CHƯƠNG IX: BƯỚC CHÂN LỮ KHÁCH.
Chuột Nước cảm thấy bồn chồn mà chẳng rõ nguyên do. Bề ngoài, vẻ lộng lẫy của mùa hè dường như vẫn đang ở độ rực rỡ nhất. Dẫu trên những thửa ruộng cày xới, thảm xanh mướt mát đã nhường chỗ cho sắc vàng ươm; dẫu chùm thanh hương trà bắt đầu ửng đỏ, và những khu rừng điểm xuyết nét hoang dại của sắc vàng nâu, thế nhưng ánh sáng, hơi ấm và màu sắc vẫn tuôn chảy tràn trề. Cảnh vật chưa mảy may vương chút linh cảm giá lạnh của một năm sắp tàn. Dù vậy, dàn đồng ca thường trực nương náu trong những vườn cây ăn quả hay rặng giậu nay chỉ còn lác đác vài khúc nhạc chiều ngẫu hứng từ những nghệ sĩ miệt mài không biết mệt mỏi. Chim oanh đã ríu rít cất tiếng hát để khẳng định lại sự hiện diện của mình; và trong không gian thoang thoảng dư vị của sự đổi thay, của những cuộc chia ly. Dĩ nhiên, chim cu gáy đã im bặt từ lâu. Thế nhưng, nhiều người bạn lông vũ khác - những kẻ suốt hàng tháng trời từng gắn bó thiết tha với phong cảnh chốn này và là mảnh ghép của cộng đồng nhỏ bé - nay cũng biệt tăm biệt tích. Hàng ngũ cứ thế vãn dần đi từng ngày. Vốn luôn để mắt đến mọi chuyển động của những đôi cánh, Chuột Nước nhận thấy khuynh hướng bay về phương Nam ngày một rõ rệt. Ngay cả khi ngả lưng trên giường vào ban đêm, thoáng qua màn đêm hun hút trên cao, anh ngỡ mình còn nghe rõ mồn một nhịp đập và sự rung rinh của những đôi cánh thiếu kiên nhẫn, đương vội vã tuân theo một tiếng gọi vang dội không thể chối từ.
Đại Khách sạn của Thiên nhiên cũng có Mùa vụ riêng, hệt như bao nhà trọ khác. Khi những vị khách lần lượt thu dọn hành lý, thanh toán sổ sách rồi rời đi, những chỗ ngồi quanh chiếc bàn ăn chung1 cứ thưa thớt dần một cách đáng thương qua mỗi bữa ăn. Các dãy phòng lần lượt đóng cửa, thảm trải sàn cuộn gọn lại, còn đội ngũ phục vụ thì được cho nghỉ phép. Lúc này, những vị khách trọ dài hạn - những kẻ đã trả tiền bao ăn ở2 để nán lại cho đến kỳ mở cửa năm sau - khó tránh khỏi chút chạnh lòng. Làm sao khỏi bâng khuâng trước cảnh dọn đồ tất bật, trước những lời chào từ biệt, những cuộc bàn luận rôm rả về lịch trình, tuyến đường, chốn ở mới, hay cảm giác dòng chảy tình bạn đang cạn dần từng ngày. Người ta đâm ra bồn chồn, ủ dột, rồi sinh càu nhàu. Cớ sao cứ khao khát đổi thay đến thế? Sao không nán lại đây cho yên bình, như chúng tôi, để cùng nhau chung vui? Các vị đâu biết khách sạn này khi hết mùa vụ sẽ ra sao; cũng chẳng rõ những kẻ ở lại sẽ tận hưởng niềm vui tuyệt diệu thế nào khi chiêm ngưỡng trọn vẹn một năm thú vị đang dần khép màn. Những kẻ sắp rời đi luôn đáp lại rằng: "Hẳn là vậy rồi! Chúng tôi vô cùng ghen tị với các vị-và biết đâu vào một năm nào đó khác... Nhưng lúc này, chúng tôi đã trót lỡ hẹn, xe buýt lại đang chực chờ ngoài cửa-thời gian cạn mất rồi!" Thế là họ ra đi, để lại một nụ cười rạng rỡ và một cái gật đầu chào, trong khi chúng tôi thì nhớ nhung và chẳng khỏi ôm lòng hậm hực. Vốn là một gã khá tự mãn và luôn bám rễ nơi vùng đất quen, Chuột Nước kiên định ở lại dẫu cho ai có rời bước. Vậy nhưng, anh vẫn nhận ra bầu không khí rộn rã kia đang luẩn khuất quanh mình, và ít nhiều cảm nhận được sức ảnh hưởng của nó đương len lỏi, thấm dần vào tận xương tủy.
Thật khó mà chú tâm làm được việc gì trước ngần ấy sự xê dịch đang diễn ra. Từ giã bờ nước - nơi cói mọc chen chúc, cao vút bên dòng chảy đang chuyển mình uể oải và cạn vơi - anh tha thẩn tiến về phía những cánh đồng. Anh băng qua đôi ba đồng cỏ chăn thả nay đã vương đầy bụi bặm, khô cằn, rồi lao mình vào đại dương lúa mì bát ngát. Cả một thảm lúa vàng óng vươn lên gợn sóng, rầm rì hát ca, tràn trề những chuyển động êm đềm cùng bao lời thì thầm to nhỏ. Anh vẫn thường thích dạo bước nơi đây, rẽ qua một khu rừng được dệt nên từ những thân cây cứng cáp. Chúng đương vươn lên thành một bầu trời vàng rực trên đỉnh đầu anh - một bầu trời không ngừng nhảy múa, lung linh, rủ rỉ chuyện trò; hoặc đung đưa dữ dội mỗi bận gió lùa rồi vươn mình trở lại kèm theo một tràng cười giòn giã. Chốn này cũng là nơi anh kết giao với bao người bạn nhỏ - một xã hội trọn vẹn của riêng nó. Dẫu bận rộn với cuộc sống hối hả, đủ đầy, họ vẫn luôn dành ra một khoảnh khắc rảnh rỗi để tán gẫu, trao đổi tin tức với vị khách ghé thăm. Thế nhưng hôm nay, dù vẫn giữ thái độ nhã nhặn, bầy chuột đồng và chuột nhắt mùa gặt dường như lại đang dồn tâm trí vào chuyện khác. Nhiều kẻ hì hục đào bới, trổ đường hầm; số khác thì túm tụm thành nhóm nhỏ, đăm chiêu chúi mũi vào những bản thiết kế và sơ đồ quy hoạch cho những căn hộ mini. Ấy là những tổ ấm nghe đồn vô cùng lý tưởng, gọn tựa, lại tọa lạc ở vị trí đắc địa gần Cửa hàng3. Vài kẻ lục lọi moi ra mấy chiếc rương đóng bụi hay giỏ đựng đồ giặt, vài kẻ khác tất bật đóng gói hành lý; trong khi khắp mọi nơi, cơ man nào là lúa mì, yến mạch, lúa mạch, hạt dẻ gai cùng đủ loại hạt khác nằm ngổn ngang chờ ngày vận chuyển.
"Bác Chuột Nước thân mến đây rồi!" họ reo lên ngay khi vừa thoáng thấy anh. "Lại đây giúp một tay đi bác, sao cứ đứng mãi thế!"
"Các cậu đang bày trò gì vậy?" Chuột Nước cất giọng nghiêm nghị. "Các cậu thừa biết còn lâu mới đến lúc phải lo chuyện tìm chỗ ở cho mùa đông cơ mà!"
"Ồ vâng, chúng tôi biết chứ," một chú chuột đồng rụt rè giải thích; "nhưng lo liệu từ sớm thì bao giờ cũng tốt hơn, phải không bác? Chúng tôi thực sự phải dọn sạch sành sanh mọi đồ đạc, hành lý lẫn lương thực ra khỏi đây, trước khi lũ máy móc khủng khiếp kia bắt đầu chạy lách cách khắp các cánh đồng. Rồi bác biết đấy, những căn hộ ưng ý nhất dạo này bị nẫng mất nhanh lắm. Bác mà chậm chân thì chỉ còn nước vơ đại bất cứ thứ gì thôi. Chưa kể, nhà cửa cũng cần phải tu bổ chán chê thì mới dọn vào ở được. Tất nhiên chúng tôi hiểu là mình đang lo xa; nhưng dù sao cũng chỉ mới rục rịch tí chút mà thôi."
"Ồ, rục rịch với chả rục rịch," Chuột Nước gạt phắt đi. "Hôm nay đẹp trời thế này. Đi chèo thuyền, dạo bộ dọc bờ giậu, hay tổ chức dã ngoại trong rừng, làm cái gì đó đi chứ."
"Chà, tôi nghĩ là hôm nay chắc không ổn đâu, cảm ơn bác," chú chuột đồng vội vàng thoái thác. "Để hôm khác vậy-khi nào chúng tôi dôi dả thời gian hơn--"
Chuột Nước khịt mũi khinh khỉnh rồi quay ngoắt đi. Bất thần, anh vấp phải một chiếc hộp đựng mũ, ngã dúi dụi kèm theo vài tràng càu nhàu không mấy nhã nhặn.
"Giá như mọi người cẩn thận hơn một chút," một chú chuột đồng lên tiếng với vẻ lạnh lùng, "và chịu khó nhìn đường khi đi, thì đã chẳng tự rước lấy vết thương-lại còn mất mặt nữa. Coi chừng cái túi đựng đồ kia, bác Chuột Nước! Tốt nhất bác cứ kiếm chỗ nào yên vị đi. Tầm một, hai tiếng nữa, có khi chúng tôi mới rảnh rỗi mà tiếp bác được."
"Đến tận Giáng sinh mấy cậu cũng chẳng thò ra được lúc nào 'rảnh rỗi' đâu, tôi đi guốc trong bụng các cậu rồi," Chuột Nước càu nhàu vặn lại trong lúc dò dẫm tìm đường thoát khỏi cánh đồng.
Mang theo chút thất vọng rã rời, anh lê bước quay về với dòng sông của mình-con sông dãi dầu, kiên trung và vững chãi, nơi chẳng bao giờ phải rục rịch gói ghém hành lý, dọn nhà hay cuống cuồng lo tìm nơi trú ngụ khi đông tới.
Giữa những bụi liễu gai chạy dọc bờ sông, anh tinh mắt phát hiện một cánh nhạn đang đậu. Chẳng mấy chốc, một cánh nhạn thứ hai sà xuống nhập bọn, rồi một cánh nhạn thứ ba. Lũ chim bồn chồn rục rịch trên cành, ríu rít trò chuyện bằng chất giọng tha thiết, khẽ khàng.
"Sao cơ, rời đi á?" Chuột Nước lên tiếng, thong thả tiến lại gần bầy chim. "Có gì mà phải vội vàng thế? Tôi thấy chuyện này thật lố bịch."
"Ồ, nếu ý anh là vậy thì chúng tôi vẫn chưa cất cánh ngay đâu," chú nhạn thứ nhất đáp lời. "Chúng tôi chỉ đương lên kế hoạch và sắp xếp mọi thứ. Anh biết đấy, cả hội phải cùng nhau bàn bạc xem năm nay nên bay theo tuyến đường nào, dự định chặng dừng chân ở đâu, vân vân và mây mây. Mới thế thôi mà đã vui bằng nửa chuyến đi rồi!"
"Niềm vui ư?" Chuột Nước gặng hỏi; "đó chính là điều mà tôi chẳng tài nào vỡ lẽ. Nếu các bạn phải dứt áo rời khỏi chốn yên bình này, bỏ lại những người bạn hằng nhung nhớ, chia tay những tổ ấm êm đềm vừa mới yên bề, thì chà... khi thời khắc điểm, tôi chẳng hề nghi ngờ việc các bạn dũng cảm cất bước. Các bạn sẽ đương đầu với đủ thứ rắc rối, muộn phiền, với sự đổi thay cùng biết bao điều mới mẻ, để rồi cố gượng gạo như thể mình chẳng hề sầu muộn. Nhưng cớ gì lại cứ phải thao thao bất tuyệt, hay dằn vặt suy tư về chuyện đó trước cả khi thực sự cần cơ chứ--"
"Không, dĩ nhiên là anh sẽ chẳng hiểu được đâu," cánh nhạn thứ hai đỡ lời. "Ban đầu, nó chỉ là một nỗi xao xuyến ngọt ngào khẽ cựa quậy trong lòng; rồi sau đó, những ký ức mới rủ nhau ùa về, tựa bầy bồ câu ríu rít tìm lối về tổ. Chúng vỗ cánh xào xạc trong những giấc mơ hằng đêm, chúng lượn lờ chao liệng cùng chúng tôi giữa thanh thiên bạch nhật. Thế nên chúng tôi mới khao khát được dốc bầu tâm sự, được đối chiếu những ghi chép để tự hứa hẹn với nhau rằng mọi thứ ngoài kia là hiện thực. Đấy là khi từng mùi hương, từng thanh âm và cả những cái tên thuộc về vùng đất tưởng chừng đã rơi vào lãng quên nay bừng bừng thức giấc và vẫy gọi chúng tôi."
"Liệu các bạn không thể nán lại... dẫu chỉ trong năm nay thôi sao?" Chuột Nước bùi ngùi gợi ý. "Tất cả chúng tôi sẽ hết lòng chiều chuộng để các bạn luôn cảm thấy như đang ở nhà mình vậy. Các bạn đâu biết rằng trong lúc các bạn đang ở xa tít tắp, chúng tôi đã có những ngày tháng tuyệt vời thế nào đâu."
"Tôi từng thử 'nán lại' một năm rồi," cánh nhạn thứ ba lên tiếng. "Tôi đã đem lòng quyến luyến nơi này đến nỗi, khi thời khắc vẫy gọi, tôi đã chùn bước và để mặc cho đàn dời gót ra đi. Mọi thứ vẫn êm đềm trong những tuần đầu tiên, nhưng rồi... ôi chao! Càng về sau, những đêm dài đằng đẵng mới não nề làm sao! Những ngày run rẩy, lập cập, vắng bặt chút nắng ấm! Không khí thì ẩm ướt, buốt giá, mà bới tung cả vùng rông rảo cũng chẳng mảy may bói ra nổi một mống côn trùng. Không, cố bấu víu cũng vô ích thôi; dũng khí trong tôi đổ rạp tan tành. Thế rồi vào một đêm bão tuyết rét cắt da cắt thịt, tôi đành cất cánh bay sâu vào đất liền hòng trốn chạy những trận cuồng phong quật liên hồi từ hướng đông. Tuyết giăng mù mịt lúc tôi rẽ mây vượt qua những khe núi điệp trùng, một trận chiến cam go sống mái để sang được bờ bên kia. Nhưng rồi, tôi sẽ chẳng bao giờ quên nổi khoái cảm ngất ngây tột độ khi tia nắng rực rỡ lại nung nóng đôi cánh mình; tôi lao vun vút xuống những hồ nước xanh thẳm, êm đềm bên dưới, nếm trọn hương vị tuyệt hảo của con côn trùng béo ngậy đầu mùa! Quá khứ lùi lại phía sau hệt như một cơn ác mộng; trước mắt tôi dải tương lai trải dài tựa kỳ nghỉ lễ hạnh phúc. Tôi cứ thong thả, uể oải tiến về phương nam qua từng tuần; tôi chần chừ nhấm nháp từng giây phút nếu có thể, song vẫn luôn nơm nớp dỏng tai lắng nghe tiếng gọi! Không đâu, tôi đã thấu cái giá của sự ngoan cố rồi; tôi tuyệt nhiên chẳng dám ấp ủ ý định kháng lệnh thêm một lần nào nữa."
"A, đúng thế, tiếng vẫy gọi của phương Nam, ôi phương Nam!" hai cánh chim còn lại líu lo chìm vào cơn mộng tưởng. "Những bài ca của nó, những sắc màu rực rỡ của nó, bầu không khí bừng sáng của nó! Ồ, anh có còn nhớ không--" Thế rồi, quên khuấy luôn sự hiện diện của Chuột Nước, bầy chim cứ thế trượt dài vào miền ký ức đắm say. Anh đứng đó, chăm chú lắng nghe trong nỗi mê hoặc, để mặc cho trái tim bùng cháy những ngọn lửa rạo rực. Từ sâu thẳm tâm hồn, anh lờ mờ nhận ra một thứ thanh âm đang rung lên - cái cung bậc bấy lâu nay vẫn luôn say ngủ, nay chợt bừng tỉnh chẳng báo trước. Chỉ riêng tiếng ríu rít của đàn chim hướng nam này, những lời thuật lại mờ nhạt từ ký ức, cũng đủ sức đánh thức cái xúc cảm hoang dại, mới mẻ, khiến lồng ngực anh đánh thót từng nhịp rộn ràng. Sẽ ra sao nếu anh thực sự nếm trải khoảnh khắc ấy - một cái chạm nồng nàn của ánh nắng chói chang phương nam, một luồng gió mang theo hương vị tinh khôi nguyên thủy? Nhắm nghiền mắt lại, anh buông mình chìm đắm vào giấc mộng mị phiêu lưu, và khi mở mắt ra, dòng sông đã hóa xám xịt và lạnh lẽo, những cánh đồng xanh cũng nhạt nhòa, thiếu vắng thứ ánh sáng chan hòa. Thâm tâm kiên trung trong anh chợt gióng lên hồi chuông cảnh báo, phẫn nộ trước sự hèn yếu và phản bội của chính mình.
"Vậy thì tại sao các bạn lại còn cất công quay lại làm gì?" anh hậm hực vặn hỏi bầy nhạn với vẻ ghen tị. "Cái đất nước nhỏ bé, xám xịt và tẻ nhạt này thì có gì hấp dẫn cơ chứ?"
"Thế anh đinh ninh rằng," cánh nhạn thứ nhất đáp lại, "rằng khi mùa màng luân chuyển, tiếng gọi kia sẽ từ chối chúng tôi chăng? Cái tiếng gọi thiết tha từ những đồng cỏ xanh rì tươi tốt, những vườn cây ăn quả mướt mát hơi sương, những hồ nước ấm áp lúc nhúc côn trùng; rồi âm thanh của bầy gia súc thong dong gặm cỏ, của mùa gặt cỏ khô rộn rã, và cả những nông trại nằm nép mình quanh Ngôi Nhà có Mái Hiên hoàn hảo nữa?"
"Anh tưởng," cánh nhạn thứ hai tiếp lời, "anh là sinh linh duy nhất mang trong mình nỗi khát khao cháy bỏng được lắng nghe lại tiếng cu gáy sao?"
"Khi thời khắc chín muồi," cánh nhạn thứ ba kết luận, "chúng tôi sẽ lại nôn nao nỗi nhớ nhà, nhớ những đóa súng nước êm đềm đung đưa trên mặt dòng suối nước Anh. Song hôm nay, tất thảy những thứ đó dường như đã trở nên nhạt nhòa, mỏng manh và vô vàn xa xăm. Ngay lúc này, mạch máu trong chúng tôi đang nhảy múa theo một vũ điệu hoàn toàn khác biệt."
Và thế là chúng lại bắt đầu líu lo ríu rít, và lần này, câu chuyện phiếm say sưa của chúng xoay quanh những vùng biển tím ngắt sắc trời, những dải cát nhuộm ánh vàng nâu, và những bờ tường nhung nhúc lũ thằn lằn.
Lòng đầy trăn trở, Chuột Nước lại tiếp tục lang thang. Anh leo lên sườn dốc thoai thoải vươn mình từ bờ bắc của dòng sông, nằm ườn ra đó mà dán mắt về vòng cung rộng lớn của dãy Đồi Phấn4. Dãy núi ấy vốn luôn che khuất tầm nhìn của anh về phương nam mênh mông-nó từng là đường chân trời giản dị của riêng anh, là Dãy Núi Mặt Trăng5 kỳ vĩ, là cột mốc mà phía sau nó, anh chưa từng mảy may bận tâm muốn khám phá hay tường tận. Nhưng hôm nay, khi phóng tầm mắt về phương Nam với niềm khao khát vừa chớm nở đang rạo rực trong tim, bầu trời trong vắt ngự trị phía trên đường nét uốn lượn thâm thấp kia dường như đang đập rộn ràng bao lời hứa hẹn. Hôm nay, những điều chưa thấy chính là tất cả; những điều chưa hay biết mới là chân lý sống duy nhất. Phía bên này của những ngọn đồi giờ đây chỉ là một khoảng trống rỗng vô hồn, còn phía bên kia lại vẽ nên một bức tranh toàn cảnh rộn rã, rực rỡ sắc màu, hiện lên rõ mồn một trong lăng kính tâm hồn anh. Những vùng biển nào đang trải dài xa tít tắp kia, xanh biếc, chồm lên như dã thú và sủi bọt tung trắng xóa! Những bờ biển ngập tràn ánh nắng, viền quanh bởi những ngôi biệt thự trắng toát lấp lánh nổi bật trên phông nền rực rỡ của cánh rừng ô liu! Những bến cảng êm đềm, tấp nập vạn chuyến tàu uy dũng giong buồm hướng tới hòn đảo màu tím biếc của rượu vang và gia vị-những hòn đảo nằm thu lu, lơ đễnh giữa vùng nước lờ đờ!
Anh chậm rãi đứng dậy rồi bước xuống bờ sông; nhưng rồi bất chợt đổi ý, anh cất bước rẽ ra vệ của con đường rải nhựa mịt mù bụi bặm. Ở đó, nằm lún mình một nửa giữa đám bụi rậm rạp mát rượi chạy dọc theo bờ giậu, anh có thể thỏa thuê trầm tư về con đường đá dăm và cả thế giới diệu kỳ mà nó dẫn bước; về những người lữ khách từng in dấu chân nơi đây, về những ngã rẽ định mệnh, hay những cuộc phiêu lưu mà họ cất công săn tìm hoặc vô tình chạm phải-ở ngoài kia, xa hơn nữa-xa thật xa!
Tiếng bước chân chậm chạp vang lên bên tai Chuột Nước, rồi một bóng dáng nhọc nhằn lê bước hiện ra trong tầm mắt; anh nhận ra đó là một gã Chuột, một gã Chuột phủ đầy bụi đường trường. Khi tới gần, người lữ khách cất lời chào bằng một cử chỉ lịch thiệp mang đậm nét ngoại lai. Anh ta khẽ ngập ngừng, rồi nở một nụ cười dễ mến, bước khỏi lối mòn và ngả lưng xuống thảm cỏ mát rượi cạnh bên. Anh ta có vẻ mỏi mệt, Chuột Nước cứ để anh nghỉ ngơi mà chẳng hề gặng hỏi. Anh thấu hiểu phần nào những tâm tư đang dâng lên trong lòng người lạ, và cũng thừa biết loài vật nào cũng trân quý sự im lặng của người đồng hành vào những lúc cơ bắp rã rời được buông lơi, nhường chỗ cho tâm trí tự do phiêu lãng.
Người lữ khách gầy gò, mang những đường nét sắc sảo, đôi vai hơi so lại. Cặp giò anh ta dài ngoẵng và gầy nhom, khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn, còn đôi tai gọn gàng, thanh tú điểm xuyết hai chiếc khuyên vàng nhỏ xíu6. Anh mặc chiếc áo len đan màu xanh lam đã sờn bạc, chiếc quần chẽn lấm lem, vá víu chằng chịt dẫu màu gốc vẫn là xanh thẫm, và chút hành trang ít ỏi được gói ghém cẩn thận trong một chiếc khăn tay viền xanh lam.
Sau khi đã nghỉ ngơi đôi chút, người lạ khẽ thở dài, hít căng lồng ngực bầu không khí và đưa mắt nhìn quanh.
"Ngọn gió ấm áp thoảng qua mang theo mùi cỏ ba lá," anh ta cất lời, "và đằng kia là bầy bò ta đang nghe thấy tiếng chúng gặm cỏ ngay sau lưng, khẽ thổi bọt trong từng nhịp nhai nhóp nhép. Còn có cả tiếng gọi nhau của những người thợ gặt đằng xa, và ngoài kia là dải khói lam mỏng mảnh cuộn lên từ mái tranh tươm tất nổi bật trên nền rừng. Dòng sông hẳn đang xuôi chảy đâu đó quanh đây, vì tôi nghe vẳng lại tiếng kêu của con gà nước, và qua vóc dáng của cậu, tôi đồ rằng cậu là một tay thủy thủ nước ngọt. Mọi thứ dường như đang chìm vào giấc ngủ, ấy vậy mà sự sống vẫn không ngừng cựa quậy. Quả là một cuộc sống êm đềm mà cậu đang tận hưởng đấy, người anh em; chẳng nghi ngờ gì nữa, có lẽ là tuyệt vời nhất thế gian này, miễn là cậu đủ kiên tâm để gắn bó với nó!"
"Vâng, đó chính là cuộc sống, là cuộc sống duy nhất đáng sống," Chuột Nước đáp lời đầy mộng mị, thiếu đi vẻ đinh ninh kiên định thường ngày.
"Tôi không hoàn toàn dám khẳng định như thế," người lạ cẩn trọng đáp; "nhưng chẳng nghi ngờ gì, nó là tuyệt nhất. Tôi đã nếm trải, và tôi biết rõ. Thế nhưng, cũng chính vì tôi vừa mới thử sống cuộc đời ấy-sáu tháng ròng rã-và biết nó là tuyệt nhất, nên lúc này tôi mới ngồi đây, đôi chân phồng rộp và cái bụng réo gào, cất bước rời xa nó để lê chân về phương Nam, xuôi theo tiếng gọi xa xưa, trở lại với cuộc sống cũ, cái cuộc sống vốn dĩ thuộc về tôi và quyết chẳng buông tha tôi."
"Thế ra, anh lại là một kẻ nữa trong số bọn họ sao?" Chuột Nước lầm bầm. "Vậy anh vừa cất bước từ đâu tới?" anh gặng hỏi. Anh chẳng dám hỏi đích đến của anh ta, dường như tự thâm tâm anh đã thấu tỏ câu trả lời.
"Một trang trại nhỏ xinh lọt thỏm giữa đồng quê," vị lữ khách đáp gọn lỏn. "Theo hướng kia kìa"-anh hất đầu về phía Bắc. "Đừng bận tâm đến nó nữa. Tôi đã có trọn vẹn mọi điều tôi khao khát-mọi thứ tôi có quyền kỳ vọng ở cuộc đời này, và thậm chí còn hơn thế; vậy mà giờ tôi lại ở đây! Dẫu sao, tôi vẫn thấy mừng vui vì được ở đây, thật sự vui sướng! Cứ mỗi dặm đường vượt qua, lại là một giờ nhích lại gần hơn với khát vọng cháy bỏng trong tim tôi!"
Đôi mắt sáng quắc của anh ta đau đáu nhìn về phía chân trời. Dường như anh đang dỏng tai lắng nghe một thanh âm nào đó vắng bóng trên dải đất nội địa này, dẫu cho không gian đang rộn rã những khúc hoan ca của đồng cỏ và sân nhà nông trang.
"Anh không phải là người của chúng tôi," Chuột Nước cất giọng, "cũng chẳng hẳn là một gã nông phu; thâm tâm tôi chắc rằng, anh còn chẳng phải người của xứ sở này."
"Phải rồi," người lạ đáp. "Tôi là một gã Chuột Biển, chính cống là thế, và bến cảng khởi thủy của tôi là Constantinople7, dẫu rằng ngay tại đó tôi cũng bị xem là một kiểu dân ngoại quốc, theo một khía cạnh nào đó. Chắc hẳn cậu đã từng nghe danh Constantinople rồi chứ, hỡi người anh em? Một kinh thành tuyệt mỹ, cổ kính và rực rỡ huy hoàng. Hẳn cậu cũng từng nghe truyền thuyết về Vua Sigurd xứ Na Uy8, ngài đã dong buồm đến đó với một hạm đội sáu mươi chiến thuyền, và cách ngài cùng các tùy tùng cưỡi ngựa uy dũng lướt qua những con phố rợp bóng lọng tía và lụa vàng được giăng lên để vinh danh họ; rồi cả việc Hoàng đế cùng Hoàng hậu đã thân chinh hạ giá dự tiệc cùng ngài trên chính con tàu ấy. Khi Sigurd hồi hương, nhiều chiến binh phương Bắc của ngài đã nán lại, gia nhập hàng ngũ ngự lâm quân bảo vệ Hoàng đế9, và tổ tiên của tôi, một người xuất thân từ Na Uy, cũng đã ở lại cùng với những con tàu mà Sigurd trao tặng cho Hoàng đế. Dòng dõi chúng tôi luôn thuộc về biển cả, và điều đó cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên; đối với tôi, kinh thành nơi tôi cất tiếng khóc chào đời cũng chẳng giống quê nhà hơn bất kỳ bến cảng êm đềm nào trải dọc từ chốn ấy đến tận sông London. Tôi nằm lòng từng bến cảng, và họ cũng tường tận gốc gác của tôi. Cứ thả tôi xuống bất kỳ bến tàu hay bãi biển nào trong số đó, là tôi lại như được trở về chốn nương náu của chính mình."
"Tôi đoán là anh đã trải qua những chuyến viễn du dài dằng dặc," Chuột Nước hỏi han, sự tò mò trong anh ngày một trỗi dậy. "Hàng tháng trời ròng rã trôi dạt mà chẳng thấy bóng dáng đất liền, rồi lương thực thì cạn kiệt, nước uống phải chia chác từng hớp nhỏ, và tâm trí anh thì hòa quyện với đại dương bao la, và đủ mọi thứ đại loại như thế phải không?"
"Hoàn toàn không," Chuột Biển thẳng thắn gạt đi. "Cái cuộc sống như cậu vừa mường tượng chẳng ăn nhập chút nào với tôi cả. Tôi theo nghiệp buôn bán ven bờ, hiếm khi nào lọt thỏm giữa biển khơi mù mịt mà khuất bóng đất liền. Chính những chuỗi ngày hội hè miên man trên bờ bãi mới có sức mê hoặc tôi, chẳng kém cạnh gì bất kỳ chuyến ra khơi nào. Ôi, những bến cảng phương Nam ấy! Mùi vị đặc trưng của chúng, những ngọn đèn bập bềnh buông neo trong đêm sương, vẻ diễm lệ quyến rũ chết người!"
"Chà, có lẽ anh đã chọn cho mình một lối rẽ khôn ngoan hơn," Chuột Nước nhận xét, dẫu âm điệu có xen lẫn chút hoài nghi. "Vậy, nếu anh có hứng thú, hãy kể cho tôi nghe chút ít về những chuyến hải trình ven bờ ấy, để xem một loài vật ôm ấp tâm hồn hăng say phiêu lưu có thể gặt hái được vụ mùa gì để sưởi ấm những năm tháng xế chiều bằng dăm ba hồi ức hào hùng bên bếp lửa; vì thú thật với anh, hôm nay tôi chợt thấy cuộc đời mình sao có đôi phần chật hẹp và tù túng."
"Chuyến hải trình gần đây nhất," Chuột Biển mở lời, "chuyến đi cuối cùng đã đưa tôi tấp vào xứ sở này, ấp ủ biết bao kỳ vọng lớn lao về một nông trang nội địa, có thể xem là minh chứng sống động nhất cho muôn vàn chuyến viễn du của tôi, và quả thực, như một bản tóm lược hoàn hảo cho cuộc đời đa sắc này. Những xào xáo nội bộ gia đình, như thường lệ, lại là ngòi nổ cho mọi chuyện. Tín hiệu giông bão trong nhà đã giăng lên, thế là tôi đánh bài chuồn, tự mình nhảy lên một chiếc tàu buôn nhỏ rời bến Constantinople, cưỡi sóng vượt qua những vùng biển cổ tích, nơi mỗi bọt sóng trào lên đều ngân vang một miền ký ức bất diệt, thẳng tiến tới Quần đảo Hy Lạp và vùng Cận Đông. Ôi, những chuỗi ngày hoàng kim và những đêm thâu mượt mà! Thuyền cứ liên hồi nhổ neo rồi lại cập bến-đi đâu cũng chạm mặt cố nhân-trưa hè oi ả thì rúc vào ngủ vùi trong một ngôi đền râm mát hay một bể chứa nước hoang tàn-hoàng hôn buông xuống lại đàn ca sáo nhị, chè chén tưng bừng dưới những vì sao to cỡ cái bát ngọc được đính chặt trên vòm trời đen nhánh như nhung! Từ đó, chúng tôi bẻ lái dọc theo đường bờ biển Adriatic, những dải cát đắm mình trong bầu không khí đan xen sắc hổ phách, hồng phai và xanh ngọc bích; chúng tôi neo mình tại những bến cảng mênh mông lọt thỏm giữa đất liền, rảo bước ngắm nhìn những kinh đô hoa lệ nhuốm màu thời gian, cho đến một sớm mai nọ, khi ánh thái dương rực rỡ vừa ló rạng sau lưng, chúng tôi cưỡi sóng tiến vào Venice10 rạng ngời trên một đại lộ dát vàng. Chà, Venice mới đích thị là một tuyệt tác, nơi bất cứ gã chuột nào cũng có thể nhởn nhơ dạo bước và tận hưởng lạc thú trần gian! Hoặc giả, khi đã rã rời chồn chân mỏi gối, thì thả mình bên bờ Kênh Lớn lúc màn đêm buông xuống, cạn chén cùng chiến hữu, giữa không gian đẫm tiếng nhạc du dương và bầu trời lúc nhúc vạn vì sao. Những ngọn đèn lồng hắt ánh sáng lung linh lên những chiếc mũi thuyền bọc thép sắc nhọn, loáng nước của những chiếc gondola11 đang bập bềnh tấp nập, ken đặc đến độ cậu dư sức dạo bước băng qua kênh bằng cách nhảy từ mạn thuyền này sang mạn thuyền khác! Rồi đến ẩm thực-cậu có khoái hải sản có vỏ không? Chà chà, mà thôi ta cũng chẳng nên lan man quá lâu về chuyện đó vào lúc này."
Anh ta nín lặng một thoáng; còn Chuột Nước, cũng im lìm chịu sự mê hoặc, thả hồn trôi dạt trên những dòng kênh mộng mị, văng vẳng bên tai khúc ca ma mị vút cao giữa những bức tường xám xịt giăng sương đang ru mình trong nhịp sóng vỗ.
"Cuối cùng, chúng tôi lại căng buồm về phương Nam," Chuột Biển dông dài kể tiếp, "men theo bờ biển nước Ý, cho đến khi con tàu buông neo tại Palermo, và ở đó tôi đã chia tay thủy thủ đoàn để tận hưởng một kỳ nghỉ dài hơi, tràn ngập hạnh phúc trên đất liền. Tôi chẳng bao giờ cắm rễ quá lâu trên một con tàu; điều đó dễ khiến người ta trở nên cổ hủ và đầy rẫy định kiến. Thêm vào đó, Sicily vốn là một trong những thánh địa săn bắn mầu nhiệm của tôi. Tôi quen mặt tất thảy mọi người chốn ấy, và lối sống của họ rất hợp gu tôi. Tôi đã trải qua bao tuần lễ hội hè miên man trên hòn đảo, ăn dầm ở dề nhà những ông bạn chí cốt trên mỏm đồi cao. Cho đến khi đôi chân lại bắt đầu cuồng rãnh, tôi liền chộp lấy cơ hội đu bám một con tàu buôn đang hướng mũi về Sardinia và Corsica; chao ôi, cái cảm giác khoan khoái tột độ khi lại được hít căng lồng ngực ngọn gió đại dương trong trẻo và hứng trọn những bọt biển mát lạnh quất thẳng vào mặt thêm lần nữa."
"Nhưng chẳng phải chui rúc dưới ấy-tôi nghĩ anh gọi nó là hầm tàu-thì hầm hập và ngột ngạt lắm sao?" Chuột Nước gặng hỏi.
Gã đi biển lém lỉnh nháy mắt nhìn anh bằng một ánh nhìn tinh quái. "Tôi là một tay chơi lão luyện mà," anh ta buông lời nhận xét với vẻ tỉnh rụi. "Cabin của thuyền trưởng là quá đủ tiêu chuẩn với tôi rồi."
"Dẫu cho có nói ngả nói nghiêng, đó rốt cuộc vẫn là một kiếp sống dãi dầu sương gió," Chuột Nước thầm thì, trôi miên man trong dòng suy tưởng.
"Với bọn thủy thủ đoàn thì đúng là trầy vi tróc vảy," gã đi biển nghiêm túc đáp trả, nhưng lại kèm thêm một cái nháy mắt ranh mãnh.
"Từ Corsica," anh ta dông dài kể tiếp, "tôi quá giang một chuyến tàu chở rượu vang hướng vào đất liền. Chúng tôi thả neo tại Alassio12 khi ráng chiều chạng vạng, lục tục ròng rọc kéo những thùng rượu vang lên boong, rồi vứt tọt chúng xuống nước qua mạn tàu, dùng một sợi chão dài xâu chuỗi chúng lại với nhau. Đoạn, cánh thủy thủ lục tục nhảy lên mấy chiếc thuyền con chèo vào bờ, miệng hát ca râm ran, kéo xệch sau đuôi là cả một chuỗi rước dài dằng dặc những thùng gỗ tròng trành, y hệt một dặm toàn cá heo nhảy múa. Trên bãi cát mịt mù, bọn họ đã thắng sẵn mấy cỗ xe ngựa chực chờ, chúng nai lưng kéo nhũng thùng rượu ấy dọc theo con phố dốc đứng của thị trấn nhỏ, tạo nên một cảnh tượng hối hả, loảng xoảng và ganh đua náo nhiệt đến tuyệt diệu. Khi chiếc thùng cuối cùng đã yên vị, chúng tôi xốc lại tinh thần, rũ sạch bụi trần, rồi ngả ngớn chè chén tới tận khuya lơ khuya lắc cùng những gã bạn hữu, để sáng hôm sau tôi thong dong lẩn vào những cánh rừng ô liu bạt ngàn để tận hưởng một kỳ nghỉ ngắn ngủi. Bởi khi ấy, tôi đã no nê với mấy hòn đảo được một dạo, còn các bến cảng lẫn tàu bè thì cứ nhan nhản; thế là tôi buông mình vào một kiếp sống lười nhác giữa bầy nông dân, cứ nằm ườn ra đó xem bọn họ mướt mồ hôi cày cuốc, hay vươn vai ườn ngực thư giãn tít trên đỉnh đồi lộng gió, thu vào tầm mắt là vùng biển Địa Trung Hải xanh biêng biếc trải dài vô tận bên dưới. Và rồi cuối cùng, qua những chặng đường thong dong, nửa đi bộ nửa đi thuyền, tôi trôi dạt đến Marseilles13, hội ngộ những chiến hữu từng chung tàu thuở trước, lượn lờ thăm thú những con tàu khổng lồ băng qua đại dương, và lại thêm một lần nữa tiệc tùng linh đình. Mà nói đến hải sản có vỏ cơ chứ! Chà, thi thoảng tôi lại mơ về đống hải sản có vỏ ở Marseilles, để rồi tỉnh mộng giàn giụa nước mắt!"
"Điều đó làm tôi sực nhớ," Chuột Nước nhã nhặn cất lời; "anh vừa vô tình nhắc đến chuyện mình đang đói meo, mà lẽ ra tôi phải tinh ý nhận ra sớm hơn. Dĩ nhiên là anh sẽ nán lại dùng bữa trưa với tôi chứ? Hang của tôi ngay sát cạnh đây thôi; giờ cũng đã quá ngọ được một lúc rồi, và mong anh đừng chê những món cây nhà lá vườn thô thiển."
"Tôi thực sự phải tri ân lòng tốt và tấm thịnh tình anh em của cậu đấy," Chuột Biển cảm kích. "Quả thực bụng tôi đã biểu tình ầm ĩ từ lúc vừa đặt mông xuống đây, và kể từ khoảnh khắc tôi lỡ mồm nhắc đến vụ hải sản có vỏ, những cơn cồn cào lại càng thêm phần dữ dội. Nhưng liệu cậu có thể dọn bữa ra ngoài này được chăng? Tôi chẳng mặn mà gì với chuyện chui nhủi xuống dưới hầm tàu, trừ phi vạn bất đắc dĩ; và sau đó, trong lúc nhâm nhi, tôi có thể kể cho cậu nghe thêm dăm ba câu chuyện về những chuyến viễn du và cái kiếp sống rực rỡ mà tôi đang đắm chìm-ít nhất, nó vô cùng mê hoặc đối với tôi, và qua vẻ chú tâm của cậu, tôi đoán chừng nó cũng đủ sức quyến rũ cậu; trong khi nếu chúng ta kéo nhau vào trong nhà, mười mươi là tôi sẽ gục xuống ngủ say như chết ngay tắp lự."
"Quả là một gợi ý tuyệt vời," Chuột Nước nói, rồi hối hả chạy về nhà. Anh lấy chiếc giỏ đựng bữa trưa ra và cẩn thận chuẩn bị một bữa ăn tươm tất. Nhớ đến gốc gác và sở thích của người khách lạ, anh đã khéo léo chọn một ổ bánh mì Pháp dài cả thước, một khúc xúc xích thơm lừng mùi tỏi, một chút pho mát mềm ngậy, cùng một bình rượu cổ dài bọc rơm14. Bên trong bình chứa đựng thứ ánh nắng rực rỡ của phương Nam xa xôi, được chắt chiu và đóng chai từ những sườn đồi ngập nắng. Trĩu nặng với những món đồ này, anh quay lại nhanh nhất có thể. Anh sung sướng đỏ mặt trước những lời khen ngợi của người thủy thủ già dành cho gu ẩm thực và sự tinh tế của mình, khi hai người cùng dỡ giỏ và bày biện bữa ăn lên thảm cỏ ven đường.
Ngay khi cơn đói phần nào được xoa dịu, Chuột Biển liền tiếp tục câu chuyện về chuyến đi gần đây nhất của mình. Anh dẫn dắt thính giả ngây thơ đi từ bến cảng này đến bến cảng khác của xứ Tây Ban Nha, đưa cậu cập bến Lisbon, Oporto, và Bordeaux, rồi giới thiệu những bến cảng êm đềm ở Cornwall và Devon. Từ đó, anh ngược lên Eo biển15 để đến bến tàu cuối cùng kia. Tại đó, sau bao ngày chống chọi với những cơn gió ngược dằng dặc, bị giông bão vùi dập và thời tiết bào mòn, khi vừa đặt chân lên bờ, anh đã chớp được những dấu hiệu kỳ diệu đầu tiên của một Mùa Xuân mới. Bị thôi thúc bởi những điềm báo ấy, anh liền dấn bước vào một chuyến đi bộ tiến sâu vào đất liền, khao khát trải nghiệm cuộc sống yên bình ở một trang trại nào đó, thật xa khỏi tiếng sóng vỗ ầm ào của bất kỳ đại dương nào.
Say mê và run rẩy vì phấn khích, Chuột Nước bám theo bước chân Kẻ Phiêu Lưu từng dặm một. Anh tưởng chừng như đang cùng người bạn thủy thủ ấy vượt qua những vùng vịnh đầy giông bão, len lỏi qua những vũng neo đậu chật cứng, băng ngang những cồn cát án ngữ cửa vịnh trên một ngọn sóng thủy triều dâng cuộn trào, rồi ngược dòng những con sông uốn khúc cất giấu những thị trấn nhỏ bé nhộn nhịp quanh một khúc quanh bất ngờ. Và rồi, anh thở dài tiếc nuối khi phải bỏ mặc người bạn ấy chôn chân tại một trang trại buồn tẻ sâu trong đất liền, nơi mà anh chẳng màng nghe tới chút nào.
Đến lúc này, bữa ăn đã tàn. Người Đi Biển, sảng khoái và tràn đầy sinh lực, cất giọng vang vọng hơn. Ánh mắt anh rực sáng như được thắp lên từ ngọn hải đăng nơi xa xăm. Anh rót đầy ly của mình thứ rượu vang phương Nam đỏ rực, rồi nghiêng người về phía Chuột Nước, khóa chặt ánh nhìn của anh và trói buộc anh, cả thể xác lẫn tâm hồn, trong lời kể say sưa. Đôi mắt ấy mang màu xám xanh, điểm xuyết những bọt sóng luôn biến ảo của vùng biển phương Bắc cuộn trào. Trong ly rượu lấp lánh một viên hồng ngọc nóng rực, tựa như trái tim đích thực của phương Nam đang đập nhịp nhàng, chực chờ kẻ nào đủ dũng khí đáp lại nhịp đập ấy. Ánh sáng song sinh, màu xám biến ảo và màu đỏ kiên định, đã hoàn toàn chế ngự Chuột Nước, giam lỏng anh trong sự mê mẩn, bất lực. Thế giới tĩnh lặng bên ngoài tia sáng ấy dần lùi xa và tan biến. Câu chuyện kỳ diệu cứ thế tuôn trào-đó là lời nói hay một bài ca? Có phải khúc hò dô của những thủy thủ đang nhổ mỏ neo ướt đẫm, tiếng rền vang trầm hùng của hệ thống dây buồm trong trận gió Đông Bắc xé tai, hay khúc ballad của người ngư dân đang kéo lưới lúc hoàng hôn dưới bầu trời màu quả mơ? Hay đó là những hợp âm của đàn guitar và mandoline vọng lại từ những chiếc thuyền gondola hay caique? Phải chăng nó đã hóa thành tiếng gào thét của gió, thoạt tiên là những lời than oán, rồi rít lên giận dữ khi mạnh dần, dâng cao thành tiếng huýt sáo chói tai, và cuối cùng lắng xuống thành luồng khí rung động róc rách thoát ra từ mép sau của cánh buồm căng phồng? Bị bùa mê, người thính giả ngỡ như nghe thấy tất thảy những âm thanh ấy, hòa cùng tiếng kêu gào đói khát của bầy mòng biển, hải âu, tiếng gầm gừ êm ái của những con sóng bạc đầu, và tiếng sỏi đá va đập xì xào nơi bờ biển bị sóng xô. Rồi anh lại trở về với lời kể. Với trái tim đập rộn ràng, anh dõi theo những cuộc phiêu lưu ở hàng tá bến cảng, những trận ẩu đả, những cuộc tẩu thoát, những lần tập hợp, những tình chiến hữu, và những chiến công quả cảm. Hoặc, anh lùng sục khắp các hòn đảo để tìm kho báu, buông cần câu nơi những vùng đầm phá tĩnh lặng và ngủ gà ngủ gật suốt cả ngày dài trên bãi cát trắng ấm áp. Anh lắng nghe về những chuyến ra khơi, những mẻ lưới dài cả dặm lấp lánh ánh bạc vĩ đại; về những hiểm nguy bất ngờ, tiếng gầm rú của sóng vỗ bờ trong một đêm không trăng, hay chiếc mũi tàu sừng sững của con tàu viễn dương khổng lồ đột ngột lù lù xuất hiện ngay trên đỉnh đầu xuyên qua màn sương mù dày đặc. Rồi anh lại mường tượng về khoảnh khắc trở về nhà trong hân hoan, vòng qua mũi đất, khi những ngọn đèn bến cảng hiện ra; những bóng người mờ ảo trên bến tàu, những tiếng vẫy chào vui vẻ, tiếng tủm của dây neo buông xuống mặt nước; những bước chân lê trên con phố nhỏ dốc đứng, hướng thẳng đến ánh sáng rực rỡ, ấm áp hắt ra từ những ô cửa sổ buông rèm đỏ.
Cuối cùng, trong cơn mộng du giữa ban ngày, Chuột Nước lờ mờ thấy Kẻ Phiêu Lưu đã đứng dậy. Nhưng anh vẫn nói, vẫn ghim chặt anh bằng đôi mắt màu xám biển mịt mùng.
"Và giờ đây," anh nhẹ nhàng cất lời, "tôi lại lên đường, tiếp tục hướng về tây nam qua những chuỗi ngày ròng rã và bụi bặm; cho đến khi tôi đặt chân tới cái thị trấn biển nhỏ bé màu xám mà tôi đã thuộc nằm lòng, nơi bám dọc theo sườn dốc đứng của bến cảng. Ở đó, qua những ô cửa tối tăm, cậu sẽ nhìn xuống những bậc thang bằng đá, lẩn khuất dưới những cụm hoa nữ lang màu hồng khổng lồ và dẫn thẳng xuống một khoảng nước trong xanh lấp lánh. Những chiếc thuyền nhỏ xíu nằm ngoan ngoãn bị buộc chặt vào những chiếc vòng và cột trụ của bức tường chắn sóng cổ kính, được sơn phết sặc sỡ hệt như những chiếc thuyền mà tôi từng leo lên leo xuống thuở ấu thơ; những con cá hồi nhảy múa trên ngọn sóng thủy triều dâng, những đàn cá thu lấp lánh nô đùa quanh các bến tàu và bờ biển. Ngày cũng như đêm, ngay bên ngoài những ô cửa sổ, những con tàu lớn từ từ lướt qua, tiến vào điểm neo đậu hoặc rẽ sóng ra vùng biển khơi. Nơi đó, sớm hay muộn, những con tàu từ mọi quốc gia đi biển sẽ quy tụ; và cũng tại nơi đó, vào đúng thời khắc định mệnh, con tàu mà tôi chọn sẽ buông neo. Tôi sẽ thong dong nán lại và chờ đợi, cho đến khi con tàu dành cho mình được lai dắt ra giữa dòng, mang đầy ắp hàng hóa, cột buồm hướng thẳng về phía cửa cảng. Tôi sẽ lẻn lên tàu, đi bằng thuyền nhỏ hoặc men theo dây neo; và rồi một buổi sáng nọ, tôi sẽ thức dậy trong tiếng ca hát và tiếng bước chân nện thình thịch của các thủy thủ, tiếng lách cách của chiếc tời neo, và tiếng lạch cạch của dây xích mỏ neo đang hân hoan được kéo lên. Chúng ta sẽ bung cánh buồm mũi và buồm trước, những ngôi nhà màu trắng trên bờ cảng sẽ từ từ lướt qua khi con tàu lấy đà bẻ lái, và chuyến hải trình sẽ chính thức bắt đầu! Khi lao về phía mũi đất, nó sẽ khoác lên mình tấm áo bằng vải bạt; và rồi, một khi ra đến biển khơi, đón lấy tiếng ầm ĩ của những con sóng xanh biếc khổng lồ, con tàu sẽ nghiêng mình theo gió, chỉ hướng thẳng về phương Nam!
"Và cậu, cậu cũng sẽ đi chứ, người anh em trẻ tuổi; bởi những tháng ngày vẫn đang trôi qua, một đi không trở lại, và phương Nam thì vẫn luôn chờ đợi cậu. Hãy chớp lấy Cuộc Phiêu Lưu, lắng nghe tiếng gọi, ngay lúc này trước khi khoảnh khắc không thể vãn hồi vuột mất! Chỉ là một tiếng sập cửa sau lưng cậu, một bước tiến tới đầy hồ hởi, và cậu sẽ bỏ lại cuộc sống cũ để bước vào một thế giới mới! Rồi một ngày nào đó, một ngày rất xa kể từ lúc này, nếu muốn, cậu có thể quay gót trở về quê nhà nơi đây, khi chén rượu đã cạn và vở kịch đã tàn, ngồi lại bên bờ sông êm đềm của cậu với cả một kho báu kỷ niệm tuyệt vời để bầu bạn. Cậu có thể dễ dàng bắt kịp tôi trên đường, vì cậu còn trẻ, còn tôi thì đã già và bước đi thật chậm rãi. Tôi sẽ nán lại, ngoái nhìn; và cuối cùng, chắc chắn tôi sẽ thấy cậu đang đi tới, hăm hở và nhẹ nhõm, với cả phương Nam bừng sáng trên gương mặt cậu!"
Giọng nói nhỏ dần rồi tắt lịm tựa như tiếng vo ve mỏng manh của một con côn trùng bay khuất vào cõi tĩnh lặng; và Chuột Nước, tê liệt và trân trân nhìn chằm chằm, cuối cùng chỉ còn thấy một chấm nhỏ xíu đằng xa tít tắp trên bề mặt trắng xóa của con đường.
Tựa như một cỗ máy, Chuột Nước đứng dậy, bắt tay vào việc thu xếp lại chiếc giỏ đựng bữa trưa một cách cẩn thận và điềm nhiên. Vẫn với dáng vẻ vô hồn ấy, anh lê bước về nhà, gom góp vài món đồ thiết yếu lặt vặt cùng những vật báu bé nhỏ hằng nâng niu, rồi nhét tất cả vào chiếc túi xách đeo chéo. Anh hành động với sự thận trọng đến chậm chạp, lững thững bước quanh phòng hệt như một kẻ mộng du; đôi tai luôn dỏng lên nghe ngóng, đôi môi hé mở. Anh khoác chiếc túi qua vai, cẩn trọng chọn lấy một cây gậy thật chắc chắn cho chuyến hành trình. Chẳng chút vội vã, nhưng cũng chẳng mảy may chần chừ, anh sải bước qua ngưỡng cửa, vừa vặn đúng lúc Chuột Chũi ló dạng.
"Kìa, anh đang đi đâu đấy, Chuột Nước?" Chuột Chũi thốt lên trong sự kinh ngạc tột độ, bàn tay nắm chặt lấy cánh tay bạn mình.
"Đi về phương Nam, cùng với bao người khác," Chuột Nước thì thào bằng chất giọng đều đều, đầy mộng mị, ánh mắt chẳng hề đoái hoài đến bạn mình. "Ra biển trước, rồi lên tàu, và cứ thế tiến đến những bến bờ đang vẫy gọi tôi!"
Chuột Nước kiên quyết tiến về phía trước, vẫn chẳng hề vội vã, nhưng mang theo một mục đích cố định đến độ ngoan cố. Thế nhưng Chuột Chũi, lúc này đã hoàn toàn nhận ra mối nguy, liền sừng sững đứng chắn ngang đường. Cậu nhìn sâu vào đôi mắt bạn mình, bàng hoàng nhận ra chúng đang đờ đẫn, đanh lại và vằn vện những tia xám lạnh lẽo đầy biến ảo - đó nào phải đôi mắt thân thuộc của bạn cậu, mà là ánh nhìn của một sinh vật xa lạ nào đó! Bằng sức mạnh ngoan cường, Chuột Chũi vật lộn, lôi tuột bạn mình vào trong nhà, quật ngã anh xuống và ghì chặt lấy.
Chuột Nước vùng vẫy trong tuyệt vọng chừng vài khoảnh khắc, rồi sinh lực dường như đột ngột bị rút cạn. Anh nằm bất động và kiệt sức, đôi mắt nhắm nghiền, toàn thân run rẩy. Lát sau, Chuột Chũi đỡ bạn ngồi dậy và đặt vào ghế. Chuột Nước ngồi thu lu, rúm ró lọt thỏm, thân thể liên tục hứng chịu những cơn run bần bật dữ dội, để rồi chẳng bao lâu chuyển thành những tiếng khóc nấc khan đầy cuồng loạn. Chuột Chũi chốt chặt cửa, ném chiếc túi xách vào ngăn kéo rồi khóa lại. Cậu lặng lẽ ngồi xuống mép bàn bên cạnh bạn, kiên nhẫn chờ đợi cơn xúc động kỳ lạ kia nguôi ngoai. Dần dần, Chuột Nước thiếp đi trong một giấc ngủ ngắn trằn trọc, thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi những cái giật mình thảng thốt và những tiếng lầm bầm đứt quãng về những điều xa lạ, hoang dã và xa xôi tít tắp, vượt ngoài tầm hiểu biết nhỏ bé của Chuột Chũi. Và từ cõi ấy, anh dần chìm vào một giấc mộng say sưa.
Lòng nặng trĩu âu lo, Chuột Chũi đành để bạn nằm đó một lát và bắt tay dọn dẹp những việc vặt trong nhà. Trời đã sẩm tối khi cậu quay lại phòng khách. Chuột Nước vẫn nằm yên chỗ cũ, nay quả thực đã hoàn toàn tỉnh táo, nhưng lại mang một vẻ bơ phờ, lầm lì và rũ rượi. Chuột Chũi lén liếc nhanh vào mắt bạn, và thở phào mãn nguyện khi thấy chúng đã trong trẻo, sẫm màu và ánh lên sắc nâu bóng quen thuộc như xưa. Cậu khẽ khàng ngồi xuống, dốc lòng vỗ về, động viên mong giúp anh bạn nói ra những chuyện đã trải qua.
Chuột Nước đáng thương đã cố gắng hết sức, chắp vá từng chút một, để tỏ bày cặn kẽ mọi bề; nhưng làm sao có thể dùng những ngôn từ lạnh lẽo để lột tả trọn vẹn những gì vốn chỉ là mớ cảm xúc mơ hồ, vờn vờn như gợi ý? Làm sao để gọi về, chỉ để người khác tường tận, cái âm vọng đầy ám ảnh mà đại dương đã cất lên hát bên tai anh? Làm sao tái hiện lại qua những lời kể gián tiếp thứ ma lực từ hàng trăm ký ức của gã Kẻ Đi Biển kia? Ngay cả với chính bản thân anh lúc này, khi thứ bùa mê đã bị phá vỡ và ánh hào quang đã lụi tàn, anh cũng thấy thật khó lòng giải nghĩa được cái khao khát mà mới vài giờ trước thôi, dường như còn là một chân lý hiển nhiên và duy nhất trên đời. Thế nên, cũng chẳng lấy gì làm lạ khi anh hoàn toàn bất lực trong việc phác họa cho Chuột Chũi một bức tranh rõ ràng về những gì mình đã trải qua trong ngày hôm đó.
Nhưng đối với Chuột Chũi, chừng ấy đã là quá đủ sự tỏ tường. Cơn kích động hay sự hoảng loạn kia đã lùi xa, trả lại cho bạn cậu sự tỉnh táo ban đầu, dẫu cho anh vẫn còn đang run rẩy và suy sụp sau cú sốc. Tuy nhiên, Chuột Nước dường như đã đánh mất hoàn toàn hứng thú đối với những niềm vui dung dị tạo nên cuộc sống thường nhật, cũng như phai nhạt cả sự háo hức trước những dự định mẻ mẻ và nhịp sống đổi thay mà mùa mới đang chuyển mình ắt hẳn sẽ mang đến.
Thế là một cách thật tình cờ, với vẻ hờ hững bên ngoài, Chuột Chũi khéo léo chuyển hướng câu chuyện sang những vụ mùa đang kỳ thu hoạch. Cậu nhắc về những cỗ xe ngựa chất đầy cao ngất ngưởng cùng bầy súc vật kéo đang rướn mình căng sức; về những đống rơm khô ngày một vun cao, và vầng trăng khổng lồ đang lừng lững nhô lên trên những cánh đồng trải dài trơ trọi, điểm xuyết đây đó vài bó lúa nằm chỏng chơ. Cậu kể về những quả táo đang ửng đỏ khắp nẻo, về những quả hạch đang chuyển dần sang sắc nâu; râm ran về những món mứt, trái cây muối nén và việc chưng cất các loại rượu mùi ủ hương. Cứ thế, qua những bước chuyển mượt mà, êm ái, cậu dẫn dắt câu chuyện đi tới giữa mùa đông với những niềm vui dung dị mà chân thành bên nếp sống gia đình ấm cúng. Và rồi, cậu bỗng trở nên vô cùng say sưa, tuôn trào một niềm cảm hứng đầy chất thơ.
Từng chút, từng chút một, Chuột Nước bắt đầu ngồi thẳng lưng lên và hùa vào câu chuyện. Đôi mắt lờ đờ của anh sáng lên lấp lánh, trút bỏ đi phần nào cái dáng vẻ thất thần của một kẻ chỉ biết thụ động lắng nghe.
Chẳng mấy chốc, Chuột Chũi đầy tinh tế lẳng lặng lẻn đi. Khi quay lại, cậu mang theo một cây bút chì và vài mẩu giấy nhỏ, nhẹ nhàng đặt lên bàn, ngay cạnh khuỷu tay của bạn mình.
"Đã khá lâu rồi anh không làm thơ đấy," cậu khẽ nhận xét. "Anh có thể thử làm một vài câu vào tối nay, thay vì... ừm, cứ nghiền ngẫm vẩn vơ về mọi thứ quá nhiều. Tớ có cảm giác rằng anh sẽ thấy khuây khỏa hơn nhiều khi có thể tự tay ghi lại được một thứ gì đó - ngay cả khi đó chỉ là những vần điệu vẩn vơ."
Chuột Nước mệt mỏi đẩy mấy mẩu giấy ra xa, nhưng Chuột Chũi, với sự nhạy bén, đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội rút lui khỏi phòng. Và khi cậu ló đầu vào xem chừng sau đó một chốc, Chuột Nước đã hoàn toàn đắm chìm vào công việc, phớt lờ mọi thứ xung quanh; anh liên tục vẽ nguệch ngoạc rồi lại cắn cắn mút mút đầu cây bút chì. Dù sự thật là anh mút bút nhiều hơn hẳn so với viết lách, nhưng chừng ấy đã đủ thắp lên một niềm vui khôn tả đối với Chuột Chũi, bởi cậu biết rằng tiến trình chữa lành chí ít cũng đã thực sự bắt đầu.
-
Nguyên gốc là 'table d\'hôte', một thuật ngữ ngành nhà hàng khách sạn bắt nguồn từ tiếng Pháp, chỉ kiểu bữa ăn mà mọi vị khách ngồi chung một bàn lớn và ăn cùng một thực đơn cố định vào một giờ nhất định. Chi tiết này phản ánh văn hóa lưu trú tại các nhà trọ kiểu cũ ở châu Âu. ↩
-
Bản gốc dùng từ 'en pension' (tiếng Pháp), chỉ hình thức lưu trú dài hạn trả trọn gói chi phí cả phòng ở lẫn các bữa ăn tại khách sạn hoặc nhà trọ. ↩
-
Bản gốc viết hoa từ 'Stores', ám chỉ 'Army and Navy Stores' hoặc 'Civil Service Stores' - những chuỗi cửa hàng bách hóa hợp tác xã khổng lồ rất phổ biến ở Anh thời Edwardian. ↩
-
Nguyên gốc là 'the Downs' (South Downs), dãy đồi đá vôi (phấn trắng) thoai thoải nằm ở miền Nam nước Anh. Dãy đồi này tạo thành một ranh giới tự nhiên che khuất tầm nhìn ra eo biển Manche và biển khơi phía Nam. ↩
-
'Mountains of the Moon' là một dãy núi thần thoại ở trung tâm châu Phi mà những nhà địa lý thời cổ đại (như Ptolemy) cho là nơi khởi nguồn của sông Nile. Trong văn chương, cụm từ này mang ý nghĩa biểu tượng cho một nơi xa xôi, bí ẩn, đánh dấu ranh giới tận cùng của thế giới đã biết. ↩
-
Việc đeo khuyên tai vàng là một truyền thống lâu đời của giới thủy thủ đi biển châu Âu. Người ta tin rằng khuyên vàng có tác dụng cải thiện thị lực, hoặc thực tế hơn là để dùng làm chi phí lo hậu sự đàng hoàng nếu chẳng may họ nằm lại nơi xứ người hoặc thi thể dạt vào bờ. ↩
-
Tên gọi lịch sử của thành phố Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), từng là thủ đô huy hoàng của ba đế chế vĩ đại: La Mã, Byzantine và Ottoman. Nằm trọn trên eo biển Bosphorus nối liền châu Âu và châu Á, đây được xem là bến cảng giao thương huyền thoại sầm uất bậc nhất thế giới cổ đại. ↩
-
Tức Vua Sigurd I (Sigurd Jorsalfar hay 'Sigurd the Crusader', 1090-1130). Ông là vị vua châu Âu đầu tiên đích thân chỉ huy một cuộc Thập tự chinh. Trên đường về, ông đã ghé thăm Constantinople (được người Bắc Âu gọi là Miklagard - 'Thành phố vĩ đại') và để lại toàn bộ chiến thuyền của mình cho Hoàng đế Byzantine như một món quà. ↩
-
Ám chỉ Đội cận vệ Varangian (Varangian Guard) - lực lượng ngự lâm quân tinh nhuệ bảo vệ các Hoàng đế Byzantine, chủ yếu bao gồm những chiến binh người Viking vùng Bắc Âu mang dòng máu chiến binh khét tiếng dũng mãnh và trung thành. ↩
-
Thành phố nổi huyền thoại của nước Ý, được xây dựng trên một quần đảo gồm hơn 100 hòn đảo nhỏ nối với nhau bằng các cây cầu và hệ thống kênh đào thay vì đường bộ. ↩
-
Chiếc thuyền chèo truyền thống bằng gỗ, có hình dáng thon dài và mũi nhọn đính kim loại cong vút đặc trưng của Venice. Việc chèo thuyền gondola do một người lái (gondolier) đứng ở đuôi thuyền thực hiện bằng một mái chèo duy nhất. ↩
-
Một thị trấn ven biển đẹp như tranh vẽ nằm trên dải duyên hải Riviera thuộc vùng Liguria, Tây Bắc nước Ý, nổi tiếng với những bãi cát mịn màng và phố xá dốc đứng ngoằn ngoèo bám theo sườn đồi. ↩
-
Thành phố cảng lâu đời và lớn nhất nước Pháp nằm bên bờ Địa Trung Hải. Nơi đây quy tụ sự giao thoa văn hóa hàng hải sầm uất và nổi tiếng với những món hải sản tươi ngon, đặc biệt là món súp hải sản truyền thống Bouillabaisse. ↩
-
Bản gốc là 'straw-covered flask', ám chỉ chai rượu 'fiasco' (số nhiều là fiaschi) truyền thống của Ý, thường dùng để đựng rượu vang Chianti. Chai thủy tinh có đáy tròn và được bọc trong một lớp rơm bện để có thể đặt đứng vững trên bàn và chống va đập. ↩
-
'Eo biển' (the Channel) ở đây chỉ Eo biển Manche (English Channel) ngăn cách đảo Anh với lục địa châu Âu, một trong những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. ↩
IX. WAYFARERS ALL
The Water Rat was restless, and he did not exactly know why. To all appearance the summer’s pomp was still at fullest height, and although in the tilled acres green had given way to gold, though rowans were reddening, and the woods were dashed here and there with a tawny fierceness, yet light and warmth and colour were still present in undiminished measure, clean of any chilly premonitions of the passing year. But the constant chorus of the orchards and hedges had shrunk to a casual evensong from a few yet unwearied performers; the robin was beginning to assert himself once more; and there was a feeling in the air of change and departure. The cuckoo, of course, had long been silent; but many another feathered friend, for months a part of the familiar landscape and its small society, was missing too and it seemed that the ranks thinned steadily day by day. Rat, ever observant of all winged movement, saw that it was taking daily a southing tendency; and even as he lay in bed at night he thought he could make out, passing in the darkness overhead, the beat and quiver of impatient pinions, obedient to the peremptory call.
Nature’s Grand Hotel has its Season, like the others. As the guests one by one pack, pay, and depart, and the seats at the table-d’hôte shrink pitifully at each succeeding meal; as suites of rooms are closed, carpets taken up, and waiters sent away; those boarders who are staying on, en pension, until the next year’s full re-opening, cannot help being somewhat affected by all these flittings and farewells, this eager discussion of plans, routes, and fresh quarters, this daily shrinkage in the stream of comradeship. One gets unsettled, depressed, and inclined to be querulous. Why this craving for change? Why not stay on quietly here, like us, and be jolly? You don’t know this hotel out of the season, and what fun we have among ourselves, we fellows who remain and see the whole interesting year out. All very true, no doubt the others always reply; we quite envy you-and some other year perhaps-but just now we have engagements-and there’s the bus at the door-our time is up! So they depart, with a smile and a nod, and we miss them, and feel resentful. The Rat was a self-sufficing sort of animal, rooted to the land, and, whoever went, he stayed; still, he could not help noticing what was in the air, and feeling some of its influence in his bones.
It was difficult to settle down to anything seriously, with all this flitting going on. Leaving the water-side, where rushes stood thick and tall in a stream that was becoming sluggish and low, he wandered country-wards, crossed a field or two of pasturage already looking dusty and parched, and thrust into the great sea of wheat, yellow, wavy, and murmurous, full of quiet motion and small whisperings. Here he often loved to wander, through the forest of stiff strong stalks that carried their own golden sky away over his head-a sky that was always dancing, shimmering, softly talking; or swaying strongly to the passing wind and recovering itself with a toss and a merry laugh. Here, too, he had many small friends, a society complete in itself, leading full and busy lives, but always with a spare moment to gossip, and exchange news with a visitor. Today, however, though they were civil enough, the field-mice and harvest-mice seemed preoccupied. Many were digging and tunnelling busily; others, gathered together in small groups, examined plans and drawings of small flats, stated to be desirable and compact, and situated conveniently near the Stores. Some were hauling out dusty trunks and dress-baskets, others were already elbow-deep packing their belongings; while everywhere piles and bundles of wheat, oats, barley, beech-mast and nuts, lay about ready for transport.
“Here’s old Ratty!” they cried as soon as they saw him. “Come and bear a hand, Rat, and don’t stand about idle!”
“What sort of games are you up to?” said the Water Rat severely. “You know it isn’t time to be thinking of winter quarters yet, by a long way!”
“O yes, we know that,” explained a field-mouse rather shamefacedly; “but it’s always as well to be in good time, isn’t it? We really must get all the furniture and baggage and stores moved out of this before those horrid machines begin clicking round the fields; and then, you know, the best flats get picked up so quickly nowadays, and if you’re late you have to put up with anything; and they want such a lot of doing up, too, before they’re fit to move into. Of course, we’re early, we know that; but we’re only just making a start.”
“O, bother starts,” said the Rat. “It’s a splendid day. Come for a row, or a stroll along the hedges, or a picnic in the woods, or something.”
“Well, I think not to-day, thank you,” replied the field-mouse hurriedly. “Perhaps some other day-when we’ve more time--”
The Rat, with a snort of contempt, swung round to go, tripped over a hat-box, and fell, with undignified remarks.
“If people would be more careful,” said a field-mouse rather stiffly, “and look where they’re going, people wouldn’t hurt themselves-and forget themselves. Mind that hold-all, Rat! You’d better sit down somewhere. In an hour or two we may be more free to attend to you.”
“You won’t be ‘free’ as you call it much this side of Christmas, I can see that,” retorted the Rat grumpily, as he picked his way out of the field.
He returned somewhat despondently to his river again-his faithful, steady-going old river, which never packed up, flitted, or went into winter quarters.
In the osiers which fringed the bank he spied a swallow sitting. Presently it was joined by another, and then by a third; and the birds, fidgeting restlessly on their bough, talked together earnestly and low.
“What, already,” said the Rat, strolling up to them. “What’s the hurry? I call it simply ridiculous.”
“O, we’re not off yet, if that’s what you mean,” replied the first swallow. “We’re only making plans and arranging things. Talking it over, you know-what route we’re taking this year, and where we’ll stop, and so on. That’s half the fun!”
“Fun?” said the Rat; “now that’s just what I don’t understand. If you’ve got to leave this pleasant place, and your friends who will miss you, and your snug homes that you’ve just settled into, why, when the hour strikes I’ve no doubt you’ll go bravely, and face all the trouble and discomfort and change and newness, and make believe that you’re not very unhappy. But to want to talk about it, or even think about it, till you really need--”
“No, you don’t understand, naturally,” said the second swallow. “First, we feel it stirring within us, a sweet unrest; then back come the recollections one by one, like homing pigeons. They flutter through our dreams at night, they fly with us in our wheelings and circlings by day. We hunger to inquire of each other, to compare notes and assure ourselves that it was all really true, as one by one the scents and sounds and names of long-forgotten places come gradually back and beckon to us.”
“Couldn’t you stop on for just this year?” suggested the Water Rat, wistfully. “We’ll all do our best to make you feel at home. You’ve no idea what good times we have here, while you are far away.”
“I tried ‘stopping on’ one year,” said the third swallow. “I had grown so fond of the place that when the time came I hung back and let the others go on without me. For a few weeks it was all well enough, but afterwards, O the weary length of the nights! The shivering, sunless days! The air so clammy and chill, and not an insect in an acre of it! No, it was no good; my courage broke down, and one cold, stormy night I took wing, flying well inland on account of the strong easterly gales. It was snowing hard as I beat through the passes of the great mountains, and I had a stiff fight to win through; but never shall I forget the blissful feeling of the hot sun again on my back as I sped down to the lakes that lay so blue and placid below me, and the taste of my first fat insect! The past was like a bad dream; the future was all happy holiday as I moved southwards week by week, easily, lazily, lingering as long as I dared, but always heeding the call! No, I had had my warning; never again did I think of disobedience.”
“Ah, yes, the call of the South, of the South!” twittered the other two dreamily. “Its songs its hues, its radiant air! O, do you remember--” and, forgetting the Rat, they slid into passionate reminiscence, while he listened fascinated, and his heart burned within him. In himself, too, he knew that it was vibrating at last, that chord hitherto dormant and unsuspected. The mere chatter of these southern-bound birds, their pale and second-hand reports, had yet power to awaken this wild new sensation and thrill him through and through with it; what would one moment of the real thing work in him-one passionate touch of the real southern sun, one waft of the authentic odor? With closed eyes he dared to dream a moment in full abandonment, and when he looked again the river seemed steely and chill, the green fields grey and lightless. Then his loyal heart seemed to cry out on his weaker self for its treachery.
“Why do you ever come back, then, at all?” he demanded of the swallows jealously. “What do you find to attract you in this poor drab little country?”
“And do you think,” said the first swallow, “that the other call is not for us too, in its due season? The call of lush meadow-grass, wet orchards, warm, insect-haunted ponds, of browsing cattle, of haymaking, and all the farm-buildings clustering round the House of the perfect Eaves?”
“Do you suppose,” asked the second one, that you are the only living thing that craves with a hungry longing to hear the cuckoo’s note again?”
“In due time,” said the third, “we shall be home-sick once more for quiet water-lilies swaying on the surface of an English stream. But to-day all that seems pale and thin and very far away. Just now our blood dances to other music.”
They fell a-twittering among themselves once more, and this time their intoxicating babble was of violet seas, tawny sands, and lizard-haunted walls.
Restlessly the Rat wandered off once more, climbed the slope that rose gently from the north bank of the river, and lay looking out towards the great ring of Downs that barred his vision further southwards-his simple horizon hitherto, his Mountains of the Moon, his limit behind which lay nothing he had cared to see or to know. To-day, to him gazing South with a new-born need stirring in his heart, the clear sky over their long low outline seemed to pulsate with promise; to-day, the unseen was everything, the unknown the only real fact of life. On this side of the hills was now the real blank, on the other lay the crowded and coloured panorama that his inner eye was seeing so clearly. What seas lay beyond, green, leaping, and crested! What sun-bathed coasts, along which the white villas glittered against the olive woods! What quiet harbours, thronged with gallant shipping bound for purple islands of wine and spice, islands set low in languorous waters!
He rose and descended river-wards once more; then changed his mind and sought the side of the dusty lane. There, lying half-buried in the thick, cool under-hedge tangle that bordered it, he could muse on the metalled road and all the wondrous world that it led to; on all the wayfarers, too, that might have trodden it, and the fortunes and adventures they had gone to seek or found unseeking-out there, beyond-beyond!
Footsteps fell on his ear, and the figure of one that walked somewhat wearily came into view; and he saw that it was a Rat, and a very dusty one. The wayfarer, as he reached him, saluted with a gesture of courtesy that had something foreign about it-hesitated a moment-then with a pleasant smile turned from the track and sat down by his side in the cool herbage. He seemed tired, and the Rat let him rest unquestioned, understanding something of what was in his thoughts; knowing, too, the value all animals attach at times to mere silent companionship, when the weary muscles slacken and the mind marks time.
The wayfarer was lean and keen-featured, and somewhat bowed at the shoulders; his paws were thin and long, his eyes much wrinkled at the corners, and he wore small gold ear rings in his neatly-set well-shaped ears. His knitted jersey was of a faded blue, his breeches, patched and stained, were based on a blue foundation, and his small belongings that he carried were tied up in a blue cotton handkerchief.
When he had rested awhile the stranger sighed, snuffed the air, and looked about him.
“That was clover, that warm whiff on the breeze,” he remarked; “and those are cows we hear cropping the grass behind us and blowing softly between mouthfuls. There is a sound of distant reapers, and yonder rises a blue line of cottage smoke against the woodland. The river runs somewhere close by, for I hear the call of a moorhen, and I see by your build that you’re a freshwater mariner. Everything seems asleep, and yet going on all the time. It is a goodly life that you lead, friend; no doubt the best in the world, if only you are strong enough to lead it!”
“Yes, it’s the life, the only life, to live,” responded the Water Rat dreamily, and without his usual whole-hearted conviction.
“I did not say exactly that,” replied the stranger cautiously; “but no doubt it’s the best. I’ve tried it, and I know. And because I’ve just tried it-six months of it-and know it’s the best, here am I, footsore and hungry, tramping away from it, tramping southward, following the old call, back to the old life, the life which is mine and which will not let me go.”
“Is this, then, yet another of them?” mused the Rat. “And where have you just come from?” he asked. He hardly dared to ask where he was bound for; he seemed to know the answer only too well.
“Nice little farm,” replied the wayfarer, briefly. “Upalong in that direction”-he nodded northwards. “Never mind about it. I had everything I could want-everything I had any right to expect of life, and more; and here I am! Glad to be here all the same, though, glad to be here! So many miles further on the road, so many hours nearer to my heart’s desire!”
His shining eyes held fast to the horizon, and he seemed to be listening for some sound that was wanting from that inland acreage, vocal as it was with the cheerful music of pasturage and farmyard.
“You are not one of us,” said the Water Rat, “nor yet a farmer; nor even, I should judge, of this country.”
“Right,” replied the stranger. “I’m a seafaring rat, I am, and the port I originally hail from is Constantinople, though I’m a sort of a foreigner there too, in a manner of speaking. You will have heard of Constantinople, friend? A fair city, and an ancient and glorious one. And you may have heard, too, of Sigurd, King of Norway, and how he sailed thither with sixty ships, and how he and his men rode up through streets all canopied in their honour with purple and gold; and how the Emperor and Empress came down and banqueted with him on board his ship. When Sigurd returned home, many of his Northmen remained behind and entered the Emperor’s body-guard, and my ancestor, a Norwegian born, stayed behind too, with the ships that Sigurd gave the Emperor. Seafarers we have ever been, and no wonder; as for me, the city of my birth is no more my home than any pleasant port between there and the London River. I know them all, and they know me. Set me down on any of their quays or foreshores, and I am home again.”
“I suppose you go great voyages,” said the Water Rat with growing interest. “Months and months out of sight of land, and provisions running short, and allowanced as to water, and your mind communing with the mighty ocean, and all that sort of thing?”
“By no means,” said the Sea Rat frankly. “Such a life as you describe would not suit me at all. I’m in the coasting trade, and rarely out of sight of land. It’s the jolly times on shore that appeal to me, as much as any seafaring. O, those southern seaports! The smell of them, the riding-lights at night, the glamour!”
“Well, perhaps you have chosen the better way,” said the Water Rat, but rather doubtfully. “Tell me something of your coasting, then, if you have a mind to, and what sort of harvest an animal of spirit might hope to bring home from it to warm his latter days with gallant memories by the fireside; for my life, I confess to you, feels to me to-day somewhat narrow and circumscribed.”
“My last voyage,” began the Sea Rat, “that landed me eventually in this country, bound with high hopes for my inland farm, will serve as a good example of any of them, and, indeed, as an epitome of my highly-coloured life. Family troubles, as usual, began it. The domestic storm-cone was hoisted, and I shipped myself on board a small trading vessel bound from Constantinople, by classic seas whose every wave throbs with a deathless memory, to the Grecian Islands and the Levant. Those were golden days and balmy nights! In and out of harbour all the time-old friends everywhere-sleeping in some cool temple or ruined cistern during the heat of the day-feasting and song after sundown, under great stars set in a velvet sky! Thence we turned and coasted up the Adriatic, its shores swimming in an atmosphere of amber, rose, and aquamarine; we lay in wide land-locked harbours, we roamed through ancient and noble cities, until at last one morning, as the sun rose royally behind us, we rode into Venice down a path of gold. O, Venice is a fine city, wherein a rat can wander at his ease and take his pleasure! Or, when weary of wandering, can sit at the edge of the Grand Canal at night, feasting with his friends, when the air is full of music and the sky full of stars, and the lights flash and shimmer on the polished steel prows of the swaying gondolas, packed so that you could walk across the canal on them from side to side! And then the food-do you like shellfish? Well, well, we won’t linger over that now.”
He was silent for a time; and the Water Rat, silent too and enthralled, floated on dream-canals and heard a phantom song pealing high between vaporous grey wave-lapped walls.
“Southwards we sailed again at last,” continued the Sea Rat, “coasting down the Italian shore, till finally we made Palermo, and there I quitted for a long, happy spell on shore. I never stick too long to one ship; one gets narrow-minded and prejudiced. Besides, Sicily is one of my happy hunting-grounds. I know everybody there, and their ways just suit me. I spent many jolly weeks in the island, staying with friends up country. When I grew restless again I took advantage of a ship that was trading to Sardinia and Corsica; and very glad I was to feel the fresh breeze and the sea-spray in my face once more.”
“But isn’t it very hot and stuffy, down in the-hold, I think you call it?” asked the Water Rat.
The seafarer looked at him with the suspicion of a wink. “I’m an old hand,” he remarked with much simplicity. “The captain’s cabin’s good enough for me.”
“It’s a hard life, by all accounts,” murmured the Rat, sunk in deep thought.
“For the crew it is,” replied the seafarer gravely, again with the ghost of a wink.
“From Corsica,” he went on, “I made use of a ship that was taking wine to the mainland. We made Alassio in the evening, lay to, hauled up our wine-casks, and hove them overboard, tied one to the other by a long line. Then the crew took to the boats and rowed shorewards, singing as they went, and drawing after them the long bobbing procession of casks, like a mile of porpoises. On the sands they had horses waiting, which dragged the casks up the steep street of the little town with a fine rush and clatter and scramble. When the last cask was in, we went and refreshed and rested, and sat late into the night, drinking with our friends, and next morning I took to the great olive-woods for a spell and a rest. For now I had done with islands for the time, and ports and shipping were plentiful; so I led a lazy life among the peasants, lying and watching them work, or stretched high on the hillside with the blue Mediterranean far below me. And so at length, by easy stages, and partly on foot, partly by sea, to Marseilles, and the meeting of old shipmates, and the visiting of great ocean-bound vessels, and feasting once more. Talk of shell-fish! Why, sometimes I dream of the shell-fish of Marseilles, and wake up crying!”
“That reminds me,” said the polite Water Rat; “you happened to mention that you were hungry, and I ought to have spoken earlier. Of course, you will stop and take your midday meal with me? My hole is close by; it is some time past noon, and you are very welcome to whatever there is.”
“Now I call that kind and brotherly of you,” said the Sea Rat. “I was indeed hungry when I sat down, and ever since I inadvertently happened to mention shell-fish, my pangs have been extreme. But couldn’t you fetch it along out here? I am none too fond of going under hatches, unless I’m obliged to; and then, while we eat, I could tell you more concerning my voyages and the pleasant life I lead-at least, it is very pleasant to me, and by your attention I judge it commends itself to you; whereas if we go indoors it is a hundred to one that I shall presently fall asleep.”
“That is indeed an excellent suggestion,” said the Water Rat, and hurried off home. There he got out the luncheon-basket and packed a simple meal, in which, remembering the stranger’s origin and preferences, he took care to include a yard of long French bread, a sausage out of which the garlic sang, some cheese which lay down and cried, and a long-necked straw-covered flask wherein lay bottled sunshine shed and garnered on far Southern slopes. Thus laden, he returned with all speed, and blushed for pleasure at the old seaman’s commendations of his taste and judgment, as together they unpacked the basket and laid out the contents on the grass by the roadside.
The Sea Rat, as soon as his hunger was somewhat assuaged, continued the history of his latest voyage, conducting his simple hearer from port to port of Spain, landing him at Lisbon, Oporto, and Bordeaux, introducing him to the pleasant harbours of Cornwall and Devon, and so up the Channel to that final quayside, where, landing after winds long contrary, storm-driven and weather-beaten, he had caught the first magical hints and heraldings of another Spring, and, fired by these, had sped on a long tramp inland, hungry for the experiment of life on some quiet farmstead, very far from the weary beating of any sea.
Spell-bound and quivering with excitement, the Water Rat followed the Adventurer league by league, over stormy bays, through crowded roadsteads, across harbour bars on a racing tide, up winding rivers that hid their busy little towns round a sudden turn; and left him with a regretful sigh planted at his dull inland farm, about which he desired to hear nothing.
By this time their meal was over, and the Seafarer, refreshed and strengthened, his voice more vibrant, his eye lit with a brightness that seemed caught from some far-away sea-beacon, filled his glass with the red and glowing vintage of the South, and, leaning towards the Water Rat, compelled his gaze and held him, body and soul, while he talked. Those eyes were of the changing foam-streaked grey-green of leaping Northern seas; in the glass shone a hot ruby that seemed the very heart of the South, beating for him who had courage to respond to its pulsation. The twin lights, the shifting grey and the steadfast red, mastered the Water Rat and held him bound, fascinated, powerless. The quiet world outside their rays receded far away and ceased to be. And the talk, the wonderful talk flowed on-or was it speech entirely, or did it pass at times into song-chanty of the sailors weighing the dripping anchor, sonorous hum of the shrouds in a tearing North-Easter, ballad of the fisherman hauling his nets at sundown against an apricot sky, chords of guitar and mandoline from gondola or caique? Did it change into the cry of the wind, plaintive at first, angrily shrill as it freshened, rising to a tearing whistle, sinking to a musical trickle of air from the leech of the bellying sail? All these sounds the spell-bound listener seemed to hear, and with them the hungry complaint of the gulls and the sea-mews, the soft thunder of the breaking wave, the cry of the protesting shingle. Back into speech again it passed, and with beating heart he was following the adventures of a dozen seaports, the fights, the escapes, the rallies, the comradeships, the gallant undertakings; or he searched islands for treasure, fished in still lagoons and dozed day-long on warm white sand. Of deep-sea fishings he heard tell, and mighty silver gatherings of the mile-long net; of sudden perils, noise of breakers on a moonless night, or the tall bows of the great liner taking shape overhead through the fog; of the merry home-coming, the headland rounded, the harbour lights opened out; the groups seen dimly on the quay, the cheery hail, the splash of the hawser; the trudge up the steep little street towards the comforting glow of red-curtained windows.
Lastly, in his waking dream it seemed to him that the Adventurer had risen to his feet, but was still speaking, still holding him fast with his sea-grey eyes.
“And now,” he was softly saying, “I take to the road again, holding on southwestwards for many a long and dusty day; till at last I reach the little grey sea town I know so well, that clings along one steep side of the harbour. There through dark doorways you look down flights of stone steps, overhung by great pink tufts of valerian and ending in a patch of sparkling blue water. The little boats that lie tethered to the rings and stanchions of the old sea-wall are gaily painted as those I clambered in and out of in my own childhood; the salmon leap on the flood tide, schools of mackerel flash and play past quay-sides and foreshores, and by the windows the great vessels glide, night and day, up to their moorings or forth to the open sea. There, sooner or later, the ships of all seafaring nations arrive; and there, at its destined hour, the ship of my choice will let go its anchor. I shall take my time, I shall tarry and bide, till at last the right one lies waiting for me, warped out into midstream, loaded low, her bowsprit pointing down harbour. I shall slip on board, by boat or along hawser; and then one morning I shall wake to the song and tramp of the sailors, the clink of the capstan, and the rattle of the anchor-chain coming merrily in. We shall break out the jib and the foresail, the white houses on the harbour side will glide slowly past us as she gathers steering-way, and the voyage will have begun! As she forges towards the headland she will clothe herself with canvas; and then, once outside, the sounding slap of great green seas as she heels to the wind, pointing South!
“And you, you will come too, young brother; for the days pass, and never return, and the South still waits for you. Take the Adventure, heed the call, now ere the irrevocable moment passes! ’Tis but a banging of the door behind you, a blithesome step forward, and you are out of the old life and into the new! Then some day, some day long hence, jog home here if you will, when the cup has been drained and the play has been played, and sit down by your quiet river with a store of goodly memories for company. You can easily overtake me on the road, for you are young, and I am ageing and go softly. I will linger, and look back; and at last I will surely see you coming, eager and light-hearted, with all the South in your face!”
The voice died away and ceased as an insect’s tiny trumpet dwindles swiftly into silence; and the Water Rat, paralysed and staring, saw at last but a distant speck on the white surface of the road.
Mechanically he rose and proceeded to repack the luncheon-basket, carefully and without haste. Mechanically he returned home, gathered together a few small necessaries and special treasures he was fond of, and put them in a satchel; acting with slow deliberation, moving about the room like a sleep-walker; listening ever with parted lips. He swung the satchel over his shoulder, carefully selected a stout stick for his wayfaring, and with no haste, but with no hesitation at all, he stepped across the threshold just as the Mole appeared at the door.
“Why, where are you off to, Ratty?” asked the Mole in great surprise, grasping him by the arm.
“Going South, with the rest of them,” murmured the Rat in a dreamy monotone, never looking at him. “Seawards first and then on shipboard, and so to the shores that are calling me!”
He pressed resolutely forward, still without haste, but with dogged fixity of purpose; but the Mole, now thoroughly alarmed, placed himself in front of him, and looking into his eyes saw that they were glazed and set and turned a streaked and shifting grey-not his friend’s eyes, but the eyes of some other animal! Grappling with him strongly he dragged him inside, threw him down, and held him.
The Rat struggled desperately for a few moments, and then his strength seemed suddenly to leave him, and he lay still and exhausted, with closed eyes, trembling. Presently the Mole assisted him to rise and placed him in a chair, where he sat collapsed and shrunken into himself, his body shaken by a violent shivering, passing in time into an hysterical fit of dry sobbing. Mole made the door fast, threw the satchel into a drawer and locked it, and sat down quietly on the table by his friend, waiting for the strange seizure to pass. Gradually the Rat sank into a troubled doze, broken by starts and confused murmurings of things strange and wild and foreign to the unenlightened Mole; and from that he passed into a deep slumber.
Very anxious in mind, the Mole left him for a time and busied himself with household matters; and it was getting dark when he returned to the parlour and found the Rat where he had left him, wide awake indeed, but listless, silent, and dejected. He took one hasty glance at his eyes; found them, to his great gratification, clear and dark and brown again as before; and then sat down and tried to cheer him up and help him to relate what had happened to him.
Poor Ratty did his best, by degrees, to explain things; but how could he put into cold words what had mostly been suggestion? How recall, for another’s benefit, the haunting sea voices that had sung to him, how reproduce at second-hand the magic of the Seafarer’s hundred reminiscences? Even to himself, now the spell was broken and the glamour gone, he found it difficult to account for what had seemed, some hours ago, the inevitable and only thing. It is not surprising, then, that he failed to convey to the Mole any clear idea of what he had been through that day.
To the Mole this much was plain: the fit, or attack, had passed away, and had left him sane again, though shaken and cast down by the reaction. But he seemed to have lost all interest for the time in the things that went to make up his daily life, as well as in all pleasant forecastings of the altered days and doings that the changing season was surely bringing.
Casually, then, and with seeming indifference, the Mole turned his talk to the harvest that was being gathered in, the towering wagons and their straining teams, the growing ricks, and the large moon rising over bare acres dotted with sheaves. He talked of the reddening apples around, of the browning nuts, of jams and preserves and the distilling of cordials; till by easy stages such as these he reached midwinter, its hearty joys and its snug home life, and then he became simply lyrical.
By degrees the Rat began to sit up and to join in. His dull eye brightened, and he lost some of his listening air.
Presently the tactful Mole slipped away and returned with a pencil and a few half-sheets of paper, which he placed on the table at his friend’s elbow.
“It’s quite a long time since you did any poetry,” he remarked. “You might have a try at it this evening, instead of-well, brooding over things so much. I’ve an idea that you’ll feel a lot better when you’ve got something jotted down-if it’s only just the rhymes.”
The Rat pushed the paper away from him wearily, but the discreet Mole took occasion to leave the room, and when he peeped in again some time later, the Rat was absorbed and deaf to the world; alternately scribbling and sucking the top of his pencil. It is true that he sucked a good deal more than he scribbled; but it was joy to the Mole to know that the cure had at least begun.