CHƯƠNG XII: SỰ TRỞ VỀ CỦA ULYSSES.
Khi bóng tối dần buông, Chuột Nước với vẻ mặt phấn khích pha lẫn chút bí ẩn, gọi tất cả tập hợp lại phòng khách. Anh bắt từng người đứng nghiêm trang cạnh đống quân trang nhỏ của mình, rồi bắt đầu vũ trang cho họ chuẩn bị bước vào cuộc viễn chinh sắp tới. Chuột Nước tỏ ra vô cùng cẩn trọng và nghiêm túc, tỉ mẩn mất kha khá thời gian cho khâu chuẩn bị này. Đầu tiên là một chiếc thắt lưng nịt chặt quanh eo mỗi người; kế đó, một thanh gươm oai vệ được giắt vào thắt lưng, và một thanh đoản kiếm dắt phía đối diện để giữ thế cân bằng. Tiếp nối là một cặp súng lục nạp sẵn đạn, một chiếc dùi cui cảnh sát1, vài bộ còng tay sáng loáng, một ít băng gạc cùng băng keo cá nhân; cuối cùng là một bình tông nước và một hộp bánh mì kẹp phòng khi đói lòng. Bác Lửng chỉ bật cười đôn hậu, thủng thẳng bảo: "Được rồi, Chuột Nước à! Nếu mấy thứ lỉnh kỉnh này làm cháu vui thì nó cũng chẳng phiền hà gì đến bác đâu. Nhưng bác chỉ cần một cây gậy này là đủ giải quyết mọi chuyện rồi." Chuột Nước nghe vậy liền khẩn khoản: "Xin bác đấy, bác Lửng. Bác thừa biết là cháu sẽ áy náy khôn nguôi nếu nhỡ sau này bác cứ cằn nhằn rằng cháu đã chuẩn bị thiếu sót thứ gì đó!"
Khi tất cả đã nai nịt gọn gàng, bác Lửng xách chiếc đèn bão tối màu ở một tay, tay kia nắm chặt cây gậy lớn, dõng dạc tuyên bố: "Nào, tất cả theo bác! Chuột Chũi đi tiên phong, bởi bác đang cực kỳ tự hào về cháu; tiếp bước là Chuột Nước; Cóc đi bọc hậu. Và hãy vểnh tai lên mà nghe đây, Cóc! Cháu mà còn càu nhàu lải nhải như mọi bận thì bác tống cổ về ngay lập tức, chắc chắn là vậy đấy!"
Cóc phần vì quá nóng lòng cất bước, phần vì chẳng hề muốn bị cho ra rìa, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn chấp nhận vị trí hèn kém nhất hàng ngũ mà không dám hé răng oán thán nửa lời. Bốn người hùng bắt đầu lên đường. Bác Lửng dẫn đầu đoàn dọc theo bờ sông một quãng ngắn, rồi bất thần vươn mình qua mép bờ, thả người rơi xuống một cái hang tối om khoét sâu vào vách đất, nằm chênh vênh ngay trên mặt nước. Chuột Chũi và Chuột Nước lặng lẽ bám gót, đu người thả mình vào hang trót lọt y như cách bác Lửng vừa làm. Thế nhưng, đến lượt Cóc, dĩ nhiên cậu chàng lại loay hoay lóng ngóng thế nào mà trượt chân, ngã tõm xuống dòng nước lạnh ngắt kèm theo một tiếng thét hoảng hồn. Bạn bè vội vàng xúm lại kéo cậu lên, cuống cuồng chà xát, vắt kiệt nước trên bộ quần áo sũng sĩnh, rối rít an ủi và đỡ cậu đứng thẳng dậy. Lần này bác Lửng thực sự nổi trận lôi đình. Bác gắt gỏng cảnh cáo rằng nếu cậu còn dám diễn thêm trò hề nào nữa, chắc chắn cậu sẽ bị bỏ rơi lại ngay tắp lự.
Thế là cuối cùng, họ đã lọt thỏm vào trong đường hầm bí mật, và chuyến viễn chinh đột kích đã thực sự bắt đầu!
Không gian nơi đây lạnh lẽo, tối tăm, ẩm ướt, trần hầm thấp tè và chật hẹp. Cậu Cóc tội nghiệp bắt đầu run bần bật, phần vì nỗi sợ hãi mơ hồ về những thế lực đang chờ đợi phía trước, phần vì cơ thể đã ướt sũng nhẹp. Ánh đèn lồng leo lét đi tít phía trước, bỏ lại cậu thụt lùi dần trong màn đêm đặc quánh. Đột nhiên, cậu giật thót khi nghe tiếng Chuột Nước gọi giật lại cảnh báo: "Nhanh lên, Cóc!" Một nỗi kinh hoàng tột độ xâm chiếm tâm trí cậu khi nghĩ đến viễn cảnh bị vứt lại phía sau, trơ trọi một mình gặm nhấm sự tĩnh lặng của bóng tối. Thế là cậu "nhanh lên" với một tốc độ lao bổ thần sầu, húc sầm vào Chuột Nước, đẩy Chuột Nước ngã nhào vào Chuột Chũi, làm Chuột Chũi ngã chúi dụi vào bác Lửng. Trong chốc lát, cả đoàn rối tinh rối mù, ngã lăn quay. Bác Lửng cứ ngỡ họ đang bị phục kích từ phía sau, và trong không gian chật hẹp chẳng thể vung gậy hay rút kiếm, bác lăm lăm rút ngay khẩu súng lục ra, suýt nữa thì nã thẳng một viên đạn vào sọ Cóc. Khi nhận ra nguyên cớ thực sự của mớ bòng bong này, bác tức giận đến mức râu ria dựng ngược: "Lần này thì thằng Cóc phiền phức kia sẽ bị đuổi về!"
Nhưng Cóc lại sụt sùi thút thít, còn hai người bạn thì ra sức nài nỉ, hứa hẹn sẽ bảo lãnh cho hạnh kiểm của cậu. Cuối cùng, bác Lửng cũng nguôi cơn thịnh nộ, và cả đoàn người lại lầm lũi tiến lên. Chỉ có điều, lần này Chuột Nước chuyển xuống đi bọc hậu, một tay túm chặt lấy vai Cóc như gọng kìm.
Cứ thế, họ lần mò dò dẫm từng bước, căng tai dỏng mắt nghe ngóng mọi động tĩnh, chân bấu chặt, tay lăm lăm vũ khí, cho đến khi bác Lửng khẽ cất tiếng: "Giờ thì hẳn là chúng ta đang ở ngay dưới lòng Dinh thự rồi."
Và rồi, bất thình lình, từ cõi xa xăm văng vẳng vọng lại, nhưng lại tưởng chừng như đang rúng động ngay trên đỉnh đầu họ, một mớ âm thanh hỗn độn, ầm ĩ. Đó là tiếng reo hò, tiếng cổ vũ khản đặc, tiếng gót chân nện rầm rập xuống sàn gỗ, và tiếng nện nắm đấm thình thịch lên mặt bàn. Mọi nỗi kinh hoàng của Cóc lại ùa về bủa vây, nhưng bác Lửng chỉ điềm nhiên nhận xét: "Bọn chúng đang quậy tưng bừng đấy, lũ Chồn ranh mãnh kia!"
Đoạn đường hầm bắt đầu dốc ngược lên; họ dò dẫm nhích thêm một quãng nữa thì tiếng ồn ào lại bùng nổ dữ dội. Lần này, âm thanh dội vào màng nhĩ rõ mồn một, đinh tai nhức óc ngay sát sạt trên đầu họ. "U-ra-u-ra-u-ra-u-ra!" - họ nghe rõ tiếng gầm rú, xen lẫn tiếng lạch cạch của những gót chân bé xíu dậm dọa trên mặt sàn, và tiếng lanh canh sắc lẹm của những chiếc ly thủy tinh va chạm khi những nắm đấm nhỏ xíu hung hăng giáng xuống bàn. "Quả là một bữa tiệc tưng bừng!" bác Lửng cười gằn. "Tới luôn!" Cả nhóm vội vã lao dọc theo đoạn hầm cho đến khi chạm đến điểm tận cùng. Tại đây, họ phát hiện mình đang đứng sừng sững ngay dưới cánh cửa sập dẫn thẳng lên phòng thức ăn của quản gia.
Tiếng ồn ào vỡ chợ đang càn quét trong phòng tiệc quá đỗi huyên náo, nên chẳng mấy nguy cơ họ bị kẻ địch phát giác. Bác Lửng hạ lệnh: "Nào, các chàng trai, cùng hợp sức đẩy nhé!" Cả bốn người kề vai sát cánh, dồn lực hích tung cánh cửa sập bật mở. Đùn đẩy nhau trèo lên, họ dáo dác nhìn quanh và nhận ra mình đang lọt thỏm trong phòng thức ăn, chỉ cách đám kẻ thù vô tư lự đang say sưa chè chén bằng một cánh cửa mỏng manh.
Khi họ chui lên từ hầm ngầm, âm thanh váng vất thực sự chát chúa. Chờ cho những tràng cổ vũ và tiếng nện bàn dần lắng dịu, một giọng nói nhừa nhựa chợt vang lên: "Chà, ta cũng chẳng định giam chân các vị lâu hơn nữa"-(một tràng pháo tay rầm rộ tán thưởng)-"nhưng trước khi tọa hạ"-(tiếng reo hò lại bùng nổ)-"ta muốn dành vài lời tri ân vị chủ nhà vô cùng tốt bụng của chúng ta, ngài Cóc. Tất cả chúng ta đều quá hiểu Cóc!"-(một tràng cười khả ố bật ra)-"Cóc tốt bụng biết bao, Cóc khiêm tốn nhường nào, và Cóc thành thật làm sao!" (những tiếng rú lên đầy chế giễu và sảng khoái).
"Cứ để đấy, rồi ta sẽ cho mi biết tay!" Cóc lầm bầm, nghiến răng trèo trẹo căm phẫn.
"Từ từ đã nào!" bác Lửng nhắc khéo, khó khăn lắm mới kìm hãm được cơn bốc đồng của cậu. "Vào thế chuẩn bị đi, hỡi các cháu!"
"--Hãy cho phép ta hát tặng các vị một khúc ca nhỏ," giọng nói kia lại eo éo cất lên, "do chính ta mạn phép sáng tác để ngợi ca Cóc"-(tiếng vỗ tay hoan hô rần rần kéo dài).
Rồi tên Thủ lĩnh Chồn-bởi đó đích thị là hắn-bắt đầu cất cái giọng the thé, eo éo khó nghe-
"Cóc ta sung sướng rong chơi Vui vẻ dạo bước xuống nơi phố phường--"
Bác Lửng vươn mình đứng thẳng dậy, hai tay nắm chặt cây gậy gộc gồ ghề, đôi mắt lóe sáng liếc nhìn các đồng chí của mình, rồi hét vang như sấm:
"Giờ G đã điểm! Xung phong!"
Và bác tung chân đá toang cánh cửa phòng tiệc.
Trời cao đất dày ơi!
Một tràng tiếng ré thảm thiết, tiếng eng éc kinh hoàng và tiếng the thé rợn tóc gáy đồng loạt vang vọng, xé toạc cả không gian tĩnh lặng!
Thảo nào lũ chồn hoảng loạn đến mất trí, lặn mất tăm dưới gầm bàn và nhảy bổ cuồng loạn lên bậu cửa sổ! Thảo nào lũ chồn sương vội vã đâm sầm vào lò sưởi, chen lấn đến kẹt cứng, phó mặc chút hy vọng tẩu thoát mỏng manh qua ống khói! Thảo nào bàn ghế bị hất tung lật nhào, chén đĩa và đồ sứ vỡ loảng xoảng, gieo rắc kinh hoàng trên mặt sàn. Mọi thứ vỡ vụn trong cơn hoảng loạn tột cùng của khoảnh khắc đó - khoảnh khắc bốn vị Người Hùng giận dữ bừng bừng sải những bước uy dũng vào căn phòng! Bác Lửng oai phong lẫm liệt, râu ria dựng ngược đầy uy dũng, vung vẩy cây gậy lớn rít lên từng hồi xé gió; Chuột Chũi, đen đúa và dữ dằn, quất cây gậy vun vút, thét vang tiếng thét xung trận lạnh gáy: "Chuột Chũi đây! Chuột Chũi đây!2" Chuột Nước, liều lĩnh và kiên định, chiếc thắt lưng phồng cộm lủng lẳng đủ loại binh khí của mọi thời đại, thuộc mọi chủng loại; và Cóc, phát cuồng vì sự phấn khích tột độ và lòng kiêu hãnh bị chà đạp tơi bời, nay đã phình to gấp đôi kích thước bình thường, tung người nhảy cẫng lên không trung, phát ra những tiếng hú hét đặc trưng của loài Cóc khiến kẻ thù lạnh toát sống lưng! "Cóc ta sung sướng rong chơi!" cậu gào lên sảng khoái. "Ta sẽ cho các ngươi biết thế nào là vui sướng!" Và cậu lao bổ thẳng vào tên Thủ lĩnh Chồn như một mũi tên xé gió. Dù tấp tểnh chỉ có vỏn vẹn bốn người, nhưng dưới con mắt của lũ chồn đang hồn xiêu phách lạc, căn phòng dường như đang chật ních những quái thú gớm ghiếc đủ màu xám, đen, nâu và vàng3, hò hét điên cuồng và vung vẩy những cây gậy khổng lồ băm vằm trong không khí. Chúng vỡ trận lanh tanh bành, tháo chạy trối chết với những tiếng ré thảm thiết, tinh thần hoảng loạn cùng cực. Kẻ lao qua cửa sổ, kẻ bám víu trèo lên ống khói, kẻ chúi dụi bất cứ nơi nào miễn là thoát khỏi tầm với tử thần của những cây gậy khủng khiếp kia.
Mọi chuyện diễn ra chớp nhoáng như một cơn lốc. Lên và xuống, xuôi dọc suốt chiều dài căn phòng, bốn Người Bạn sải bước uy dũng, nện gậy không thương tiếc vào bất kỳ cái đầu xui xẻo nào dám thò ra; và chỉ trong vòng năm phút ngắn ngủi, căn phòng đã được dọn sạch bách. Xuyên qua những ô cửa sổ vỡ nát, tiếng thét kinh hoàng của bầy chồn hoảng sợ lẩn trốn qua bãi cỏ còn thoang thoảng vọng lại. Trên mặt sàn lúc này chỉ còn la liệt khoảng một tá kẻ thù đang rên rỉ, mà Chuột Chũi đang bận rộn đeo còng tay khóa chặt chúng lại. Bác Lửng, dường như đã thấm mệt sau màn dẹp loạn vang dội, thong thả chống gậy nghỉ ngơi, điềm nhiên lau những giọt mồ hôi chân thực lấm tấm trên vầng trán.
"Chuột Chũi à," bác cất lời, "cháu đích thị là cậu bạn tuyệt vời nhất trần đời! Hãy lẻn ra ngoài, xem chừng mấy tên lính gác chồn sương của cháu, và kiểm tra xem chúng đang giở trò gì. Bác có linh cảm mạnh mẽ rằng, nhờ phúc của cháu, tối nay chúng ta sẽ chẳng còn gặp thêm phiền phức nào từ bọn chúng nữa đâu!"
Chuột Chũi thoăn thoắt biến mất qua khung cửa sổ. Trong lúc đó, bác Lửng bảo hai người còn lại dựng một chiếc bàn ngay ngắn, nhặt nhạnh dao nĩa, đĩa và ly thủy tinh từ đống đổ nát ngổn ngang trên sàn nhà, và lùng sục xem có mót được chút đồ ăn vặt nào không. "Bác thèm lót dạ chút gì đó," bác thủng thẳng buông lời, theo cái nếp bình dân quen thuộc của mình. "Động tay động chân lên đi, Cóc, nhanh nhẹn lên nào! Bọn bác vừa lấy lại cả cái dinh cơ cho cháu, vậy mà cháu còn không thiết đãi bọn bác nổi một cái bánh mì kẹp sao." Cóc cảm thấy hơi chạnh lòng và có chút tự ái vì bác Lửng chẳng buông lời vàng ngọc nào khen ngợi cậu, như cách bác đã tán dương Chuột Chũi, cũng chẳng đả động gì đến việc cậu đã chiến đấu xuất sắc và oai hùng ra sao. Thật ra, cậu đang thầm tự mãn vô cùng về bản thân, nhất là cái pha cậu lao vào tên Thủ lĩnh Chồn, nện một nhát gậy ngoạn mục đánh bay hắn sang tận bên kia bàn. Nhưng cậu đành ngậm ngùi lăng xăng chạy quanh tìm kiếm. Chuột Nước cũng tất tả phụ một tay. Chẳng mấy chốc, họ đã moi ra được chút thạch ổi lấp lánh trong một chiếc đĩa thủy tinh, một phần gà nguội béo ngậy, một chiếc lưỡi bò hầu như chưa hề bị đụng đũa tới, vài món tráng miệng hấp dẫn, và khá nhiều salad tôm hùm tươi ngon4. Lục lọi trong phòng thức ăn, họ còn may mắn vớ được một giỏ mây đầy ắp những ổ bánh mì kiểu Pháp giòn rụm, cùng một tảng lớn pho mát, bơ thơm lừng và cần tây xanh mướt. Khi cả nhóm vừa yên vị chuẩn bị dùng bữa, Chuột Chũi đã lồm cồm trèo vào qua ô cửa sổ, miệng cười khúc khích, tay khệ nệ ôm theo một bó súng trường.
"Xong xuôi cả rồi," cậu dõng dạc báo cáo. "Theo như tôi nghe ngóng được, ngay khi lũ chồn sương - vốn dĩ đã yếu bóng vía và hay giật mình - nghe thấy tiếng thét, tiếng la hét và cảnh hỗn loạn vỡ lở trong phòng tiệc, một toán trong số chúng đã hồn bay phách lạc, vứt cả súng ống bỏ chạy. Toán còn lại nấn ná cầm cự được một chốc, nhưng khi thấy lũ chồn ùa ra như ong vỡ tổ, chúng đinh ninh rằng mình đã bị phản bội. Thế là lũ chồn sương lao vào vật lộn với lũ chồn, còn lũ chồn lại điên cuồng chiến đấu để mở đường máu thoát thân. Chúng quần thảo, vặn vẹo, đấm đá nhau túi bụi, lăn lộn lộn xộn qua lại, cho đến khi phần lớn lăn tuột luôn xuống sông! Giờ thì tất cả bọn chúng đã bốc hơi sạch sẽ, bằng cách này hay cách khác; và tôi đã tiện tay thu gom hết súng trường của chúng đây. Vậy là mọi chuyện đã êm xuôi ổn thỏa cả rồi!"
"Cậu bạn xuất chúng và xứng đáng của ta!" bác Lửng khen ngợi, miệng nhai nhồm nhoàm đầy ắp thịt gà và món tráng miệng. "Bây giờ, bác chỉ muốn nhờ cháu thêm một việc nhỏ nữa thôi, Chuột Chũi à, trước khi cháu ngồi xuống nhập tiệc cùng bọn bác; và bác sẽ chẳng phiền cháu nếu không có niềm tin mãnh liệt rằng chỉ có cháu mới làm tròn được việc này. Bác thực sự ao ước có thể nói điều tương tự với tất cả mọi người bác quen. Bác đáng lẽ đã sai Chuột Nước đi, nếu nó không phải mang tâm hồn của một nhà thơ. Bác muốn cháu lùa mấy tên tù binh đang nằm bẹp trên sàn kia lên lầu, giám sát chúng dọn dẹp sạch sẽ tươm tất vài phòng ngủ và sắp xếp cho mọi thứ thật tinh tươm. Nhớ nhắc nhở chúng quét tước kỹ càng dưới gầm giường, trải chăn mền và vỏ gối mới tinh, gập mép chăn ngay ngắn góc cạnh, đúng như tiêu chuẩn mà cháu vẫn thường làm. Đừng quên đặt một bình nước nóng hổi, cùng vài chiếc khăn mềm mại, và những bánh xà phòng thơm phức vào mỗi phòng. Xong xuôi đâu đấy, cháu có thể tẩn cho mỗi đứa một trận nhừ tử nếu điều đó làm cháu khuây khỏa, rồi tống cổ chúng ra bằng cửa sau. Bác dám cá là chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải giáp mặt bọn chúng thêm một lần nào nữa đâu. Và rồi sau đó, hãy xuống đây và thưởng thức một ít lưỡi nguội tuyệt hảo này. Ngon vô song đấy. Bác cực kỳ tự hào về cháu, Chuột Chũi ạ!"
Chuột Chũi tốt bụng nhấc bổng một cây gậy, tập hợp các tù binh lại thành một hàng dọc ngay ngắn trên sàn nhà, dõng dạc hô to: "Bước đều bước!" và dẫn tiểu đội bại trận của mình tiến lên lầu trên. Khoảng một lát sau, cậu lại xuất hiện, nở nụ cười rạng rỡ, thông báo rằng mọi căn phòng đều đã được chuẩn bị đâu ra đấy, sạch sẽ không tì vết. "Và tôi cũng chẳng buồn ra tay tẩn chúng nữa," cậu ôn tồn nói thêm. "Tôi nghĩ, xét cho cùng, tối nay chúng đã nếm đủ đòn roi rồi. Và đám chồn, khi nghe tôi tỉ tê phân tích lẽ phải, đã hoàn toàn gật gù tán thành, và hứa như đinh đóng cột rằng chúng sẽ không bao giờ dám bén mảng đến làm phiền tôi nữa. Chúng tỏ ra vô cùng hối hận, không ngừng xin lỗi vì những lầm lỗi đã trót gây ra, biện hộ rằng tất cả là do sự xúi giục của tên Thủ lĩnh Chồn và đám chồn sương. Chúng còn bảo nếu sau này có bất cứ việc gì chúng có thể làm để chuộc lỗi, chúng ta chỉ cần sai bảo một lời. Vì vậy, tôi đã phát cho mỗi đứa một ổ bánh mì lót dạ, và phóng thích chúng ở cửa sau. Bọn chúng mừng rỡ ù té chạy một mạch, nhanh hết mức có thể!"
Nói rồi, Chuột Chũi kéo ghế ngồi vào bàn, hào hứng thưởng thức món lưỡi nguội. Cóc, với phong thái của một bậc quân tử đích thực, đã dẹp bỏ hoàn toàn mọi sự tị nạnh hẹp hòi, chân thành lên tiếng: "Từ tận đáy lòng, cảm ơn cậu, Chuột Chũi thân mến, vì mọi nỗ lực và công sức không mệt mỏi của cậu trong đêm nay, và đặc biệt là sự mưu trí tuyệt đỉnh của cậu hồi sáng!" Bác Lửng vô cùng hoan hỉ khi nghe những lời lẽ ấy, liền tán thưởng: "Đó mới thực sự là tiếng nói trượng phu của cậu Cóc dũng cảm của tôi!" Thế là, họ tận hưởng bữa tối muộn trong niềm hân hoan và sự mãn nguyện tột độ, trước khi lui về nghỉ ngơi bình yên giữa những tấm khăn trải giường thơm tho, an toàn trong vòng tay bao bọc của ngôi nhà tổ tiên vĩ đại của Cóc. Cơ ngơi ấy đã được giành lại trọn vẹn nhờ lòng can đảm vô song, chiến lược dụng binh tài ba, và nghệ thuật sử dụng gậy gộc điêu luyện.
Sáng hôm sau, Cóc lại chứng nào tật nấy ngủ quên, bước xuống phòng ăn trễ đến mức đáng xấu hổ. Cậu thấy trên bàn la liệt vỏ trứng, vài mẩu bánh mì nướng đã nguội ngắt và dai nhách, bình cà phê vơi mất ba phần tư, và thức ăn thật sự chẳng còn lại bao nhiêu; cảnh tượng này chả giúp ích gì cho tâm trạng của cậu, xét cho cùng thì, đây cũng là nhà cậu kia mà. Xuyên qua những khung cửa sổ kiểu Pháp trong phòng ăn sáng, cậu thấy Chuột Chũi và Chuột Nước đang an tọa trên những chiếc ghế liễu gai ngoài bãi cỏ, rôm rả kể chuyện cho nhau nghe; thi thoảng lại cười phá lên rồi vung vẩy đôi chân ngắn ngủn lên không trung. Bác Lửng đang ngồi trên chiếc ghế bành say sưa đọc tờ báo sáng, chỉ ngước lên gật đầu một cái khi Cóc bước vào phòng. Nhưng rành rẽ tính nết của bác, Cóc đành ngoan ngoãn ngồi xuống, cố gắng nuốt trôi bữa sáng ít ỏi ngon lành nhất có thể. Cậu lầm bầm rủa thầm, tự nhủ sớm muộn gì cũng phải tính sổ với đám bạn này. Lúc cậu gần ăn xong, bác Lửng ngước lên, cộc lốc buông lời: "Bác xin lỗi, Cóc à, nhưng bác e rằng một buổi sáng làm việc bù đầu bận rộn đang đợi cháu đấy. Cháu thấy không, chúng ta thực sự nên tổ chức một Bữa tiệc ngay tắp lự để ăn mừng chuyện này. Mọi người đều mong đợi cháu làm vậy-thực tế thì, đó gần như là luật bất thành văn rồi."
"Ồ, được thôi!" Cóc lanh chanh đáp. "Bất cứ việc gì để chiều lòng bác. Dù cháu chả hiểu tại sao bác lại muốn mở một Bữa tiệc vào lúc sáng sớm tinh mơ thế này. Nhưng bác biết đấy, cháu sống đâu phải để làm vui lòng bản thân, cháu chỉ đơn thuần muốn tìm hiểu xem bạn bè cháu muốn gì, rồi cố gắng lo liệu chu toàn cho họ thôi, bác Lửng thân mến ạ!"
"Đừng có giả vờ ngốc nghếch hơn bản chất thật của cháu," bác Lửng cáu kỉnh vặc lại; "và đừng có vừa nói vừa cười khùng khục làm bắn cả cà phê ra như thế; mất lịch sự lắm. Ý bác là, Bữa tiệc dĩ nhiên sẽ diễn ra vào buổi tối, nhưng giấy mời phải được viết và gửi đi ngay tắp lự, và cháu phải là người chắp bút. Nào, ngồi xuống cái bàn đằng kia đi-có cả đống giấy viết thư trên đó, in chữ 'Dinh thự Cóc' bằng màu xanh lam và vàng ươm chễm chệ trên cùng5-rồi viết thiếp mời cho toàn bộ bạn bè của chúng ta. Nếu cháu chịu khó tập trung, chúng ta sẽ tống khứ chúng đi trước bữa trưa. Và bác cũng sẽ xắn tay áo vào giúp một tay; bác sẽ gánh vác phần trách nhiệm của mình. Bác sẽ lo khâu đặt Tiệc."
"Cái gì cơ!" Cóc kinh ngạc kêu toán lên. "Cháu phải rú rí trong nhà, cặm cụi viết một đống giấy tờ rác rưởi vào một buổi sáng tuyệt đẹp nhường này sao, khi mà cháu muốn được đi dạo quanh dinh thự của mình, chấn chỉnh lại vạn vật và con người, nghênh ngang tản bộ và tận hưởng cuộc đời chứ! Chắc chắn là không đời nào! Cháu sẽ-Cháu sẽ cho bác thấy--Nhưng khoan đã! À, dĩ nhiên rồi, bác Lửng thân mến! Niềm vui hay sự thoải mái của cháu thì mảy may có sá gì so với của người khác! Bác muốn cháu làm, ắt hẳn việc sẽ xong. Đi đi, bác Lửng, đi đặt Tiệc, đặt bất cứ sơn hào hải vị nào bác thích; rồi ra ngoài kia hòa vào tiếng cười đùa vô tư lự của mấy cậu bạn trẻ, quên đi cháu với mớ bòng bong vất vả này. Cháu sẽ hiến tế buổi sáng tươi đẹp này trên bàn thờ của nghĩa vụ và tình bạn!"
Bác Lửng nhìn cậu cực kỳ nghi ngờ, nhưng vẻ mặt chân thật, cởi mở của Cóc khiến bác chẳng thể bới móc ra bất cứ động cơ đen tối nào sau sự thay đổi thái độ ngoạn mục ấy. Thế là bác rời phòng, thẳng tiến về phía nhà bếp, và ngay khi cánh cửa đóng lại sau lưng bác, Cóc vội vã chạy tót đến bàn viết. Một ý tưởng tuyệt đỉnh vừa nảy ra trong đầu cậu khi đang tuôn tràng diễn văn. Cậu sẽ viết thiếp mời; và cậu đảm bảo sẽ đề cập đến vai trò chỉ huy của mình trong trận chiến, kể lể rành rọt cách cậu hạ nốc ao tên Thủ lĩnh Chồn. Cậu sẽ khéo léo nói bóng gió về những cuộc phiêu lưu, và về cả một sự nghiệp huy hoàng rực rỡ chiến thắng mà cậu sẽ thao thao bất tuyệt. Trên trang giấy trắng tinh, cậu sẽ vạch ra một dạng chương trình giải trí hoành tráng cho buổi tối-đại loại thế này, khi cậu phác thảo nó trong đầu:-
DIỄN VĂN. . . . CỦA CÓC.
(Sẽ có những bài diễn văn khác của CÓC trong suốt buổi tối.)
DIỄN GIẢI. . . CỦA CÓC
TÓM TẮT-Hệ thống Nhà tù của chúng ta-Những tuyến đường thủy của nước Anh xưa-Giao dịch ngựa, và cách để giao dịch-Tài sản, quyền lợi và nghĩa vụ của nó-Trở về với Đất mẹ-Một Điền chủ Anh Điển hình6.
BÀI HÁT. . . . CỦA CÓC.
(Do chính cậu sáng tác.)
NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC. CỦA CÓC
sẽ được biểu diễn trong buổi tối bởi chính. . . NHÀ SOẠN NHẠC.
Ý tưởng này khiến cậu khoái chí đến mức làm việc quần quật và hoàn thành tất thảy mớ thư từ trước buổi trưa. Đúng lúc đó có người rụt rè báo cho cậu biết rằng một tên chồn nhỏ và khá nhếch nhác đang chực chờ trước cửa, rụt rè hỏi xem cậu ta có thể giúp gì được cho quý ngài đây không. Cóc nghênh ngang bước ra và phát hiện đó là một trong những tên tù binh tối hôm trước, giờ đây vô cùng ngoan ngoãn và nóng lòng muốn làm vừa ý cậu. Cậu vỗ đầu tên chồn, nhét tệp thiệp mời vào tay cậu ta, ra lệnh phải chạy đi thật nhanh và phân phát chúng càng nhanh càng tốt. Cậu còn dứ dứ rằng nếu cậu ta muốn quay lại vào buổi tối, biết đâu sẽ được thưởng một đồng shilling, hoặc, nghĩ lại thì, có lẽ sẽ chẳng có đồng cắc nào ráo. Thế nhưng tên chồn tội nghiệp dường như thực sự rất biết ơn, hăm hở lao vút đi làm nhiệm vụ của mình.
Khi các con vật khác rộn ràng trở về ăn trưa, vô cùng náo nhiệt và sảng khoái sau một buổi sáng trên sông, Chuột Chũi, người đang cắn rứt lương tâm, ái ngại liếc nhìn Cóc, đinh ninh sẽ thấy cậu bạn giận dỗi hoặc chán chường. Thay vào đó, cậu lại kiêu ngạo và huênh hoang đến mức Chuột Chũi bắt đầu sinh nghi điều gì đó; trong khi Chuột Nước và bác Lửng thì trao đổi những ánh nhìn đầy ẩn ý.
Ngay sau khi bữa ăn kết thúc, Cóc thọc sâu hai tay vào túi quần, tình cờ buông lời: "Chà, mấy cậu tự lo cho mình nhé! Cứ yêu cầu bất cứ thứ gì mấy cậu muốn!" Rồi cậu đang nghênh ngang bước về phía khu vườn, nơi cậu muốn nặn thêm vài ý tưởng cho các bài diễn văn sắp tới của mình, thì Chuột Nước tóm lấy tay cậu.
Cóc hơi gợn nghi ngờ mục đích của Chuột Nước, và cố giằng ra để tẩu thoát; nhưng khi bác Lửng túm chặt lấy cánh tay còn lại của cậu, cậu bắt đầu nhận ra rằng ván bài đã kết thúc. Hai con vật kẹp chặt cậu ở giữa, áp giải cậu vào một căn phòng hút thuốc nhỏ mở ra từ sảnh vào, đóng sập cửa lại, và ấn cậu ngồi xuống một chiếc ghế. Rồi cả hai đứng sừng sững trước mặt cậu, trong khi Cóc ngồi câm lặng và nhìn họ với vẻ đầy nghi ngờ và khó chịu.
"Giờ, nghe đây, cậu Cóc," Chuột Nước nói. "Chuyện về Bữa tiệc này, và tôi rất tiếc khi phải nói chuyện với cậu thế này. Nhưng chúng tôi muốn cậu hiểu rõ, một lần và mãi mãi, rằng sẽ không có bài diễn văn nào và cũng chẳng có bài hát nào sất. Hãy cố gắng nắm bắt sự thật rằng trong dịp này, chúng tôi không đang tranh luận với cậu; chúng tôi chỉ đang thông báo cho cậu thôi."
Cóc nhận ra mình đã sập bẫy. Họ hiểu cậu, họ nhìn thấu cậu, họ đã đi trước cậu một bước. Giấc mộng ngọt ngào của cậu đã vỡ tan tành.
"Tôi không thể hát cho họ nghe dù chỉ một bài hát nhỏ bé thôi sao?" cậu khẩn khoản nài nỉ.
"Không, không một bài hát nhỏ bé nào cả," Chuột Nước kiên quyết trả lời, dù trái tim cậu rỉ máu khi thấy đôi môi run rẩy thất vọng của Cóc tội nghiệp. "Không ích gì đâu, cậu Cóc à; cậu thừa biết rằng các bài hát của cậu toàn là sự tự mãn, khoe khoang và viển vông; và các bài diễn văn của cậu thì toàn tự tâng bốc bản thân và-và-chà, và thổi phồng quá đáng và-và--"
"Và bốc phét," bác Lửng chêm vào, theo cách nói bình dân mộc mạc của bác.
"Tất cả cũng chỉ vì lợi ích của chính cậu thôi, cậu Cóc à," Chuột Nước tiếp tục. "Cậu biết cậu sớm muộn gì cũng phải lật sang một trang mới, và bây giờ có vẻ như là một thời cơ tuyệt vời để bắt đầu; một dạng bước ngoặt trong cuộc đời của cậu. Cậu làm ơn đừng nghĩ rằng khi nói ra những lời này tôi không đau lòng hơn cậu."
Cóc ngồi chìm nghỉm trong suy tư một lúc lâu. Cuối cùng cậu ngẩng đầu lên, và nét mặt hằn rõ những dấu vết của một cảm xúc trào dâng mãnh liệt. "Các cậu đã thắng, các bạn của tôi," cậu nói bằng giọng nghẹn ngào. "Quả thực, điều tôi yêu cầu chỉ là một điều nhỏ nhoi-chỉ là muốn được rực rỡ bùng nổ trong một buổi tối nữa, để cho phép bản thân thả lỏng và nghe những tràng pháo tay giòn giã mà dường như luôn luôn-bằng một cách nào đó-mang lại những phẩm chất tốt nhất trong tôi. Dẫu vậy, các cậu đúng, tôi biết thế, và tôi đã sai. Kể từ giờ tôi sẽ là một con Cóc rất khác. Các bạn của tôi, các cậu sẽ không bao giờ có cớ để phải xấu hổ vì tôi nữa. Nhưng, ôi chao ơi, ôi chao ơi, thế giới này sao mà khắc nghiệt quá đỗi!"
Và, lấy khăn tay chấm lên mặt, cậu bước ra khỏi phòng, với những bước chân loạng choạng.
"Bác Lửng," Chuột Nước lên tiếng, "cháu cảm thấy mình hệt như một kẻ tàn nhẫn; cháu tự hỏi bác đang cảm thấy thế nào?"
"Ồ, bác biết, bác biết chứ," bác Lửng buồn bã nói. "Nhưng chuyện phải làm thì đành cắn răng mà làm thôi. Cậu bạn tốt bụng này sẽ sống ở đây, giữ vững vị thế của mình, và được người đời nể trọng. Cháu có muốn nó trở thành một trò cười chung, bị lũ chồn sương và bọn chồn nhãi nhép chế giễu và trêu chọc không?"
"Dĩ nhiên là không rồi," Chuột Nước nói. "Và, nhân nhắc đến bọn chồn, thật may là chúng ta đã vô tình tóm được tên chồn nhỏ đó, ngay lúc nó vừa ôm đống thiệp mời của Cóc hăm hở lên đường. Cháu đã sinh nghi điều gì đó từ những gì bác kể cho cháu, nên đã mở một hoặc hai cái ra xem; chúng thật sự đáng xấu hổ tột cùng. Cháu đã tịch thu toàn bộ, và giờ đây cậu bạn Chuột Chũi tốt bụng đang ngồi lọt thỏm trong phòng khách màu xanh, cặm cụi điền vào những tấm thiệp mời giản dị và mộc mạc."
Khi giờ khai tiệc đang cận kề, Cóc - kẻ đã cáo lui về phòng ngủ ngay sau khi rời khỏi hội bạn - vẫn đang ngồi đó, sầu thảm và tư lự. Chống tay lên trán, cậu trầm ngâm rất lâu, suy nghĩ miên man. Dần dần, nét mặt cậu dãn ra, và trên môi hé nở một nụ cười chậm rãi, kéo dài. Rồi cậu bắt đầu cười khúc khích, e thẹn và bẽn lẽn. Cuối cùng, cậu đứng phắt dậy, cẩn thận khóa trái cửa, kéo rèm che kín mít các ô cửa sổ, rồi gom tất cả ghế trong phòng xếp thành một hình bán nguyệt. Cậu bước lên đứng ngay phía trước những chiếc ghế ấy, ưỡn vồng lồng ngực đầy vẻ tự hào. Sau đó, cậu từ tốn cúi chào, hắng giọng hai tiếng, rồi thả lỏng người và cất cao giọng hát. Cậu đang say sưa biểu diễn trước một lượng khán giả cuồng nhiệt mà trí tưởng tượng của cậu vẽ ra sống động đến từng chi tiết.
BÀI HÁT NHỎ CUỐI CÙNG CỦA CÓC!
Cóc-đã-về-nhà!
Cả phòng khách náo loạn, tiếng hú hét vang vọng khắp sảnh đường,
Tiếng khóc than trong chuồng bò, tiếng gào thét nơi gian hàng,
Vì Cóc-đã-về-nhà!
Khi Cóc-đã-về-nhà!
Cửa sổ vỡ toang, cửa chính bị húc đổ sầm sập,
Lũ chồn bị rượt đuổi, sợ đến mức lăn đùng ra ngất lịm,
Khi Cóc-đã-về-nhà!
Bùm! Trống đánh vang lừng!
Lính tráng đứng chào, tiếng kèn đồng réo rắt tung hô,
Đại bác gầm vang, còi ô tô inh ỏi bốn bề,
Khi-Người Hùng-giáng lâm!
Hô vang-Hô-ra!
Và hãy để từng người trong đám đông gào thét hết mình,
Để vinh danh một sinh linh mà các bạn có quyền chân chính tự hào,
Vì đây là ngày-trọng đại-của Cóc!
Cậu hát vang bài ca ấy với một niềm say mê và biểu cảm tuyệt vời; và khi vừa dứt lời, cậu lại cất giọng hát lại từ đầu.
Rồi cậu khẽ buông một tiếng thở dài sườn sượt; một tiếng thở dài não nuột, kéo dài lê thê.
Đoạn, cậu nhúng chiếc lược chải tóc vào bình nước, chải ép thật thẳng, rẽ ngôi giữa cho bóng mượt ở cả hai bên mặt. Mở khóa cửa, cậu lặng lẽ bước xuống cầu thang để nghênh tiếp các vị khách của mình, những người mà cậu biết chắc mẩm lúc này đang quây quần đông đủ trong phòng khách.
Vừa thấy cậu bước vào, mọi con vật đều reo hò ầm ĩ. Chúng xúm xít vây quanh, đua nhau gửi tới cậu những lời chúc tụng và ngợi ca về lòng dũng cảm, trí thông minh cùng những kỹ năng chiến đấu xuất chúng. Thế nhưng, Cóc chỉ mỉm cười nhã nhặn, thầm thì đáp lời: "Chuyện vặt ấy mà, có gì to tát đâu!" Hoặc, thi thoảng để đổi vị, cậu lại bảo: "Phải nói là ngược lại mới đúng!" Lúc bấy giờ, Rái Cá đang đứng trên tấm thảm trước lò sưởi, thao thao bất tuyệt diễn tả cho một nhóm bạn bè đang ngưỡng mộ nghe xem cậu ta sẽ đích thân giải quyết mọi chuyện ra sao nếu có mặt ở đó. Thấy Cóc, Rái Cá hét lên một tiếng, lao tới vòng tay ôm chầm lấy cổ Cóc, cố gắng kiệu cậu đi một vòng quanh phòng như một cuộc diễu hành mừng chiến thắng. Nhưng Cóc lại khéo léo gỡ mình ra, tỏ vẻ khá lạnh nhạt, điềm đạm nhận xét: "Bác Lửng mới là bộ óc chủ mưu; Chuột Chũi và Chuột Nước đã gánh vác phần lớn trận chiến; tôi chỉ phục vụ trong hàng ngũ và chẳng làm được gì mấy." Các con vật lộ rõ vẻ bối rối và kinh ngạc trước thái độ khác thường này của cậu. Trong lúc lướt qua từng vị khách và buông những lời đáp từ vô cùng khiêm tốn, Cóc cảm nhận rõ ràng rằng mình đang là trung tâm của mọi sự chú ý.
Bác Lửng đã chuẩn bị toàn những món sơn hào hải vị ngon nhất, và bữa tiệc thực sự là một thành công rực rỡ. Khắp khán phòng râm ran những cuộc chuyện trò, tiếng cười đùa và cả những lời trêu ghẹo giữa các loài vật. Dù vậy, xuyên suốt buổi tiệc, Cóc - đương nhiên đang chễm chệ ở vị trí chủ tọa - chỉ cúi gằm mặt xuống, thầm thì những câu chuyện vụn vặt dẫu vui vẻ với những người bạn ngồi hai bên. Thỉnh thoảng, cậu lại lén đưa mắt liếc trộm bác Lửng và Chuột Nước. Lần nào cũng thế, cậu bắt gặp hai người họ đang há hốc miệng trố mắt nhìn nhau; điều này đã mang lại cho Cóc một niềm thỏa mãn tột độ. Khi màn đêm dần buông, một vài con vật trẻ tuổi và sôi nổi bắt đầu rỉ tai nhau rằng dường như mọi thứ chẳng còn náo nhiệt, thú vị như những tháng ngày tươi đẹp xưa cũ nữa. Rồi người ta thi nhau gõ xuống bàn, những tiếng hô hào vang lên: "Cóc! Diễn văn đi! Diễn văn từ Cóc đi! Bài hát! Bài hát của ngài Cóc đi!" Nhưng Cóc chỉ nhẹ nhàng lắc đầu, giơ một chân lên tỏ ý từ chối đầy nhã nhặn. Thay vào đó, bằng cách ân cần nài ép các vị khách thưởng thức thêm món ngon, bằng việc chuyển sang những chủ đề chuyện trò nho nhỏ, và bằng những lời hỏi thăm chu đáo tới các thành viên gia đình của họ chưa đủ tuổi tham dự những sự kiện xã giao như thế này, cậu đã khéo léo ngầm truyền đạt cho mọi người hiểu rằng: bữa tiệc tối nay đang được diễn ra theo những khuôn phép truyền thống vô cùng nghiêm ngặt.
Cậu ấy thực sự đã trở thành một con Cóc hoàn toàn khác!
Sau khi đỉnh điểm của những biến cố đã lùi xa, bốn người bạn lại quay về với nhịp sống êm đềm, bù đắp cho chuỗi ngày tháng tĩnh tại từng bị cuộc bạo loạn gián đoạn một cách phũ phàng. Họ đắm mình trong niềm hân hoan và sự mãn nguyện vô bờ, chẳng bao giờ còn bị bận lòng bởi thêm bất kỳ cuộc nổi dậy hay xâm lăng nào nữa. Về phần Cóc, sau khi hội ý kỹ lưỡng cùng chúng bạn, cậu đã tỉ mẩn chọn ra một sợi dây chuyền vàng tuyệt đẹp kết cùng mặt ngọc trai tinh xảo. Cậu gửi món quà ấy đến tay cô con gái người cai ngục, đính kèm một bức thư mà ngay cả bác Lửng nghiêm khắc cũng phải gật gù công nhận là đầy vẻ khiêm nhường, trân trọng và biết ơn sâu sắc. Đến lượt người lái tàu, ông cũng nhận được những lời tạ ơn chân thành cùng một khoản đền bù vô cùng xứng đáng cho biết bao công sức lao nhọc và phiền toái mà ông đã phải gánh chịu.
Ngay cả bà lái đò, dưới sức ép quyết liệt từ bác Lửng, dẫu phải cất công lặn lội một phen, cuối cùng cũng được tìm ra để âm thầm bồi hoàn giá trị con ngựa bị đánh cắp. Lẽ dĩ nhiên, Cóc đã giãy nảy phản kháng kịch liệt chuyện này. Cậu khăng khăng tự coi mình như một công cụ của Định mệnh, được phái xuống để trừng trị những mụ đàn bà béo phục phịch với đôi cánh tay lốm đốm, những kẻ có mắt như mù không thể nhận ra một quý ông đích thực khi chạm trán. Dẫu sao, số tiền bồi hoàn cũng chẳng lấy gì làm to tát, nhất là khi các thẩm định viên địa phương đều phải thừa nhận gã du mục kia đã ra giá con ngựa khá chuẩn xác.
Đôi khi, vào những buổi chiều hè miên man, bốn người bạn lại ung dung tản bộ vào sâu trong Khu Rừng Hoang, nơi giờ đây đã ngoan ngoãn quy thuận dưới chân họ. Thật khoái chí biết bao khi chứng kiến sự chào đón khép nép và đầy cung kính từ những cư dân nơi đây. Những bà mẹ chồn hối hả bế đám con nhỏ ra tận cửa hang, tay chỉ trỏ, miệng xuýt xoa: "Nhìn kìa, con yêu! Ngài Cóc vĩ đại đang đi tới đấy! Còn kia là cậu Chuột Nước quả cảm, một chiến binh đáng gờm đang sánh bước cùng ngài! Phía đằng kia là cậu Chuột Chũi lừng danh mà con vẫn thường nghe cha nhắc tới đó!"
Thế nhưng, mỗi khi đám chồn con quấy khóc ngằn ngặt và trở nên hoàn toàn vô phương cứu chữa, các bà mẹ sẽ dỗ dành chúng bằng một lời đe dọa quen thuộc: nếu không chịu nín bặt, bác Lửng xám kinh hoàng sẽ đến tóm cổ chúng mang đi. Quả là một lời phỉ báng oan uổng xiết bao đối với bác Lửng! Dẫu mang tiếng là kẻ xa lánh Xã hội, bác thực chất lại hết sức yêu mến trẻ thơ; ngặt một nỗi, chiêu thức hù dọa ấy lại chưa một lần thất bại trong việc phát huy uy lực tức thì.
-
Chi tiết gây cười đặc trưng của văn học thời Edward: trộn lẫn vũ khí của các hiệp sĩ thời Trung Cổ (gươm, đoản kiếm) với đồ lề của cảnh sát hiện đại (dùi cui, súng lục, còng tay) và những đồ dã ngoại tầm thường (bánh mì kẹp), biến một 'cuộc viễn chinh' nghiêm túc thành một trò chơi trận giả trẻ con. ↩
-
Bản gốc tiếng Anh là 'A Mole! A Mole!'. Đây là lối nhại lại những tiếng thét xung trận (battle cry) vinh danh gia tộc của các hiệp sĩ trong lịch sử, như 'A Clarence!'. ↩
-
Màu lông đặc trưng đại diện cho bốn nhân vật: xám của Lửng, đen của Chuột Chũi, nâu của Chuột Nước và vàng của Cóc. ↩
-
Salad tôm hùm (lobster salad) là một món ăn khuya xa xỉ và vô cùng phổ biến của giới thượng lưu Anh thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. ↩
-
Sử dụng giấy viết thư có in tiêu đề (letterhead) dập nổi màu sắc cầu kỳ là cách phô trương sự giàu có, bề thế của tầng lớp địa chủ Anh lúc bấy giờ. ↩
-
'Trở về với Đất mẹ' (Return to the Land) là một khẩu hiệu thực tế thời đó, kêu gọi giới tinh hoa quay lại phát triển nông thôn. ↩
XII. THE RETURN OF ULYSSES
When it began to grow dark, the Rat, with an air of excitement and mystery, summoned them back into the parlour, stood each of them up alongside of his little heap, and proceeded to dress them up for the coming expedition. He was very earnest and thoroughgoing about it, and the affair took quite a long time. First, there was a belt to go round each animal, and then a sword to be stuck into each belt, and then a cutlass on the other side to balance it. Then a pair of pistols, a policeman’s truncheon, several sets of handcuffs, some bandages and sticking-plaster, and a flask and a sandwich-case. The Badger laughed good-humouredly and said, “All right, Ratty! It amuses you and it doesn’t hurt me. I’m going to do all I’ve got to do with this here stick.” But the Rat only said, “please, Badger. You know I shouldn’t like you to blame me afterwards and say I had forgotten anything!”
When all was quite ready, the Badger took a dark lantern in one paw, grasped his great stick with the other, and said, “Now then, follow me! Mole first, “cos I’m very pleased with him; Rat next; Toad last. And look here, Toady! Don’t you chatter so much as usual, or you’ll be sent back, as sure as fate!”
The Toad was so anxious not to be left out that he took up the inferior position assigned to him without a murmur, and the animals set off. The Badger led them along by the river for a little way, and then suddenly swung himself over the edge into a hole in the river-bank, a little above the water. The Mole and the Rat followed silently, swinging themselves successfully into the hole as they had seen the Badger do; but when it came to Toad’s turn, of course he managed to slip and fall into the water with a loud splash and a squeal of alarm. He was hauled out by his friends, rubbed down and wrung out hastily, comforted, and set on his legs; but the Badger was seriously angry, and told him that the very next time he made a fool of himself he would most certainly be left behind.
So at last they were in the secret passage, and the cutting-out expedition had really begun!
It was cold, and dark, and damp, and low, and narrow, and poor Toad began to shiver, partly from dread of what might be before him, partly because he was wet through. The lantern was far ahead, and he could not help lagging behind a little in the darkness. Then he heard the Rat call out warningly, “Come on, Toad!” and a terror seized him of being left behind, alone in the darkness, and he “came on” with such a rush that he upset the Rat into the Mole and the Mole into the Badger, and for a moment all was confusion. The Badger thought they were being attacked from behind, and, as there was no room to use a stick or a cutlass, drew a pistol, and was on the point of putting a bullet into Toad. When he found out what had really happened he was very angry indeed, and said, “Now this time that tiresome Toad shall be left behind!”
But Toad whimpered, and the other two promised that they would be answerable for his good conduct, and at last the Badger was pacified, and the procession moved on; only this time the Rat brought up the rear, with a firm grip on the shoulder of Toad.
So they groped and shuffled along, with their ears pricked up and their paws on their pistols, till at last the Badger said, “We ought by now to be pretty nearly under the Hall.”
Then suddenly they heard, far away as it might be, and yet apparently nearly over their heads, a confused murmur of sound, as if people were shouting and cheering and stamping on the floor and hammering on tables. The Toad’s nervous terrors all returned, but the Badger only remarked placidly, “They are going it, the Weasels!”
The passage now began to slope upwards; they groped onward a little further, and then the noise broke out again, quite distinct this time, and very close above them. “Ooo-ray-ooray-oo-ray-ooray!” they heard, and the stamping of little feet on the floor, and the clinking of glasses as little fists pounded on the table. “What a time they’re having!” said the Badger. “Come on!” They hurried along the passage till it came to a full stop, and they found themselves standing under the trap-door that led up into the butler’s pantry.
Such a tremendous noise was going on in the banqueting-hall that there was little danger of their being overheard. The Badger said, “Now, boys, all together!” and the four of them put their shoulders to the trap-door and heaved it back. Hoisting each other up, they found themselves standing in the pantry, with only a door between them and the banqueting-hall, where their unconscious enemies were carousing.
The noise, as they emerged from the passage, was simply deafening. At last, as the cheering and hammering slowly subsided, a voice could be made out saying, “Well, I do not propose to detain you much longer”-(great applause)-“but before I resume my seat”-(renewed cheering)-“I should like to say one word about our kind host, Mr. Toad. We all know Toad!”-(great laughter)-“Good Toad, modest Toad, honest Toad!” (shrieks of merriment).
“Only just let me get at him!” muttered Toad, grinding his teeth.
“Hold hard a minute!” said the Badger, restraining him with difficulty. “Get ready, all of you!”
“-Let me sing you a little song,” went on the voice, “which I have composed on the subject of Toad”-(prolonged applause).
Then the Chief Weasel-for it was he-began in a high, squeaky voice-
“Toad he went a-pleasuring
Gaily down the street-”
The Badger drew himself up, took a firm grip of his stick with both paws, glanced round at his comrades, and cried-
“The hour is come! Follow me!”
And flung the door open wide.
My!
What a squealing and a squeaking and a screeching filled the air!
Well might the terrified weasels dive under the tables and spring madly up at the windows! Well might the ferrets rush wildly for the fireplace and get hopelessly jammed in the chimney! Well might tables and chairs be upset, and glass and china be sent crashing on the floor, in the panic of that terrible moment when the four Heroes strode wrathfully into the room! The mighty Badger, his whiskers bristling, his great cudgel whistling through the air; Mole, black and grim, brandishing his stick and shouting his awful war-cry, “A Mole! A Mole!” Rat; desperate and determined, his belt bulging with weapons of every age and every variety; Toad, frenzied with excitement and injured pride, swollen to twice his ordinary size, leaping into the air and emitting Toad-whoops that chilled them to the marrow! “Toad he went a-pleasuring!” he yelled. “I’ll pleasure ’em!” and he went straight for the Chief Weasel. They were but four in all, but to the panic-stricken weasels the hall seemed full of monstrous animals, grey, black, brown and yellow, whooping and flourishing enormous cudgels; and they broke and fled with squeals of terror and dismay, this way and that, through the windows, up the chimney, anywhere to get out of reach of those terrible sticks.
The affair was soon over. Up and down, the whole length of the hall, strode the four Friends, whacking with their sticks at every head that showed itself; and in five minutes the room was cleared. Through the broken windows the shrieks of terrified weasels escaping across the lawn were borne faintly to their ears; on the floor lay prostrate some dozen or so of the enemy, on whom the Mole was busily engaged in fitting handcuffs. The Badger, resting from his labours, leant on his stick and wiped his honest brow.
“Mole,” he said,” “you’re the best of fellows! Just cut along outside and look after those stoat-sentries of yours, and see what they’re doing. I’ve an idea that, thanks to you, we shan’t have much trouble from them to-night!”
The Mole vanished promptly through a window; and the Badger bade the other two set a table on its legs again, pick up knives and forks and plates and glasses from the débris on the floor, and see if they could find materials for a supper. “I want some grub, I do,” he said, in that rather common way he had of speaking. “Stir your stumps, Toad, and look lively! We’ve got your house back for you, and you don’t offer us so much as a sandwich.” Toad felt rather hurt that the Badger didn’t say pleasant things to him, as he had to the Mole, and tell him what a fine fellow he was, and how splendidly he had fought; for he was rather particularly pleased with himself and the way he had gone for the Chief Weasel and sent him flying across the table with one blow of his stick. But he bustled about, and so did the Rat, and soon they found some guava jelly in a glass dish, and a cold chicken, a tongue that had hardly been touched, some trifle, and quite a lot of lobster salad; and in the pantry they came upon a basketful of French rolls and any quantity of cheese, butter, and celery. They were just about to sit down when the Mole clambered in through the window, chuckling, with an armful of rifles.
“It’s all over,” he reported. “From what I can make out, as soon as the stoats, who were very nervous and jumpy already, heard the shrieks and the yells and the uproar inside the hall, some of them threw down their rifles and fled. The others stood fast for a bit, but when the weasels came rushing out upon them they thought they were betrayed; and the stoats grappled with the weasels, and the weasels fought to get away, and they wrestled and wriggled and punched each other, and rolled over and over, till most of ’em rolled into the river! They’ve all disappeared by now, one way or another; and I’ve got their rifles. So that’s all right!”
“Excellent and deserving animal!” said the Badger, his mouth full of chicken and trifle. “Now, there’s just one more thing I want you to do, Mole, before you sit down to your supper along of us; and I wouldn’t trouble you only I know I can trust you to see a thing done, and I wish I could say the same of every one I know. I’d send Rat, if he wasn’t a poet. I want you to take those fellows on the floor there upstairs with you, and have some bedrooms cleaned out and tidied up and made really comfortable. See that they sweep under the beds, and put clean sheets and pillow-cases on, and turn down one corner of the bed-clothes, just as you know it ought to be done; and have a can of hot water, and clean towels, and fresh cakes of soap, put in each room. And then you can give them a licking a-piece, if it’s any satisfaction to you, and put them out by the back-door, and we shan’t see any more of them, I fancy. And then come along and have some of this cold tongue. It’s first rate. I’m very pleased with you, Mole!”
The goodnatured Mole picked up a stick, formed his prisoners up in a line on the floor, gave them the order “Quick march!” and led his squad off to the upper floor. After a time, he appeared again, smiling, and said that every room was ready, and as clean as a new pin. “And I didn’t have to lick them, either,” he added. “I thought, on the whole, they had had licking enough for one night, and the weasels, when I put the point to them, quite agreed with me, and said they wouldn’t think of troubling me. They were very penitent, and said they were extremely sorry for what they had done, but it was all the fault of the Chief Weasel and the stoats, and if ever they could do anything for us at any time to make up, we had only got to mention it. So I gave them a roll a-piece, and let them out at the back, and off they ran, as hard as they could!”
Then the Mole pulled his chair up to the table, and pitched into the cold tongue; and Toad, like the gentleman he was, put all his jealousy from him, and said heartily, “Thank you kindly, dear Mole, for all your pains and trouble tonight, and especially for your cleverness this morning!” The Badger was pleased at that, and said, “There spoke my brave Toad!” So they finished their supper in great joy and contentment, and presently retired to rest between clean sheets, safe in Toad’s ancestral home, won back by matchless valour, consummate strategy, and a proper handling of sticks.
The following morning, Toad, who had overslept himself as usual, came down to breakfast disgracefully late, and found on the table a certain quantity of egg-shells, some fragments of cold and leathery toast, a coffee-pot three-fourths empty, and really very little else; which did not tend to improve his temper, considering that, after all, it was his own house. Through the French windows of the breakfast-room he could see the Mole and the Water Rat sitting in wicker-chairs out on the lawn, evidently telling each other stories; roaring with laughter and kicking their short legs up in the air. The Badger, who was in an arm-chair and deep in the morning paper, merely looked up and nodded when Toad entered the room. But Toad knew his man, so he sat down and made the best breakfast he could, merely observing to himself that he would get square with the others sooner or later. When he had nearly finished, the Badger looked up and remarked rather shortly: “I’m sorry, Toad, but I’m afraid there’s a heavy morning’s work in front of you. You see, we really ought to have a Banquet at once, to celebrate this affair. It’s expected of you-in fact, it’s the rule.”
“O, all right!” said the Toad, readily. “Anything to oblige. Though why on earth you should want to have a Banquet in the morning I cannot understand. But you know I do not live to please myself, but merely to find out what my friends want, and then try and arrange it for ’em, you dear old Badger!”
“Don’t pretend to be stupider than you really are,” replied the Badger, crossly; “and don’t chuckle and splutter in your coffee while you’re talking; it’s not manners. What I mean is, the Banquet will be at night, of course, but the invitations will have to be written and got off at once, and you’ve got to write ’em. Now, sit down at that table-there’s stacks of letter-paper on it, with ‘Toad Hall’ at the top in blue and gold-and write invitations to all our friends, and if you stick to it we shall get them out before luncheon. And I’ll bear a hand, too; and take my share of the burden. I’ll order the Banquet.”
“What!” cried Toad, dismayed. “Me stop indoors and write a lot of rotten letters on a jolly morning like this, when I want to go around my property, and set everything and everybody to rights, and swagger about and enjoy myself! Certainly not! I’ll be-I’ll see you--Stop a minute, though! Why, of course, dear Badger! What is my pleasure or convenience compared with that of others! You wish it done, and it shall be done. Go, Badger, order the Banquet, order what you like; then join our young friends outside in their innocent mirth, oblivious of me and my cares and toils. I sacrifice this fair morning on the altar of duty and friendship!”
The Badger looked at him very suspiciously, but Toad’s frank, open countenance made it difficult to suggest any unworthy motive in this change of attitude. He quitted the room, accordingly, in the direction of the kitchen, and as soon as the door had closed behind him, Toad hurried to the writing-table. A fine idea had occurred to him while he was talking. He would write the invitations; and he would take care to mention the leading part he had taken in the fight, and how he had laid the Chief Weasel flat; and he would hint at his adventures, and what a career of triumph he had to tell about; and on the fly-leaf he would set out a sort of a programme of entertainment for the evening-something like this, as he sketched it out in his head:-
SPEECH. . . . BY TOAD.
(There will be other speeches by TOAD during the evening.)
ADDRESS. . . BY TOAD
SYNOPSIS-Our Prison System-the Waterways of Old England-Horse-dealing, and how to deal-Property, its rights and its duties-Back to the Land-A Typical English Squire.
SONG. . . . BY TOAD.
(Composed by himself.)
OTHER COMPOSITIONS. BY TOAD
will be sung in the course of the evening by the. . . COMPOSER.
The idea pleased him mightily, and he worked very hard and got all the letters finished by noon, at which hour it was reported to him that there was a small and rather bedraggled weasel at the door, inquiring timidly whether he could be of any service to the gentlemen. Toad swaggered out and found it was one of the prisoners of the previous evening, very respectful and anxious to please. He patted him on the head, shoved the bundle of invitations into his paw, and told him to cut along quick and deliver them as fast as he could, and if he liked to come back again in the evening, perhaps there might be a shilling for him, or, again, perhaps there mightn’t; and the poor weasel seemed really quite grateful, and hurried off eagerly to do his mission.
When the other animals came back to luncheon, very boisterous and breezy after a morning on the river, the Mole, whose conscience had been pricking him, looked doubtfully at Toad, expecting to find him sulky or depressed. Instead, he was so uppish and inflated that the Mole began to suspect something; while the Rat and the Badger exchanged significant glances.
As soon as the meal was over, Toad thrust his paws deep into his trouser-pockets, remarked casually, “Well, look after yourselves, you fellows! Ask for anything you want!” and was swaggering off in the direction of the garden, where he wanted to think out an idea or two for his coming speeches, when the Rat caught him by the arm.
Toad rather suspected what he was after, and did his best to get away; but when the Badger took him firmly by the other arm he began to see that the game was up. The two animals conducted him between them into the small smoking-room that opened out of the entrance-hall, shut the door, and put him into a chair. Then they both stood in front of him, while Toad sat silent and regarded them with much suspicion and ill-humour.
“Now, look here, Toad,” said the Rat. “It’s about this Banquet, and very sorry I am to have to speak to you like this. But we want you to understand clearly, once and for all, that there are going to be no speeches and no songs. Try and grasp the fact that on this occasion we’re not arguing with you; we’re just telling you.”
Toad saw that he was trapped. They understood him, they saw through him, they had got ahead of him. His pleasant dream was shattered.
“Mayn’t I sing them just one little song?” he pleaded piteously.
“No, not one little song,” replied the Rat firmly, though his heart bled as he noticed the trembling lip of the poor disappointed Toad. “It’s no good, Toady; you know well that your songs are all conceit and boasting and vanity; and your speeches are all self-praise and-and-well, and gross exaggeration and-and--”
“And gas,” put in the Badger, in his common way.
“It’s for your own good, Toady,” went on the Rat. “You know you must turn over a new leaf sooner or later, and now seems a splendid time to begin; a sort of turning-point in your career. Please don’t think that saying all this doesn’t hurt me more than it hurts you.”
Toad remained a long while plunged in thought. At last he raised his head, and the traces of strong emotion were visible on his features. “You have conquered, my friends,” he said in broken accents. “It was, to be sure, but a small thing that I asked-merely leave to blossom and expand for yet one more evening, to let myself go and hear the tumultuous applause that always seems to me-somehow-to bring out my best qualities. However, you are right, I know, and I am wrong. Hence forth I will be a very different Toad. My friends, you shall never have occasion to blush for me again. But, O dear, O dear, this is a hard world!”
And, pressing his handkerchief to his face, he left the room, with faltering footsteps.
“Badger,” said the Rat, “I feel like a brute; I wonder what you feel like?”
“O, I know, I know,” said the Badger gloomily. “But the thing had to be done. This good fellow has got to live here, and hold his own, and be respected. Would you have him a common laughing-stock, mocked and jeered at by stoats and weasels?”
“Of course not,” said the Rat. “And, talking of weasels, it’s lucky we came upon that little weasel, just as he was setting out with Toad’s invitations. I suspected something from what you told me, and had a look at one or two; they were simply disgraceful. I confiscated the lot, and the good Mole is now sitting in the blue boudoir, filling up plain, simple invitation cards.”
At last the hour for the banquet began to draw near, and Toad, who on leaving the others had retired to his bedroom, was still sitting there, melancholy and thoughtful. His brow resting on his paw, he pondered long and deeply. Gradually his countenance cleared, and he began to smile long, slow smiles. Then he took to giggling in a shy, self-conscious manner. At last he got up, locked the door, drew the curtains across the windows, collected all the chairs in the room and arranged them in a semicircle, and took up his position in front of them, swelling visibly. Then he bowed, coughed twice, and, letting himself go, with uplifted voice he sang, to the enraptured audience that his imagination so clearly saw.
TOAD’S LAST LITTLE SONG!
The Toad-came-home!
There was panic in the parlours and howling in the halls,
There was crying in the cow-sheds and shrieking in the stalls,
When the Toad-came-home!
When the Toad-came-home!
There was smashing in of window and crashing in of door,
There was chivvying of weasels that fainted on the floor,
When the Toad-came-home!
Bang! go the drums!
The trumpeters are tooting and the soldiers are saluting,
And the cannon they are shooting and the motor-cars are hooting,
As the-Hero-comes!
Shout-Hoo-ray!
And let each one of the crowd try and shout it very loud,
In honour of an animal of whom you’re justly proud,
For it’s Toad’s-great-day!
He sang this very loud, with great unction and expression; and when he had done, he sang it all over again.
Then he heaved a deep sigh; a long, long, long sigh.
Then he dipped his hairbrush in the water-jug, parted his hair in the middle, and plastered it down very straight and sleek on each side of his face; and, unlocking the door, went quietly down the stairs to greet his guests, who he knew must be assembling in the drawing-room.
All the animals cheered when he entered, and crowded round to congratulate him and say nice things about his courage, and his cleverness, and his fighting qualities; but Toad only smiled faintly, and murmured, “Not at all!” Or, sometimes, for a change, “On the contrary!” Otter, who was standing on the hearthrug, describing to an admiring circle of friends exactly how he would have managed things had he been there, came forward with a shout, threw his arm round Toad’s neck, and tried to take him round the room in triumphal progress; but Toad, in a mild way, was rather snubby to him, remarking gently, as he disengaged himself, “Badger’s was the mastermind; the Mole and the Water Rat bore the brunt of the fighting; I merely served in the ranks and did little or nothing.” The animals were evidently puzzled and taken aback by this unexpected attitude of his; and Toad felt, as he moved from one guest to the other, making his modest responses, that he was an object of absorbing interest to every one.
The Badger had ordered everything of the best, and the banquet was a great success. There was much talking and laughter and chaff among the animals, but through it all Toad, who of course was in the chair, looked down his nose and murmured pleasant nothings to the animals on either side of him. At intervals he stole a glance at the Badger and the Rat, and always when he looked they were staring at each other with their mouths open; and this gave him the greatest satisfaction. Some of the younger and livelier animals, as the evening wore on, got whispering to each other that things were not so amusing as they used to be in the good old days; and there were some knockings on the table and cries of “Toad! Speech! Speech from Toad! Song! Mr. Toad’s song!” But Toad only shook his head gently, raised one paw in mild protest, and, by pressing delicacies on his guests, by topical small-talk, and by earnest inquiries after members of their families not yet old enough to appear at social functions, managed to convey to them that this dinner was being run on strictly conventional lines.
He was indeed an altered Toad!
After this climax, the four animals continued to lead their lives, so rudely broken in upon by civil war, in great joy and contentment, undisturbed by further risings or invasions. Toad, after due consultation with his friends, selected a handsome gold chain and locket set with pearls, which he dispatched to the gaoler’s daughter with a letter that even the Badger admitted to be modest, grateful, and appreciative; and the engine-driver, in his turn, was properly thanked and compensated for all his pains and trouble. Under severe compulsion from the Badger, even the barge-woman was, with some trouble, sought out and the value of her horse discreetly made good to her; though Toad kicked terribly at this, holding himself to be an instrument of Fate, sent to punish fat women with mottled arms who couldn’t tell a real gentleman when they saw one. The amount involved, it was true, was not very burdensome, the gipsy’s valuation being admitted by local assessors to be approximately correct.
Sometimes, in the course of long summer evenings, the friends would take a stroll together in the Wild Wood, now successfully tamed so far as they were concerned; and it was pleasing to see how respectfully they were greeted by the inhabitants, and how the mother-weasels would bring their young ones to the mouths of their holes, and say, pointing, “Look, baby! There goes the great Mr. Toad! And that’s the gallant Water Rat, a terrible fighter, walking along o’ him! And yonder comes the famous Mr. Mole, of whom you so often have heard your father tell!” But when their infants were fractious and quite beyond control, they would quiet them by telling how, if they didn’t hush them and not fret them, the terrible grey Badger would up and get them. This was a base libel on Badger, who, though he cared little about Society, was rather fond of children; but it never failed to have its full effect.