CHƯƠNG VI: QUÝ ÔNG CÓC.
Đó là một buổi sáng đầu hè rực rỡ; dòng sông đã trở về với đôi bờ êm đềm và nhịp chảy hiền hòa quen thuộc. Mặt trời chói lọi dường như đang thả những sợi ánh sáng vô hình, kiên nhẫn kéo muôn vàn mầm xanh, khóm lá rậm rạp và những cành gai góc từ dưới lòng đất tối tăm vươn mình trỗi dậy. Chuột Chũi và Chuột Nước đã thức giấc từ lúc tinh mơ, tất bật xoay trần với đủ thứ việc lặt vặt để chuẩn bị cho mùa chèo thuyền sắp sửa bắt đầu. Nào là sơn phết, đánh bóng, nào là nắn lại những chiếc mái chèo, vá víu lại nệm êm, rồi đi bới tìm mấy chiếc móc thuyền bị quăng lăn lóc ở xó xỉnh nào đó; và họ vừa dùng xong bữa điểm tâm trong gian phòng khách nhỏ, đang rôm rả bàn tính những dự định tuyệt vời cho ngày hôm nay, thì bỗng nhiên, một tiếng gõ cửa ầm ầm vang dội.
"Phiền phức thật!" Chuột Nước làu bàu, người ngợm anh lúc này vẫn còn dính lem nhem vệt trứng. "Chịu khó ra xem ai đấy đi, Chuột Chũi. Cậu quả là một người bạn tuyệt vời mà. Dù sao thì cậu cũng đã ăn xong rồi."
Chuột Chũi bước ra mở cửa. Chuột Nước nghe thấy cậu thốt lên một tiếng kêu đầy kinh ngạc. Sau đó, Chuột Chũi vội vã mở toang cánh cửa phòng khách, dõng dạc xướng lên: "Bác Lửng!"
Quả là một sự kiện hy hữu, khi bác Lửng lại cất công đích thân đến thăm họ, hay thăm bất kỳ ai. Thường thì, nếu có việc gì cần bác gấp gáp, người ta phải chộp lấy bác lúc bác đang lặng lẽ rảo bước men theo bờ giậu vào lúc bình minh ló rạng hay khi màn đêm buông xuống, bằng không thì phải lặn lội lùng sục ngay tại chính hang ổ của bác giữa Rừng Hoang, mà đó lại là một công việc vất vả vô chừng.
Bác Lửng lê những bước chân nặng nề bước vào phòng, đứng lặng lẽ nhìn hai con vật bằng vẻ mặt nghiêm nghị lạ thường. Chuột Nước đánh rơi luôn chiếc thìa đang múc dở xuống khăn trải bàn, ngồi đực mặt ra, há hốc miệng.
"Đã đến giờ rồi!" bác Lửng cất giọng vô cùng trang nghiêm.
"Giờ gì cơ ạ?" Chuột Nước ái ngại cất tiếng hỏi, đưa mắt liếc nhìn chiếc đồng hồ đặt trên bệ lò sưởi.
"Giờ của ai thì đúng hơn," bác Lửng đáp lời. "Còn của ai nữa, giờ của Cóc! Giờ của Cóc! Bác đã hứa sẽ đích thân chấn chỉnh cậu ta ngay khi mùa đông vừa chấm dứt, và bác sẽ bắt tay chấn chỉnh ngay ngày hôm nay!"
"Đúng là giờ của Cóc rồi!" Chuột Chũi reo lên đầy sung sướng. "Hoan hô! Cháu nhớ ra rồi! Chúng ta sẽ dạy cho anh ta biết thế nào là một con Cóc biết điều!"
"Ngay sáng hôm nay," bác Lửng tiếp lời, đoạn từ tốn ngồi xuống một chiếc ghế bành. "Tối qua, bác nhận được tin báo đáng tin cậy rằng một chiếc ô tô mới toanh cực kỳ mạnh mẽ sẽ được giao đến dinh thự Cóc để cậu ta lái thử hoặc đem trả lại. Có lẽ ngay giây phút này đây, Cóc đang lăng xăng khoác lên mình những bộ phục trang gớm ghiếc, kỳ dị mà cậu ta vô cùng đắm đuối. Mấy thứ kỳ quái ấy đã biến cậu ta từ một gã Cóc (cũng tươm tất) thành một Sinh Vật lố lăng, làm cho bất kỳ con vật đứng đắn nào lỡ chạm mặt cũng phải lên cơn kinh phong kịch liệt. Chúng ta phải vùng dậy và hành động ngay lập tức, trước khi mọi sự trở nên quá muộn. Hai cháu hãy đi cùng bác đến dinh thự Cóc ngay bây giờ, công cuộc giải cứu này bắt buộc phải được tiến hành."
"Bác nói quá chí lý!" Chuột Nước reo to, đứng phắt dậy. "Chúng ta sẽ cứu rỗi con vật tội nghiệp và bất hạnh đó! Chúng ta sẽ cải tạo cậu ta! Cậu ta sẽ trở thành con Cóc được lột xác triệt để nhất từ trước đến nay, sau khi chúng ta giải quyết xong xuôi mọi chuyện!"
Thế là họ cùng nhau lên đường thực hiện nghĩa cử cao đẹp của mình, với bác Lửng hùng dũng đi đầu. Loài vật khi đi cùng nhau thường đi đứng rất mực thước và biết điều, do vậy suốt dọc đường, ba con vật rảo bước với dáng vẻ cực kỳ mực thước và nghiêm trang, xếp thành hàng một tăm tắp, thay vì đi dàn hàng ngang chễm chệ choáng hết cả đường đi, cách đi đó chẳng mảy may giúp ích hay hỗ trợ gì được cho nhau nếu lỡ gặp phải rắc rối hay hiểm nguy bất trắc.
Khi vừa đến lối vào dinh thự Cóc, họ bắt gặp ngay một cảnh tượng đúng như bác Lửng đã tiên liệu: một chiếc ô tô mới cáu cạnh, bóng loáng, to lớn kềnh càng, khoác trên mình lớp sơn đỏ chót rực rỡ (màu sắc mà Cóc cực kỳ say mê) đang đậu chễm chệ trước cổng nhà. Ngay lúc họ bước đến gần cửa, cánh cửa bật mở tung. Cóc, xúng xính trong bộ cánh lỉnh kỉnh gồm kính bảo hộ, mũ lưỡi trai, ghệt chân cùng chiếc áo khoác thùng thình1, nghênh ngang bước xuống bậc thềm, vừa đi vừa lúi húi xỏ tay vào đôi găng tay dài sọc.
"Chào! Lại đây nào, các cậu!" Cóc vui vẻ hét lớn khi vừa bắt gặp nhóm bạn. "Các cậu đến vừa kịp lúc để cùng tớ đi làm một chuyến vui vẻ-đi một chuyến dạo chơi-đi một-ờ-chuyến dạo chơi--"
Giọng nói hồ hởi, rộn rã của cậu bỗng chốc ngập ngừng rồi lịm dần đi khi bắt gặp ánh nhìn sắc lạnh, nghiêm nghị của những người bạn đang đứng im phăng phắc. Lời mời mọc hào hứng của cậu đành phải bỏ lửng giữa chừng.
Bác Lửng sải những bước dài tiến lên bậc thềm. "Lôi cậu ta vào trong," bác trầm giọng ra lệnh cho hai người bạn đồng hành. Khi Cóc đã bị lôi xệch qua cửa, dù cho cậu ta có vùng vằng và cự nự đến mấy, bác liền quay sang gã tài xế phụ trách chiếc xe ô tô mới.
"Tôi e rằng hôm nay anh không có việc gì làm ở đây đâu," bác lạnh lùng tuyên bố. "Cóc đã thay đổi ý định rồi. Cậu ta sẽ không cần dùng đến chiếc xe này nữa. Xin anh hãy hiểu cho, đây là quyết định cuối cùng. Anh không cần phải nán lại chờ đợi làm gì cả." Nói xong, bác cất bước theo những người khác vào trong nhà và đóng sầm cánh cửa lại.
"Bây giờ thì!" bác gằn giọng với Cóc, khi cả bốn con vật đang đứng túm tụm giữa sảnh chính, "trước tiên, hãy lột ngay mấy thứ lố lăng kia ra khỏi người ngay!"
"Đừng có hòng!" Cóc kiêu hãnh gân cổ cãi lại. "Sự xúc phạm thô bạo này có nghĩa lý gì chứ? Cháu yêu cầu một lời giải thích ngay lập tức."
"Thế thì hai cháu lột chúng ra giúp cậu ta," bác Lửng buông lời gọn lỏn.
Chuột Nước và Chuột Chũi đành phải vật ngửa Cóc ra sàn, cậu ta thì cứ thế giãy giụa đạp chân đạp cẳng tung tóe, miệng không ngớt buông lời chửi rủa ầm ĩ. Mãi một lúc sau họ mới có thể bắt tay vào việc một cách đàng hoàng. Chuột Nước ngồi đè lên người cậu ta, còn Chuột Chũi thì hì hục lột từng lớp một bộ đồ lái xe ô tô lố bịch ra, rồi cả hai mới xốc cậu ta đứng thẳng dậy. Có vẻ như phần lớn nhuệ khí hùng hổ của cậu đã bốc hơi sạch sành sanh cùng với bộ áo giáp lộng lẫy kia bị vứt bỏ. Giờ đây khi chỉ còn là một con Cóc đơn thuần, chẳng còn là Nỗi Kinh Hoàng Của Xa Lộ2 nữa, cậu chỉ biết cười rúc rích một cách yếu ớt, ánh mắt van lơn đưa đẩy nhìn từ người này sang người khác, dường như cậu đã thấu hiểu hoàn toàn hoàn cảnh hiện tại của mình.
"Cháu thừa biết sớm muộn gì chuyện này cũng sẽ xảy đến mà, Cóc," bác Lửng nghiêm khắc phân trần.
"Cháu đã phớt lờ tất cả những lời cảnh báo chân thành từ chúng ta, cháu vẫn chứng nào tật nấy, vung tay quá trán phung phí sạch sành sanh số tài sản mà cha cháu để lại. Hơn thế nữa, cháu đang tự bôi tro trát trấu vào mặt tất cả các con vật trong vùng này bằng cái thói lái xe điên rồ, những vụ đâm đụng tơi bời và cả những lần cãi vã ỏm tỏi với cảnh sát. Sống độc lập thì tốt đấy, nhưng những con vật chúng ta sẽ không bao giờ đứng nhìn bạn bè mình tự biến bản thân thành những kẻ ngốc nghếch vượt quá ranh giới cho phép; và cháu thì đã chạm đến ngưỡng ranh giới đó rồi. Bỏ qua mọi chuyện thì, xét trên nhiều khía cạnh cháu vẫn là một con vật tử tế, và bác không hề muốn đối xử quá đáng với cháu. Bác sẽ cố gắng thêm một lần này nữa để đánh thức lý trí trong cháu. Cháu hãy đi cùng bác vào phòng hút thuốc3, và trong đó cháu sẽ được nghe đôi điều chân thật về chính bản thân mình; để rồi chúng ta cùng xem, liệu khi bước ra khỏi căn phòng đó, cháu có còn là con Cóc của lúc mới bước vào hay không."
Bác túm chặt lấy cánh tay Cóc, dẫn cậu ta bước vào phòng hút thuốc và khép chặt cửa lại.
"Thế thì ăn thua gì!" Chuột Nước khinh khỉnh thốt lên. "Nói chuyện với Cóc chẳng bao giờ chữa dứt được cái bệnh nan y của cậu ta đâu. Cậu ta sẽ nói bất cứ điều gì để chối tội."
Hai con vật chọn lấy những tư thế thoải mái nhất trên những chiếc ghế bành bọc nhung và kiên nhẫn ngồi đợi. Xuyên qua cánh cửa đóng kín mít, họ chỉ nghe lõm bõm giọng nói trầm đục, đều đều kéo dài của bác Lửng, lúc bổng lúc trầm hệt như những đợt sóng diễn thuyết cuộn trào. Một lát sau, họ lờ mờ nhận ra bài thuyết giáo bắt đầu bị ngắt quãng bởi những tiếng nức nở nấc lên từng hồi, dài thườn thượt, rõ ràng là đang phát ra từ lồng ngực của Cóc, vốn là một con vật có trái tim mềm yếu và rất dạt dào tình cảm, luôn luôn dễ bị lung lay-dẫu chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi-bởi bất kỳ quan điểm nào.
Khoảng ba phần tư giờ đồng hồ trôi qua, cánh cửa xịch mở, và bác Lửng lại hiện ra, trang nghiêm dắt tay một con Cóc đang rũ rượi và sầu thảm. Da dẻ cậu ta nhão nhoét, rũ xuống quanh người, đôi chân thì lảo đảo bước đi không vững, hai gò má thì hằn sâu những nếp nhăn bởi những dòng nước mắt thi nhau tuôn rơi xối xả sau bài thuyết trình đầy xúc động của bác Lửng.
"Ngồi xuống đó đi, Cóc," bác Lửng cất giọng ôn tồn, tay chỉ vào một chiếc ghế. "Các cháu," bác quay sang nói tiếp, "bác vô cùng vui mừng thông báo với các cháu rằng cuối cùng Cóc đã nhận ra những lầm lỗi trong cách sống bấy lâu nay của mình. Cậu ấy đang thực sự ăn năn hối lỗi vì những hành vi sai trái trong quá khứ, và cậu ấy đã cam kết sẽ từ bỏ hoàn toàn, vĩnh viễn những chiếc xe ô tô kia. Bác đã có được lời hứa danh dự của cậu ấy về vấn đề này."
"Quả là một tin tức tốt lành," Chuột Chũi nói với vẻ nghiêm trang.
"Đúng là một tin tức tốt lành," Chuột Nước chêm vào, giọng đầy vẻ hoài nghi, "giá như-giá như--"
Anh nhìn Cóc chằm chằm khi nói ra những lời này, và tự nhủ rằng dường như mình vừa bắt gặp một tia sáng lấp lánh lạ thường xẹt qua trong đôi mắt vẫn còn ngân ngấn nước của con vật ấy.
"Chỉ còn một việc nhỏ nữa cần phải làm," bác Lửng mãn nguyện tiếp lời. "Cóc, bác muốn cháu trịnh trọng nhắc lại, trước mặt những người bạn của cháu đang hiện diện ở đây, những gì cháu đã hoàn toàn thừa nhận với bác trong phòng hút thuốc lúc nãy. Thứ nhất, cháu có hối hận về những gì mình đã làm, và cháu có nhận thấy được sự ngu ngốc tột cùng của tất cả những việc đó không?"
Một bầu không khí im lặng kéo dài, rất đỗi nặng nề. Cóc đưa ánh mắt tuyệt vọng nhìn quanh quất, trong khi những con vật khác vẫn đang chờ đợi trong một sự im lặng trang nghiêm. Cuối cùng cậu cũng chịu mở lời.
"Không!" cậu thốt lên, giọng nghe hơi ủ rũ nhưng lại vô cùng kiên quyết; "Cháu không hối hận. Và những chuyện đó hoàn toàn không phải là sự ngu ngốc! Nó đơn giản là một sự huy hoàng tột đỉnh!"
"Cái gì cơ?" bác Lửng kinh ngạc kêu lên, sững sờ tột độ. "Đồ con vật bội ước, không phải vừa nãy cháu đã hứa với bác, ở ngay trong đó sao--"
"Ồ, có, có chứ, ở trong đó," Cóc sốt ruột ngắt lời. "Cháu sẽ nói bất cứ thứ gì ở trong đó. Bác quá đỗi hùng hồn, bác Lửng thân mến ạ, quá cảm động, quá mức thuyết phục, và phô diễn mọi quan điểm của mình quá ư là sắc sảo-bác có thể nhào nặn cháu theo bất cứ cách nào bác muốn ở trong đó, và bác thừa biết điều đó mà. Nhưng kể từ khoảnh khắc bước ra ngoài, cháu đã vắt óc suy nghĩ, và kiểm duyệt lại mọi thứ trong đầu, và cháu nhận ra rằng bản thân mình thực sự không hề hối hận hay ăn năn lấy một chút nào, vì vậy có cố nói là mình hối hận thì cũng chẳng ích lợi gì; có đúng không nào?"
"Vậy là cháu không hứa," bác Lửng gầm lên, "không bao giờ đụng đến chiếc ô tô nào nữa sao?"
"Chắc chắn là không bao giờ!" Cóc dứt khoát đáp trả. "Trái lại, cháu thành tâm thề nguyện rằng với chiếc xe ô tô đầu tiên mà cháu nhìn thấy, píp-píp4! cháu sẽ phi lên đó ngay tắp lự!"
"Tôi đã bảo anh rồi, đúng không?" Chuột Nước huých tay nhận xét với Chuột Chũi.
"Rất tốt," bác Lửng kiên quyết tuyên bố, đứng bật dậy. "Vì cháu không chịu khuất phục trước lẽ phải, chúng ta đành phải thử xem bạo lực có thể giải quyết được gì. Bác đã e sợ rằng mọi chuyện sẽ đi đến bước đường này ngay từ đầu rồi. Cháu thường hay mời ba chúng ta đến tá túc cùng cháu, Cóc à, ngay trong cái dinh thự khang trang này của cháu; thôi được, bây giờ chúng ta sẽ làm đúng như vậy. Chỉ khi nào chúng ta cải tạo được cháu trở lại theo một quỹ đạo đúng đắn, chúng ta mới cất bước rời đi, còn trước đó thì đừng hòng. Hai cháu hãy lôi cậu ta lên lầu, và nhốt chặt cậu ta trong phòng ngủ, trong khi chúng ta dàn xếp công việc với nhau."
"Tất cả cũng chỉ vì lợi ích của chính cậu thôi, Cóc thân mến à, cậu biết đấy," Chuột Nước nhẹ nhàng khuyên nhủ, mặc cho Cóc đang quẫy đạp tưng bừng, bị hai người bạn trung thành lôi xềnh xệch lên cầu thang. "Hãy thử tưởng tượng xem tất cả chúng ta sẽ lại có những tháng ngày vui vẻ bên nhau như thế nào, giống hệt như chúng ta đã từng, khi cậu hoàn toàn đánh bại được-căn bệnh trầm kha này của cậu!"
"Chúng tôi sẽ chăm nom mọi thứ cho anh thật chu đáo cho đến khi anh hoàn toàn bình phục, Cóc à," Chuột Chũi an ủi; "và chúng tôi sẽ đảm bảo tiền bạc của anh không bị vung vãi vô ích, như đã từng."
"Sẽ không còn những rắc rối đáng tiếc nào dính líu đến cảnh sát nữa đâu, Cóc," Chuột Nước nói vọng vào, khi họ vừa tống cổ cậu vào phòng ngủ.
"Và cũng chẳng còn những tuần lễ nằm bẹp dí trong bệnh viện, bị sai bảo bởi những cô y tá nữa, Cóc ạ," Chuột Chũi đế thêm, tiện tay vặn chốt khóa nhốt chặt anh ta lại.
Họ bước xuống cầu thang, bỏ mặc Cóc đang không ngớt văng tục chửi bới họ qua lỗ khóa; và rồi ba người bạn cùng nhau mở một cuộc họp bàn khẩn cấp về tình hình hiện tại.
"Quả là một công việc gian nan đây," bác Lửng thở dài thườn thượt vừa nói. "Bác chưa bao giờ thấy Cóc lại ngoan cố đến mức này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ theo đuổi đến cùng. Tuyệt đối không bao giờ được để cậu ta một giây phút nào mà không có người giám sát. Chúng ta sẽ phải luân phiên nhau túc trực bên cậu ta, cho đến khi nào thứ chất độc quái ác kia bị đào thải sạch sẽ ra khỏi cơ thể."
Họ liền lên lịch phân chia ca gác cho phù hợp. Mỗi con vật sẽ lần lượt thay phiên nhau ngủ lại trong phòng của Cóc vào ban đêm, và họ cũng chia đều khoảng thời gian túc trực trong ngày. Khoảng thời gian đầu, Cóc quả thực là một thách thức khổng lồ đối với những người bảo vệ đầy tâm huyết của mình. Cứ mỗi khi những cơn cuồng loạn ập đến chiếm lấy tâm trí, cậu sẽ hì hục xếp những chiếc ghế trong phòng ngủ lại thành hình hài thô kệch của một chiếc xe hơi rồi ngồi xổm chễm chệ trên chiếc ghế hàng đầu, vươn người về phía trước và trừng trừng nhìn đăm đăm về phía xa, miệng liên tục phát ra những tiếng động ồn ào kỳ quái và rợn người. Cho đến khi đạt tới đỉnh điểm, cậu sẽ nhào lộn nguyên một vòng trọn vẹn, rồi nằm sõng soài giữa đống ghế gãy đổ la liệt, vẻ mặt vô cùng mãn nguyện dẫu chỉ trong chốc lát. Tuy nhiên, thời gian cứ thế trôi đi, những cơn co giật đau đớn này dần dà trở nên thưa thớt hơn, và những người bạn chí cốt của cậu đã nỗ lực hết mình để chuyển hướng tâm trí của cậu sang những thú vui mới. Nhưng dường như sự hứng thú của cậu đối với những điều khác đã lụi tàn, không thể nào nhen nhóm lại được, và cậu trở nên uể oải, chán chường ra mặt.
Một buổi sáng đẹp trời, Chuột Nước - người đến phiên túc trực - đi lên lầu để thay ca cho bác Lửng. Anh thấy bác Lửng đang bồn chồn, có vẻ chỉ chực chờ đi dạo một vòng quanh khu rừng nhà mình, lân la dọc theo những cái hang ổ thân thuộc. "Cóc vẫn còn ẹp trên giường," bác thì thầm với Chuột Nước ngay ngoài cửa. "Chẳng cạy được thêm lời nào từ cậu ta, ngoại trừ: 'Ồ, hãy để tớ yên, tớ chẳng cần gì đâu, có lẽ một lát nữa tớ sẽ khá hơn, rồi thời gian sẽ chữa lành tất cả, cậu đừng quá bận tâm,' và những lời sướt mướt đại loại thế. Bây giờ, cháu hãy coi chừng nhé, Chuột Nước! Khi Cóc trở nên im lặng, ngoan ngoãn phục tùng và sắm vai một đứa bé ngoan hiền trong trường học Chủ Nhật5, thì đó chính là lúc cậu ta xảo quyệt nhất. Chắc chắn đang ủ mưu chuyện gì đây. Bác đi guốc trong bụng cậu ta mà. Thôi, giờ bác phải đi đây."
"Hôm nay cậu thế nào rồi, anh bạn già?" Chuột Nước vui vẻ cất tiếng hỏi khi bước đến gần giường của Cóc.
Anh phải đợi vài phút mới có lời đáp. Cuối cùng, một giọng nói yếu ớt, thều thào vang lên: "Cảm ơn cậu rất nhiều, Chuột Nước thân mến! Cậu thật tốt khi đã lo lắng cho tớ! Nhưng trước tiên hãy nói cho tớ biết cậu dạo này thế nào, và cả Chuột Chũi tuyệt vời nữa chứ?"
"Ồ, chúng tôi vẫn ổn cả," Chuột Nước đáp lời. "Chuột Chũi," anh lỡ lời nói thêm một cách thiếu thận trọng, "đang chạy bộ một vòng ngoài kia với bác Lửng rồi. Họ sẽ ra ngoài cho đến tận giờ ăn trưa, vì vậy cậu và tôi sẽ trải qua một buổi sáng vui vẻ cùng nhau. Tôi sẽ cố gắng hết sức để làm cậu khuây khỏa. Nào, hãy nhảy tót ra khỏi giường đi, cậu là một gã cừ khôi mà, đừng nằm ủ rũ ở đó vào một buổi sáng đẹp trời thế này nữa!"
"Chuột Nước hiền lành, tốt bụng ơi," Cóc lẩm bẩm, "cậu chẳng hiểu được tình cảnh của tớ chút nào đâu, tớ còn lâu mới có thể 'nhảy tót ra khỏi giường' lúc này-nếu tớ còn có bao giờ làm được việc đó nữa! Nhưng thôi đừng bận tâm về tớ. Tớ căm ghét việc phải trở thành gánh nặng cho bạn bè, và tớ nghĩ mình cũng chẳng còn làm phiền các cậu được bao lâu nữa. Quả thực, tớ chẳng còn ôm chút hy vọng nào."
"Chà, tôi cũng hy vọng là không," Chuột Nước nhiệt tình đáp. "Suốt thời gian qua cậu đã là một mối bận tâm lớn đối với tất cả chúng tôi, và tôi rất nhẹ nhõm khi nghe nói điều đó sắp sửa khép lại. Nhất là trong tiết trời thế này, và mùa chèo thuyền thì vừa mới chớm bắt đầu! Thật quá tệ cho cậu, Cóc ạ! Chúng tôi không ngại rắc rối, nhưng chính cậu đang làm chúng tôi bỏ lỡ bao nhiêu là thú vui tuyệt vời ngoài kia đấy."
"Nhưng tớ e rằng chính là sự rắc rối đó mới khiến cậu bận tâm," Cóc uể oải đáp lời. "Tớ hoàn toàn thấu hiểu điều đó. Chuyện cũng dễ hiểu thôi. Các cậu đã quá mệt mỏi vì phải nhọc lòng vì tớ rồi. Tớ chẳng dám cầu xin cậu làm thêm điều gì nữa. Tớ biết, tớ là một cục nợ."
"Cậu đúng là vậy," Chuột Nước nói thẳng tuột. "Nhưng tôi nói cho cậu biết, tôi sẵn sàng gánh chịu mọi phiền toái trên đời này vì cậu, giá như cậu chịu làm một con vật biết điều đôi chút."
"Nếu quả tớ nghĩ được như vậy, Chuột Nước," Cóc lẩm bẩm, yếu ớt hơn bao giờ hết, "thì tớ sẽ cầu xin cậu-có lẽ là lần cuối cùng-hãy chạy ngay đến làng nhanh hết sức có thể-ngay cả lúc này có khi đã là quá muộn màng-và gọi bác sĩ giúp tớ. Nhưng thôi cậu đừng bận lòng. Chỉ thêm phiền phức, có lẽ chúng ta cứ buông xuôi để mặc mọi chuyện thuận theo tự nhiên đi."
"Sao cơ, cậu gọi bác sĩ để làm gì?" Chuột Nước hỏi, bước hẳn lại gần và nhìn cậu ta chằm chằm. Cóc quả thực đang nằm rất im lìm và bất động, giọng thều thào yếu ớt và thái độ cũng thay đổi một cách đáng kinh ngạc.
"Chắc hẳn dạo gần đây cậu đã nhận ra--" Cóc lẩm bẩm. "Nhưng, không-tại sao cậu phải để tâm chứ? Việc chú ý đến mọi thứ quanh tớ chỉ là một sự phiền hà. Quả thực, ngày mai có thể cậu sẽ tự dằn vặt mình, 'Ồ, giá như mình nhận ra sớm hơn! Giá như mình đã chịu làm một điều gì đó!' Nhưng thôi; đó là một rắc rối. Đừng bận tâm-hãy quên đi những gì tớ vừa thỉnh cầu."
"Nghe này, ông bạn già," Chuột Nước nói, bắt đầu cảm thấy khá hoảng hốt, "tất nhiên tôi sẽ đi gọi bác sĩ cho cậu, nếu cậu thực sự nghĩ rằng mình cần ông ấy. Nhưng cậu khó mà ốm thập tử nhất sinh đến mức đó. Chúng ta hãy nói sang chuyện khác đi nào."
"Tớ e rằng, người bạn quý mến ạ," Cóc nở một nụ cười buồn bã, thê lương, "rằng việc 'nói chuyện' bây giờ chẳng giải quyết được gì trong hoàn cảnh này-hoặc thậm chí là cả bác sĩ đi chăng nữa; tuy nhiên, người ta vẫn luôn phải bấu víu lấy cọng rơm mỏng manh nhất. Và, nhân tiện-trong khi cậu đang trên đường đi-tớ thực sự căm ghét việc phải chất thêm rắc rối cho cậu, nhưng tớ chợt nhớ ra rằng cậu sẽ đi ngang qua cửa tiệm-cậu có phiền không nếu tiện thể mời vị luật sư ghé qua đây một chút? Điều đó sẽ giúp tớ toại nguyện, và có những khoảnh khắc-có lẽ tớ nên nói là có một khoảnh khắc duy nhất-khi một người phải can đảm đối mặt với những nhiệm vụ thật khó chịu, cho dù có phải trả giá bằng những giọt sinh lực cạn kiệt cuối cùng!"
"Một luật sư! Ôi trời, cậu ấy chắc hẳn đang nguy kịch lắm rồi!" Chuột Nước kinh hãi tự nhủ, lật đật lao ra khỏi phòng, tuy nhiên vẫn không quên khóa trái cánh cửa lại thật cẩn thận.
Ra đến bên ngoài, anh dừng lại để suy tính. Hai người kia đang ở rất xa, anh chẳng có một ai để bàn bạc cùng.
"Tốt nhất là cứ cẩn tắc vô ưu," anh lẩm bẩm sau một hồi cân nhắc. "Tôi thừa biết Cóc từng huyễn hoặc ra đủ thứ bệnh nan y trước đây, mà chẳng hề có lấy một lý do nhỏ nhặt nhất; nhưng tôi chưa bao giờ thấy cậu ấy đòi gọi cả luật sư! Nếu thực sự cậu ấy không sao, bác sĩ sẽ bảo thẳng rằng cậu ấy là một con lừa già ngớ ngẩn, rồi khích lệ cậu ấy vài câu; thế là ít ra cũng được việc. Tốt hơn hết là tôi cứ chiều lòng cậu ấy và đi một chuyến; sẽ không mất nhiều thời gian đâu." Thế là anh co cẳng chạy vội ra làng để làm nhiệm vụ nhân đạo cao cả của mình.
Cóc, kẻ vừa mới nhẹ nhàng nhảy phóc từ trên giường xuống ngay khoảnh khắc nghe thấy tiếng chìa khóa lạch cạch vặn trong ổ, đã háo hức ngó anh qua khung cửa sổ cho đến khi cái bóng nhỏ biến mất hút xuống con đường xe chạy. Sau đó, vừa bật cười khanh khách đầy sảng khoái, cậu vừa tròng ngay bộ quần áo bảnh bao nhất có thể vớ được trong nháy mắt, nhồi nhét đầy một túi tiền mặt lấy từ ngăn kéo nhỏ trong chiếc bàn trang điểm. Kế đến, cậu cột chặt những tấm ga trải giường lại với nhau, buộc một đầu sợi dây thừng tự chế ấy quanh cây cột chính của khung cửa sổ kiểu Tudor6 tuyệt đẹp vốn là điểm nhấn của căn phòng ngủ, rồi cậu trèo ra ngoài, nhẹ nhàng trượt xuống đất, và, nhắm thẳng hướng ngược lại với Chuột Nước, hăm hở dấn bước, miệng huýt sáo vang một giai điệu tươi vui mừng rỡ.
Đó quả là một bữa trưa vô cùng ảm đạm đối với Chuột Nước, khi bác Lửng và Chuột Chũi cuối cùng cũng trở về, và anh phải đối mặt với họ bên bàn ăn bằng câu chuyện nghe thảm hại và vô lý hết sức của mình. Những lời phán xét cay độc, nếu không muốn nói là tàn nhẫn của bác Lửng, có lẽ bất cứ ai cũng tự hình dung ra được, nên xin phép được bỏ qua; nhưng thật xót xa cho Chuột Nước khi ngay cả Chuột Chũi, dù đã cố bênh vực người bạn mình hết lời, cũng không nén nổi tiếng thở dài: "Anh đã hành động hơi ngớ ngẩn rồi đấy, Chuột Nước! Lại còn là đối với Cóc nữa chứ, trong số tất cả những con vật trên đời!"
"Cậu ta đã diễn quá xuất sắc," Chuột Nước ủ rũ đáp.
"Cậu ta đã lừa cháu quá xuất sắc thì có!" bác Lửng nóng nảy vặn lại. "Tuy nhiên, có ngồi đây nói nữa cũng chẳng giải quyết được gì. Cậu ta đã cao chạy xa bay được một lúc rồi, điều đó là chắc chắn; và cái sự tồi tệ nhất là, cậu ta sẽ trở nên kiêu ngạo tột độ với cái thứ cậu ta tự cho là sự thông minh của mình, đến nỗi cậu ta có thể phạm phải bất kỳ sai lầm xuẩn ngốc nào tiếp theo. Chỉ có một niềm an ủi duy nhất, giờ đây chúng ta đã được tự do, và không cần phải lãng phí thêm chút thời gian quý báu nào của mình để đóng vai lính gác nữa. Nhưng tốt hơn hết là chúng ta cứ tiếp tục ngủ lại Dinh thự Cóc thêm một thời gian. Cóc có thể bị lôi cổ trở lại bất cứ lúc nào-trên một chiếc cáng thương, hoặc bị kẹp chặt giữa hai viên cảnh sát."
Bác Lửng đã phán như vậy đấy, mà chẳng hề hay biết tương lai sẽ ra sao, hay bao nhiêu nước sông đục ngầu sẽ phải chảy qua chân cầu trước khi Cóc lại được ngồi chễm chệ ung dung trong Tòa lâu đài của tổ tiên mình.
Trong khi đó, Cóc, với bản tính vô tư và chẳng mảy may vướng bận trách nhiệm, đang sải bước thoăn thoắt dọc theo con lộ lớn cách nhà vài dặm. Ban đầu, cậu cố tình chọn những lối mòn dập dìu hoa cỏ, băng qua bao cánh đồng bát ngát và liên tục chuyển hướng để cắt đuôi những kẻ truy đuổi. Nhưng giờ đây, khi đã đinh ninh bản thân an toàn tuyệt đối, cậu thấy vầng dương rực rỡ như đang mỉm cười với mình. Cả thiên nhiên dường như cũng đang hòa nhịp cùng khúc hoan ca tự mãn đang rộn rã cất lên trong trái tim cậu. Thế là, Cóc gần như nhảy múa trên mặt đường trong niềm kiêu hãnh và thỏa mãn tột cùng.
"Đúng là một pha tẩu thoát thiên tài!" cậu vừa tủm tỉm cười vừa lẩm bẩm. "Trí tuệ đương đầu với sức mạnh bạo tàn-và trí tuệ đã chiến thắng-một kết cục tất yếu! Chuột Nước già tội nghiệp! Chà! hẳn cậu ta sẽ bị mắng cho vuốt mặt không kịp khi bác Lửng quay về! Một gã khá khẩm đấy, anh bạn Chuột Nước này, cũng có lắm đức tính tốt, ngặt nỗi lại quá đỗi nông cạn và chẳng có lấy một mảnh bằng giáo dục vắt vai. Đợi đến một ngày đẹp trời nào đó, mình nhất định sẽ đích thân uốn nắn cậu ta, để xem liệu mình có thể giúp cậu ta làm nên trò trống gì không."
Ôm ấp những suy tưởng kiêu ngạo ấy, cậu ngẩng cao đầu sải bước cho đến khi đặt chân tới một thị trấn nhỏ. Ở lưng chừng con phố chính, tấm biển hiệu "Sư Tử Đỏ7" đung đưa vắt ngang tầm mắt, gợi nhắc rằng từ sáng đến giờ cậu chưa bỏ bụng chút gì, và chuyến đi bộ dài dằng dặc đã vắt kiệt chút sức lực cuối cùng của cậu. Cậu lao thẳng vào quán trọ, dõng dạc gọi một bữa trưa thịnh soạn nhất có thể dọn lên tức thời, rồi an tọa trong phòng thưởng thức cà phê.
Vừa mới xử lý được chừng nửa bữa ăn, một âm thanh quá đỗi quen thuộc từ ngoài đường vọng lại khiến cậu giật thót mình, toàn thân run lên bần bật. Tiếng "píp-píp" réo rắt mỗi lúc một gần. Cậu nghe rõ tiếng chiếc xe rẽ ngoặt vào khoảnh sân của quán trọ rồi dừng hẳn. Cóc phải bấu chặt lấy chân bàn để kìm nén cảm xúc đang cuộn trào mãnh liệt trong lồng ngực. Một lát sau, cả một nhóm người ùa vào phòng cà phê. Bụng đói meo, họ rôm rả nói cười, thao thao bất tuyệt về những trải nghiệm trong buổi sáng và hết lời tán dương cỗ xe tuyệt diệu đã đưa họ đi một chặng đường êm ái. Cóc vểnh tai lên, háo hức nuốt lấy từng lời; nhưng cuối cùng, sức chịu đựng của cậu cũng đến giới hạn. Cậu lặng lẽ lẻn ra khỏi phòng, thanh toán hóa đơn ở quầy bar, và ngay khi bước ra ngoài, cậu thong dong tản bộ quanh sân quán trọ với vẻ bâng quơ. "Chắc sẽ chẳng hại gì đâu," cậu tự nhủ, "nếu mình chỉ nhìn nó một chút thôi!"
Chiếc ô tô nằm chình ình giữa sân, không một bóng người trông coi, bởi đám nài ngựa và lũ ăn theo đều đang mải mê lấp đầy dạ dày. Cóc chậm rãi lượn quanh nó, soi mói, đánh giá, rồi chìm vào dòng suy tưởng miên man.
"Mình tự hỏi," một lát sau cậu lại lẩm bẩm, "không biết cái loại xe này khởi động có dễ không nhỉ?"
Ngay giây tiếp theo, chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, cậu thấy tay mình đã nắm chặt lấy tay quay và đang miệt mài xoay nó. Khi thứ âm thanh quen thuộc gầm lên, niềm đam mê cũ trỗi dậy, vồ lấy Cóc và tóm gọn cậu, cả thể xác lẫn linh hồn. Như đang mộng du, cậu thấy mình chễm chệ trên ghế lái; như đang mộng du, cậu gạt cần số, bẻ lái cho xe lao vút quanh sân rồi xuyên thẳng qua cổng vòm; và, như đang mộng du, mọi ý thức về đúng sai, mọi nỗi sợ hãi về những hậu quả nhãn tiền, dường như đều bị cuốn phăng đi mất. Cậu nhấn ga, và khi chiếc xe gầm gừ nuốt trọn con đường, lao vun vút lên xa lộ băng qua vùng nông thôn khoáng đạt, cậu chỉ còn một ý niệm duy nhất: mình lại là Cóc của ngày nào, một con Cóc ở thời kỳ đỉnh cao và sung mãn nhất, một con Cóc gieo rắc kinh hoàng, kẻ chế ngự dòng xe cộ, Chúa tể của những lối mòn hoang vắng, kẻ mà tất cả đều phải nhường lối nếu không muốn bị đánh gục vào cõi hư vô và đêm tối vĩnh hằng. Cậu vừa bay đi vừa cất tiếng hát vang lừng, và chiếc xe cũng gầm rú đáp lời bằng những âm thanh rung chuyển đất trời. Những dặm đường dài bị nuốt chửng dưới bánh xe khi cậu lao đi mà chẳng cần biết đích đến, mặc sức thỏa mãn bản năng, sống trọn vẹn từng khoảnh khắc, dẫu cho ngày mai có ra sao đi nữa.
"Theo quan điểm của ta," ngài Chủ tọa Tòa án hoan hỉ nhận xét, "cái khó duy nhất trong một vụ án rành rành thế này, là làm sao giáng được một đòn trừng phạt thật đích đáng xuống đầu một gã lưu manh hết thuốc chữa, một tên côn đồ ngoan cố đang co rúm trên vành móng ngựa trước mắt chúng ta. Để ta xem nào: mi đã bị kết tội dựa trên những bằng chứng rành rành nhất; thứ nhất, ăn cắp một chiếc ô tô đắt tiền; thứ hai, lái xe gây nguy hiểm cho công chúng; và thứ ba, vô cùng láo xược với cảnh sát nông thôn. Thư ký, anh vui lòng cho chúng tôi hay, hình phạt nghiêm khắc nhất mà chúng ta có thể áp dụng cho từng tội danh này là gì? Dĩ nhiên, không có chuyện để cho phạm nhân hưởng lợi từ bất kỳ sự châm chước nào, bởi lẽ ở đây chẳng có chút nghi ngờ nào sất."
Viên Thư ký lấy ngòi bút gãi gãi mũi. "Hẳn nhiều người sẽ cho rằng," anh ta bình phẩm, "ăn cắp ô tô là trọng tội nhất; điều đó hiển nhiên đúng. Nhưng thái độ láo xược với cảnh sát chắc chắn phải lĩnh án phạt nặng nề nhất; điều đó cũng hoàn toàn chuẩn xác. Cứ cho là ngài tuyên án mười hai tháng cho tội ăn cắp, thế là hãy còn nhẹ; và ba năm cho tội lái xe điên rồ, thế là quá đỗi khoan hồng; lại thêm mười lăm năm cho cái thói xấc xược, mà ấy là một kiểu xấc xược tồi tệ chưa từng thấy, dựa trên những gì chúng ta nghe từ bục nhân chứng, kể cả khi ngài chỉ tin một phần mười trong số đó, và bản thân tôi cũng chẳng bao giờ tin nhiều hơn thế-những con số này, nếu cộng lại cho rành rọt, sẽ tròn mười chín năm--"
"Tuyệt vời!" Chủ tọa thốt lên.
"-Vậy để cho chắc ăn, tốt hơn hết ngài hãy làm tròn thành hai mươi năm," Thư ký chốt hạ.
"Một gợi ý xuất chúng!" Chủ tọa nức nở khen ngợi. "Phạm nhân! Hãy xốc lại tinh thần và cố mà đứng cho thẳng. Lần này mi sẽ lãnh án hai mươi năm. Và nhớ cho kỹ, nếu mi còn dám vác mặt ra trước chúng ta một lần nữa với bất kỳ cáo buộc nào, chúng ta sẽ trị mi vô cùng tàn khốc!"
Thế rồi, những tay sái nha bạo tàn ập vào gã Cóc khốn khổ; chúng lấy xích sắt gông cùm cậu lại, lôi xệch cậu ra khỏi Tòa án mặc cho cậu gào thét, cầu xin lẫn chống cự; chúng lôi cậu băng qua khu chợ, nơi đám đông dân đen vốn khoái trò cợt nhả, những kẻ bao giờ cũng ném ánh nhìn khắc nghiệt về phía bọn tội phạm sa lưới hệt như lúc họ sẵn lòng đồng tình giúp đỡ bất cứ ai mới chỉ mang danh "bị truy nã", nay xúm vào giễu cợt cậu bằng những lời nhiếc móc, những củ cà rốt, và cả những câu chửi rủa cửa miệng tục tĩu; lôi cậu ngang qua đám học sinh đang thi nhau la ó, những khuôn mặt ngây thơ của lũ trẻ bừng sáng lên cái niềm hân hoan rạng rỡ vốn luôn có được mỗi khi chứng kiến một ngài tai to mặt lớn gặp họa; băng qua cây cầu treo vang tiếng lộp cộp, lọt xuống dưới cánh cổng sập lởm chởm gai nhọn, dưới vòm cổng tối tăm của tòa thành cổ kính nghiệt ngã với những ngọn tháp rêu phong chọc thẳng lên trời cao; lôi cậu đi qua những trạm gác đầy rẫy đám lính tráng đang nhe nhởn cười cợt ngoài giờ canh gác, đi qua cả những tên lính gác ho lên những tràng khủng khiếp đầy vẻ mỉa mai, bởi đó là tất cả những gì một tên lính đang làm nhiệm vụ dám làm để thể hiện sự khinh miệt và ghê tởm của mình đối với cái ác; bước lê lên những bậc thang xoắn ốc in hằn dấu vết thời gian, lướt qua những toán lính nai nịt vũ khí, đội mũ sắt và khoác áo giáp sáng loáng, đang phóng ra những tia nhìn đe dọa qua khe hở trên chiếc kính che mặt; băng qua những khoảng sân rộng, nơi lũ chó ngao đang dồn hết sức kéo căng sợi dây xích bự chảng, cào cấu vào không khí chực lao đến xé xác cậu; đi ngang qua những người lính canh già nua, gác cây kích vào tường, đang gà gật ngủ bên một chiếc bánh nướng nhân thịt và một bình bia đen sủi bọt; cứ thế lôi cậu đi mãi, đi mãi, đi ngang qua cả phòng tra tấn và phòng kẹp ngón tay cái8, qua khúc quanh rẽ vào đoạn đầu đài bí mật, cho đến khi chạm mặt cánh cửa của hầm ngục u ám nhất nằm lọt thỏm ngay giữa trái tim của pháo đài tận cùng bên trong. Ở đó, cuối cùng họ cũng chịu dừng bước, nơi một tên cai ngục cỗi cằn đang ngồi nghịch một chùm chìa khóa to tổ chảng.
"Trời đất quỷ thần ơi!" viên trung sĩ cảnh sát càu nhàu, vừa tháo chiếc mũ bảo hiểm vừa đưa tay quệt mồ hôi trán. "Dậy đi, cái lão già ngốc nghếch kia, và nhận lấy từ tay ta con Cóc đê tiện này, một tên tội phạm mang tội ác tày trời cùng sự xảo quyệt và lắm mưu nhiều kế vô song. Hãy trông chừng và canh giữ nó bằng tất cả ngón nghề của lão; và nhớ cho kỹ đấy, đồ râu ria xồm xoàm, nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra, cái đầu già nua của lão sẽ phải đền mạng cho nó-và một trận dịch hạch sẽ giáng xuống đầu cả hai người!"
Tên cai ngục gật đầu đầy vẻ tàn nhẫn, đặt bàn tay gầy guộc khẳng khiu của lão lên vai gã Cóc khốn khổ. Chiếc chìa khóa hoen rỉ kêu lên những tiếng cọt kẹt trong ổ khóa, cánh cửa khổng lồ đóng sầm lại sau lưng họ; và Cóc đã biến thành một tên tù binh bất lực trong hầm ngục xa xôi nhất, của pháo đài được canh gác nghiêm ngặt nhất, thuộc về tòa lâu đài kiên cố nhất trên khắp chiều dài và chiều rộng của Nước Anh Vui Vẻ9.
-
Vào đầu thế kỷ 20, ô tô thường thiết kế hở mui và không có kính chắn gió kín. Do đó, người lái xe phải khoác áo choàng dài (duster coat) để chống bụi, đeo kính bảo hộ (goggles) chắn gió và côn trùng, cùng với ghệt (gaiters) bảo vệ chân. Đây là hình ảnh đại diện cho phong cách chơi xe ngông cuồng thời bấy giờ. ↩
-
Bản gốc 'Terror of the Highway'. Trong thời kỳ đầu của lịch sử ô tô, xe chạy bằng động cơ đốt trong thường ầm ĩ, xả khói bụi mù mịt và dễ gây tai nạn. Đối với người dân vùng quê, chúng không khác gì 'quái vật' gieo rắc kinh hoàng. ↩
-
Bản gốc là 'Smoking room'. Trong cấu trúc các dinh thự lớn ở Anh thời Victoria và Edward, đây là không gian đặc quyền dành cho nam giới. Sau bữa ăn, các quý ông thường lui tới căn phòng này để hút xì gà, uống rượu và thảo luận những vấn đề hệ trọng, thể hiện sự phân chia chuẩn mực giới tính nghiêm ngặt của xã hội Anh cổ điển. ↩
-
Bản gốc 'poop-poop', là âm thanh còi đặc trưng của những chiếc xe hơi đời đầu (vintage cars). Trái ngược với tiếng bíp bíp gọn gàng của còi xe hiện đại, tiếng còi này nghe vang dội, thô kệch và có phần lố bịch, phản ánh sự mới mẻ, ồn ào và tính thích phô trương của công nghệ xe hơi sơ khai giữa vùng nông thôn tĩnh lặng. ↩
-
Bản gốc 'Sunday school'. Đây là hình thức giáo dục phổ biến tại các nhà thờ Anh Quốc vào cuối tuần, tập trung dạy đạo đức và giáo lý Cơ Đốc cho trẻ nhỏ. ↩
-
Kiến trúc Tudor là phong cách đặc trưng của nước Anh thế kỷ 16 dưới triều đại nhà Tudor. Cửa sổ Tudor thường có khung đá hoặc gỗ vững chãi, chia nhiều ô kính nhỏ với mái vòm cuốn. ↩
-
Bản gốc 'Red Lion'. Đây là một trong những tên gọi phổ biến nhất dành cho các quán trọ (pub) truyền thống tại Anh. Tên gọi này bắt nguồn từ huy hiệu sư tử đỏ của Vua James I (hoặc James VI của Scotland), người đã lệnh cho các công trình công cộng phải treo biểu tượng hoàng gia nhằm khẳng định quyền uy của triều đại. ↩
-
Dịch từ 'thumbscrew-room'. Kẹp ngón tay cái (thumbscrew) là một dụng cụ tra tấn khét tiếng phổ biến ở châu Âu thời Trung Cổ, dùng để kẹp chặt ngón tay nạn nhân nhằm ép cung. ↩
-
Bản gốc 'Merry England'. Đây là một khái niệm văn hóa ám chỉ sự hoài niệm ảo mộng về một nước Anh trong quá khứ cổ tích, nơi cuộc sống đồng quê thanh bình và tràn ngập hội hè. ↩
VI. MR. TOAD
It was a bright morning in the early part of summer; the river had resumed its wonted banks and its accustomed pace, and a hot sun seemed to be pulling everything green and bushy and spiky up out of the earth towards him, as if by strings. The Mole and the Water Rat had been up since dawn, very busy on matters connected with boats and the opening of the boating season; painting and varnishing, mending paddles, repairing cushions, hunting for missing boat-hooks, and so on; and were finishing breakfast in their little parlour and eagerly discussing their plans for the day, when a heavy knock sounded at the door.
“Bother!” said the Rat, all over egg. “See who it is, Mole, like a good chap, since you’ve finished.”
The Mole went to attend the summons, and the Rat heard him utter a cry of surprise. Then he flung the parlour door open, and announced with much importance, “Mr. Badger!”
This was a wonderful thing, indeed, that the Badger should pay a formal call on them, or indeed on anybody. He generally had to be caught, if you wanted him badly, as he slipped quietly along a hedgerow of an early morning or a late evening, or else hunted up in his own house in the middle of the Wood, which was a serious undertaking.
The Badger strode heavily into the room, and stood looking at the two animals with an expression full of seriousness. The Rat let his egg-spoon fall on the table-cloth, and sat open-mouthed.
“The hour has come!” said the Badger at last with great solemnity.
“What hour?” asked the Rat uneasily, glancing at the clock on the mantelpiece.
“Whose hour, you should rather say,” replied the Badger. “Why, Toad’s hour! The hour of Toad! I said I would take him in hand as soon as the winter was well over, and I’m going to take him in hand to-day!”
“Toad’s hour, of course!” cried the Mole delightedly. “Hooray! I remember now! We’ll teach him to be a sensible Toad!”
“This very morning,” continued the Badger, taking an arm-chair, “as I learnt last night from a trustworthy source, another new and exceptionally powerful motor-car will arrive at Toad Hall on approval or return. At this very moment, perhaps, Toad is busy arraying himself in those singularly hideous habiliments so dear to him, which transform him from a (comparatively) good-looking Toad into an Object which throws any decent-minded animal that comes across it into a violent fit. We must be up and doing, ere it is too late. You two animals will accompany me instantly to Toad Hall, and the work of rescue shall be accomplished.”
“Right you are!” cried the Rat, starting up. “We’ll rescue the poor unhappy animal! We’ll convert him! He’ll be the most converted Toad that ever was before we’ve done with him!”
They set off up the road on their mission of mercy, Badger leading the way. Animals when in company walk in a proper and sensible manner, in single file, instead of sprawling all across the road and being of no use or support to each other in case of sudden trouble or danger.
They reached the carriage-drive of Toad Hall to find, as the Badger had anticipated, a shiny new motor-car, of great size, painted a bright red (Toad’s favourite colour), standing in front of the house. As they neared the door it was flung open, and Mr. Toad, arrayed in goggles, cap, gaiters, and enormous overcoat, came swaggering down the steps, drawing on his gauntleted gloves.
“Hullo! come on, you fellows!” he cried cheerfully on catching sight of them. “You’re just in time to come with me for a jolly-to come for a jolly-for a-er-jolly--”
His hearty accents faltered and fell away as he noticed the stern unbending look on the countenances of his silent friends, and his invitation remained unfinished.
The Badger strode up the steps. “Take him inside,” he said sternly to his companions. Then, as Toad was hustled through the door, struggling and protesting, he turned to the chauffeur in charge of the new motor-car.
“I’m afraid you won’t be wanted to-day,” he said. “Mr. Toad has changed his mind. He will not require the car. Please understand that this is final. You needn’t wait.” Then he followed the others inside and shut the door.
“Now then!” he said to the Toad, when the four of them stood together in the Hall, “first of all, take those ridiculous things off!”
“Shan’t!” replied Toad, with great spirit. “What is the meaning of this gross outrage? I demand an instant explanation.”
“Take them off him, then, you two,” ordered the Badger briefly.
They had to lay Toad out on the floor, kicking and calling all sorts of names, before they could get to work properly. Then the Rat sat on him, and the Mole got his motor-clothes off him bit by bit, and they stood him up on his legs again. A good deal of his blustering spirit seemed to have evaporated with the removal of his fine panoply. Now that he was merely Toad, and no longer the Terror of the Highway, he giggled feebly and looked from one to the other appealingly, seeming quite to understand the situation.
“You knew it must come to this, sooner or later, Toad,” the Badger explained severely.
You’ve disregarded all the warnings we’ve given you, you’ve gone on squandering the money your father left you, and you’re getting us animals a bad name in the district by your furious driving and your smashes and your rows with the police. Independence is all very well, but we animals never allow our friends to make fools of themselves beyond a certain limit; and that limit you’ve reached. Now, you’re a good fellow in many respects, and I don’t want to be too hard on you. I’ll make one more effort to bring you to reason. You will come with me into the smoking-room, and there you will hear some facts about yourself; and we’ll see whether you come out of that room the same Toad that you went in.”
He took Toad firmly by the arm, led him into the smoking-room, and closed the door behind them.
“That’s no good!” said the Rat contemptuously. “Talking to Toad’ll never cure him. He’ll say anything.”
They made themselves comfortable in armchairs and waited patiently. Through the closed door they could just hear the long continuous drone of the Badger’s voice, rising and falling in waves of oratory; and presently they noticed that the sermon began to be punctuated at intervals by long-drawn sobs, evidently proceeding from the bosom of Toad, who was a soft-hearted and affectionate fellow, very easily converted-for the time being-to any point of view.
After some three-quarters of an hour the door opened, and the Badger reappeared, solemnly leading by the paw a very limp and dejected Toad. His skin hung baggily about him, his legs wobbled, and his cheeks were furrowed by the tears so plentifully called forth by the Badger’s moving discourse.
“Sit down there, Toad,” said the Badger kindly, pointing to a chair. “My friends,” he went on, “I am pleased to inform you that Toad has at last seen the error of his ways. He is truly sorry for his misguided conduct in the past, and he has undertaken to give up motor-cars entirely and for ever. I have his solemn promise to that effect.”
“That is very good news,” said the Mole gravely.
“Very good news indeed,” observed the Rat dubiously, “if only-if only--”
He was looking very hard at Toad as he said this, and could not help thinking he perceived something vaguely resembling a twinkle in that animal’s still sorrowful eye.
“There’s only one thing more to be done,” continued the gratified Badger. “Toad, I want you solemnly to repeat, before your friends here, what you fully admitted to me in the smoking-room just now. First, you are sorry for what you’ve done, and you see the folly of it all?”
There was a long, long pause. Toad looked desperately this way and that, while the other animals waited in grave silence. At last he spoke.
“No!” he said, a little sullenly, but stoutly; “I’m not sorry. And it wasn’t folly at all! It was simply glorious!”
“What?” cried the Badger, greatly scandalised. “You backsliding animal, didn’t you tell me just now, in there--”
“Oh, yes, yes, in there,” said Toad impatiently. “I’d have said anything in there. You’re so eloquent, dear Badger, and so moving, and so convincing, and put all your points so frightfully well-you can do what you like with me in there, and you know it. But I’ve been searching my mind since, and going over things in it, and I find that I’m not a bit sorry or repentant really, so it’s no earthly good saying I am; now, is it?”
“Then you don’t promise,” said the Badger, “never to touch a motor-car again?”
“Certainly not!” replied Toad emphatically. “On the contrary, I faithfully promise that the very first motor-car I see, poop-poop! off I go in it!”
“Told you so, didn’t I?” observed the Rat to the Mole.
“Very well, then,” said the Badger firmly, rising to his feet. “Since you won’t yield to persuasion, we’ll try what force can do. I feared it would come to this all along. You’ve often asked us three to come and stay with you, Toad, in this handsome house of yours; well, now we’re going to. When we’ve converted you to a proper point of view we may quit, but not before. Take him upstairs, you two, and lock him up in his bedroom, while we arrange matters between ourselves.”
“It’s for your own good, Toady, you know,” said the Rat kindly, as Toad, kicking and struggling, was hauled up the stairs by his two faithful friends. “Think what fun we shall all have together, just as we used to, when you’ve quite got over this-this painful attack of yours!”
“We’ll take great care of everything for you till you’re well, Toad,” said the Mole; “and we’ll see your money isn’t wasted, as it has been.”
“No more of those regrettable incidents with the police, Toad,” said the Rat, as they thrust him into his bedroom.
“And no more weeks in hospital, being ordered about by female nurses, Toad,” added the Mole, turning the key on him.
They descended the stair, Toad shouting abuse at them through the keyhole; and the three friends then met in conference on the situation.
“It’s going to be a tedious business,” said the Badger, sighing. “I’ve never seen Toad so determined. However, we will see it out. He must never be left an instant unguarded. We shall have to take it in turns to be with him, till the poison has worked itself out of his system.”
They arranged watches accordingly. Each animal took it in turns to sleep in Toad’s room at night, and they divided the day up between them. At first Toad was undoubtedly very trying to his careful guardians. When his violent paroxysms possessed him he would arrange bedroom chairs in rude resemblance of a motor-car and would crouch on the foremost of them, bent forward and staring fixedly ahead, making uncouth and ghastly noises, till the climax was reached, when, turning a complete somersault, he would lie prostrate amidst the ruins of the chairs, apparently completely satisfied for the moment. As time passed, however, these painful seizures grew gradually less frequent, and his friends strove to divert his mind into fresh channels. But his interest in other matters did not seem to revive, and he grew apparently languid and depressed.
One fine morning the Rat, whose turn it was to go on duty, went upstairs to relieve Badger, whom he found fidgeting to be off and stretch his legs in a long ramble round his wood and down his earths and burrows. “Toad’s still in bed,” he told the Rat, outside the door. “Can’t get much out of him, except, ‘O leave him alone, he wants nothing, perhaps he’ll be better presently, it may pass off in time, don’t be unduly anxious,’ and so on. Now, you look out, Rat! When Toad’s quiet and submissive and playing at being the hero of a Sunday-school prize, then he’s at his artfullest. There’s sure to be something up. I know him. Well, now, I must be off.”
“How are you to-day, old chap?” inquired the Rat cheerfully, as he approached Toad’s bedside.
He had to wait some minutes for an answer. At last a feeble voice replied, “Thank you so much, dear Ratty! So good of you to inquire! But first tell me how you are yourself, and the excellent Mole?”
“O, we’re all right,” replied the Rat. “Mole,” he added incautiously, “is going out for a run round with Badger. They’ll be out till luncheon time, so you and I will spend a pleasant morning together, and I’ll do my best to amuse you. Now jump up, there’s a good fellow, and don’t lie moping there on a fine morning like this!”
“Dear, kind Rat,” murmured Toad, “how little you realise my condition, and how very far I am from ‘jumping up’ now-if ever! But do not trouble about me. I hate being a burden to my friends, and I do not expect to be one much longer. Indeed, I almost hope not.”
“Well, I hope not, too,” said the Rat heartily. “You’ve been a fine bother to us all this time, and I’m glad to hear it’s going to stop. And in weather like this, and the boating season just beginning! It’s too bad of you, Toad! It isn’t the trouble we mind, but you’re making us miss such an awful lot.”
“I’m afraid it is the trouble you mind, though,” replied the Toad languidly. “I can quite understand it. It’s natural enough. You’re tired of bothering about me. I mustn’t ask you to do anything further. I’m a nuisance, I know.”
“You are, indeed,” said the Rat. “But I tell you, I’d take any trouble on earth for you, if only you’d be a sensible animal.”
“If I thought that, Ratty,” murmured Toad, more feebly than ever, “then I would beg you-for the last time, probably-to step round to the village as quickly as possible-even now it may be too late-and fetch the doctor. But don’t you bother. It’s only a trouble, and perhaps we may as well let things take their course.”
“Why, what do you want a doctor for?” inquired the Rat, coming closer and examining him. He certainly lay very still and flat, and his voice was weaker and his manner much changed.
“Surely you have noticed of late--” murmured Toad. “But, no-why should you? Noticing things is only a trouble. To-morrow, indeed, you may be saying to yourself, ‘O, if only I had noticed sooner! If only I had done something!’ But no; it’s a trouble. Never mind-forget that I asked.”
“Look here, old man,” said the Rat, beginning to get rather alarmed, “of course I’ll fetch a doctor to you, if you really think you want him. But you can hardly be bad enough for that yet. Let’s talk about something else.”
“I fear, dear friend,” said Toad, with a sad smile, “that ‘talk’ can do little in a case like this-or doctors either, for that matter; still, one must grasp at the slightest straw. And, by the way-while you are about it-I hate to give you additional trouble, but I happen to remember that you will pass the door-would you mind at the same time asking the lawyer to step up? It would be a convenience to me, and there are moments-perhaps I should say there is a moment-when one must face disagreeable tasks, at whatever cost to exhausted nature!”
“A lawyer! O, he must be really bad!” the affrighted Rat said to himself, as he hurried from the room, not forgetting, however, to lock the door carefully behind him.
Outside, he stopped to consider. The other two were far away, and he had no one to consult.
“It’s best to be on the safe side,” he said, on reflection. “I’ve known Toad fancy himself frightfully bad before, without the slightest reason; but I’ve never heard him ask for a lawyer! If there’s nothing really the matter, the doctor will tell him he’s an old ass, and cheer him up; and that will be something gained. I’d better humour him and go; it won’t take very long.” So he ran off to the village on his errand of mercy.
The Toad, who had hopped lightly out of bed as soon as he heard the key turned in the lock, watched him eagerly from the window till he disappeared down the carriage-drive. Then, laughing heartily, he dressed as quickly as possible in the smartest suit he could lay hands on at the moment, filled his pockets with cash which he took from a small drawer in the dressing-table, and next, knotting the sheets from his bed together and tying one end of the improvised rope round the central mullion of the handsome Tudor window which formed such a feature of his bedroom, he scrambled out, slid lightly to the ground, and, taking the opposite direction to the Rat, marched off lightheartedly, whistling a merry tune.
It was a gloomy luncheon for Rat when the Badger and the Mole at length returned, and he had to face them at table with his pitiful and unconvincing story. The Badger’s caustic, not to say brutal, remarks may be imagined, and therefore passed over; but it was painful to the Rat that even the Mole, though he took his friend’s side as far as possible, could not help saying, “You’ve been a bit of a duffer this time, Ratty! Toad, too, of all animals!”
“He did it awfully well,” said the crestfallen Rat.
“He did you awfully well!” rejoined the Badger hotly. “However, talking won’t mend matters. He’s got clear away for the time, that’s certain; and the worst of it is, he’ll be so conceited with what he’ll think is his cleverness that he may commit any folly. One comfort is, we’re free now, and needn’t waste any more of our precious time doing sentry-go. But we’d better continue to sleep at Toad Hall for a while longer. Toad may be brought back at any moment-on a stretcher, or between two policemen.”
So spoke the Badger, not knowing what the future held in store, or how much water, and of how turbid a character, was to run under bridges before Toad should sit at ease again in his ancestral Hall.
Meanwhile, Toad, gay and irresponsible, was walking briskly along the high road, some miles from home. At first he had taken by-paths, and crossed many fields, and changed his course several times, in case of pursuit; but now, feeling by this time safe from recapture, and the sun smiling brightly on him, and all Nature joining in a chorus of approval to the song of self-praise that his own heart was singing to him, he almost danced along the road in his satisfaction and conceit.
“Smart piece of work that!” he remarked to himself chuckling. “Brain against brute force-and brain came out on the top-as it’s bound to do. Poor old Ratty! My! won’t he catch it when the Badger gets back! A worthy fellow, Ratty, with many good qualities, but very little intelligence and absolutely no education. I must take him in hand some day, and see if I can make something of him.”
Filled full of conceited thoughts such as these he strode along, his head in the air, till he reached a little town, where the sign of “The Red Lion,” swinging across the road halfway down the main street, reminded him that he had not breakfasted that day, and that he was exceedingly hungry after his long walk. He marched into the Inn, ordered the best luncheon that could be provided at so short a notice, and sat down to eat it in the coffee-room.
He was about half-way through his meal when an only too familiar sound, approaching down the street, made him start and fall a-trembling all over. The poop-poop! drew nearer and nearer, the car could be heard to turn into the inn-yard and come to a stop, and Toad had to hold on to the leg of the table to conceal his over-mastering emotion. Presently the party entered the coffee-room, hungry, talkative, and gay, voluble on their experiences of the morning and the merits of the chariot that had brought them along so well. Toad listened eagerly, all ears, for a time; at last he could stand it no longer. He slipped out of the room quietly, paid his bill at the bar, and as soon as he got outside sauntered round quietly to the inn-yard. “There cannot be any harm,” he said to himself, “in my only just looking at it!”
The car stood in the middle of the yard, quite unattended, the stable-helps and other hangers-on being all at their dinner. Toad walked slowly round it, inspecting, criticising, musing deeply.
“I wonder,” he said to himself presently, “I wonder if this sort of car starts easily?”
Next moment, hardly knowing how it came about, he found he had hold of the handle and was turning it. As the familiar sound broke forth, the old passion seized on Toad and completely mastered him, body and soul. As if in a dream he found himself, somehow, seated in the driver’s seat; as if in a dream, he pulled the lever and swung the car round the yard and out through the archway; and, as if in a dream, all sense of right and wrong, all fear of obvious consequences, seemed temporarily suspended. He increased his pace, and as the car devoured the street and leapt forth on the high road through the open country, he was only conscious that he was Toad once more, Toad at his best and highest, Toad the terror, the traffic-queller, the Lord of the lone trail, before whom all must give way or be smitten into nothingness and everlasting night. He chanted as he flew, and the car responded with sonorous drone; the miles were eaten up under him as he sped he knew not whither, fulfilling his instincts, living his hour, reckless of what might come to him.
“To my mind,” observed the Chairman of the Bench of Magistrates cheerfully, “the only difficulty that presents itself in this otherwise very clear case is, how we can possibly make it sufficiently hot for the incorrigible rogue and hardened ruffian whom we see cowering in the dock before us. Let me see: he has been found guilty, on the clearest evidence, first, of stealing a valuable motor-car; secondly, of driving to the public danger; and, thirdly, of gross impertinence to the rural police. Mr. Clerk, will you tell us, please, what is the very stiffest penalty we can impose for each of these offences? Without, of course, giving the prisoner the benefit of any doubt, because there isn’t any.”
The Clerk scratched his nose with his pen. “Some people would consider,” he observed, “that stealing the motor-car was the worst offence; and so it is. But cheeking the police undoubtedly carries the severest penalty; and so it ought. Supposing you were to say twelve months for the theft, which is mild; and three years for the furious driving, which is lenient; and fifteen years for the cheek, which was pretty bad sort of cheek, judging by what we’ve heard from the witness-box, even if you only believe one-tenth part of what you heard, and I never believe more myself-those figures, if added together correctly, tot up to nineteen years--”
“First-rate!” said the Chairman.
“-So you had better make it a round twenty years and be on the safe side,” concluded the Clerk.
“An excellent suggestion!” said the Chairman approvingly. “Prisoner! Pull yourself together and try and stand up straight. It’s going to be twenty years for you this time. And mind, if you appear before us again, upon any charge whatever, we shall have to deal with you very seriously!”
Then the brutal minions of the law fell upon the hapless Toad; loaded him with chains, and dragged him from the Court House, shrieking, praying, protesting; across the marketplace, where the playful populace, always as severe upon detected crime as they are sympathetic and helpful when one is merely “wanted,” assailed him with jeers, carrots, and popular catch-words; past hooting school children, their innocent faces lit up with the pleasure they ever derive from the sight of a gentleman in difficulties; across the hollow-sounding drawbridge, below the spiky portcullis, under the frowning archway of the grim old castle, whose ancient towers soared high overhead; past guardrooms full of grinning soldiery off duty, past sentries who coughed in a horrid, sarcastic way, because that is as much as a sentry on his post dare do to show his contempt and abhorrence of crime; up time-worn winding stairs, past men-at-arms in casquet and corselet of steel, darting threatening looks through their vizards; across courtyards, where mastiffs strained at their leash and pawed the air to get at him; past ancient warders, their halberds leant against the wall, dozing over a pasty and a flagon of brown ale; on and on, past the rack-chamber and the thumbscrew-room, past the turning that led to the private scaffold, till they reached the door of the grimmest dungeon that lay in the heart of the innermost keep. There at last they paused, where an ancient gaoler sat fingering a bunch of mighty keys.
“Oddsbodikins!” said the sergeant of police, taking off his helmet and wiping his forehead. “Rouse thee, old loon, and take over from us this vile Toad, a criminal of deepest guilt and matchless artfulness and resource. Watch and ward him with all thy skill; and mark thee well, greybeard, should aught untoward befall, thy old head shall answer for his-and a murrain on both of them!”
The gaoler nodded grimly, laying his withered hand on the shoulder of the miserable Toad. The rusty key creaked in the lock, the great door clanged behind them; and Toad was a helpless prisoner in the remotest dungeon of the best-guarded keep of the stoutest castle in all the length and breadth of Merry England.