CHƯƠNG IV: BÁC LỬNG.
Bọn họ kiên nhẫn chờ đợi trong một khoảng thời gian tưởng chừng như vô tận, đôi chân liên tục giậm lạch bạch trên nền tuyết lạnh buốt để giữ ấm. Mãi lúc sau, từ bên trong mới vọng ra tiếng bước chân lê lệt bệt, chậm chạp tiến về phía cửa. Chà, đúng như Chuột Chũi đã rỉ tai nhận xét với Chuột Nước, âm thanh ấy nghe hệt như có ai đó đang xỏ chân vào một đôi dép thảm đi trong nhà quá cỡ và bị giẫm xẹp cả gót; Chuột Chũi quả thực rất tinh ý, bởi vì sự thật đúng y như vậy.
Có tiếng then cài rít lên lách cách, cánh cửa hé mở ra vài inch, vừa vặn để lộ một cái mõm dài thượt và một đôi mắt đang chớp chớp ngái ngủ.
"Này nhé, nếu chuyện này còn tái diễn thêm lần nữa," một giọng nói cộc cằn và đầy đa nghi cất lên, "bác sẽ nổi trận lôi đình đấy. Lần này lại là ai đây, kẻ nào to gan dám quấy rầy người khác trong một đêm mưa tuyết thế này? Lên tiếng mau!"
"Ôi, bác Lửng," Chuột Nước vội vã kêu lên, "làm ơn cho bọn cháu vào tá túc với. Cháu là Chuột Nước đây, cùng cậu bạn Chuột Chũi của cháu. Bọn cháu đã bị lạc giữa bão tuyết."
"Cái gì, Chuột Nước, chàng trai bé nhỏ yêu quý của bác đấy ư!" Bác Lửng thảng thốt, giọng điệu lập tức chuyển sang một thái độ hoàn toàn khác. "Vào đi, cả hai cháu, mau vào ngay đi. Chao ôi, các cháu hẳn phải lạnh cóng người rồi. Thật không thể tin nổi! Lạc trong tuyết! Lại còn ở Khu Rừng Hoang, và vào cái giờ dở dở ương ương này nữa chứ! Nào, vào nhà mau đi."
Hai con vật cuống cuồng chen chúc nhau lách qua khe cửa. Khi âm thanh trầm đục của cánh cửa khép lại vang lên sau lưng, một niềm vui sướng và sự nhẹ nhõm tột độ trào dâng trong lòng chúng.
Bác Lửng khoác trên mình một chiếc áo choàng ngủ dài thượt, chân xỏ đôi dép lê quả thực đã bị giẫm xẹp gót. Tay bác cầm một chiếc chân nến dẹt; có lẽ bác đang chuẩn bị lên giường thì nghe tiếng gọi cửa. Bác âu yếm cúi nhìn xuống và dịu dàng xoa đầu cả hai. "Đêm nay đâu phải là lúc dành cho những con vật nhỏ bé ra ngoài loanh quanh," bác cất lời, giọng điệu mang đầy vẻ chở che ấm áp của một người cha. "Bác e là cháu lại vừa bày trò nghịch ngợm gì đó rồi phải không, Chuột Nước. Nhưng thôi đi nào; vào bếp đi. Trong đó có một lò sưởi tuyệt vời, có bữa tối và đủ mọi thứ các cháu cần."
Bác lê bước đi trước, tay cầm ngọn đèn soi đường. Hai người bạn lóc cóc bám theo sau, hích cùi chỏ vào nhau đầy vẻ háo hức. Họ đi dọc theo một hành lang dài thun lút, tối tăm và thực lòng mà nói thì khá tồi tàn, để rồi dẫn vào một kiểu sảnh chính rộng lớn. Từ đây, họ có thể lờ mờ nhìn thấy những nhánh hành lang khác tủa ra như những đường hầm dài dằng dặc, mang đầy vẻ bí ẩn và dường như chẳng có điểm dừng. Thế nhưng, trong sảnh cũng có điểm xuyết những cánh cửa gỗ sồi rắn rỏi, trông vô cùng ấm cúng. Bác Lửng đẩy tung một trong số đó. Ngay tắp lự, họ được đắm mình trong ánh sáng lấp lánh và hơi ấm sực nức của một gian bếp thênh thang, rực rỡ dưới ánh lửa hồng.
Sàn nhà được lát bằng lớp gạch đỏ đã mòn vẹt dấu thời gian. Trên chiếc lò sưởi rộng rãi, một ngọn lửa củi đang reo vui lách tách, nép mình an toàn giữa hai góc ống khói được xây lùi vào tường, hoàn toàn tránh xa mọi cơn gió lùa buốt giá. Một cặp ghế băng tựa lưng cao được kê đối diện nhau ở hai bên bếp lửa, tạo thành chốn ngả lưng lý tưởng cho những ai thích rôm rả chuyện trò. Giữa phòng chễm chệ một chiếc bàn dài, được ghép từ những tấm ván trơn nhẵn đặt trên giá đỡ, với những chiếc ghế dài chạy dọc hai bên. Ở một đầu bàn, nơi chiếc ghế bành được đẩy lùi lại, la liệt những món ngon còn sót lại trong bữa tối giản dị nhưng lại vô cùng thịnh soạn của bác Lửng. Những hàng đĩa sạch bong, sáng bóng lấp lánh trên giá của chiếc tủ bếp kê sát góc phòng. Từ những thanh xà ngang vắt vẻo trên trần nhà, lủng lẳng những chiếc đùi lợn muối béo ngậy, những bó thảo mộc phơi khô, những túi hành tây côm cốp và những giỏ trứng tròn ủm. Nơi đây toát lên vẻ phồn thực, dường như là một địa điểm hoàn hảo để các bậc anh hùng mở tiệc ăn mừng sau những chiến thắng khải hoàn, nơi những người thợ gặt mệt mỏi có thể ngồi xếp hàng dài dọc theo chiếc bàn, cất cao những tràng cười và bài ca mừng Lễ Thu Hoạch. Hoặc giản đơn hơn, đây là chốn nương náu lý tưởng cho hai ba người bạn tâm giao cùng chung sở thích thanh đạm, có thể ngồi ngả ngớn tùy ý, vừa nhâm nhi đồ ăn, vừa bập bùi tẩu thuốc và hàn huyên trong sự thoải mái, mãn nguyện ngập tràn. Sàn gạch đỏ hồng ấm áp như hoà điệu cùng trần nhà ám khói; những chiếc ghế băng gỗ sồi, bóng loáng vì dấu vết tháng năm, vui vẻ trao đổi ánh nhìn với nhau; những chiếc đĩa trên tủ bếp nhe răng cười tít mắt với những chiếc nồi trên giá, và ánh lửa vui nhộn nhảy múa lung linh, trêu đùa vạn vật chẳng màng phân biệt.
Bác Lửng tốt bụng ân cần ấn họ ngồi xuống chiếc ghế băng để hơ ấm bên bếp lửa, rồi giục họ cởi bỏ những chiếc áo khoác và đôi ủng đã ướt sũng. Tiếp đó, bác lấy cho họ những chiếc áo choàng ngủ và dép lê êm ái, đích thân dùng nước ấm rửa sạch cẳng chân lấm lem của Chuột Chũi, rồi dùng băng dính cứu thương tỉ mẩn băng bó vết xước cho đến khi nó trông như mới, thậm chí còn lành lặn hơn xưa. Trong vòng tay bao bọc của ánh sáng và hơi ấm, đôi chân mệt mỏi được duỗi dài khoan khoái, văng vẳng bên tai là tiếng lanh canh đầy hứa hẹn của những chiếc đĩa đang được thoăn thoắt sắp xếp trên bàn. Đối với những sinh vật nhỏ bé vừa bị bão táp vùi dập và may mắn dạt vào bến đỗ bình yên này, dường như Khu Rừng Hoang lạnh lẽo, vô định ngoài kia đã lùi xa hàng dặm. Mọi khổ ải, đớn đau mà họ phải gánh chịu trong đó giờ đây chỉ còn là một giấc mộng hoang đường, chập chờn tan biến.
Khi cả hai đã được sưởi ấm kỹ càng, bác Lửng gọi họ lại bàn ăn, nơi bác vừa tất bật dọn ra một bữa tiệc nhỏ thiết đãi. Trước đó, cả hai đã cảm thấy bụng dạ cồn cào, nhưng khi thực sự được diện kiến mâm cỗ thịnh soạn bày biện trước mắt, vấn đề nan giải duy nhất giờ đây chỉ là: họ nên tấn công món nào trước tiên khi mọi thứ đều quá đỗi mời gọi, và liệu những món khác có cam lòng chờ đợi cho đến khi họ có thời gian thưởng thức hay không. Bọn họ mải mê đánh chén đến mức chẳng buồn cất lời trong một khoảng thời gian dài; và khi những câu chuyện râm ran bắt đầu trở lại, đó lại là kiểu giao tiếp khá buồn cười khi người ta cứ vừa nhai nhồm nhoàm vừa thao thao bất tuyệt. Bác Lửng chẳng mảy may bận tâm đến những tiểu tiết đó, bác cũng chẳng thèm để ý đến việc khách khứa vô tư chống khuỷu tay lên bàn, hay việc ai nấy đều tranh nhau nói cùng một lúc. Vốn dĩ không phải là người ưa lui tới chốn Thượng lưu, bác luôn tâm niệm rằng những nghi thức rườm rà ấy chỉ thuộc về những thứ phù phiếm, chẳng hề quan trọng. (Tất nhiên, chúng ta đều biết rằng bác đã lầm và có cái nhìn hơi thiển cận; bởi vì những phép tắc ấy thực sự rất quan trọng, dẫu để giải thích cặn kẽ ngọn nguồn thì sẽ tốn kha khá thời gian.) Bác ngồi nhàn nhã trên chiếc ghế bành ở đầu bàn, thỉnh thoảng lại nghiêm trang gật gù khi hai con vật hăng say kể lại chuyến phiêu lưu bão táp của mình. Bác dường như chẳng hề tỏ ra kinh ngạc hay thảng thốt trước bất cứ chuyện gì, cũng chẳng bao giờ buông những lời càm ràm như: "Bác đã bảo rồi mà," hay "Đúng y như những gì bác luôn răn dạy," hoặc phán xét rằng họ đáng lẽ nên làm thế này, hay không nên làm thế nọ. Chuột Chũi bắt đầu cảm thấy vô cùng kính mến và trân trọng bác.
Khi bữa ăn thịnh soạn cuối cùng cũng khép lại, cả bọn đều cảm thấy da bụng đã căng tròn hết cỡ đến mức tối đa có thể chịu đựng được. Giờ đây, chẳng ai còn thiết tha bận tâm đến bất kỳ điều gì trên đời nữa. Chúng kéo nhau quây quần bên đống than hồng rực từ những thanh củi lớn, tận hưởng cái thú vị tột bậc khi được thức quá khuya, cảm thấy quá đỗi tự do, và cái bụng thì quá no nê. Sau một hồi mạn đàm đủ mọi chuyện trên trời dưới biển, bác Lửng mới hồ hởi lên tiếng:
“Nào! Hãy kể cho bác nghe tin tức từ phía bên kia thế giới của các cháu đi. Lão Cóc dạo này ra sao rồi?”
“Ôi, ngày càng tệ hại hơn ạ,” Chuột Nước nghiêm nghị đáp. Trong khi đó, Chuột Chũi đang vắt vẻo trên băng ghế, đắm mình trong hơi ấm của ánh lửa với đôi gót chân gác cao hơn cả đầu, cũng cố gắng uốn nét mặt cho ra vẻ sầu não sao cho phải phép. “Mới tuần trước lại xảy ra thêm một vụ đâm xe nữa, và lần này khá nghiêm trọng. Bác thấy đấy, cậu ấy cứ nằng nặc đòi tự cầm lái, mà khổ nỗi cậu ấy lại hoàn toàn vô tích sự trong chuyện đó. Giá như cậu ấy chịu vung tiền thuê một tài xế tử tế, vững vàng, được đào tạo bài bản và giao phó mọi việc cho người ta, thì mọi chuyện đã êm đẹp. Nhưng không đời nào; cậu ấy luôn ảo tưởng mình là một tay lái bẩm sinh, chẳng ai đủ trình độ để chỉ bảo mình; và thế là mọi tai ương cứ liên tiếp ập đến.”
“Cậu ta đã gây ra bao nhiêu vụ rồi?” bác Lửng rầu rĩ hỏi.
“Số vụ đâm xe, hay số xe bị nghiền nát ạ?” Chuột Nước vặn lại. “Ồ, đằng nào thì cũng bằng nhau thôi-với Cóc thì luôn là vậy. Đây đã là vụ thứ bảy rồi. Còn về những thứ khác-bác biết cái nhà để xe ngựa của cậu ấy chứ? Chà, trong đó giờ chất đầy-chất đống theo đúng nghĩa đen lên tận nóc-những mảnh vỡ vụn của xe hơi, chẳng có mảnh nào to hơn chiếc mũ của bác đâu! Đó là tàn tích của sáu chiếc xe trước-ít nhất là trong phạm vi chúng cháu có thể đếm được.”
“Anh ấy đã phải nhập viện đến ba lần rồi ạ,” Chuột Chũi chêm vào; “và nhắc đến những khoản tiền phạt mà anh ấy phải nộp thì, ôi chao, chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ thấy kinh hoàng.”
“Vâng, và đó mới chỉ là một bề của vấn đề thôi,” Chuột Nước tiếp lời. “Cóc rất giàu, chuyện đó thì ai cũng rõ; nhưng cậu ấy đâu phải là một nhà tỉ phú. Lại thêm cái tật lái xe tồi tệ đến mức vô phương cứu chữa, hoàn toàn coi thường luật pháp và trật tự. Bị mất mạng hay khuynh gia bại sản-sớm muộn gì cũng có một kết cục xảy ra. Bác Lửng ơi! Chúng ta là bạn của cậu ấy-chẳng lẽ chúng ta cứ khoanh tay đứng nhìn sao?”
Bác Lửng chìm vào trầm tư một lúc lâu. “Nghe này!” cuối cùng bác cất giọng, với một vẻ mặt khá nghiêm nghị; “tất nhiên các cháu thừa biết là vào lúc này bác chẳng thể làm gì được, đúng không?”
Hai người bạn gật đầu đồng tình, hoàn toàn thấu hiểu ý bác. Dựa theo những quy tắc bất thành văn trong xã hội loài vật1, không một ai bị ép buộc phải làm bất cứ việc gì nhọc nhằn, hay thể hiện tinh thần trượng nghĩa anh hùng, hay thậm chí là tỏ ra một chút năng nổ trong suốt kỳ nghỉ đông. Tất cả đều chìm trong trạng thái ngái ngủ-một số thực sự đang say giấc nồng. Mọi sinh vật ít nhiều đều bị thời tiết trói chân; chúng đang tận hưởng khoảng thời gian nghỉ ngơi sau những tháng ngày dài mệt nhoài, khi mà mọi bó cơ đều đã bị vắt kiệt sức lực và mọi năng lượng đều đã được huy động đến giới hạn cuối cùng.
“Tốt lắm!” bác Lửng nói tiếp. “Nhưng, một khi bánh xe thời gian thực sự chuyển giao, khi những đêm đen trở nên ngắn lại, và chỉ cần quá nửa đêm là người ta đã trằn trọc tỉnh giấc, cảm thấy bồn chồn muốn tung chăn thức dậy và bắt tay ngay vào một công việc nào đó lúc bình minh, hoặc thậm chí sớm hơn-các cháu hiểu ý bác chứ!--”
Cả hai con vật đều nghiêm trang gật đầu. Họ quá hiểu điều đó!
“Vậy thì,” bác Lửng dõng dạc nói tiếp, “chúng ta-nghĩa là bác, cháu, cùng người bạn Chuột Chũi của chúng ta đây-chúng ta sẽ nghiêm túc xắn tay áo lên để xử lý Cóc. Chúng ta sẽ không khoan nhượng với bất kỳ trò ngớ ngẩn nào của cậu ta nữa. Chúng ta sẽ lôi cậu ta về với thực tại, dù có phải dùng đến vũ lực đi chăng nữa. Chúng ta sẽ bắt cậu ta phải trở thành một con Cóc biết điều. Chúng ta sẽ-cháu đang ngủ gật đấy à, Chuột Nước!”
“Không phải cháu đâu!” Chuột Nước giật mình thon thót, tỉnh hẳn ngủ.
“Anh ấy đã gật gù hai ba bận kể từ lúc ăn tối xong rồi ạ,” Chuột Chũi bật cười đáp. Bản thân cậu lại cảm thấy khá tỉnh táo, thậm chí là có chút hưng phấn, mặc dù chẳng hiểu lý do vì sao. Nguyên nhân sâu xa là bởi, vốn sinh ra và lớn lên dưới những đường hầm tối tăm, môi trường ngầm trong nhà của bác Lửng hoàn toàn phù hợp với bản tính của Chuột Chũi, mang lại cho cậu một cảm giác ấm cúng như đang ở chính ngôi nhà của mình. Trong khi đó, Chuột Nước-người luôn quen đánh giấc mỗi đêm trong căn phòng có ô cửa sổ mở toang đón những cơn gió lộng từ mặt sông-đương nhiên sẽ cảm thấy bầu không khí ngầm này có phần tù túng và ngột ngạt.
“Thôi được rồi, đã đến lúc tất cả chúng ta phải đi ngủ,” bác Lửng nói, chậm rãi đứng dậy và với lấy những chiếc chân nến dẹt. “Đi theo bác nào, hai chàng trai, bác sẽ chỉ cho các cháu chỗ ngả lưng. Và sáng mai cứ thong thả nhé-muốn dậy ăn sáng lúc nào cũng được!”
Bác dẫn hai người bạn nhỏ đến một căn phòng dài ngoẵng, trông như thể một nửa là phòng ngủ và một nửa là nhà kho. Kho dự trữ mùa đông của bác Lửng, thực sự hiện diện ở khắp mọi ngóc ngách, chiếm trọn một nửa không gian-nào là những đống táo, củ cải và khoai tây, nào là những giỏ đầy ắp các loại hạt, và cả những hũ mật ong thơm lừng. Tuy nhiên, hai chiếc giường nhỏ nhắn trải drap trắng muốt đặt ở nửa sàn còn lại trông thật êm ái và mời gọi. Những tấm ga trải giường, tuy dệt bằng chất liệu thô ráp, nhưng lại sạch bong và tỏa ra mùi hương oải hương ngào ngạt; đến mức Chuột Chũi cùng Chuột Nước, chỉ mất vỏn vẹn chừng ba mươi giây để trút bỏ quần áo, rồi lập tức chui tọt vào giữa những lớp chăn ga với một niềm hân hoan và mãn nguyện tột độ.
Nghe theo lời dặn dò ân cần của bác Lửng, mãi tận khuya lơ khuya lắc sáng hôm sau, hai con vật mệt mỏi mới chịu mò xuống ăn sáng. Trong bếp, một ngọn lửa rực rỡ đang reo vui. Hai chú nhím con đang ngồi trên chiếc ghế băng bên bàn ăn, ngoan ngoãn xì xụp húp cháo yến mạch2 trong những chiếc bát gỗ. Vừa thấy hai người bước vào, lũ nhím vội buông thìa, đứng phắt dậy và lễ phép cúi chào.
“Này, ngồi xuống đi, cứ ngồi xuống đi,” Chuột Nước vui vẻ xua tay, “và tiếp tục ăn phần cháo của các cháu đi. Hai đứa nhỏ rúc từ đâu ra thế này? Chú đoán là đi lạc trong tuyết, có phải không?”
“Vâng, thưa ngài,” con nhím lớn hơn lễ phép đáp lời. “Cháu và bé Billy đây đang cố tìm đường đến trường-mẹ bắt chúng cháu phải đi, cho dù thời tiết có ra sao chăng nữa. Và tất nhiên là chúng cháu bị lạc, thưa ngài. Bé Billy hoảng sợ và khóc òa lên, vì em ấy còn nhỏ và nhút nhát lắm. Chạy loanh quanh một hồi, chúng cháu tình cờ đến trước cửa sau nhà bác Lửng, bèn đánh bạo gõ cửa, thưa ngài, bởi vì bác Lửng là một quý ngài vô cùng tốt bụng, ai ai cũng biết tiếng--”
“Chú hiểu rồi,” Chuột Nước gật gù, tự tay thái vài lát thịt từ một tảng ba chỉ xông khói, trong khi Chuột Chũi đang đập vài quả trứng vào chảo. “Thế bên ngoài thời tiết ra sao rồi? Mà này, các cháu không cần phải gọi chú là ‘ngài’ nhiều thế đâu,” anh nói thêm.
“Ồ, tồi tệ lắm, thưa ngài, tuyết dày đặc kinh khủng,” nhím con đáp. “Hôm nay, những quý ngài như các vị đây tuyệt đối không thể nào ra ngoài được đâu ạ.”
“Thế bác Lửng đâu rồi?” Chuột Chũi cất tiếng hỏi, tay vẫn đang hâm nóng bình cà phê trước ngọn lửa bập bùng.
“Ông chủ đã lui vào phòng làm việc rồi, thưa ngài,” nhím con nhanh nhảu, “và ông ấy dặn trước là sáng nay ông ấy sẽ cực kỳ bận rộn, tuyệt đối không ai được phép làm phiền ông ấy với bất kỳ lý do gì.”
Tất nhiên, mọi người có mặt ở đó đều dư sức hiểu cặn kẽ ý nghĩa của lời giải thích này. Sự thật là, như đã nói ở trên, khi bạn trải qua một cuộc sống hoạt động với cường độ cao độ trong suốt sáu tháng của năm, rồi sau đó lại chìm vào giấc ngủ vùi-dù ít hay nhiều-trong sáu tháng còn lại, thì ở giai đoạn nghỉ ngơi này, bạn không thể cứ mãi viện cớ buồn ngủ mỗi khi có người qua lại hay lúc có việc cần làm. Trưng mãi một cái cớ cũng đâm ra nhàm chán. Bọn thú thừa biết thừa hiểu rằng bác Lửng, ngay sau khi đánh chén no nê một bữa sáng thịnh soạn, hẳn đã lui về phòng làm việc, ngả lưng phè phỡn trên một chiếc ghế bành, đôi chân vắt vẻo gác lên một chiếc ghế khác, mặt đắp hờ một chiếc khăn tay bằng bông màu đỏ. Và lúc này, bác ấy đang "bận rộn" theo cái cách thức quen thuộc nhất vào thời điểm này trong năm.
Đột nhiên, tiếng chuông cửa trước vang lên ầm ĩ. Anh Chuột Nước, lúc này đang ngập ngụa trong đống bánh mì nướng phết bơ thơm phức, liền sai Billy-chú nhím nhỏ hơn-ra xem là ai. Có tiếng giậm chân thình thịch vội vã ngoài sảnh, và ngay sau đó Billy quay lại. Đi ngay phía sau chú nhím nhỏ là Rái Cá. Vừa bước vào, Rái Cá đã nhào tới ôm chầm lấy Chuột Nước với một lời chào hỏi vô cùng trìu mến.
“Tránh ra nào!” Chuột Nước cáu kỉnh lúng búng gạt ra, miệng vẫn còn nhai nhồm nhoàm đầy thức ăn.
“Tớ biết chắc là sẽ tìm thấy cậu ở đây mà,” Rái Cá hớn hở nói râm ran. “Sáng nay, lúc tớ đến Bờ Sông, tất cả bọn họ đều đang trong tình trạng vô cùng hoảng loạn. Người ta đồn ầm lên rằng cậu Chuột Nước không về nhà cả đêm-và cậu Chuột Chũi cũng thế. Họ quả quyết rằng chắc chắn đã có chuyện tồi tệ xảy ra. Và dĩ nhiên là tuyết đã xóa sạch sành sanh mọi dấu vết của hai cậu rồi. Nhưng tớ thì lại nghĩ khác. Tớ biết thừa rằng mỗi khi gặp bất kỳ rắc rối nào, hầu hết mọi người đều tìm đến gõ cửa nhà bác Lửng. Hoặc nếu không, thì bằng một cách thần kỳ nào đó, bác Lửng cũng sẽ biết chuyện. Nghĩ vậy, tớ liền nhằm thẳng hướng này mà đi tới, đâm xuyên qua cả Rừng Hoang và bão tuyết! Ôi chao ôi! Cảm giác băng qua làn tuyết trắng xóa giữa lúc mặt trời đỏ ửng đang nhô lên, soi bóng rực rỡ trên những thân cây đen kịt, mới tuyệt vời làm sao! Giữa lúc cậu đang mải mê rảo bước trong không gian tĩnh mịch, thì thỉnh thoảng, những tảng tuyết trĩu nặng lại bất ngờ trượt tuột khỏi cành cây, rơi xuống cái bịch!, khiến cậu giật thót mình, luống cuống chạy đi tìm chỗ nấp. Những lâu đài tuyết, những hang động tuyết cứ như thể mọc lên từ hư không chỉ sau một đêm-rồi thì cả những cây cầu, những bậc thềm, những bức tường thành đắp toàn bằng tuyết nữa chứ-nếu có thời gian, tớ đã có thể nán lại mà chơi đùa với chúng hàng giờ đồng hồ. Chỗ này chỗ kia, những cành cây lớn bị xé toạc ra vì sức nặng khủng khiếp của tuyết. Ấy thế mà lũ chim cổ đỏ3 lại thản nhiên đậu và nhảy nhót trên đó với vẻ mặt tinh tướng, kiêu ngạo hết sức, hệt như thể chúng chính là tác giả của những kiệt tác thiên nhiên ấy vậy. Trên tít nền trời xám xịt, một đàn ngỗng trời vỗ cánh bay ngang qua. Vài con quạ khoang thì lượn lờ vòng quanh những ngọn cây, đưa mắt quan sát một lúc rồi lại uể oải vỗ cánh bay về tổ với vẻ mặt chán chường. Dọc đường đi, tớ chẳng hề tóm được lấy một sinh vật nào biết điều để mà hỏi han tin tức cả. Mãi cho đến khoảng nửa đường, tớ mới vô tình bắt gặp một con thỏ đang ngồi thu lu trên một gốc cây, lấy vuốt lau lau cái bản mặt ngớ ngẩn của nó. Nó đã sợ chết khiếp khi bị tớ rón rén đi từ phía sau tới, giáng cho một cái tát nổ đom đóm lên vai. Tớ đã phải tát thêm mấy cái nữa vào đầu thì mới cạy được miệng nó ra. Cuối cùng, tớ cũng moi được thông tin từ nó. Nó khai rằng một đứa trong đám chúng đã nhìn thấy cậu Chuột Chũi lảng vảng trong Rừng Hoang đêm qua. Nó còn kể lể rằng, chuyện cậu Chuột Chũi-người bạn thân thiết của cậu Chuột Nước-đang gặp rắc rối lớn đã trở thành chủ đề bàn tán rôm rả khắp các hang thỏ. Rằng cậu ấy đã bị lạc, và đám 'Bọn Chúng' thì đã thức giấc, túa ra ngoài săn lùng và đang đuổi cậu ấy chạy trối chết vòng quanh. 'Thế tại sao không một đứa nào trong đám bọn mày chịu làm một cái gì đó đi?' tớ gầm lên hỏi. 'Bọn mày có thể không được trời ban cho bộ não, nhưng chí ít cũng có hàng trăm hàng ngàn đứa bọn mày ở đây cơ mà. Toàn những gã to con, lực lưỡng, béo mầm, hang ổ thì chạy dọc chạy ngang khắp mọi hướng. Lẽ ra bọn mày đã có thể kéo cậu ấy vào trong hang, giữ cho cậu ấy được an toàn và ấm áp, hoặc ít ra thì cũng phải cố gắng mà làm thế chứ.' 'Cái gì, bọn tao á?' nó chỉ biết ấp úng trả lời: 'Làm cái gì cơ? Lũ thỏ bọn tao á?' Nghe chướng tai quá, tớ bèn tặng thêm cho nó một cái tát nữa rồi bỏ đi thẳng. Chẳng còn cách nào khác. Dù sao thì, tớ cũng đã moi móc được vài điều. Và nếu tớ mà may mắn đụng độ với bất kỳ đứa nào trong đám 'Bọn Chúng', thì hẳn là tớ đã học được nhiều điều hơn nữa-hoặc chính chúng sẽ phải học một bài học nhớ đời.”
“Cậu không hề-à-sợ hãi chút nào sao?” Chuột Chũi ngập ngừng hỏi, một chút nỗi kinh hoàng của ngày hôm qua lại chợt dội về trong tâm trí khi nghe nhắc đến Rừng Hoang.
“Sợ hãi á?” Rái Cá nhe hàm răng trắng lóa, sắc nhọn ra cười rạng rỡ. “Tớ sẽ khiến chúng phát khiếp thì có, nếu có bất kỳ đứa nào trong số chúng dám cả gan giở trò với tớ. Này, Chuột Chũi, cậu rán cho tớ vài lát thịt giăm bông đi, cậu vốn là một anh bạn tốt bụng mà. Tớ đang đói meo cả bụng lên đây, lại còn có vô khối chuyện muốn kể lể với anh bạn Chuột Nước nhà ta nữa. Lâu lắm rồi tớ không gặp cậu ấy.”
Thế là Chuột Chũi tốt bụng, sau khi cặm cụi thái xong mấy lát thịt xông khói, bèn giao phó lại cho lũ nhím rán tiếp, rồi quay lại dở dang với bữa sáng của chính mình. Cùng lúc đó, Rái Cá và Chuột Nước lại chụm đầu vào nhau, say sưa bàn tán đủ thứ chuyện trên đời về dòng sông. Đó toàn là những câu chuyện râm ran, miên man bất tận, cứ mải miết trôi chảy mãi, êm đềm như chính dòng sông róc rách vậy.
Một đĩa thịt xông khói rán vàng ươm vừa được vét sạch sành sanh và gửi trả lại chảo để lấy thêm, thì bác Lửng lững thững bước vào. Bác vừa ngáp dài vừa lấy tay dụi mắt, rồi cất tiếng chào hỏi tất cả mọi người bằng phong thái điềm đạm, giản dị thường ngày, ân cần hỏi thăm sức khỏe từng người một. “Chắc cũng trưa trật rồi đấy nhỉ,” bác quay sang nhận xét với Rái Cá. “Tốt nhất là cậu cứ nán lại và dùng bữa với bọn tôi đi. Cậu lội tuyết đến đây hẳn phải đói bụng lắm, nhất là trong một buổi sáng lạnh lẽo nhường này.”
“Tất nhiên rồi ạ, thưa bác!” Rái Cá lém lỉnh đáp, không quên nháy mắt với Chuột Chũi một cái. “Chỉ nguyên cái cảnh nhìn hai chú nhím nhỏ háu ăn này đang ngấu nghiến đĩa thịt xông khói rán cũng đủ khiến tôi cảm thấy đói cồn cào cả ruột gan rồi.”
Hai chú nhím con-những đứa thực chất cũng chỉ vừa mới râm ran thấy đói trở lại sau khi vơi đi âu cháo yến mạch, cộng thêm việc phải làm lụng quần quật bên chảo rán nãy giờ-nghe thấy thế liền bẽn lẽn ngước đôi mắt tròn xoe lên nhìn bác Lửng. Thế nhưng, cả hai lại quá đỗi rụt rè, đâm ra chẳng đứa nào dám hé răng thốt lên nửa lời.
“Này, hai đứa cháu tốt nhất là mau đi về nhà với mẹ đi,” bác Lửng hiền từ khuyên bảo. “Bác sẽ cử người đi cùng để chỉ đường tận nơi cho các cháu. Hôm nay các cháu về nhà bụng no căng, chắc chắn sẽ chẳng cần ăn thêm bữa trưa nào nữa đâu, bác đảm bảo đấy.”
Bác hào phóng cho mỗi đứa một đồng sáu xu4 rồi âu yếm xoa đầu chúng. Hai chú nhím con hớn hở ra về, không quên trao lại những cái cúi chào vô cùng kính cẩn cùng những cái chạm mũ đầy vẻ lễ phép.
Một lát sau, tất cả cùng quây quần dùng bữa trưa. Chuột Chũi nhận ra mình được xếp ngồi ngay cạnh bác Lửng. Trong khi hai người kia mải mê chìm đắm vào những mẩu chuyện phiếm vô tận về dòng sông mà chẳng gì lay chuyển nổi, cậu bèn tranh thủ giãi bày với bác Lửng rằng nơi đây mang lại cho cậu cảm giác ấm cúng, thân thuộc hệt như ở nhà. “Một khi đã ẩn mình sâu dưới lòng đất,” cậu thủ thỉ, “bác luôn biết chính xác mình đang ở đâu. Chẳng tai ương nào có thể ập xuống, cũng chẳng hiểm nguy nào có thể chạm tới bác. Bác hoàn toàn làm chủ vương quốc của riêng mình, chẳng cần bận tâm dò xét ý ai hay phải để tai đến những lời đàm tiếu. Bất kể trên mặt đất kia có xảy ra chuyện gì, bác cứ việc phớt lờ, mặc kệ sự đời trôi chảy. Rồi khi nào thích, bác chỉ việc ngoi lên, và vạn vật ngoài kia vẫn đứng đó chờ đợi bác.”
Bác Lửng nở một nụ cười rạng rỡ với cậu. “Cháu nói đúng y boong những gì bác vẫn thường nghĩ,” bác đáp lời. “Thế gian này làm gì có chốn nào an toàn, thanh bình và tĩnh tại cho bằng thế giới dưới lòng đất. Rồi sau này, lỡ như cháu nuôi mộng lớn hơn và muốn mở mang cơ ngơi-chà, chỉ cần đào chỗ này một chút, bới chỗ kia một tẹo, thế là xong ngay! Còn nếu cháu thấy nhà mình hơi thênh thang quá, thì cứ lấp bớt một hai cái hang lại, mọi thứ sẽ lập tức êm xuôi như ý! Chẳng cần bận tâm đến đám thợ xây, cũng chẳng có bóng dáng phường buôn bán, chẳng có kẻ nào rảnh rỗi đi ngang qua bờ tường nhà rồi buông lời bình phẩm, và tuyệt vời nhất là, ở đây hoàn toàn vắng bóng thời tiết. Cháu cứ nhìn Chuột Nước mà xem. Chỉ vài feet nước lũ dâng lên là anh chàng đã phải cuống cuồng dọn đến mấy khu nhà trọ thuê mướn; vừa chật vật, vừa bất tiện, lại còn đắt đỏ đến nghẹt thở. Hay lấy Cóc làm ví dụ nhé. Bác không có ý chê bai Dinh thự Cóc5 đâu; nếu xét thuần túy dưới góc độ một ngôi nhà thì đó quả là dinh thự bề thế nhất vùng này. Nhưng giả dụ có một mồi lửa bùng lên-Cóc sẽ trốn vào đâu? Giả dụ ngói trên mái bị gió cuốn phăng, hay những bức tường bắt đầu nứt nẻ sụt lún, hay cửa kính vỡ toang-Cóc sẽ nấp vào đâu? Lại giả dụ gió cứ lùa buốt dọc các căn phòng-mà bản thân bác thì căm ghét tận xương tủy những cơn gió lùa-Cóc sẽ co ro ở đâu? Không, trèo lên mặt đất rồi rời khỏi nhà chỉ thú vị khi cháu đi dạo chơi hoặc kiếm sống thôi; nhưng ẩn mình dưới lòng đất để rồi sau chót vẫn luôn có một nơi chốn quay về-đấy mới chính là định nghĩa của bác về một tổ ấm!”
Chuột Chũi hăng hái gật đầu đồng tình; nhờ sự ăn ý ấy, bác Lửng bỗng chốc trở nên cực kỳ thân thiết với cậu. “Đợi dùng xong bữa trưa nhé,” bác hồ hởi nói, “bác sẽ dẫn các cháu đi dạo một vòng quanh cái cơ ngơi nhỏ bé này. Bác nhìn là biết cháu sẽ rất tâm đắc với nó. Cháu am tường việc xây cất nhà cửa, cháu thực sự rất tinh tế đấy.”
Và thế là, sau bữa trưa, khi hai người kia đã cuộn tròn ấm áp nơi góc lò sưởi và bắt đầu lao vào một cuộc tranh luận nảy lửa về chủ đề loài lươn, bác Lửng bèn thắp lên một chiếc đèn lồng rồi ra hiệu cho Chuột Chũi bước theo mình. Băng qua sảnh lớn, họ từ từ đi xuống một trong những nhánh đường hầm chính. Ánh sáng vàng vọt, chập chờn của ngọn đèn lồng dần dần rọi rõ những căn phòng lớn nhỏ hai bên vách đất; một vài nơi chỉ là những buồng chứa đồ còm cõi, nhưng số khác lại bề thế và đồ sộ chẳng kém gì phòng ăn nhà Cóc. Một lối rẽ hẹp vuông góc dẫn họ lọt thỏm vào một dãy hành lang khác, và tại đây, khung cảnh tương tự lại tiếp tục hiện ra. Chuột Chũi hoàn toàn bị choáng ngợp trước quy mô đồ sộ, sự mở rộng miên man và cấu trúc đan xen phức tạp của cả công trình ngầm; trước độ dài hun hút của những lối đi lờ mờ sương khói, trước những vòm trần kiên cố uốn lượn che chở cho các gian phòng ngập ngụa đồ đạc, và trước cả sự hiện diện vững chãi của gạch đá ở khắp mọi ngóc ngách, những hàng cột uy nghi, những mái vòm vươn cao, cùng những đoạn đường lát gạch tinh tươm. “Làm sao có thể, hở bác Lửng,” cuối cùng cậu thốt lên, “mà bác lại gom đủ cả thời gian lẫn sức lực để kiến tạo nên chừng này thứ? Thật phi thường đến khó tin!”
“Mọi chuyện đúng là sẽ rất phi thường,” bác Lửng thản nhiên đáp lời, “nếu như tất cả đều do tay bác tự làm. Nhưng kỳ thực, bác chẳng nhọc công xây cất gì sất-bác chỉ việc dọn dẹp lại các lối đi và mở mang buồng nấp, chừng nào bác còn thấy cần thiết. Xung quanh quanh đây vẫn còn hằng hà sa số những di tích như thế này nữa. Bác thấy cháu có vẻ chưa hiểu, nên để bác giải thích ngọn ngành cho cháu nghe nhé. Chà, từ thuở xa xưa lắm rồi, ngay tại chính cái nơi mà Khu Rừng Hoang đang cựa mình đung đưa này, rất lâu trước khi những hạt mầm đầu tiên tự rụng xuống và vươn vai thành đại ngàn như hiện tại, đã từng hiện diện một tòa thành phồn hoa-cháu biết đấy, một thành phố của loài người6. Tại đây, ngay dưới mũi chân chúng ta đang đứng, họ đã sinh sống, đã rảo bước, đã rôm rả chuyện trò, đã say ngủ, và tiến hành mọi công việc mưu sinh tất bật. Cũng tại đây, họ đã dựng nên những tàu ngựa kiên cố, đã mở những buổi dạ tiệc linh đình, và từ chốn này, họ cưỡi ngựa xông pha trận mạc hoặc đánh xe dọc ngang buôn bán. Họ từng là một giống loài kiên cường, giàu có, và là những bậc thầy kiến trúc vĩ đại. Họ xây dựng nên những công trình với khát vọng trường tồn, bởi họ luôn đinh ninh rằng thành phố của mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ sụp đổ.”
“Thế nhưng tất cả bọn họ đã biến đi đâu mất rồi hả bác?” Chuột Chũi tò mò gặng hỏi.
“Chúa mới biết được!” bác Lửng chép miệng. “Loài người kéo đến-họ lưu lại một thời gian, họ vươn lên phồn thịnh, họ gầy dựng cơ đồ-rồi họ lại bỏ đi. Quy luật của họ là thế. Còn chúng ta, chúng ta vẫn ở lại. Bác từng nghe các cụ kể rằng, từ thời xửa xửa xừa xưa trước khi thành phố kia thành hình, nòi giống lửng đã bám rễ ở đây rồi. Và nay, những con lửng lại tiếp tục hiện diện chốn này. Chúng ta là một giống loài dai dẳng, chúng ta có thể tạm thời dời đi đâu đó, nhưng chúng ta biết chờ đợi, biết nhẫn nại, để rồi cuối cùng chúng ta sẽ lại trở về. Và vòng lặp ấy sẽ vĩnh viễn không bao giờ thay đổi.”
“Chà, và khi họ rời đi vào cái ngày cuối cùng ấy, những con người ấy đã làm gì hả bác?” Chuột Chũi thắc mắc.
“Khi họ rời đi,” bác Lửng trầm ngâm kể tiếp, “những trận cuồng phong và những cơn mưa rả rích đã âm thầm tiếp quản phần việc dang dở, một cách kiên nhẫn, miệt mài, năm này đắp đổi qua năm khác. Có khi loài lửng nhỏ bé chúng ta đây cũng đã vô tình góp vào một tay-ai mà biết được chứ? Mọi thứ cứ thế sụp xuống, sụp xuống, rồi lại sụp xuống, chầm chậm theo thời gian-những tàn tích hoang tàn, sự san bằng lạnh lẽo và sự biến mất chìm vào hư vô. Thế rồi mọi thứ lại trỗi dậy, trồi lên, trồi lên, từng chút một, khi những hạt mầm cựa mình vươn thành cây non, rồi cây non lại vươn vai hóa thành đại thụ, và những bụi mâm xôi cùng đám dương xỉ rủ nhau bò ngang dọc để điểm tô thêm sức sống. Lớp đất mùn dày lên và nuốt chửng mọi dấu vết, những con suối hiền hòa vào mùa lũ quét mùa đông đã cuốn theo cát và phù sa về bồi đắp và che lấp tất thảy. Để rồi qua bao dâu bể, ngôi nhà của chúng ta lại sẵn sàng đón chờ chúng ta một lần nữa, và chúng ta lại dọn vào ở. Ngay trên đỉnh đầu chúng ta, trên mặt đất kia, những vòng lặp tương tự cũng đã âm thầm diễn ra. Vô số các sinh vật lục tục kéo đến, ưng ý với cảnh sắc nơi này, chúng tự chọn cho mình một chốn nương thân, bắt đầu định cư, sinh sôi nảy nở, và ngày một phát triển. Chúng chẳng mảy may bận tâm đến quá khứ xa xôi-chúng không bao giờ bận tâm; bởi lẽ chúng còn quá ư tất bật. Vùng đất này hiện tại dĩ nhiên là có chút gập ghềnh, nhấp nhô, và chi chít những lỗ hổng ngầm; nhưng ngẫm ra đó lại là một lợi thế tuyệt vời. Và chúng cũng chẳng buồn bận tâm đến tương lai-cái tương lai rất có thể loài người sẽ lại dọn đến sinh sống-trong một khoảng thời gian nào đó-chắc chắn là như vậy. Khu Rừng Hoang hiện giờ đã khá đông đúc rồi; hội tụ đủ mọi thành phần quen thuộc, tốt có, xấu có, và cả những kẻ dửng dưng-bác chẳng tiện nêu đích danh ai ở đây cả. Thế giới này vốn cần đủ mọi loại người để tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh mà. Nhưng bác đồ rằng đến lúc này thì cháu cũng đã phần nào thấu hiểu được đôi chút về bọn chúng rồi đấy.”
“Cháu thực sự hiểu mà,” Chuột Chũi thẽ thọt, khe khẽ rùng mình.
“Thôi nào, thôi nào,” bác Lửng hiền từ vỗ nhẹ lên vai cậu, “đó chỉ là trải nghiệm đầu đời của cháu với bọn chúng thôi, cháu thấy đấy. Bọn chúng kỳ thực cũng chẳng đến nỗi tệ hại lắm đâu; vả lại, tất cả chúng ta đều phải sống và để cho người khác được sống chứ. Nhưng để ngày mai bác sẽ phái người loan tin đi khắp chốn, bác tin là cháu sẽ chẳng còn gặp rắc rối nào nữa đâu. Bất kỳ người bạn nào của bác đều có đặc quyền tản bộ ở mọi ngóc ngách tùy thích trong vùng này, bằng không bác nhất định sẽ phải hỏi cho ra nhẽ!”
Khi họ quay lại bếp, Chuột Nước đang đi tới đi lui, lòng bồn chồn không yên. Bầu không khí ngột ngạt dưới lòng đất như đè nặng lên tâm trí anh, làm anh thêm phần căng thẳng. Anh thậm chí còn lo sợ vu vơ rằng dòng sông có thể trôi tuột đi mất nếu không có mình ở đó để trông nom. Thế nên, anh đã khoác sẵn áo ấm và giắt lại súng lục vào thắt lưng. “Đi thôi, Chuột Chũi,” anh giục giã đầy âu lo ngay khi vừa thấy họ bước vào. “Chúng ta phải lên đường lúc trời còn sáng. Tôi chẳng muốn phải qua đêm trong Khu Rừng Hoang thêm lần nào nữa đâu.”
“Mọi chuyện sẽ ổn thôi mà, anh bạn tốt của tớ,” Rái Cá an ủi. “Tớ sẽ đi cùng các cậu. Tớ rành mấy con đường ở đây đến mức nhắm mắt cũng đi được. Và nếu có kẻ ngáng đường nào cần bị tẩn cho một trận, cậu cứ yên tâm giao phó cho tớ lo liệu.”
“Cháu thực sự không cần phải bận tâm đâu, Chuột Nước,” bác Lửng điềm đạm nói thêm. “Những đường hầm của bác vươn xa hơn cháu tưởng nhiều. Bác đào sẵn vài nhánh hang trốn chạy dẫn ra tận bìa rừng theo đủ mọi hướng khác nhau, dù bác chẳng mấy khi tiết lộ cho ai biết. Khi nào cháu thực sự phải về, cháu cứ rời đi bằng một trong những lối tắt đó. Còn bây giờ, hãy thư giãn và ngồi xuống nghỉ ngơi đã nào.”
Dù vậy, Chuột Nước vẫn thấp thỏm nôn nóng muốn lên đường để về chăm lo cho dòng sông thân yêu. Thấy thế, bác Lửng đành cầm lấy chiếc đèn lồng, dẫn cả nhóm men theo một đường hầm ẩm thấp và ngột ngạt. Lối đi uốn lượn rồi dốc ngược xuống dưới, có đoạn được xây mái vòm cẩn thận, đoạn lại đục đẽo thô sơ xuyên qua những tảng đá lớn. Chuyến đi cứ thế kéo dài mệt mỏi, lê thê tưởng chừng như vô tận. Mãi rồi, chút ánh sáng ban ngày cũng bắt đầu le lói hiện ra qua đám cây cối mọc um tùm, che khuất miệng hang. Sau một lời tạm biệt vội vã, bác Lửng hối hả giục họ chui qua khe hở, rồi cẩn thận ngụy trang lại miệng hang bằng mớ dây leo, bụi rậm và lá khô sao cho trông tự nhiên nhất có thể, trước khi lùi bước khuất sâu vào bóng tối.
Giờ đây, ba người bạn nhận ra mình đang đứng ngay mép bìa Khu Rừng Hoang. Sau lưng họ là những tảng đá, bụi mâm xôi cùng rễ cây chất đống và đan xen lộn xộn. Trước mắt họ mở ra một khoảng không gian bao la của những cánh đồng bình yên, được ôm trọn bởi những hàng giậu đen sẫm in hằn trên nền tuyết trắng. Xa tít tắp phía chân trời, nơi vầng thái dương mùa đông đỏ rực đang treo lơ lửng sà sát mặt đất, thấp thoáng ánh lên tia sáng lấp lánh của con sông thân thuộc. Cậu Rái Cá, với tư cách là người rành rẽ mọi ngóc ngách, xông xáo đi trước dẫn đường. Cả nhóm cứ thế nối đuôi nhau tiến bước theo một đường thẳng tắp, hướng thẳng về chiếc cổng vượt rào phía xa. Dừng lại một chút để ngoái nhìn, họ thấy toàn bộ Khu Rừng Hoang hiện lên rậm rạp, u ám và đầy đe dọa, nổi bật một cách lạnh lẽo giữa khoảng không gian trắng xóa bao la. Quay đi, họ rảo bước thật nhanh để trở về với tổ ấm, về với ánh lửa bập bùng đang nhảy múa vui tươi trên những món đồ vật thân quen, và về với thanh âm lanh lảnh của dòng sông đang róc rách cất tiếng hát bên ngoài cửa sổ. Đó là dòng sông mà họ luôn thấu hiểu và tin tưởng trong mọi sắc thái tâm trạng, một dòng sông hiền hòa chưa từng gieo rắc cho họ bất kỳ nỗi khiếp sợ nào.
Trên từng nhịp bước hối hả, với lòng khấp khởi mong chờ phút giây được quây quần trong ngôi nhà thân thương, Chuột Chũi bỗng thấu hiểu sâu sắc rằng, cậu đích thực là một loài vật sinh ra để dành cho những cánh đồng cày xới và những bờ rào yên ả. Cậu vốn dĩ thuộc về những luống cày thẳng tắp, bãi cỏ thân thuộc, vương vấn với những con hẻm nhỏ êm đềm trong ánh chiều tà, hay những mảnh vườn được vun xới cẩn thận. Hãy cứ để mặc những kẻ khác đương đầu với bao khắc nghiệt, sự nhẫn nại gan góc, hay những cuộc chiến sinh tồn thực sự vốn luôn song hành cùng Thiên nhiên hoang dã. Còn cậu, cậu chỉ muốn làm một kẻ khôn ngoan, được mãi gắn bó với những chốn nương náu êm đềm nơi mình đã sinh ra và thuộc về. Bởi suy cho cùng, nội những nơi chốn ấy cũng đã cất giấu đủ những chuyến phiêu lưu kỳ thú theo cách riêng của chúng, đủ để cậu khám phá và tận hưởng trong suốt cả một cuộc đời.
-
Tác giả mượn tập tính ngủ đông của động vật để châm biếm nhẹ nhàng thói quen của giới quý tộc hoặc tầng lớp trung lưu Anh thời Edward: họ thường lui về các dinh thự thôn quê vào mùa đông, từ chối tham gia các hoạt động xã hội vất vả. ↩
-
Cháo yến mạch (porridge/oatmeal) thường được coi là món ăn rẻ tiền, giản dị. Hình ảnh hai chú nhím ăn cháo phản ánh hình tượng tầng lớp lao động hoặc nông dân nghèo ở Anh quốc thời bấy giờ, thật thà và chất phác. ↩
-
Chim cổ đỏ (Robin) là loài chim biểu tượng của mùa đông nước Anh. Chúng có tập tính dạn dĩ, thường xuất hiện rực rỡ và hót vang trên nền tuyết trắng, đại diện cho sức sống kiêu hãnh giữa mùa đông khắc nghiệt. ↩
-
"Sixpence" (đồng sáu xu) là một đơn vị tiền tệ cũ của Anh trước năm 1971. Vào đầu thế kỷ 20, một đồng sáu xu là món tiền thưởng (tip) rất hậu hĩnh và mang lại niềm vui lớn cho trẻ em. ↩
-
"ý chê bai Dinh thự Cóc": dinh thự Cóc là hình mẫu của một trang viên nông thôn nước Anh (English country house), tượng trưng cho sự giàu sang và lối sống phô trương của tầng lớp thượng lưu hoặc những người mới phất (nouveau riche). ↩
-
Chi tiết ám chỉ những di tích của đế chế La Mã hoặc các thị trấn cổ đại của người Celt bị chôn vùi dưới những cánh rừng nước Anh. ↩
IV. MR. BADGER
THEY waited patiently for what seemed a very long time, stamping in the snow to keep their feet warm. At last they heard the sound of slow shuffling footsteps approaching the door from the inside. It seemed, as the Mole remarked to the Rat, like some one walking in carpet slippers that were too large for him and down at heel; which was intelligent of Mole, because that was exactly what it was.
There was the noise of a bolt shot back, and the door opened a few inches, enough to show a long snout and a pair of sleepy blinking eyes.
“Now, the very next time this happens,” said a gruff and suspicious voice, “I shall be exceedingly angry. Who is it this time, disturbing people on such a night? Speak up!”
“Oh, Badger,” cried the Rat, “let us in, please. It’s me, Rat, and my friend Mole, and we’ve lost our way in the snow.”
“What, Ratty, my dear little man!” exclaimed the Badger, in quite a different voice. “Come along in, both of you, at once. Why, you must be perished. Well I never! Lost in the snow! And in the Wild Wood, too, and at this time of night! But come in with you.”
The two animals tumbled over each other in their eagerness to get inside, and heard the door shut behind them with great joy and relief.
The Badger, who wore a long dressing-gown, and whose slippers were indeed very down at heel, carried a flat candlestick in his paw and had probably been on his way to bed when their summons sounded. He looked kindly down on them and patted both their heads. “This is not the sort of night for small animals to be out,” he said paternally. “I’m afraid you’ve been up to some of your pranks again, Ratty. But come along; come into the kitchen. There’s a first-rate fire there, and supper and everything.”
He shuffled on in front of them, carrying the light, and they followed him, nudging each other in an anticipating sort of way, down a long, gloomy, and, to tell the truth, decidedly shabby passage, into a sort of a central hall; out of which they could dimly see other long tunnel-like passages branching, passages mysterious and without apparent end. But there were doors in the hall as well-stout oaken comfortable-looking doors. One of these the Badger flung open, and at once they found themselves in all the glow and warmth of a large fire-lit kitchen.
The floor was well-worn red brick, and on the wide hearth burnt a fire of logs, between two attractive chimney-corners tucked away in the wall, well out of any suspicion of draught. A couple of high-backed settles, facing each other on either side of the fire, gave further sitting accommodations for the sociably disposed. In the middle of the room stood a long table of plain boards placed on trestles, with benches down each side. At one end of it, where an arm-chair stood pushed back, were spread the remains of the Badger’s plain but ample supper. Rows of spotless plates winked from the shelves of the dresser at the far end of the room, and from the rafters overhead hung hams, bundles of dried herbs, nets of onions, and baskets of eggs. It seemed a place where heroes could fitly feast after victory, where weary harvesters could line up in scores along the table and keep their Harvest Home with mirth and song, or where two or three friends of simple tastes could sit about as they pleased and eat and smoke and talk in comfort and contentment. The ruddy brick floor smiled up at the smoky ceiling; the oaken settles, shiny with long wear, exchanged cheerful glances with each other; plates on the dresser grinned at pots on the shelf, and the merry firelight flickered and played over everything without distinction.
The kindly Badger thrust them down on a settle to toast themselves at the fire, and bade them remove their wet coats and boots. Then he fetched them dressing-gowns and slippers, and himself bathed the Mole’s shin with warm water and mended the cut with sticking-plaster till the whole thing was just as good as new, if not better. In the embracing light and warmth, warm and dry at last, with weary legs propped up in front of them, and a suggestive clink of plates being arranged on the table behind, it seemed to the storm-driven animals, now in safe anchorage, that the cold and trackless Wild Wood just left outside was miles and miles away, and all that they had suffered in it a half-forgotten dream.
When at last they were thoroughly toasted, the Badger summoned them to the table, where he had been busy laying a repast. They had felt pretty hungry before, but when they actually saw at last the supper that was spread for them, really it seemed only a question of what they should attack first where all was so attractive, and whether the other things would obligingly wait for them till they had time to give them attention. Conversation was impossible for a long time; and when it was slowly resumed, it was that regrettable sort of conversation that results from talking with your mouth full. The Badger did not mind that sort of thing at all, nor did he take any notice of elbows on the table, or everybody speaking at once. As he did not go into Society himself, he had got an idea that these things belonged to the things that didn’t really matter. (We know of course that he was wrong, and took too narrow a view; because they do matter very much, though it would take too long to explain why.) He sat in his arm-chair at the head of the table, and nodded gravely at intervals as the animals told their story; and he did not seem surprised or shocked at anything, and he never said, “I told you so,” or, “Just what I always said,” or remarked that they ought to have done so-and-so, or ought not to have done something else. The Mole began to feel very friendly towards him.
When supper was really finished at last, and each animal felt that his skin was now as tight as was decently safe, and that by this time he didn’t care a hang for anybody or anything, they gathered round the glowing embers of the great wood fire, and thought how jolly it was to be sitting up so late, and so independent, and so full; and after they had chatted for a time about things in general, the Badger said heartily, “Now then! tell us the news from your part of the world. How’s old Toad going on?”
“Oh, from bad to worse,” said the Rat gravely, while the Mole, cocked up on a settle and basking in the firelight, his heels higher than his head, tried to look properly mournful. “Another smash-up only last week, and a bad one. You see, he will insist on driving himself, and he’s hopelessly incapable. If he’d only employ a decent, steady, well-trained animal, pay him good wages, and leave everything to him, he’d get on all right. But no; he’s convinced he’s a heaven-born driver, and nobody can teach him anything; and all the rest follows.”
“How many has he had?” inquired the Badger gloomily.
“Smashes, or machines?” asked the Rat. “Oh, well, after all, it’s the same thing-with Toad. This is the seventh. As for the others-you know that coach-house of his? Well, it’s piled up-literally piled up to the roof-with fragments of motor-cars, none of them bigger than your hat! That accounts for the other six-so far as they can be accounted for.”
“He’s been in hospital three times,” put in the Mole; “and as for the fines he’s had to pay, it’s simply awful to think of.”
“Yes, and that’s part of the trouble,” continued the Rat. “Toad’s rich, we all know; but he’s not a millionaire. And he’s a hopelessly bad driver, and quite regardless of law and order. Killed or ruined-it’s got to be one of the two things, sooner or later. Badger! we’re his friends-oughtn’t we to do something?”
The Badger went through a bit of hard thinking. “Now look here!” he said at last, rather severely; “of course you know I can’t do anything now?”
His two friends assented, quite understanding his point. No animal, according to the rules of animal-etiquette, is ever expected to do anything strenuous, or heroic, or even moderately active during the off-season of winter. All are sleepy-some actually asleep. All are weather-bound, more or less; and all are resting from arduous days and nights, during which every muscle in them has been severely tested, and every energy kept at full stretch.
“Very well then!” continued the Badger. “But, when once the year has really turned, and the nights are shorter, and halfway through them one rouses and feels fidgety and wanting to be up and doing by sunrise, if not before-you know!--”
Both animals nodded gravely. They knew!
“Well, then,” went on the Badger, “we-that is, you and me and our friend the Mole here-we’ll take Toad seriously in hand. We’ll stand no nonsense whatever. We’ll bring him back to reason, by force if need be. We’ll make him be a sensible Toad. We’ll-you’re asleep, Rat!”
“Not me!” said the Rat, waking up with a jerk.
“He’s been asleep two or three times since supper,” said the Mole, laughing. He himself was feeling quite wakeful and even lively, though he didn’t know why. The reason was, of course, that he being naturally an underground animal by birth and breeding, the situation of Badger’s house exactly suited him and made him feel at home; while the Rat, who slept every night in a bedroom the windows of which opened on a breezy river, naturally felt the atmosphere still and oppressive.
“Well, it’s time we were all in bed,” said the Badger, getting up and fetching flat candlesticks. “Come along, you two, and I’ll show you your quarters. And take your time tomorrow morning-breakfast at any hour you please!”
He conducted the two animals to a long room that seemed half bedchamber and half loft. The Badger’s winter stores, which indeed were visible everywhere, took up half the room-piles of apples, turnips, and potatoes, baskets full of nuts, and jars of honey; but the two little white beds on the remainder of the floor looked soft and inviting, and the linen on them, though coarse, was clean and smelt beautifully of lavender; and the Mole and the Water Rat, shaking off their garments in some thirty seconds, tumbled in between the sheets in great joy and contentment.
In accordance with the kindly Badger’s injunctions, the two tired animals came down to breakfast very late next morning, and found a bright fire burning in the kitchen, and two young hedgehogs sitting on a bench at the table, eating oatmeal porridge out of wooden bowls. The hedgehogs dropped their spoons, rose to their feet, and ducked their heads respectfully as the two entered.
“There, sit down, sit down,” said the Rat pleasantly, “and go on with your porridge. Where have you youngsters come from? Lost your way in the snow, I suppose?”
“Yes, please, sir,” said the elder of the two hedgehogs respectfully. “Me and little Billy here, we was trying to find our way to school-mother would have us go, was the weather ever so-and of course we lost ourselves, sir, and Billy he got frightened and took and cried, being young and faint-hearted. And at last we happened up against Mr. Badger’s back door, and made so bold as to knock, sir, for Mr. Badger he’s a kind-hearted gentleman, as everyone knows--”
“I understand,” said the Rat, cutting himself some rashers from a side of bacon, while the Mole dropped some eggs into a saucepan. “And what’s the weather like outside? You needn’t ‘sir’ me quite so much?” he added.
“O, terrible bad, sir, terrible deep the snow is,” said the hedgehog. “No getting out for the likes of you gentlemen to-day.”
“Where’s Mr. Badger?” inquired the Mole, as he warmed the coffee-pot before the fire.
“The master’s gone into his study, sir,” replied the hedgehog, “and he said as how he was going to be particular busy this morning, and on no account was he to be disturbed.”
This explanation, of course, was thoroughly understood by every one present. The fact is, as already set forth, when you live a life of intense activity for six months in the year, and of comparative or actual somnolence for the other six, during the latter period you cannot be continually pleading sleepiness when there are people about or things to be done. The excuse gets monotonous. The animals well knew that Badger, having eaten a hearty breakfast, had retired to his study and settled himself in an arm-chair with his legs up on another and a red cotton handkerchief over his face, and was being “busy” in the usual way at this time of the year.
The front-door bell clanged loudly, and the Rat, who was very greasy with buttered toast, sent Billy, the smaller hedgehog, to see who it might be. There was a sound of much stamping in the hall, and presently Billy returned in front of the Otter, who threw himself on the Rat with an embrace and a shout of affectionate greeting.
“Get off!” spluttered the Rat, with his mouth full.
“Thought I should find you here all right,” said the Otter cheerfully. “They were all in a great state of alarm along River Bank when I arrived this morning. Rat never been home all night-nor Mole either-something dreadful must have happened, they said; and the snow had covered up all your tracks, of course. But I knew that when people were in any fix they mostly went to Badger, or else Badger got to know of it somehow, so I came straight off here, through the Wild Wood and the snow! My! it was fine, coming through the snow as the red sun was rising and showing against the black tree-trunks! As you went along in the stillness, every now and then masses of snow slid off the branches suddenly with a flop! making you jump and run for cover. Snow-castles and snow-caverns had sprung up out of nowhere in the night-and snow bridges, terraces, ramparts-I could have stayed and played with them for hours. Here and there great branches had been torn away by the sheer weight of the snow, and robins perched and hopped on them in their perky conceited way, just as if they had done it themselves. A ragged string of wild geese passed overhead, high on the grey sky, and a few rooks whirled over the trees, inspected, and flapped off homewards with a disgusted expression; but I met no sensible being to ask the news of. About halfway across I came on a rabbit sitting on a stump, cleaning his silly face with his paws. He was a pretty scared animal when I crept up behind him and placed a heavy forepaw on his shoulder. I had to cuff his head once or twice to get any sense out of it at all. At last I managed to extract from him that Mole had been seen in the Wild Wood last night by one of them. It was the talk of the burrows, he said, how Mole, Mr. Rat’s particular friend, was in a bad fix; how he had lost his way, and ‘They’ were up and out hunting, and were chivvying him round and round. ‘Then why didn’t any of you do something?’ I asked. ‘You mayn’t be blest with brains, but there are hundreds and hundreds of you, big, stout fellows, as fat as butter, and your burrows running in all directions, and you could have taken him in and made him safe and comfortable, or tried to, at all events.’ ‘What, us?’ he merely said: ‘do something? us rabbits?’ So I cuffed him again and left him. There was nothing else to be done. At any rate, I had learnt something; and if I had had the luck to meet any of ‘Them’ I’d have learnt something more-or they would.”
“Weren’t you at all-er-nervous?” asked the Mole, some of yesterday’s terror coming back to him at the mention of the Wild Wood.
“Nervous?” The Otter showed a gleaming set of strong white teeth as he laughed. “I’d give ’em nerves if any of them tried anything on with me. Here, Mole, fry me some slices of ham, like the good little chap you are. I’m frightfully hungry, and I’ve got any amount to say to Ratty here. Haven’t seen him for an age.”
So the good-natured Mole, having cut some slices of ham, set the hedgehogs to fry it, and returned to his own breakfast, while the Otter and the Rat, their heads together, eagerly talked river-shop, which is long shop and talk that is endless, running on like the babbling river itself.
A plate of fried ham had just been cleared and sent back for more, when the Badger entered, yawning and rubbing his eyes, and greeted them all in his quiet, simple way, with kind enquiries for every one. “It must be getting on for luncheon time,” he remarked to the Otter. “Better stop and have it with us. You must be hungry, this cold morning.”
“Rather!” replied the Otter, winking at the Mole. “The sight of these greedy young hedgehogs stuffing themselves with fried ham makes me feel positively famished.”
The hedgehogs, who were just beginning to feel hungry again after their porridge, and after working so hard at their frying, looked timidly up at Mr. Badger, but were too shy to say anything.
“Here, you two youngsters be off home to your mother,” said the Badger kindly. “I’ll send some one with you to show you the way. You won’t want any dinner to-day, I’ll be bound.”
He gave them sixpence apiece and a pat on the head, and they went off with much respectful swinging of caps and touching of forelocks.
Presently they all sat down to luncheon together. The Mole found himself placed next to Mr. Badger, and, as the other two were still deep in river-gossip from which nothing could divert them, he took the opportunity to tell Badger how comfortable and home-like it all felt to him. “Once well underground,” he said, “you know exactly where you are. Nothing can happen to you, and nothing can get at you. You’re entirely your own master, and you don’t have to consult anybody or mind what they say. Things go on all the same overhead, and you let ’em, and don’t bother about ’em. When you want to, up you go, and there the things are, waiting for you.”
The Badger simply beamed on him. “That’s exactly what I say,” he replied. “There’s no security, or peace and tranquillity, except underground. And then, if your ideas get larger and you want to expand-why, a dig and a scrape, and there you are! If you feel your house is a bit too big, you stop up a hole or two, and there you are again! No builders, no tradesmen, no remarks passed on you by fellows looking over your wall, and, above all, no weather. Look at Rat, now. A couple of feet of flood water, and he’s got to move into hired lodgings; uncomfortable, inconveniently situated, and horribly expensive. Take Toad. I say nothing against Toad Hall; quite the best house in these parts, as a house. But supposing a fire breaks out-where’s Toad? Supposing tiles are blown off, or walls sink or crack, or windows get broken-where’s Toad? Supposing the rooms are draughty-I hate a draught myself-where’s Toad? No, up and out of doors is good enough to roam about and get one’s living in; but underground to come back to at last-that’s my idea of home!”
The Mole assented heartily; and the Badger in consequence got very friendly with him. “When lunch is over,” he said, “I’ll take you all round this little place of mine. I can see you’ll appreciate it. You understand what domestic architecture ought to be, you do.”
After luncheon, accordingly, when the other two had settled themselves into the chimney-corner and had started a heated argument on the subject of eels, the Badger lighted a lantern and bade the Mole follow him. Crossing the hall, they passed down one of the principal tunnels, and the wavering light of the lantern gave glimpses on either side of rooms both large and small, some mere cupboards, others nearly as broad and imposing as Toad’s dining-hall. A narrow passage at right angles led them into another corridor, and here the same thing was repeated. The Mole was staggered at the size, the extent, the ramifications of it all; at the length of the dim passages, the solid vaultings of the crammed store-chambers, the masonry everywhere, the pillars, the arches, the pavements. “How on earth, Badger,” he said at last, “did you ever find time and strength to do all this? It’s astonishing!”
“It would be astonishing indeed,” said the Badger simply, “if I had done it. But as a matter of fact I did none of it-only cleaned out the passages and chambers, as far as I had need of them. There’s lots more of it, all round about. I see you don’t understand, and I must explain it to you. Well, very long ago, on the spot where the Wild Wood waves now, before ever it had planted itself and grown up to what it now is, there was a city-a city of people, you know. Here, where we are standing, they lived, and walked, and talked, and slept, and carried on their business. Here they stabled their horses and feasted, from here they rode out to fight or drove out to trade. They were a powerful people, and rich, and great builders. They built to last, for they thought their city would last for ever.”
“But what has become of them all?” asked the Mole.
“Who can tell?” said the Badger. “People come-they stay for a while, they flourish, they build-and they go. It is their way. But we remain. There were badgers here, I’ve been told, long before that same city ever came to be. And now there are badgers here again. We are an enduring lot, and we may move out for a time, but we wait, and are patient, and back we come. And so it will ever be.”
“Well, and when they went at last, those people?” said the Mole.
“When they went,” continued the Badger, “the strong winds and persistent rains took the matter in hand, patiently, ceaselessly, year after year. Perhaps we badgers too, in our small way, helped a little-who knows? It was all down, down, down, gradually-ruin and levelling and disappearance. Then it was all up, up, up, gradually, as seeds grew to saplings, and saplings to forest trees, and bramble and fern came creeping in to help. Leaf-mould rose and obliterated, streams in their winter freshets brought sand and soil to clog and to cover, and in course of time our home was ready for us again, and we moved in. Up above us, on the surface, the same thing happened. Animals arrived, liked the look of the place, took up their quarters, settled down, spread, and flourished. They didn’t bother themselves about the past-they never do; they’re too busy. The place was a bit humpy and hillocky, naturally, and full of holes; but that was rather an advantage. And they don’t bother about the future, either-the future when perhaps the people will move in again-for a time-as may very well be. The Wild Wood is pretty well populated by now; with all the usual lot, good, bad, and indifferent-I name no names. It takes all sorts to make a world. But I fancy you know something about them yourself by this time.”
“I do indeed,” said the Mole, with a slight shiver.
“Well, well,” said the Badger, patting him on the shoulder, “it was your first experience of them, you see. They’re not so bad really; and we must all live and let live. But I’ll pass the word around to-morrow, and I think you’ll have no further trouble. Any friend of mine walks where he likes in this country, or I’ll know the reason why!”
When they got back to the kitchen again, they found the Rat walking up and down, very restless. The underground atmosphere was oppressing him and getting on his nerves, and he seemed really to be afraid that the river would run away if he wasn’t there to look after it. So he had his overcoat on, and his pistols thrust into his belt again. “Come along, Mole,” he said anxiously, as soon as he caught sight of them. “We must get off while it’s daylight. Don’t want to spend another night in the Wild Wood again.”
“It’ll be all right, my fine fellow,” said the Otter. “I’m coming along with you, and I know every path blindfold; and if there’s a head that needs to be punched, you can confidently rely upon me to punch it.”
“You really needn’t fret, Ratty,” added the Badger placidly. “My passages run further than you think, and I’ve bolt-holes to the edge of the wood in several directions, though I don’t care for everybody to know about them. When you really have to go, you shall leave by one of my short cuts. Meantime, make yourself easy, and sit down again.”
The Rat was nevertheless still anxious to be off and attend to his river, so the Badger, taking up his lantern again, led the way along a damp and airless tunnel that wound and dipped, part vaulted, part hewn through solid rock, for a weary distance that seemed to be miles. At last daylight began to show itself confusedly through tangled growth overhanging the mouth of the passage; and the Badger, bidding them a hasty good-bye, pushed them hurriedly through the opening, made everything look as natural as possible again, with creepers, brushwood, and dead leaves, and retreated.
They found themselves standing on the very edge of the Wild Wood. Rocks and brambles and tree-roots behind them, confusedly heaped and tangled; in front, a great space of quiet fields, hemmed by lines of hedges black on the snow, and, far ahead, a glint of the familiar old river, while the wintry sun hung red and low on the horizon. The Otter, as knowing all the paths, took charge of the party, and they trailed out on a bee-line for a distant stile. Pausing there a moment and looking back, they saw the whole mass of the Wild Wood, dense, menacing, compact, grimly set in vast white surroundings; simultaneously they turned and made swiftly for home, for firelight and the familiar things it played on, for the voice, sounding cheerily outside their window, of the river that they knew and trusted in all its moods, that never made them afraid with any amazement.
As he hurried along, eagerly anticipating the moment when he would be at home again among the things he knew and liked, the Mole saw clearly that he was an animal of tilled field and hedge-row, linked to the ploughed furrow, the frequented pasture, the lane of evening lingerings, the cultivated garden-plot. For others the asperities, the stubborn endurance, or the clash of actual conflict, that went with Nature in the rough; he must be wise, must keep to the pleasant places in which his lines were laid and which held adventure enough, in their way, to last for a lifetime.