau đó tôi đánh rơi sạch sẽ tiền bạc, lạc mất đường đi lối về. Còn về phần con gái tôi đang gặp phải tai ương gì, ôi, tôi chẳng dám mường tượng nữa, thưa bà ạ!”

“Thế cô con gái đã có chồng của bà sống ở đâu vậy, thưa bà?” bà lái đò hỏi.

“Con bé sống gần bờ sông, thưa bà,” Cóc lấp lửng. “Gần một dinh thự lộng lẫy có tên là Phủ Cóc, nằm đâu đó quanh vùng này. Chắc hẳn bà đã từng nghe danh.”

“Phủ Cóc ư? Chà, chính tôi cũng đang đi lối đó đây,” bà lái đò đáp lời. “Con kênh này sẽ nhập vào khúc sông cách đây độ vài dặm, nhỉnh hơn Phủ Cóc một chút; từ đó đi bộ thì nhàn tênh. Bà cứ lên sà lan đi cùng tôi, tôi sẽ cho bà đi nhờ một chặng.”

Bà ta đánh lái đưa chiếc sà lan cập bờ. Cóc, miệng không ngớt thốt ra vô vàn lời cảm tạ nhún nhường và biết ơn, bước nhẹ nhàng lên thuyền rồi ngồi xuống với vẻ vô cùng đắc ý. “Cóc lại gặp may rồi!” cậu thầm nghĩ. “Mình lúc nào cũng là kẻ nắm đằng chuôi!”

“Vậy ra bà làm nghề giặt giũ hả, thưa bà?” bà lái đò lịch thiệp hỏi han, khi thuyền tiếp tục lướt đi. “Và tôi dám chắc bà làm ăn rất khấm khá, nếu tôi không quá mạo muội khi nói vậy.”

“Phát đạt nhất vùng là đằng khác,” Cóc vô tư khoác lác. “Toàn bộ giới quý tộc đều tìm đến tôi-dù có trả tiền thì họ cũng chẳng thèm sang chỗ khác đâu, họ quá tường tận tay nghề của tôi mà. Bà thấy đấy, tôi cực kỳ rành rẽ công việc của mình, chính tay tôi chăm chút từng li từng tí. Giặt, ủi, hồ cứng quần áo, là phẳng nếp áo sơ mi hảo hạng cho các quý ông mặc dự tiệc tối-mọi công đoạn đều phải đi qua chính đôi mắt tinh tường của tôi!”

“Nhưng chắc chắn bà không tự mình ôm đồm ngần ấy việc chứ, thưa bà?” bà lái đò cung kính hỏi.

“Ồ, tôi có mấy cô hầu gái,” Cóc hững hờ bồi thêm: “tầm hai chục cô hay cỡ đó, lúc nào cũng đầu tắt mặt tối. Nhưng bà dư sức biết tụi con gái thời nay thế nào rồi đấy, thưa bà! Lũ ranh con tồi tệ, tôi thường mắng mỏ chúng như vậy đấy!”

“Tôi hoàn toàn đồng tình,” bà lái đò tấm tắc. “Nhưng tôi dám chắc là bà sẽ trị được cái lũ lười biếng đó thôi! Và bà có thực sự đam mê công việc giặt giũ không?”

“Tôi mê đắm nó,” Cóc ba hoa. “Tôi cực kỳ say sưa với nó. Chẳng có khoảnh khắc nào làm tôi sướng rơn bằng lúc nhúng ngập hai cánh tay vào chậu giặt. Nhưng, khổ nỗi, việc đó đối với tôi quá đỗi dễ dàng! Chẳng có chút khó nhọc nào! Phải nói là một thú tiêu khiển đích thực, tôi đoan chắc với bà là như vậy, thưa bà!”

“Thật may mắn làm sao khi hạnh ngộ cùng bà!” bà lái đò trầm ngâm nhận xét. “Quả là một món hời lớn đối với cả hai ta!”

“Sao cơ, ý bà là sao?” Cóc chột dạ hỏi rụt rè.

“Chuyện là thế này, bà nhìn tôi đây,” bà lái đò đáp lời. “Tôi cũng yêu thích việc giặt giũ giống hệt như bà vậy; và về khoản đó, dù có thích hay không thì dĩ nhiên tôi vẫn phải tự mình nai lưng ra làm, bởi vì tôi cứ phải lênh đênh di chuyển liên tục. Còn lão chồng tôi, lão là cái giống chuyên trốn việc và đùn đẩy hết thảy mọi thứ trên sà lan lên đầu tôi, đến nỗi tôi chẳng rứt ra được một phút nghỉ ngơi để lo chuyện cá nhân. Đáng lý ra giờ này lão phải có mặt ở đây, nếu không cầm lái thì cũng phải chăm bẵm con ngựa, dù may thay con ngựa cũng đủ khôn ngoan để tự lo liệu thân nó. Đằng này, lão lại dắt theo con chó lỉnh đi mất tăm mất tích, để xem liệu có chộp được con thỏ nào đó làm bữa tối hay không. Lão hứa hẹn sẽ bắt kịp tôi ở âu thuyền tiếp theo. Ờ, cứ cho là lão nói thật đi-tôi chẳng tin nổi lão một khi lão đã tót đi cùng con chó tồi tệ hơn cả lão đó. Nhưng trong lúc chờ đợi, tôi biết xoay sở thế nào với đống đồ giặt chất đống của mình đây?”

“Ồ, xin bà đừng bận tâm về đống đồ giặt,” Cóc vội vàng lảng tránh, chẳng mấy mặn mà với chủ đề này. “Hãy thử dồn tâm trí vào con thỏ đó xem. Chắc chắn là một con thỏ non béo ngậy. Bà có sẵn hành tây không?”

“Tôi chẳng thể nào nghĩ ngợi đến thứ gì khác ngoài mớ đồ giặt của mình,” bà lái đò khăng khăng, “và tôi lấy làm lạ khi bà lại có tâm trí huyên thuyên về thỏ, trong khi một viễn cảnh thú vị đang chờ đợi bà ngay trước mắt. Ở góc cabin đằng kia có một đống đồ của tôi đấy. Nếu bà chịu khó nhặt ra vài món thiết yếu nhất-tôi chẳng dám miêu tả cụ thể với một quý bà như bà đâu, nhưng bà sẽ nhận ra ngay thôi-rồi ném chúng vào chậu giặt trong lúc chúng ta di chuyển, ồ, nó sẽ là một niềm vui vô bờ bến cho bà, như chính bà vừa thốt lên, và là một sự giúp rập vô giá đối với tôi. Bà sẽ thấy sẵn đó một chiếc chậu giặt, cục xà phòng, ấm nước đun trên bếp lò và cái xô để múc nước từ kênh lên. Lúc ấy tôi mới tin chắc rằng bà đang thực sự tận hưởng niềm vui, thay vì ngồi ruồi ở đây ngắm cảnh và ngáp vặt.”

“Này, hay là để tôi cầm lái cho!” Cóc hốt hoảng lên tiếng, giờ thì cậu đã thực sự sợ hãi, “và sau đó bà có thể lo liệu chuyện giặt đồ theo đúng ý bà. Nhỡ đâu tôi làm hỏng đồ của bà, hay giặt không vừa mắt bà thì khốn. Bản thân tôi quen tay giặt đồ cho các quý ông hơn. Đó mới là sở trường của tôi.”

“Để bà cầm lái á?” bà lái đò bật cười khoái trá. “Phải trui rèn nhiều lắm mới lái được chiếc sà lan này tử tế đấy. Hơn nữa, việc đó chán ốm, mà tôi thì muốn bà được vui vẻ cơ. Không đâu, bà cứ tận hưởng cái công việc giặt giũ mà bà vô cùng yêu thích, còn tôi sẽ gắn chặt với cái bánh lái mà tôi sành sỏi. Đừng hòng tước đi niềm hân hoan được khoản đãi bà của tôi!”

Cóc bị dồn vào đường cùng. Cậu dáo dác ngó quanh tìm đường tẩu thoát, nhưng cay đắng nhận ra mình đang ở quá xa bờ để có thể tung một cú nhảy vọt, đành phụng phịu cúi đầu cam chịu số phận. “Nếu sự đã đến nước này,” cậu tuyệt vọng thầm nhủ, “mình cá là bất cứ kẻ ngốc nào cũng có thể giặt đồ!”

Cậu rề rà lấy chậu giặt, xà phòng cùng dăm ba vật dụng lỉnh kỉnh khác từ cabin, vớ đại vài món quần áo, cố gắng lục lọi trong trí nhớ những động tác cậu từng vô tình chứng kiến qua ô cửa kính các tiệm giặt ủi, và miễn cưỡng bắt tay vào việc.

Nửa giờ đồng hồ dài dằng dặc trôi qua, và từng phút tích tắc trôi đi chỉ khiến Cóc ngày càng cáu bẳn điên tiết. Mọi thủ thuật cậu áp dụng với đống đồ dường như chẳng hề làm chúng thỏa mãn hay trắng sạch lên chút nào. Cậu dỗ dành chúng, cậu tát chúng, cậu nện chúng thùm thụp; chúng chỉ nhoẻn miệng cười cợt nhìn cậu từ dưới đáy chậu mà chẳng buồn nhượng bộ, hể hả đắm chìm trong thứ tội lỗi ban sơ của mình. Đôi ba lần cậu thấp thỏm ngoái nhìn bà lái đò, nhưng bà ta có vẻ đang mải mê hướng mắt về phía trước, chìm đắm vào việc bẻ lái. Lưng cậu đau ê ẩm, và cậu bàng hoàng nhận ra đôi bàn chân ngọc ngà của mình đang bắt đầu nhăn nheo lại vì ngấm nước. Mà Cóc thì kiêu hãnh vô ngần về đôi bàn chân của mình. Cậu lầm bầm trong miệng những lời lẽ chướng tai lẽ ra không bao giờ nên thốt ra từ cửa miệng của một thợ giặt lẫn một con Cóc; và rồi, cậu lại đánh rơi cục xà phòng vương vãi, lần thứ năm mươi.

Một tràng cười phá lên khiến cậu thẳng lưng và ngoảnh lại. Bà lái đò đang ngả người ra sau, cười ngặt nghẽo đến không sao kiểm soát nổi, nước mắt giàn giụa ròng ròng trên má.

“Nãy giờ tao vẫn luôn để mắt tới mày,” mụ thở hổn hển. “Tao đã ngờ ngợ mày là một kẻ lừa đảo ngay từ đầu, qua cái kiểu cách ăn nói tự cao tự đại của mày. Thợ giặt cừ khôi gì mà lại như mày chứ! Cả đời mày chưa từng giặt nổi lấy một cái giẻ rửa bát, tao cá luôn!”

Cơn tức giận của Cóc vốn âm ỉ sục sôi từ lâu, giờ thì thực sự bùng nổ, làm cậu hoàn toàn mất kiểm soát.

“Cái đồ lái đò thấp kém, hèn hạ, béo ị kia!” cậu hét lên; “mụ đừng hòng dám ăn nói với người bề trên của mụ theo cái kiểu đó! Thợ giặt cái nỗi gì! Tao cho mụ biết tao là một con Cóc, một con Cóc cực kỳ nổi tiếng, đáng kính và xuất chúng! Dù hiện tại tao có đang gặp chút rắc rối, nhưng tao sẽ không để một mụ lái đò cười nhạo đâu!”

Người phụ nữ xích lại gần cậu, cúi xuống nhìn chằm chằm bên dưới chiếc mũ vải một cách sắc bén. “Chà, ra là mày!” mụ thét lên. “Trời đất ơi! Một con Cóc gớm ghiếc, nhớp nhúa, bò lổm ngổm! Lại còn ở trên chiếc sà lan sạch sẽ tinh tươm của tao nữa! Chuyện này thì tao không thể nào chấp nhận được.”

Mụ buông tay lái trong chốc lát. Một cánh tay lốm đốm to lớn phóng ra tóm chặt lấy chân trước của Cóc, trong khi tay kia kẹp chặt lấy chân sau của cậu. Rồi thế giới bỗng nhiên đảo lộn tùng phèo, chiếc sà lan dường như bay vụt qua bầu trời, gió rít lạo xạo bên tai, và Cóc thấy mình đang bay giữa không trung, xoay tròn thoăn thoắt theo mỗi nhịp bay.

Nước sông, khi cậu rốt cuộc cũng đáp xuống với một tiếng ùm to tướng, quả là lạnh hơn nhiều so với sở thích của cậu, dẫu cái lạnh ấy chưa đủ sức dập tắt tinh thần kiêu ngạo, hay làm dịu đi sức nóng của cơn thịnh nộ đang bừng bừng trong cậu. Cậu ngoi lên mặt nước, miệng phì phò nhổ nước, và khi đã lau sạch mớ bèo cám khỏi mắt, điều đầu tiên cậu nhìn thấy là mụ lái đò béo ị đang ngoái lại nhìn cậu từ phía đuôi chiếc sà lan đang xa dần và cười cợt; và cậu thề, ngay trong lúc đang ho sặc sụa, rằng nhất định sẽ trả thù mụ.

Cậu bơi vào bờ, nhưng chiếc váy dài bằng vải cotton cản trở nỗ lực của cậu rất nhiều, và khi cuối cùng cậu cũng chạm đất, cậu thấy thật nhọc nhằn để tự mình leo lên bờ dốc đứng. Cậu phải nghỉ ngơi vài phút để lấy lại hơi; sau đó, túm gọn chiếc váy ướt sũng vắt qua tay, cậu bắt đầu chạy đuổi theo chiếc sà lan nhanh hết mức đôi chân có thể mang cậu đi, điên cuồng vì phẫn nộ, sục sôi khao khát trả thù.

Bà lái đò vẫn đang cười ngất khi cậu chạy ngang tầm với mụ. “Tự chui qua máy vắt1 đi, thím thợ giặt,” mụ lớn tiếng gọi, “rồi tự ủi phẳng cái mặt đi và uốn xoăn nó lại, lúc đó mày sẽ trông giống hệt một con Cóc tươm tất đấy!”

Cóc chẳng buồn dừng lại đáp lời. Sự trả thù đích đáng mới là thứ cậu khao khát, chứ không phải những lời lẽ sáo rỗng, rẻ tiền, mặc dù cậu cũng đang nung nấu vài câu muốn tuôn ra. Cậu đã nhìn thấy mục tiêu của mình ở phía trước. Chạy thục mạng lên, cậu bắt kịp con ngựa, tháo sợi dây kéo và vứt đi, nhẹ nhàng nhảy tót lên lưng ngựa, rồi hối thúc nó phi nước đại bằng cách thúc gót thật mạnh vào hông. Cậu bẻ lái về phía vùng quê trống trải, từ bỏ con đường kéo thuyền, và điều khiển chiến mã của mình lao xuống một con đường mòn lồi lõm đầy vết rãnh xe. Có một lần cậu ngoái lại, và thấy chiếc sà lan đã mắc cạn ở phía bên kia bờ kênh, còn bà lái đò đang quờ quạng tay chân loạn xạ và la hét, “Dừng lại, dừng lại, dừng lại!” “Bản nhạc này ta nghe rồi,” Cóc nói, cười phá lên, và tiếp tục thúc giục con ngựa lao về phía trước trong cuộc đua hoang dại.

Con ngựa kéo sà lan không có khả năng duy trì sức lực lâu dài, tiếng vó phi nước đại chẳng mấy chốc đã giảm thành tiếng phi nước kiệu, và tiếng phi nước kiệu lại chuyển thành bước đi thong dong; nhưng Cóc lại khá hài lòng với điều này, bởi cậu biết rằng, dẫu sao thì, cậu đang di chuyển, còn chiếc sà lan kia thì không. Cậu đã hoàn toàn nguôi ngoai cơn giận, giờ cậu đã làm được một việc mà cậu cho là thực sự xuất sắc; và cậu mãn nguyện thong dong cưỡi ngựa dưới ánh mặt trời rực rỡ, điều khiển chú ngựa đi dọc theo những con đường vòng vèo và lối mòn êm ái, cố gắng quên đi việc đã bao lâu rồi mình chưa được ăn một bữa no nê, cho đến khi con kênh đã bị bỏ lại một khoảng rất xa phía sau.

Hai thầy trò đi được vài dặm. Dưới ánh nắng rực rỡ, cơn buồn ngủ ập đến khiến Cóc mơ màng, cho tới khi con ngựa bỗng khựng lại, chúi đầu gặm cỏ. Cóc giật mình tỉnh giấc, chới với bám víu mới khỏi lộn cổ xuống đất. Cậu đưa mắt nhìn quanh. Chà, mình đang đứng giữa một khu đất hoang mênh mông, lốm đốm những vạt kim tước và bụi gai đen trải dài ngút tầm mắt. Ngay gần đó đậu một cỗ xe ngựa du mục tồi tàn, và cạnh chiếc xe, một người đàn ông đang ngồi vắt vẻo trên chiếc xô úp ngược, phả khói thuốc mù mịt, đăm đăm phóng tầm mắt nhìn ra thế giới rộng lớn. Cách đó không xa là một đống củi đang bùng cháy rực rỡ. Phía trên ngọn lửa đung đưa một chiếc nồi sắt, không ngừng phát ra những âm thanh lục bục, róc rách quyện cùng làn hơi nước mỏng tang mang đầy sự khiêu khích. Ôi, và những mùi hương kia nữa chứ! Những hương thơm nồng nàn, béo ngậy, muôn vàn sắc thái cứ thế hòa quyện, quyến luyến lấy nhau rồi kết đọng lại thành một thứ mùi vị trọn vẹn, gọi mời và hoàn mĩ đến độ tưởng như linh hồn vĩ đại của Mẹ Thiên Nhiên đang giáng thế trước đàn con thơ, hóa thân thành một Nữ thần ban phát muôn vàn chở che và an toàn. Mãi tới tận lúc này, Cóc mới vỡ lẽ rằng hóa ra từ trước đến nay mình chưa từng thực sự biết đói là gì. Cái cảm giác buổi sáng cùng lắm chỉ là chút cồn cào vụn vặt. Còn giờ đây, cơn đói cuộn trào chân thực, không thể lẫn lộn! Cơn đói ấy đang gào thét đòi được vỗ về ngay tức khắc, bằng không thì kiểu gì cũng có kẻ hoặc có chuyện gay go to! Cậu nheo mắt soi xét gã du mục, mông lung tự hỏi chẳng biết nên nhảy vào sống mái với gã hay dùng lời ngon tiếng ngọt dụ dỗ thì bề trên hơn. Thế là cậu cứ ngồi ì ra đó, hếch mũi đánh hơi, mắt dán chặt vào gã du mục; trong khi gã du mục vẫn ung dung nhả khói, thản nhiên nhìn cậu.

Hồi lâu sau, gã du mục mới nhẩn nha rút tẩu thuốc ra khỏi khóe miệng, hờ hững buông một câu, "Có muốn bán con ngựa đó không?"

Cóc sững sờ. Cậu đâu có ngờ lũ người du mục lại khoái buôn ngựa đến thế, và chẳng bao giờ chúng chịu vuột mất một mối hời. Cậu cũng chưa từng nghĩ ngợi đến chuyện những cỗ xe lữ hành nay đây mai đó luôn khao khát có thêm sức kéo. Ý định gán con ngựa lấy dăm đồng bạc vốn chưa mảy may xuất hiện trong đầu cậu, thế nhưng lời gạ gẫm của gã du mục tựa hồ đã soi sáng một con đường tắt dẫn thẳng đến hai thứ cậu đang thèm khát đến phát điên: những đồng tiền kêu leng keng trong túi và một bữa điểm tâm tú ụ thịt thà.

"Cái gì cơ?" cậu ré lên. "Tôi mà lại thèm bán con ngựa non tuyệt đẹp này á? Ôi dào, không đời nào! Không có nó thì mỗi tuần lễ, ai là người đánh xe chở đồ giặt ủi đến cho khách hàng của tôi đây? Hơn nữa, tôi đã trót dành trọn tình cảm cho nó, và con ngựa này cũng cuồng si tôi đến độ không thể tách rời!"

"Chuyển qua yêu lừa thử xem," gã du mục nhấm nhẳng. "Đầy kẻ cũng đổi gu thế mà."

"Có vẻ anh vẫn chưa nhận ra," Cóc dõng dạc nói tiếp, "rằng con ngựa phi thường của tôi đây ở một đẳng cấp bỏ xa anh hàng dặm. Trong người nó chảy dòng máu nòi xịn đấy, ít nhất là một phần. Tất nhiên không phải cái phần bề ngoài mà anh đang chằm chằm nhìn đâu-mà là phần bên trong cơ. Hơn nữa, vào thời hoàng kim, nó từng là một chú ngựa kéo Hackney từng giật giải nhất rạng rỡ-cái thời mà anh còn chưa biết đến sự tồn tại của nó, nhưng nếu anh có chút kiến thức về ngựa thì chỉ cần liếc mắt một cái là nhìn thấu ngay. Chắc chắn rồi, tôi chẳng hề có ý định nhượng lại nó, dù chỉ là một chớp mắt! Cơ mà, nói đi cũng phải nói lại, rốt cuộc thì anh định ngã giá bao nhiêu cho con ngựa non nhan sắc nhường này?"

Gã du mục săm soi kỹ lưỡng con ngựa, rồi lại dè dặt quan sát Cóc, đoạn lại quay sang nhìn con ngựa lần nữa. "Cứ mỗi chân một shilling2," gã đáp gọn lỏn, rồi ngoảnh đi, lại ngậm tẩu hút phì phèo, đôi mắt đờ đẫn cố nặn ra vẻ sâu sắc như thể đang hù dọa cả nhân loại.

"Mỗi chân một shilling á?" Cóc la oai oái. "Xin anh, hãy thư thư cho tôi đôi ba phút để tính toán đã. Phải xem chốt sổ là bao nhiêu."

Cậu tuột khỏi lưng ngựa, kệ xác con vật cắm cúi gặm cỏ, rồi thả người ngồi phịch xuống bên cạnh gã lữ hành. Cậu vừa xòe ngón tay vừa lầm bầm cộng trừ nhân chia, để rồi dõng dạc tuyên bố: "Một chân một shilling phải không? Chà, vậy là chẵn bốn shilling, không dư một xu! Ồ, không; tôi tuyệt đối không thể bán rẻ con ngựa non phi phàm này với cái giá mạt hạng bốn shilling đâu!"

"Thôi được rồi," gã du mục nhượng bộ, "vậy thì nghe cho kỹ tôi sẽ làm gì đây. Tôi sẽ chốt năm shilling, một cái giá trên trời, hớ hẳn ba shilling rưỡi so với giá trị thực tế của cái của nợ này. Và đó là lời chốt hạ cuối cùng của tôi đấy nhé!"

Thế là Cóc lại thu lu ngồi vắt óc suy tính thật lâu, thật sâu sắc. Cậu đang bụng réo mắt hoa, ví rỗng tuếch, nhà thì cách xa vạn dặm-chẳng biết là mấy dặm nữa, còn kẻ thù thì lăm le rượt bắt sát nút lưng. Đặt vào tình cảnh bi đát nhường ấy, năm shilling bỗng chốc hóa thành một gia tài to kếch xù. Song, nếu nhìn dưới một góc độ khác, giá đó bèo bọt quá đỗi cho sinh mạng một con ngựa. Nhưng mà, nghĩ tới nghĩ lui, cái con ngựa này cậu vốn nẫng tay trên, chẳng tốn một cắc; thế nên bán được bao nhiêu thì cũng tính là lãi ròng trăm phần trăm. Cuối cùng, cậu đanh thép hạ màn: "Nghe cho rành đây, anh du mục! Để tôi nói cho anh nghe chúng ta sẽ giao dịch thế nào; và đây là quyết định cuối cùng của tôi! Anh sẽ đếm ngay vào tay tôi sáu shilling và sáu xu tiền tươi thóc thật; chửa hết đâu, để bù đắp phần thiệt thòi, anh phải bao tôi một bữa sáng tú ụ đến mức bụng tôi không thể chứa thêm một mẩu nào nữa, tất nhiên là chỉ tính một lượt ăn thôi. Thức ăn phải được múc từ cái nồi sắt đang không ngừng nhả ra những làn hương mê hồn và đầy kích thích kia! Đổi lại, tôi sẽ gạt nước mắt trao cho anh chú ngựa non hừng hực khí thế của tôi, tặng kèm luôn nguyên vẹn bộ yên cương lộng lẫy trên lưng nó, không thèm tính phí. Nếu thế mà anh vẫn thấy không đủ thơm bùi, thì cứ mạnh dạn buông một lời để tôi còn cất bước. Ngay gần đây có một ông bạn quen của tôi khao khát có được con ngựa này từ hằng mấy năm nay rồi cơ!"

Gã du mục nghe thế liền gầm gừ càu nhàu thảm thiết, lớn tiếng than vãn rằng chỉ cần dính thêm vài phi vụ làm ăn cỡ này nữa thì gã sạt nghiệp là cái chắc. Thế nhưng, rốt cuộc gã cũng moi từ tận đáy quần ra một chiếc túi vải cáu bẩn, lầm bầm đếm đủ sáu shilling và sáu xu ném vào lòng bàn tay Cóc. Tiếp đó, gã chui tọt vào cỗ xe mất tăm một lúc, khi trở ra, gã mang theo một chiếc đĩa sắt tướng, kèm luôn dao, nĩa, và thìa. Gã nghiêng nồi, và một dòng suối thịt hầm béo ngậy, nóng hôi hổi ngoan ngoãn róc rách tuôn trào vào đĩa. Phải thừa nhận, đó là món hầm xuất chúng nhất trên cõi đời này, là một sự hòa tấu tuyệt diệu giữa thịt đa đa, chim trĩ, thịt gà, thỏ rừng, thỏ nhà, thịt công mái, gà sao, và dăm ba món ăn bí truyền khác. Cóc ôm khư khư cái đĩa trên đùi, xúc động muốn trào nước mắt, cậu cứ thế nhồi nhét, nhồi nhét, nhồi nhét không ngơi nghỉ, và mồm thì liên hồi réo xin thêm. Gã du mục cũng tỏ ra hào phóng, chẳng mảy may tiếc của. Cóc đinh ninh rằng từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới nay, chưa bao giờ cậu được tận hưởng một bữa sáng thần tiên đến vậy.

Khi đống thịt hầm nhồi nhét vào dạ dày đã căng cứng đến độ tưởng chừng bụng muốn nứt toác, Cóc no nê đứng dậy. Cậu nói lời chia tay gã du mục, bịn rịn tung một nụ hôn gió tạm biệt con ngựa thân yêu; rồi nhờ gã lữ hành thông thuộc địa hình đường sông mách nước phương hướng, cậu lại hiên ngang tiếp bước trên hành trình hồi hương với một tinh thần phấn chấn chưa từng có. Rõ ràng, cậu lúc này là một quý ngài Cóc hoàn toàn khác so với cái sinh vật ỉu xìu thê thảm của một giờ trước. Mặt trời trên cao vẫn tỏa nắng rực rỡ, bộ đồ sũng nước của cậu nay đã khô ráo thơm tho, ví tiền lại rủng rỉnh kêu leng keng, còn cậu thì đang ngày một thu hẹp khoảng cách trở về chốn an toàn bên vòng tay bè bạn. Và, điều diệu kỳ hơn cả thảy, cậu vừa được tọng một bữa ăn nóng sốt, no nê bổ dưỡng, khiến cậu cảm thấy bản thân mình bỗng hóa thành vĩ đại, mạnh mẽ phi thường, vô âu vô lo, ngập tràn sự tự tin kiêu hãnh.

Cứ nhịp bước nhởn nhơ như vậy, cậu râm ran hồi tưởng lại những chiến tích tẩu thoát và phiêu lưu chấn động của mình. Rằng giữa những lúc hiểm nghèo tưởng chừng vô phương cứu chữa, cậu vẫn luôn lèo lái tài tình tìm được lối thoát sinh tử; thế là sự kiêu hãnh và thói huênh hoang tự phụ lại tiếp tục nảy nở, bành trướng mãnh liệt trong huyết quản. "Hô, hô!" cậu đắc chí tự nhủ khi vênh váo rảo bước, cằm vểnh cao tít lên trời, "mình quả là một con Cóc kiệt xuất! Dám chắc khắp cõi trần gian này chẳng có giống loài nào sánh kịp trí tuệ siêu phàm của mình! Bọn kẻ thù đê tiện dám tống mình vào ngục tối, giăng đầy lính gác bủa vây, rồi để lũ cai ngục ngày đêm dòm ngó; mình cứ thế ung dung bước ra ngoài, dắt mũi toàn bộ bọn chúng bằng chính thiên tài xuất chúng và lòng can đảm ngút ngàn. Chúng hò hét xua máy móc, cảnh sát, súng ống rượt đuổi; mình chỉ việc búng tay khinh khỉnh vào mặt chúng, rồi tan biến vào hư không trong tiếng cười ngạo nghễ. Có chút xui xẻo khi mình bị một mụ đàn bà béo phục phịch, tâm địa đen tối hất cẳng xuống kênh đào. Thế thì đã sao nào? Mình hiên ngang bơi vào bờ, mình nẫng tay trên con ngựa của mụ ta, mình phóng vút đi tựa một khúc khải hoàn, để rồi chốt hạ bằng việc bán lại con ngựa, ôm trọn một túi tiền khẳm và thưởng thức một bữa ăn sáng ngon nức nở! Hô, hô! Ta là Cóc, Cóc đẹp trai, lừng danh thiên hạ, và thành công rực rỡ!" Cậu càng lúc càng lên mặt vênh váo, tới độ cậu tự sáng tác ngay một khúc tráng ca khi đang sải bước để ngợi ca chính bản thân, rồi gân cổ cất cao tiếng hát, mặc kệ chẳng có một bóng thính giả nào xung quanh. Đấy rất có thể là bài hát vĩ cuồng và tự phụ bậc nhất mà bất cứ giống loài nào từng sản sinh ra trên cõi đời này.

“Thế giới từng ghi danh biết bao Anh Hùng vĩ đại,
    Trang sử vàng vẫn rực rỡ ngợi ca;
Nhưng chưa từng có tên ai vang vọng muôn thuở
    Hào hùng sánh kịp danh xưng của Cóc!

“Những học giả uyên thâm chốn Oxford
    Tinh thông vạn vật trên cõi đời.
Nhưng nào ai trong số họ thấu tỏ nổi một nửa
    Bằng trí tuệ tột đỉnh của Ngài Cóc!

“Muôn loài ngồi ủ rũ trên Tàu Nô-ê3 mà khóc than,
    Nước mắt tuôn trào thành dòng suối.
Vậy ai là kẻ hô vang, ‘Đất liền ở phía trước?’
    Chính là Ngài Cóc ngập tràn nghị lực!

“Toàn thể ba quân cùng đứng nghiêm bái chào
    Khi đoàn quân rầm rập diễu bước trên đường.
Đó là Đức Vua chăng? Hay Tướng Kitchener4 lừng lẫy?
    Không. Đó chính là Ngài Cóc vĩ đại.

“Nữ Hoàng cùng các nàng Thị nữ kiều diễm
    Ngồi thêu thùa bên khung cửa sổ.
Bà thốt lên, ‘Nhìn kìa! Người đàn ông bảnh bao kia là ai?’
    Họ cung kính đáp, ‘Thưa, là Ngài Cóc đấy ạ.’”

Thực tình vẫn còn dài dằng dặc vô số những đoạn thơ tương tự như vậy nữa, nhưng vì chúng mang đậm thói tự phụ đến độ người viết cũng chẳng tiện chép ra. Đây mới chỉ là một trong số ít những đoạn thơ khiêm tốn nhất của Ngài Cóc mà thôi.

Cóc vừa đi vừa cất cao giọng hát, và càng hát, mũi cậu lại càng hếch cao lên tít tận trời xanh. Thế nhưng, thói kiêu ngạo ấy chuẩn bị phải hứng chịu một đòn giáng điếng người.

Rong ruổi được vài dặm dọc theo những nẻo đường làng, Cóc bước ra tới đường cái. Vừa rẽ ngoặt vào, cậu đưa mắt dõi theo dải đường trắng xóa thì chợt nhận ra một đốm sáng đang lao về phía mình. Đốm sáng ấy nhanh chóng rõ nét, biến thành một dấu chấm, rồi to dần thành một khối tròn xoe, và cuối cùng hiện nguyên hình là một tạo vật vô cùng quen thuộc. Cùng lúc đó, một tiếng còi đôi cảnh báo - thứ âm thanh vốn dĩ đã ăn sâu vào tiềm thức - ré lên, lọt thỏm vào đôi tai đang reo vui của cậu.

“Thế này mới gọi là sống chứ!” Cóc kích động thốt lên. “Đây mới thực sự là cuộc sống! Cuối cùng mình cũng được trở lại với thế giới bao la mà mình đã cách biệt bấy lâu! Mình sẽ vẫy tay chào những người anh em thiện lành của những cỗ xe. Chắc chắn mình sẽ bịa ra một câu chuyện thật lâm ly bi đát - cái ngón nghề đã luôn mang lại thành công vang dội cho tới tận bây giờ! Lẽ dĩ nhiên là họ sẽ cho mình quá giang, và rồi mình sẽ tha hồ thao thao bất tuyệt với họ. Nếu may mắn, biết đâu chừng câu chuyện sẽ kết thúc bằng cảnh mình tự tay cầm lái một chiếc ô tô, bệ vệ tiến thẳng về Phủ Cóc! Lúc đó thì bác Lửng già sẽ phải lác mắt ra cho xem!”

Tràn trề tự tin, cậu nghễu nghện bước ra giữa đường để vẫy tay ra hiệu. Chiếc ô tô đang lướt đi với tốc độ nhàn nhã, từ từ giảm tốc khi tiến đến gần con đường mòn. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ấy, mặt mày Cóc bỗng chốc trắng bệch. Tim cậu mềm nhũn ra như nước, hai đầu gối run lẩy bẩy rồi khuỵu hẳn xuống. Cậu ôm bụng gập người lại, ngã lăn ra đất vì một cơn đau quặn thắt. Mà cũng chẳng trách được con vật khốn khổ ấy! Bởi lẽ, chiếc ô tô đang lù lù tiến tới kia lại chính là cỗ xe mà cậu đã cuỗm mất từ sân Khách sạn Sư Tử Đỏ vào cái ngày định mệnh, ngày mà bao sóng gió bắt đầu ập xuống đầu cậu! Chưa hết, những bóng người đang ngồi lố nhố trên xe cũng chính là những vị khách mà cậu từng chằm chằm quan sát họ ăn trưa trong phòng ăn khách sạn!

Cậu gục ngã, thu mình lại thành một đống bèo nhèo thảm hại ngay giữa đường, miệng lầm bầm trong nỗi tuyệt vọng tột cùng: “Thế là tiêu tùng! Mọi chuyện kết thúc thật rồi! Lại chuẩn bị đối mặt với gông cùm và lũ cảnh sát! Lại nhà tù! Lại những ngày gặm bánh mì khô và uống nước lã! Ôi, sao tôi lại ngu xuẩn đến mức này cơ chứ! Tại sao tôi lại cứ phải nghênh ngang diễu võ dương oai khắp vùng, vểnh mõm lên hát mấy bài ca tự phụ, rồi lại còn vẫy gọi người qua đường ngay giữa thanh thiên bạch nhật cơ chứ? Đáng lý ra tôi phải ngoan ngoãn lẩn trốn cho đến khi màn đêm buông xuống, rồi âm thầm lẻn về nhà bằng lối cửa sau mới phải! Ôi, chàng Cóc bất hạnh! Ôi, con vật bạc phước là tôi!”

Cỗ xe ô tô đáng sợ ấy chầm chậm tiến lại, gần hơn, rồi gần hơn nữa. Cuối cùng, cậu nghe tiếng động cơ tắt lịm ngay sát bên cạnh. Hai vị quý ông bước xuống xe, cẩn thận đi vòng quanh cái khối thịt nhăn nhúm, đau khổ và đang run bần bật giữa đường. Một người cất giọng thương xót: “Ôi chao ôi! Thật là đáng thương! Nhìn kìa, một bà lão tội nghiệp-trông có vẻ là một thợ giặt-đã ngất xỉu ngay giữa đường! Có lẽ bà ấy bị say nắng, tội nghiệp làm sao! Hoặc cũng có khi từ sáng đến giờ bà ấy chưa có hạt cơm nào vào bụng. Nào, hãy bế bà ấy lên xe rồi đưa đến ngôi làng gần nhất. Chắc chắn bà ấy sẽ có bạn bè hay người thân ở đó.”

Nói là làm, họ nhẹ nhàng bế xốc Cóc lên xe, ân cần lót thêm mấy chiếc đệm êm ái cho cậu nằm nghỉ, rồi tiếp tục cuộc hành trình.

Nghe những lời lẽ ngập tràn lòng nhân từ và sự cảm thông ấy, đồng thời nhận ra cái lốt cải trang của mình vẫn chưa bị lật tẩy, lòng can đảm trong Cóc bắt đầu râm ran sống lại. Cậu dè dặt hé mở một mắt, rồi he hé nốt con mắt còn lại.

“Nhìn kìa!” một vị quý ông vui vẻ reo lên, “có vẻ như bà ấy đã khá hơn rồi đấy. Không khí trong lành đang giúp bà ấy hồi phục. Giờ bà cảm thấy trong người thế nào rồi, thưa bà?”

“Xin chân thành cảm ơn các ngài,” Cóc thều thào đáp lời bằng một chất giọng yếu ớt, “tôi đã cảm thấy đỡ hơn rất nhiều rồi!” “Tốt lắm,” vị quý ông ân cần nói. “Bây giờ bà cứ nằm yên đấy, và quan trọng nhất là đừng cố gắng nói chuyện làm gì.”

“Tôi sẽ không nói nữa đâu,” Cóc rên rỉ. “Chỉ là tôi đang nghĩ, giá như tôi được chuyển lên hàng ghế trước kia, ngồi ngay cạnh người lái xe, nơi tôi có thể đón trọn vẹn luồng gió mát rượi phả vào mặt, thì chắc chắn tôi sẽ bình phục nhanh chóng thôi.”

“Quả là một người phụ nữ thấu tình đạt lý!” vị quý ông thốt lên trầm trồ. “Tất nhiên là bà sẽ được ngồi ở vị trí đó rồi.” Thế là họ lại lúi húi, cẩn thận xốc Cóc lên hàng ghế trước, an tọa ngay sát người lái xe, rồi chiếc ô tô lại nổ máy lăn bánh.

Đến lúc này, Cóc đã gần như lấy lại được hoàn toàn phong độ. Cậu chễm chệ ngồi thẳng lưng, đưa mắt láo liên nhìn ngó xung quanh. Cậu phải gồng mình hết sức để kìm nén những cơn run rẩy phấn khích, những niềm khao khát mãnh liệt, và cả cái cơn nghiện tốc độ quái ác đang trỗi dậy mạnh mẽ. Chúng đang cuồn cuộn dâng trào, bủa vây lấy tâm trí và chực chờ nuốt chửng lấy cậu.

“Đây quả là sự an bài của định mệnh!” cậu lẩm bẩm tự nhủ. “Cớ sao ta phải cưỡng lại? Cớ sao ta phải vùng vẫy thoát ra cơ chứ?” Nghĩ đoạn, cậu quay ngoắt sang người lái xe bên cạnh.

“Xin ngài,” cậu õng ẹo mở lời, “tôi vô cùng mong mỏi ngài mở lòng từ bi, cho phép tôi thử cầm lái cỗ xe này một chút thôi. Nãy giờ tôi vẫn dán mắt quan sát ngài vô cùng cẩn thận. Việc này trông có vẻ vừa dễ dàng lại vừa thú vị hết sức! Hơn nữa, tôi thực sự muốn sau này có cơ hội được ưỡn ngực tự hào khoe với đám bạn bè rằng, trong đời tôi đã từng có một bận được đích thân lái một chiếc ô tô!”

Nghe lời đề nghị ngây ngô ấy, người lái xe phá lên cười ngặt nghẽo. Anh ta cười sảng khoái đến mức vị quý ông ngồi phía sau phải tò mò chồm lên hỏi xem có chuyện gì. Khi nghe kể lại sự tình, vị quý ông phán một câu khiến Cóc sướng rơn cả người: “Hoan hô, thưa bà! Tôi cực kỳ thích cái tinh thần lạc quan của bà đấy. Cứ để bà ấy thử cầm lái một chút xem sao, và nhớ để mắt tới bà ấy nhé. Trông bộ dạng bà ấy thì làm sao mà gây ra tai họa gì được cơ chứ!”

Cóc mừng rơn, vội vã lết tót sang vị trí mà người lái xe vừa nhường. Bàn tay cậu siết chặt lấy chiếc vô lăng, cố làm ra vẻ rụt rè, ngoan ngoãn dỏng tai lắng nghe từng lời chỉ dẫn tận tình. Rồi cậu nhấn ga cho xe từ từ lăn bánh. Ban đầu, chiếc xe rề rề tiến bước một cách vô cùng cẩn trọng, bởi lẽ cậu đang quyết tâm phải diễn cho tròn vai một kẻ thận trọng, nhút nhát.

Từ hàng ghế sau, các vị quý ông vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Cóc còn loáng thoáng nghe thấy họ trầm trồ quay sang bảo nhau: “Bà ấy làm tốt quá đi mất! Thử tưởng tượng mà xem, một bà thợ giặt lại có thể cầm lái cừ khôi đến thế ngay trong lần đầu tiên cơ đấy!”

Cóc bắt đầu mớm ga, lái nhanh hơn một chút; rồi nhanh hơn nữa, và nhanh hơn chút nữa.

Cậu bắt đầu nghe thấy tiếng các quý ông hoảng hốt cảnh báo từ phía sau: “Cẩn thận đấy, bà thợ giặt!” Lời nhắc nhở ấy khiến cậu nổi điên lên. Máu nóng bốc lên ngùn ngụt, cậu hoàn toàn đánh mất sự kiềm chế.

Người lái xe hoảng hốt chồm tới định can thiệp, nhưng Cóc lập tức tung một cú cùi chỏ hiểm hóc, ghim chặt anh ta dính chặt vào lưng ghế. Đồng thời, chân cậu đạp ga tăng tốc độ lên mức tối đa. Luồng gió ràn rạt thốc thẳng vào mặt, tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của động cơ, cùng với những cú nảy xóc nảy lửa của cỗ máy sắt thép bên dưới đã hoàn toàn đánh gục và làm say mê cái bộ não yếu ớt, cuồng loạn của cậu. “Thợ giặt thợ ủi cái nỗi gì!” cậu gào lên bằng một giọng điệu liều lĩnh, ngạo mạn tột độ. “Hô! Hô! Ta chính là Cóc! Kẻ cướp ô tô lừng danh! Kẻ vượt ngục vĩ đại! Chàng Cóc kiệt xuất luôn luôn qua mặt mọi ngục tù! Hãy ngồi cho ngay ngắn vào! Các người sẽ được rửa mắt xem thế nào mới là lái xe thực thụ! Bởi vì sinh mạng của các người hiện đang nằm trọn trong tay của một chàng Cóc lừng lẫy, tài năng bạt ngụy và vô cùng quả cảm!”

Cả nhóm hành khách kinh hãi tột độ. Họ vùng đứng phắt dậy, lao bổ về phía cậu cùng với những tiếng thét thất thanh: “Bắt lấy nó!” họ gào lên khản cổ, “Bắt lấy con Cóc khốn kiếp! Bắt lấy cái con vật độc ác đã dám cả gan đánh cắp ô tô của chúng ta! Trói nghiến nó lại! Gông cổ nó vào! Lôi tuột nó đến đồn cảnh sát gần nhất mau lên! Đả đảo con Cóc ranh mãnh, nguy hiểm và liều lĩnh!”

Nhưng than ôi! Đáng lẽ ra họ nên suy nghĩ cho thấu đáo hơn, lẽ ra họ phải hành động thận trọng hơn. Và trên hết, lẽ ra họ nên nhớ ra việc phải tìm cách phanh chiếc ô tô lại trước khi diễn cái vở kịch bắt bớ lố bịch ấy. Chỉ bằng một cú bẻ vô lăng nhẹ nhàng của Cóc, chiếc ô tô đã chồm lên, lao rầm rầm xuyên thủng hàng rào thấp lè tè chạy dọc bên đường. Một cú nảy nảy lửa! Một chấn động rung chuyển trời đất! Và rồi, cả bốn bánh xe bắt đầu quay tít, khuấy đục ngầu vũng bùn nhão nhoét của một cái ao thả ngựa5.

Về phần Cóc, cậu thấy mình bị hất văng đi, bay vút qua không trung với một lực đẩy mãnh liệt, tạo thành một đường cong tuyệt mỹ, duyên dáng hệt như đường bay của loài chim én. Cậu lại đâm ra khoan khoái trước cái chuyển động bay bổng này. Cậu đang bắt đầu mơ màng tự hỏi liệu cái đà bay này có kéo dài mãi cho tới lúc cậu mọc ra đôi cánh và biến hình thành một con Chim Cóc thực thụ hay không, thì đùng một cái! Cậu tiếp đất bằng lưng với một tiếng "phịch" chát chúa, ngay trên bãi cỏ non mềm mại và xanh mướt của một cánh đồng cỏ. Lồm cồm bò dậy, cậu chỉ kịp liếc thấy chiếc ô tô đang nằm chỏng trơ dưới ao, gần như chìm nghỉm trong lớp bùn lầy lội. Còn các vị quý ông đáng kính cùng gã lái xe thì đang bị đám áo khoác dài lượt thượt quấn chặt lấy người, báo hại họ phải chới với, vùng vẫy một cách tuyệt vọng giữa dòng nước đục ngầu.

Cậu vội vã gom đồ đạc rồi vắt chân lên cổ chạy thục mạng băng qua những cánh đồng vắng. Cậu lách qua các hàng rào, nhảy qua những con mương, cắm cổ chạy cho đến khi đứt hơi và rã rời, đành phải hạ tốc độ xuống thành những bước đi thong thả. Khi đã lấy lại được chút hơi sức để bềnh tĩnh suy nghĩ, cậu bắt đầu khúc khích cười. Từ tiếng khúc khích chuyển dần sang những tràng cười lớn, cậu cứ thế cười mãi cho đến khi phải ngồi phịch xuống dưới một bờ rào. "Hô, hô!" cậu reo lên, chìm đắm trong sự ngây ngất của lòng tự ái ngất trời, "Lại là Cóc! Cóc, như thường lệ, vẫn luôn đứng trên đỉnh vinh quang! Ai đã khiến họ cho đi nhờ xe nào? Ai xoay xở leo lên được hàng ghế trước để hít thở bầu không khí trong lành? Ai đã thuyết phục được họ cho phép mình thử cầm lái nào? Ai đã tống cổ tất cả bọn họ hạ cánh xuống cái ao ngựa? Ai đã trốn thoát, bay lượn vui vẻ và bình yên vô sự giữa không trung, bỏ mặc lũ du khách tham quan thiển cận, nhỏ nhen, nhát gan ngập ngụa trong đống bùn lầy - cái nơi mà chúng vốn thuộc về cơ chứ? Chà, tất nhiên là Cóc rồi; Cóc thông minh, Cóc vĩ đại, Cóc tốt bụng!"

Thế rồi cậu lại cất tiếng hát, giọng ca vút cao lảnh lót-

“Chiếc ô tô chạy Bíp-bíp-bíp,
    Lao vun vút trên muôn nẻo đường.
Ai người lái nó xuống tận ao?
    Chính là ngài Cóc đầy mưu trí!

Ôi, ta mới thông minh làm sao! Thật thông minh, thật tài trí, thật quá đỗi thông mi--”

Một tiếng động nhẹ loáng thoáng vang lên từ phía sau khiến cậu phải ngoái đầu nhìn lại. Ôi kinh hãi! Ôi khốn khổ! Ôi tuyệt vọng làm sao!

Cách đó chừng hai sải cánh đồng, một gã tài xế mang ủng da cùng hai gã cảnh sát nông thôn to con đang hiện rõ mồn một, hớt hải chạy sầm sập về phía cậu nhanh nhất có thể!

Cóc đáng thương hoảng hồn nhảy dựng lên và lại vắt chân lên cổ mà chạy, tim đập thình thịch như muốn vọt ra khỏi lồng ngực. "Ôi trời ơi!" cậu hổn hển, vừa chạy vừa thở dốc, "mình đúng là một thằng ngu! Một thằng ngu tự phụ và bất cẩn! Lại khoác lác này! Lại la hét và hát hò này! Lại cứ ngồi ỳ một chỗ mà bốc phét này! Ôi trời ơi! Ôi trời ơi! Ôi trời ơi!"

Cậu ngoái đầu lại, và kinh hoàng nhận ra họ đang đuổi kịp mình. Cậu đâm sầm chạy thục mạng trong tuyệt vọng, nhưng những cái liếc nhìn liên tục vẫn cho thấy khoảng cách đang bị thu hẹp dần dần. Cậu đã dốc toàn lực, nhưng ngặt nỗi cậu chỉ là một con vật béo ịch với đôi chân ngắn củn, thành ra chúng vẫn đang bám riết sát gót. Giờ thì cậu đã nghe rõ mồn một tiếng bước chân ngay sát sau lưng. Chẳng thèm đoái hoài xem mình đang chạy đi đâu nữa, cậu cứ thế cắm đầu cắm cổ càn tới một cách mù quáng và điên loạn. Đang mải ngoái nhìn qua vai bầy kẻ thù nay đã nắm chắc phần thắng trong tay, thì bỗng nhiên mặt đất dưới chân sụp xuống. Cậu chới với túm lấy không khí, và, ùm một cái! Cậu thấy mình chìm lỉm đến tận mang tai dưới làn nước sâu thăm thẳm và chảy xiết, thứ nước cuồn cuộn cuốn cậu đi với một sức mạnh không tài nào chống đỡ nổi; và cậu chua xót nhận ra rằng, trong cơn hoảng loạn tột độ bần cùng, cậu đã cắm đầu lao thẳng xuống một dòng sông!

Cậu ngoi lên mặt nước, luống cuống cố bấu víu vào những cây lau và đám sậy mọc dọc mép nước ngay sát bờ, nhưng dòng chảy quá hung hãn đã giật tuột tất cả khỏi tay cậu. "Ôi trời ơi!" Cóc đáng thương hổn hển, "nếu mình còn dám trộm ô tô thêm một lần nào nữa! Nếu mình còn dám hát hò thêm một bài ca tự phụ nào nữa"-nói đoạn cậu chìm nghỉm, và lúc ngoi lên lại thì hụt hơi sặc sụa. Chẳng mấy chốc, cậu thấy mình trôi tuột đến gần một cái hố to đen ngòm nằm ngay trên bờ sông, ngay phía trên đầu. Khi dòng nước xiết cuốn ngang qua, cậu rướn người giơ tay bám được vào bờ mép rồi ghì chặt lấy. Rồi, một cách chậm chạp và vô vàn chật vật, cậu lê mình lên khỏi mặt nước, cho đến khi cuối cùng cũng có thể tì hai khuỷu tay lên mép hố. Cậu cứ nằm ườn ra đó vài phút, vừa thở hồng hộc vừa hổn hển, kiệt quệ đến cùng cực.

Đang lúc cậu vừa thở dài, vừa thổi phù phù, vừa đăm đăm nhìn vào cái hố đen ngòm trước mặt, thì một vật thể nhỏ bé sáng lấp lánh và nhấp nháy từ sâu bên trong bắt đầu tiến dần về phía cậu. Khi nó tới gần hơn, một khuôn mặt dần hiện rõ bao quanh cái vật lấp lánh ấy, và kìa, đó là một khuôn mặt quá đỗi thân quen!

Nhỏ nhắn và có màu nâu, với những sợi ria mép.

Nghiêm nghị và tròn trịa, với đôi tai nhỏ xíu cùng bộ lông mềm mượt.

Đó chính là Chuột Nước!



  1. Nguyên gốc là "mangle", một cỗ máy quay tay có hai trục lăn xoay ngược chiều nhau, thường dùng ở các tiệm giặt ủi thời Victoria/Edward để ép kiệt nước ra khỏi quần áo. 

  2. Đồng tiền cũ của Anh. Trước khi hệ thống thập phân được áp dụng vào năm 1971, một bảng Anh bằng 20 shilling, và một shilling bằng 12 xu (pence). 5 shilling là một khoản tiền khá rẻ mạt cho một con ngựa, nhưng lại là số tiền lớn với Cóc trong lúc trắng tay. 

  3. Điển tích Kinh Thánh (Noah's Ark) về con tàu cứu muôn loài khỏi trận đại hồng thủy. 

  4. Lord Horatio Herbert Kitchener (1850-1916), vị tướng huyền thoại và Bộ trưởng Chiến tranh của Anh, biểu tượng của sức mạnh quân sự và tinh thần yêu nước. 

  5. Nguyên gốc là "horse-pond", một loại ao nông ở các vùng nông thôn Anh, thường được đào bên cạnh đường lớn hoặc trang trại để cho ngựa uống nước và tắm rửa.