🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG VIII: NHỮNG CUỘC PHIÊU LƯU CỦA CÓC.

Khi Cóc bàng hoàng nhận ra mình đã bị giam cầm giữa bốn bức tường ngục tối ẩm ướt, hôi hám, và hiểu rằng cái bóng đen rùng rợn của một pháo đài thời trung cổ đang sừng sững cắt ngang thế giới ngập nắng cùng những con đường trải đá phẳng lỳ bên ngoài - nơi mà mới đây thôi cậu còn vẫy vùng sung sướng, rong ruổi dạo chơi như thể đã mua đứt mọi ngả đường nước Anh - cậu liền ném mình ngã vật xuống mặt sàn lạnh lẽo. Cóc khóc nức nở, những giọt nước mắt cay đắng tuôn rơi, phó mặc bản thân cho nỗi tuyệt vọng bủa vây.

"Mọi thứ thế là hết," (cậu rên rỉ), "ít nhất là dấu chấm hết cho sự nghiệp lẫy lừng của Cóc! Một ngài Cóc nổi tiếng, đẹp trai hào hoa; một ông Cóc giàu sang, nức tiếng hiếu khách; một con Cóc vô tư, phóng khoáng và vô cùng lịch lãm! Tôi còn hy vọng gì mong ngày được trả tự do nữa chứ" (cậu gào lên), "một kẻ đã bị tống giam vô cùng đích đáng, chỉ vì trót xấc xược ăn cắp một chiếc ô tô tuyệt đẹp táo tợn đến thế, lại còn ban tặng những lời xấc xược ngông cuồng, đầy trí tưởng tượng tát thẳng vào mặt đám cảnh sát bụng phệ, mặt đỏ gay cơ chứ!" (Đến đây, những tiếng nấc nghẹn ngào làm cậu gần như tắc thở).

"Sao tôi lại có thể là một con vật ngu xuẩn đến mức này," (cậu than thở), "để giờ đây phải héo mòn mục nát trong cái ngục tối tăm này, cho đến ngày những kẻ từng vỗ ngực tự hào vì quen biết tôi cũng sẽ lãng quên luôn cái tên Cóc! Ôi bác Lửng già khôn ngoan!" (cậu khóc lóc), "Ôi anh Chuột Nước thông minh, tài trí và anh Chuột Chũi thấu tình đạt lý! Các anh có những phán đoán thật sự chuẩn xác, các anh am tường con người và sự đời biết bao! Còn đây, ôi một con Cóc bất hạnh, một kẻ bị ruồng bỏ!"

Suốt mấy tuần ròng rã, ngày cũng như đêm, cậu chìm nghỉm trong những lời than vãn não nề ấy, cự tuyệt mọi bữa ăn chính lẫn các món điểm tâm. Bất chấp việc lão cai ngục già nua và cục cằn, vốn thừa biết túi tiền của Cóc rủng rỉnh đến cỡ nào, đã thường xuyên bóng gió rằng có thể luồn lách mang vào nhiều món đồ tiện nghi, thậm chí là xa xỉ phẩm từ bên ngoài-miễn là được giá.

Lão cai ngục có một cô con gái, một thiếu nữ ngoan hiền và nhân hậu, vẫn thường loanh quanh phụ giúp cha những công việc vặt vãnh chốn lao tù. Cô đặc biệt yêu thương mọi giống loài nhỏ bé. Ngoài một con chim hoàng yến - thứ mà ban ngày lồng của nó bị treo tòng teng trên chiếc đinh đóng vào bức tường kiên cố tháp canh, gây ra sự bực dọc tột độ cho những tù nhân khao khát chợp mắt sau bữa trưa, rồi ban đêm lại bị trùm kín bằng tấm khăn trải bàn nơi phòng khách - cô còn nuôi vài con chuột nhắt khoang và một con sóc không ngừng xoay tít trong lồng kính. Cô gái tốt bụng ấy, quá đỗi xót xa trước cảnh khốn cùng của Cóc, một ngày nọ liền thưa với cha:

"Cha ơi! Con không nỡ lòng nào nhìn con vật đáng thương ấy cứ u sầu rồi ngày một héo hon đi như thế! Cha cứ giao nó cho con cai quản đi. Cha biết con yêu động vật thế nào mà. Con sẽ dỗ cho nó chịu ăn thức ăn từ chính tay con, bắt nó ngồi ngoan, và dạy nó làm đủ trò tiêu khiển."

Cha cô gật gù, đáp rằng cô muốn làm gì với con vật ấy thì tùy. Thực tình, lão cũng đã phát ngấy với Cóc, với cái bộ dạng sưng sỉa, cái thói vênh váo và cả sự bủn xỉn của cậu ta. Thế là ngay hôm đó, cô gái bắt tay vào sứ mệnh nhân ái của mình, bước tới gõ cửa phòng giam của Cóc.

"Nào, vui lên đi, anh Cóc," cô cất lời dỗ dành khi bước vào, "ngồi dậy nào, lau nước mắt đi và làm một con vật biết điều xem sao. Hãy cố gắng lót dạ một chút bữa trưa nhé. Nhìn xem, tôi đã trích phần của mình mang cho anh một ít đây, vẫn còn nóng hổi mới ra lò đấy!"

Đó là món bắp cải chiên khoai tây kiểu Anh, được ủ ấm giữa hai chiếc đĩa, và mùi thơm phưng phức của nó nhanh chóng lan tỏa khắp căn buồng giam chật hẹp. Hương bắp cải xộc thẳng vào mũi Cóc khi cậu đang nằm bẹp gí, chìm đắm trong nỗi khốn khổ trên mặt sàn, và trong một chớp mắt, nó nhen nhóm trong cậu ý nghĩ rằng có lẽ cuộc đời này chưa hẳn đã hoàn toàn trống rỗng và tuyệt vọng như cậu vẫn tưởng. Nhưng rồi, cậu vẫn tiếp tục than khóc, hai chân giãy giụa đạp loạn xạ, nhất quyết cự tuyệt mọi lời an ủi. Thấy thế, cô gái khôn ngoan đành tạm thời lui bước. Nhưng, tất nhiên, hương thơm ngào ngạt của bắp cải nóng vẫn lởn vởn quanh quẩn đâu đó, như một lẽ thường tình, và Cóc, giữa những tiếng nấc cụt, bắt đầu sụt sịt ngửi, rồi ngẫm ngợi. Dần dà, trong đầu cậu nảy sinh những ý niệm mới mẻ, tràn đầy cảm hứng: về tinh thần hiệp sĩ, về thi ca, và những chiến công oai hùng vẫn đang chờ đợi cậu ở phía trước; về những cánh đồng cỏ bao la bát ngát, nơi bầy gia súc nhẩn nha gặm cỏ, đắm mình trong gió lộng và nắng vàng; về những khu vườn bếp trù phú, những luống thảo mộc thẳng tắp ngăn nắp, và những đóa mõm sói rực rỡ ấm áp vo ve tiếng ong bầy; và rồi, về cả tiếng lanh canh rộn rã, êm ái của bát đĩa dọn lên bàn ăn ở Dinh thự Cóc, cùng tiếng chân ghế xê dịch cọ xát trên sàn gỗ khi mọi người hân hoan kéo ghế lại gần để thưởng thức bữa tiệc.

Bầu không khí trong căn phòng giam chật chội bỗng chốc rực lên sắc hồng tươi sáng; cậu bắt đầu nghĩ về những người bạn chí cốt của mình, tin chắc rằng họ kiểu gì cũng sẽ nghĩ ra cách để cứu vãn tình hình; cậu nghĩ về những vị luật sư đại tài, và hẳn họ đã hứng thú với vụ án lẫy lừng của cậu ra sao, và tự rủa mình thật là một con lừa ngốc nghếch khi không tức tốc gọi ngay vài người đến bào chữa; và cuối cùng, cậu nghĩ về trí thông minh xuất chúng cùng tài xoay sở tuyệt đỉnh của chính mình, cùng tất thảy những kỳ tích cậu dư sức làm được nếu chỉ cần chịu để tâm vào. Thế là, căn bệnh tuyệt vọng của cậu gần như đã được chữa khỏi hoàn toàn.

Khi cô gái quay lại vài giờ sau đó, cô bưng theo một chiếc khay, trên đó đặt một tách trà thơm lừng đang bốc khói nghi ngút; kèm theo một đĩa chất đầy những lát bánh mì nướng phết bơ nóng hổi, xắt miếng dày cộp, hai mặt xém vàng nâu ươm, với lớp bơ tan chảy len lỏi qua từng lỗ hổng trên mặt bánh, rỏ xuống những giọt óng ả hệt như mật ngọt ứa ra từ tổ ong. Mùi thơm nức nở của chiếc bánh mì nướng bơ ấy dường như đã cất tiếng gọi Cóc, bằng một chất giọng vô cùng réo rắt và rõ ràng; nó khơi gợi lại những gian bếp ấm áp lửa hồng, những bữa điểm tâm tinh tươm trong các buổi sáng sương giá rực rỡ, những buổi tối mùa đông quây quần ấm cúng bên lò sưởi phòng khách, khi chuyến dạo chơi đã khép lại và đôi chân xỏ dép êm ái được gác lên tấm chắn bùn; nó gợi nhắc tiếng rừ rừ khoan khoái của những con mèo no nê mãn nguyện, và cả tiếng hót líu lo lười biếng của bầy hoàng yến ngái ngủ.

Cóc lại ngồi bật dậy một lần nữa, quệt khô những giọt nước mắt, nhấp từng ngụm trà đậm đà và nhai nhóp nhép miếng bánh mì nướng. Rất nhanh chóng, cậu bắt đầu say sưa liến thoắng kể về bản thân, về cơ ngơi lộng lẫy nơi cậu sinh sống, về những công việc vĩ đại cậu làm ở đó, cậu có tầm ảnh hưởng quan trọng đến nhường nào, và bạn bè xung quanh kính trọng, vị nể cậu ra sao.

Con gái lão cai ngục tinh ý nhận ra chủ đề này mang lại cho cậu nguồn sinh khí chẳng kém gì tách trà nóng, và quả thực đúng là như vậy, nên cô không ngừng khuyến khích cậu kể tiếp.

"Kể cho tôi nghe về Dinh thự Cóc đi," cô nói. "Nghe có vẻ vô cùng tuyệt diệu."

"Dinh thự Cóc," Cóc ưỡn ngực tự hào nói, "là một dinh thự tráng lệ dành riêng cho quý tộc độc thân với những tiện nghi khép kín vô cùng độc đáo; một phần của nó được xây dựng từ tận thế kỷ mười bốn, nhưng lại ngập tràn mọi tiện nghi hiện đại bậc nhất. Hệ thống vệ sinh tối tân. Chỉ cách nhà thờ, bưu điện và sân golf đúng năm phút tản bộ, Rất phù hợp để--"

"Cầu trời phù hộ cho con vật này," cô gái bật cười khúc khích, "tôi đâu có ý định thuê lại nó đâu. Hãy kể cho tôi nghe điều gì đó chân thực về nó đi nào. Nhưng trước tiên, hãy đợi tôi đi lấy thêm cho anh chút trà và bánh mì nướng đã nhé."

Cô thoăn thoắt bước đi, và một chốc sau quay lại với một khay đồ ăn mới đầy ắp; còn Cóc, vừa say sưa ngấu nghiến miếng bánh mì nướng, vừa cảm thấy tinh thần đã hoàn toàn phục hồi lại mức phong độ bình thường. Cậu thao thao bất tuyệt kể cho cô nghe về nhà thuyền, hồ cá, và khu vườn bếp cổ kính được bao bọc bởi những bức tường đá; về chuồng lợn, chuồng ngựa, chuồng bồ câu và cả chuồng gà; về phòng để sữa, buồng giặt giũ, tủ đựng đồ sứ quý giá và tủ đựng khăn trải giường êm ái (cô gái đặc biệt tỏ ra thích thú với phần này); và rồi cậu miêu tả gian phòng tiệc tùng lộng lẫy, cùng những niềm vui bất tận mà bọn họ có được ở đó, khi những con vật khác quây quần quanh bàn tiệc và Cóc phô diễn phong độ tuyệt vời nhất của mình: hát những bài ca rộn rã, kể những câu chuyện ly kỳ, và không ngừng khuấy động bầu không khí tưng bừng. Sau đó, cô tò mò muốn biết về những người bạn thân thiết của cậu, và vô cùng thích thú với mọi điều cậu kể về chúng, về cách chúng sinh sống, và những trò chúng làm để giết thời gian. Tất nhiên, cô giấu nhẹm việc mình yêu thương động vật như những thú cưng, bởi cô đủ tinh tế để hiểu rằng nếu biết điều đó, Cóc sẽ giận dữ đến nhường nào. Khi cô chúc cậu ngủ ngon, sau khi đã ân cần châm đầy bình nước và rũ lại ổ rơm êm ái cho cậu, Cóc đã gần như trở lại nguyên bản là một con vật lạc quan, kiêu hãnh và tự mãn hệt như những ngày xưa cũ. Cậu ư ử hát một hai khúc ca ngắn, loại bài tủ cậu vẫn thường nghêu ngao trong những bữa tiệc tối linh đình, rồi cuộn tròn mình trong đống rơm rạ, chìm vào một giấc ngủ tuyệt vời cùng những giấc mơ êm đềm nhất.

Nhiều ngày buồn tẻ chầm chậm trôi qua, họ đã có với nhau biết bao cuộc trò chuyện thú vị; và con gái lão cai ngục dần cảm thấy vô cùng xót thương Cóc, cô cho rằng thật là một sự hổ thẹn tột cùng khi một con vật nhỏ bé, tội nghiệp lại bị đày đọa trong chốn lao tù, vì một nguyên nhân mà theo cô, chỉ là một lỗi lầm vặt vãnh chẳng đáng bận tâm. Tất nhiên, Cóc, trong sự kiêu hãnh ngất trời của mình, lại đinh ninh rằng sự quan tâm ân cần mà cô dành cho cậu xuất phát từ một tình cảm mến thương đang ngày ngày đơm hoa kết trái; và cậu không khỏi xen lẫn đôi chút tiếc nuối bâng khuâng, xót xa vì khoảng cách địa vị xã hội giữa hai người quá đỗi xa vời, bởi dẫu sao, cô cũng là một thiếu nữ xinh đẹp, và hiển nhiên là đang vô cùng sùng bái cậu.

Một buổi sáng nọ, cô gái bước vào với vẻ mặt đăm chiêu lạ thường, trả lời bâng quơ hờ hững, và theo như Cóc thấy, dường như cô chẳng hề để tâm thích đáng đến những câu nói dí dỏm duyên dáng cùng những lời bình luận sắc sảo của cậu.

"Anh Cóc này," cô ngập ngừng cất tiếng, "làm ơn lắng nghe tôi nói đây. Tôi có một người dì đang làm nghề thợ giặt."

"Thôi nào, thôi nào," Cóc xua tay, cất giọng nhã nhặn nhưng đầy vẻ bề trên, "đừng bận tâm nữa; đừng vướng bận suy nghĩ về chuyện đó làm gì. Bản thân tôi cũng có vài người dì đáng lẽ ra cũng nên đi làm thợ giặt đấy."

"Xin hãy im lặng một lát đi, anh Cóc," cô gái gắt nhẹ. "Anh nói quá nhiều rồi đấy, đó là khuyết điểm lớn nhất của anh, và tôi thì đang cố tập trung suy nghĩ, anh làm tôi nhức cả đầu rồi đây này. Như tôi đã nói, tôi có một người dì làm nghề thợ giặt; dì ấy nhận thầu việc giặt giũ cho toàn bộ tù nhân trong tòa lâu đài này-gia đình chúng tôi luôn cố gắng thâu tóm bất kỳ mối làm ăn béo bở nào kiểu như vậy, anh hiểu chứ. Dì ấy đến thu gom đồ bẩn vào sáng thứ Hai, và mang trả đồ sạch vào tối thứ Sáu. Hôm nay đã là thứ Năm rồi. Giờ thì, một ý tưởng vừa lóe lên trong đầu tôi: anh rất giàu có-ít nhất thì lúc nào anh cũng khoe khoang với tôi như thế-và dì ấy thì lại vô cùng nghèo túng. Vài bảng Anh lẻ tẻ sẽ chẳng bõ bèn gì với một người như anh, nhưng lại mang ý nghĩa sống còn với dì ấy. Bây giờ, tôi nghĩ rằng nếu dì ấy được tiếp cận đúng cách-bằng cách dàn xếp ổn thoả, tôi tin đó là từ ngữ mà giới động vật các anh hay dùng-anh hoàn toàn có thể thỏa thuận một cách nào đó để dì ấy chịu nhượng lại chiếc váy, mũ len và vân vân, và rồi anh có thể đường hoàng trốn thoát khỏi tòa lâu đài này dưới vỏ bọc một nữ thợ giặt chính thức. Hai người trông rất giống nhau ở nhiều điểm-đặc biệt là về vóc dáng đấy."

"Chúng tôi không hề giống nhau," Cóc phụng phịu, hậm hực cãi lại. "Tôi sở hữu một vóc dáng vô cùng thanh lịch-nếu xét so với dáng vẻ của chính tôi."

"Dì tôi cũng vậy," cô gái điềm nhiên đáp, "nếu xét so với dáng vẻ của dì ấy. Nhưng thôi, anh cứ làm theo ý anh đi. Đồ con vật đáng ghét, kiêu ngạo, và vô ơn kia, trong khi tôi đang mủi lòng thương hại anh, và đang cố gắng tìm cách cứu giúp anh!"

"Được rồi, được rồi, thế là ổn; thực sự vô cùng cảm tạ cô," Cóc vội vã xuống nước. "Nhưng nghe này! Cô chắc hẳn đâu muốn ngài Cóc lẫy lừng của Dinh thự Cóc, lại đi lang thang khắp nơi trong vùng dưới lớp vỏ ngụy trang nực cười của một bà thợ giặt cơ chứ!"

"Thế thì anh cứ việc ở rịt lại đây mà làm một con Cóc đi," cô gái khoanh tay, nói với giọng đầy quyết liệt. "Tôi đoán chừng là anh muốn được hộ tống ra khỏi đây trên một cỗ xe ngựa bốn bánh lộng lẫy cơ đấy!"

Cóc vốn là một kẻ thành thật và luôn sẵn sàng nhận sai. "Cô quả là một cô gái tốt bụng và thông minh xuất chúng," cậu nhún nhường, "còn tôi thì quả thực là một con cóc kiêu ngạo và ngu ngốc nghếch. Xin cô vui lòng giới thiệu tôi với người dì đáng kính của cô, và tôi không mảy may nghi ngờ gì rằng, quý phu nhân xuất chúng ấy và tôi sẽ có thể thỏa thuận được những điều khoản làm hài lòng cả đôi bên."

Tối hôm sau, cô con gái viên cai ngục lén đưa người dì vào xà lim của Cóc, xách theo mớ đồ giặt cộm lên trong một chiếc khăn túm gọn. Bà lão vốn dĩ đã được phím trước về cuộc gặp gỡ này, nhưng chính những đồng tiền vàng sovereign óng ánh1 mà Cóc khéo léo bày sẵn trên bàn, ngay ngắn và vô cùng ngon mắt, mới thực sự chốt hạ mọi vướng mắc, chẳng để lại nửa lời cò kè qua lại. Đổi lấy nắm tiền hậu hĩnh ấy, Cóc tậu được một chiếc váy cotton hoa hòe, một cái tạp dề, một chiếc khăn choàng, cùng một chiếc mũ len đen cũ kỹ đến sờn rách. Điều kiện duy nhất mà bà lão khăng khăng đưa ra là bà phải bị bịt miệng, trói nghiến lại và ném lăn lóc vào một góc. Bà hỉ hả giải thích rằng, với cái mưu kế ấu trĩ này, cộng thêm tài thêu dệt những câu chuyện rùng rợn và ly kỳ, bà đinh ninh mình sẽ lấp liếm được vụ việc đầy mùi mờ ám này mà vẫn yên ổn giữ được cần câu cơm.

Cóc vô cùng khoái trá trước màn kịch này. Nó cho phép cậu đường hoàng bước ra khỏi chốn ngục tù với một phong thái lẫm liệt, để cái danh tiếng lẫy lừng về một gã giang hồ cộm cán chẳng mảy may xước xát. Thế là cậu xăng xái hùa cùng cô con gái cai ngục, ra tay biến bà dì thành một nạn nhân khốn khổ cùng cực, như thể vừa trải qua một kiếp nạn vô phương kháng cự.

"Giờ thì tới phiên anh đó, anh Cóc," cô gái bảo. "Trút bỏ áo khoác ngoài và gile2 ra đi; vóc dáng này của anh là đủ đẫy đà lắm rồi đấy."

Vừa cười rũ rượi, cô vừa lúi húi gài từng móc, nương từng khuy chiếc váy hoa cotton lên người cậu. Cô thoăn thoắt xếp lại những nếp gấp khăn choàng với một sự điệu nghệ nhà nghề, rồi tỉ mẩn thắt chặt dải rút của chiếc mũ len tơi tả dưới cằm cậu.

"Anh trông cứ như đúc cùng một khuôn với dì tôi vậy," cô khúc khích nắc nẻ, "chỉ có điều, tôi dám cá là cả cuộc đời anh chưa bao giờ toát lên vẻ đáng kính bằng một nửa bộ dạng lúc này. Nào, tạm biệt anh Cóc, và chúc may mắn! Cứ đi thẳng xuống đúng theo lối anh đã bước lên. Nếu lỡ có gã nào buông lời bỡn cợt - mà chắc mẩm bọn họ sẽ thế thôi, rặt một lũ đàn ông mà - tất nhiên anh có quyền đong đưa lại chút đỉnh, nhưng hãy khắc cốt ghi tâm rằng: anh đang mang phận một góa phụ thân cô thế cô giữa dòng đời chìm nổi, và có phẩm giá ngọc ngà cần phải gìn giữ đấy nhé."

Mang theo một trái tim đập thình thịch nhưng vẫn cố lê những bước chân cứng cỏi nhất có thể, Cóc rón rén dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mà tự thân cậu cũng thấy liều lĩnh và điên rồ đến cực điểm. Nhưng chỉ một chốc sau, cậu đã ngỡ ngàng đan xen thích thú khi nhận ra mọi thứ đang rộng đường mở lối cho mình một cách êm ái đến nhường nào. Trớ trêu thay, xen lẫn sự khoái trá ấy là một chút tủi thân ngấm ngầm, khi cậu nhận ra cả cái danh tiếng lừng lẫy, lẫn cái giới tính làm nên sự nể trọng ấy, hóa ra lại thuộc về một bà lão thợ giặt chứ chẳng phải chàng Cóc hào hoa. Thân hình đẫy đà trong bộ váy hoa hòe quen mắt ấy dường như là một tấm kim bài miễn tử, dễ dàng bật tung mọi cánh cửa im ỉm khóa và những trạm gác bủa vây trùng trùng. Thậm chí, ngay cả khi cậu đang lớ ngớ chần chừ ở một ngã rẽ, tên lính gác trạm kế tiếp đã sốt sắng giải vây cho cậu; gã đang cuống cuồng muốn chạy đi làm một tách trà nên cứ the thé giục cậu bước mau lên, đừng có mà bắt gã đứng chôn chân chờ đợi cả buổi tối. Thực chất, mối nguy hiểm tày đình nhất lại chẳng nằm ở những ổ khóa ngục tù, mà đến từ vô số những lời trêu hoa ghẹo nguyệt và cợt nhả bủa vây lấy cậu. Đương nhiên, cậu phải ứng biến thật lẹ làng và hiệu quả để đáp trả. Vốn là một sinh vật có lòng tự tôn ngút ngàn, Cóc coi rẻ phần lớn đám bông đùa ấy là thứ thô thiển, chướng tai gai mắt, và nhạt nhẽo đến mức không đáng xách dép. Tuy thế, dẫu phải kìm nén cơn thịnh nộ bực dọc một cách chật vật, cậu vẫn ráng uốn nắn từng lời ăn tiếng nói cho vừa vặn với đám người xung quanh và cái vỏ bọc hiện tại, oằn mình giữ cho bằng được ranh giới của một quý bà nhã nhặn.

Thời gian lê thê tưởng chừng đã ngót nghét hàng giờ trôi qua trước khi cậu băng qua được khoảng sân chót, khước từ những lời buông lơi lả lơi từ trạm gác cuối cùng, và phải lách mình né tránh vòng tay dang rộng của tên lính canh chốt chặn đang sướt mướt đòi một cái ôm từ biệt với niềm khao khát sáo rỗng. Nhưng rồi, rốt cuộc, tiếng cánh cổng phụ trên cánh cửa lớn bên ngoài đã đóng sập lại một tiếng "rầm" uy lực ngay sau lưng. Cóc cảm nhận trọn vẹn luồng gió mát lành của thế giới tự do ùa vào vầng trán đang ướt đẫm mồ hôi vì căng thẳng, và bàng hoàng nhận ra: cậu đã tự do!

Chếnh choáng trước thắng lợi dễ dàng của phi vụ mạo hiểm, Cóc rảo bước mau lẹ về phía những quầng sáng của thị trấn. Cậu chưa biết phải làm gì tiếp theo, nhưng chỉ chắc mẩm một điều: phải chuồn cho nhanh khỏi cái chốn mà người phụ nữ cậu đang phải sắm vai lại quá đỗi nổi tiếng và được mến mộ.

Vừa rảo bước vừa đắn đo suy tính, sự chú ý của cậu bỗng va phải những đốm đèn tín hiệu xanh đỏ cách đó một quãng, nằm nép về một bên thị trấn. Tiếng động cơ phì phò, xình xịch cùng những tiếng va lanh canh của các toa xe đang chuyển ray vọng đến tai cậu. "Chà chà!" cậu thầm nghĩ, "đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh! Một nhà ga xe lửa chính là thứ ta khao khát nhất trên cõi đời này vào lúc này. Đã thế, ta lại chẳng cần phải mò mẫm băng qua thị trấn, cũng chẳng phải diễn cái vai dở khóc dở cười này mà buông những lời đối đáp bỗ bã; dẫu có hiệu quả đấy, nhưng lại sứt mẻ hết cả lòng tự tôn của một đấng nam nhi."

Thế là Cóc hăm hở dấn bước tới nhà ga, liếc nhìn bảng giờ tàu, và phát hiện ra có một chuyến ít nhiều xuôi về hướng nhà mình, dự kiến sẽ khởi hành trong nửa giờ nữa. "Trời thương ta rồi!" Cóc reo lên, tinh thần hưng phấn hẳn, rồi sải bước thẳng tới quầy vé.

Cậu dõng dạc xướng tên nhà ga gần nhất với ngôi làng nơi Dinh thự Cóc uy nghi tọa lạc. Rồi theo thói quen máy móc, cậu thò tay vào cái nơi lẽ ra là túi áo gile, định moi mấy đồng bạc lẻ. Nhưng hỡi ôi, ngay lúc này, chiếc váy vải hoa thô kệch-thứ chiến bào vừa mới phút trước còn che chở cậu trót lọt, và bị cậu cho vào lãng quên-bỗng trở chứng cản đường, đánh gục mọi nỗ lực của cậu. Như bị bóng đè, cậu cứ thế vật lộn với thứ trang phục xa lạ quái đản đang trói chặt lấy tay, biến mọi sức lực thành con số không tròn trĩnh, như thể nó đang không ngừng giễu cợt cậu. Trong khi đó, đám hành khách xếp hàng phía sau đang mỗi lúc một mất kiên nhẫn, thi nhau buông lời mỉa mai, châm chọc sâu cay. Cuối cùng-bằng một cách thần kỳ nào đó mà chính cậu cũng chẳng bao giờ hiểu nổi-cậu phá vỡ được rào cản, chạm tới cái vị trí thiêng liêng nơi túi áo gile đáng lẽ phải ngự trị, để rồi kinh hoàng nhận ra: không những chẳng có đồng xu cắc bạc nào, mà cũng chẳng có cái túi nào để đựng tiền, và dĩ nhiên, cũng làm gì có chiếc áo gile nào để đính cái túi đó lên!

Cậu bàng hoàng nhớ ra mình đã vứt lại cả áo khoác lẫn gile trong phòng giam, và kéo theo đó là ví tiền, chìa khóa, đồng hồ, bao diêm, hộp bút-toàn bộ những món đồ tùy thân làm nên ý nghĩa cuộc đời. Đó chính là những bảo vật phân biệt một loài sinh vật có nhiều túi áo, mang đẳng cấp của Chúa tể muôn loài, với những giống loài thấp kém chỉ có một túi hoặc chẳng có nổi cái túi áo vắt vai, cứ thế nhảy nhót lon ton mà chẳng hề được trang bị vũ khí cho cuộc chiến sinh tồn thực sự.

Trong cơn cùng quẫn, Cóc đánh liều tung đòn cuối cùng, cố nặn ra cái phong thái uy nghi đường bệ thuở nào-một sự pha trộn hoàn hảo giữa cốt cách của bậc Điền chủ và sự uyên bác của ngài Giảng viên Đại học-cậu cất giọng: "Này anh bạn! Tôi vừa phát hiện ra mình bỏ quên ví ở nhà. Anh cứ xé cho tôi tấm vé đó nhé, rồi mai tôi sẽ cho người mang tiền đến trả ngay. Tôi cũng là nhân vật có tiếng tăm ở cái xứ này đấy."

Gã nhân viên bán vé chằm chằm nhìn cậu cùng chiếc mũ len đen cũ kỹ sờn rách mất một chốc, rồi phá lên cười hợm hĩnh. "Tôi cũng nghĩ bà nổi tiếng lắm đấy," gã mỉa mai, "nếu bà cứ dở mãi cái trò lừa đảo này. Này, làm ơn tránh khỏi quầy đi cho được việc, thưa bà; bà đang chắn đường người khác đấy!"

Một lão trượng đứng tuổi, người nãy giờ cứ lấy cùi chỏ huých huých vào lưng cậu, bèn thô bạo đẩy cậu ra. Tồi tệ hơn cả, lão ta còn gọi cậu là người đàn bà tốt bụng. Lời xỉ vả ấy làm Cóc điên tiết hơn bất cứ tai ương nào giáng xuống đầu cậu trong cái đêm tồi tệ này.

Thất bại ê chề và tuyệt vọng cùng cực, Cóc bước đi vô định dọc theo sân ga, nước mắt ngắn nước mắt dài thi nhau lã chã rơi trên sống mũi. Cậu cay đắng nghĩ, trớ trêu thay, lối thoát đã cận kề trước mắt, nhà cửa chỉ còn cách vài gang tấc, vậy mà lại bị cản bước chỉ vì thiếu vài đồng shilling lẻ khốn khổ3 và vì thói đa nghi vặt vãnh của đám tiểu lại rởm đời. Chẳng mấy chốc nữa, tin cậu vượt ngục sẽ vỡ lở, lệnh truy nã sẽ rải khắp nơi. Cậu sẽ bị tóm cổ, bị đem ra làm trò cười cho thiên hạ, bị gông cùm xích sắt lôi xềnh xệch về ngục tối, lại hoàn kiếp gặm bánh mì cứng, uống nước lã và nằm ổ rơm nháp. Lính gác sẽ tăng lên gấp đôi, hình phạt sẽ khốc liệt gấp bội; và ôi, cô con gái lão cai ngục sẽ mỉa mai cậu bằng những lời lẽ cay nghiệt đến nhường nào! Phải làm gì bây giờ đây? Chân cậu thì ngắn tủn, chạy đâu cho thoát; vóc dáng lại quá đỗi đặc trưng, đi tới đâu người ta cũng nhận ra. Hay là lẩn mọc xuống gầm ghế toa hành khách4 nhỉ? Cậu từng chứng kiến đám học trò láu cá xài mánh này, khi bao nhiêu tiền tàu xe mà cha mẹ chắt bóp cho chúng đã bay biến vào những thú vui "tao nhã" khác. Trong lúc đang mải chìm trong dòng suy tư, Cóc chợt nhận ra mình đang đứng đối diện với chiếc đầu máy xe lửa. Cỗ máy khổng lồ ấy đang được lau chùi, tra dầu, và mơn trớn âu yếm bởi một người lái tàu vạm vỡ, tay lăm lăm bình dầu, tay kia cầm túm xơ bông lau chùi.

"Chào bà mẹ!" người lái tàu cất tiếng, "có chuyện gì sao? Trông bà ỉu xìu như bánh đa nhúng nước thế kia."

"Ôi, thưa ngài!" Cóc mếu máo, lại được thể bù lu bù loa, "tôi là một bà thợ giặt nghèo khổ và bất hạnh tột cùng. Tôi đã đánh rơi sạch sành sanh túi tiền của mình, lấy đâu ra mà mua vé bây giờ. Nhưng bằng mọi giá, tôi phải về nhà ngay trong đêm nay, tôi chẳng biết xoay xở ra sao nữa. Ôi trời cao đất dày ơi!"

"Chuyện tồi tệ thật," người lái tàu trầm ngâm đồng cảm. "Mất sạch tiền-rồi không thể về nhà-tôi đồ rằng bà còn mấy đứa nheo nhóc đang ngóng mẹ ở nhà nữa, đúng không?"

"Cả một bầy lúc nhúc ấy chứ," Cóc thút thít. "Và chúng sẽ chết đói mất-rồi thể nào cũng nghịch diêm-rồi làm đổ đèn dầu, ôi những đứa trẻ ngây thơ tội nghiệp!-rồi chúng lại cấu xé, cãi vã, lật tung cả cái nhà lên cho xem. Trời ơi là trời!"

"Chà, tôi tính thế này," người lái tàu đôn hậu nói. "Bà bảo bà làm nghề thợ giặt. Quá tuyệt, mọi chuyện coi như xong. Còn tôi là người lái tàu, bà thấy đấy, một công việc lấm lem bùn than. Nghề này ngốn cơ man nào là áo sơ mi, đến mức vợ tôi đã phát ớn tận cổ mỗi khi phải giặt giũ. Nếu bà chịu khó giặt vài chiếc áo cho tôi khi về đến nhà, rồi gửi lại cho tôi, tôi sẽ cho bà đi nhờ trên buồng lái. Đúng ra thì chuyện này trái với luật của Công ty đấy, nhưng ở cái nơi khỉ ho cò gáy này thì mấy anh em tôi cũng nhắm mắt làm ngơ thôi."

Nỗi thống khổ của Cóc phút chốc tan biến, nhường chỗ cho sự hân hoan tột độ khi cậu lóp ngóp trèo tót lên buồng lái. Tất nhiên, cả đời cậu chưa từng phải vò dẫu chỉ một chiếc áo sơ mi, và dẫu có cố sống cố chết thì cậu cũng chẳng tài nào làm nổi, mà thực bụng thì cậu cũng chẳng bao giờ có ý định bắt tay vào làm việc đó. Nhưng cậu thầm tính toán: "Một khi ta đã về đến Dinh thự Cóc bình an vô sự, tiền bạc rủng rỉnh như xưa, nhét đầy ắp các túi áo, ta sẽ hào phóng gửi cho người lái tàu này đủ tiền để giặt cả núi áo sơ mi; thế chẳng phải là chu toàn đôi đường sao, thậm chí còn hậu hĩnh hơn ấy chứ."

Nhân viên gác ghi phất cờ ra hiệu xuất phát, người lái tàu kéo còi đáp lời hân hoan, và đoàn tàu từ từ rùng mình lăn bánh rời ga. Khi tốc độ mỗi lúc một tăng, Cóc có thể thỏa mắt ngắm nhìn những cánh đồng xanh ngắt, những rặng cây, hàng rào, cùng bầy bò và những chú ngựa hai bên đường đang vùn vụt lướt qua. Cứ nghĩ tới chuyện mỗi phút giây trôi qua lại đưa cậu về gần hơn với Dinh thự Cóc, gần hơn với những người bạn chí cốt đầy lòng trắc ẩn, với những đồng xu lấp lánh réo rắt trong túi, với chiếc giường lông vũ êm ái, với những sơn hào hải vị ngập bàn, và nhất là với những lời tung hô, ngưỡng mộ khi cậu thao thao bất tuyệt kể về những chuyến phiêu lưu lẫy lừng và trí thông minh siêu phàm của mình, Cóc sướng rơn. Cậu bắt đầu nhảy nhót tưng bừng, hò hét ầm ĩ và hát vang những khúc ca nhí nhố, bỏ mặc người lái tàu trố mắt kinh ngạc. Trong đời, ông dẫu có từng gặp qua vài bà thợ giặt, nhưng chưa bao giờ, tuyệt nhiên chưa bao giờ, chứng kiến một bà thợ giặt nào có những hành vi cổ quái thế này.

Đoàn tàu băng qua không biết bao nhiêu dặm đường, và Cóc thì đang mải đắm chìm trong việc lên thực đơn thịnh soạn cho bữa tối đoàn tụ, bỗng cậu nhận ra người lái tàu đang mang vẻ mặt đăm chiêu. Ông ta rướn nửa người ra ngoài buồng lái, vểnh tai lắng nghe đầy cảnh giác. Rồi Cóc thấy ông ta trèo tót lên đống than, phóng tầm mắt qua nóc tàu nhìn về phía sau. Ông ta quay lại, cau mày bảo Cóc: "Kỳ lạ thật; chuyến của chúng ta là chuyến cuối cùng chạy tuyến này đêm nay, vậy mà tôi dám cá là có tiếng xình xịch của một đầu máy khác đang bám riết lấy chúng ta!"

Cóc lập tức tắt phụt mọi trò hề lố lăng vô bổ. Trông cậu ủ rũ và sầu thảm hẳn đi, một cơn đau âm ỉ chạy dọc phần dưới cột sống, lan thẳng xuống đôi chân ngắn ngủn. Cậu chỉ muốn ngồi sụp xuống, cố gồng mình tuyệt vọng xua đuổi khỏi tâm trí mọi viễn cảnh hãi hùng có thể xảy ra.

Giờ đây, ánh trăng vằng vặc chiếu sáng cả đất trời. Người lái tàu đứng sừng sững trên đống than, có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ tuyến đường ray uốn lượn tít tắp phía sau.

Một chốc sau, ông ta thất thanh kêu lên: "Tôi có thể thấy rõ mồn một rồi! Một đầu máy, đang chạy chung đường ray với chúng ta, lao đến với tốc độ kinh hồn bạt vía! Trông cứ như thể chúng ta đang bị truy sát vậy!"

Cóc tội nghiệp co rúm người lẩn vào giữa lớp bụi than, vắt óc cật lực tìm một việc gì đó để làm, nhưng lại thất bại thảm hại.

"Chúng đuổi sát nút rồi!" người lái tàu gào lên. "Và lạy Chúa, cái đầu máy ấy lố nhố rặt một lũ kỳ dị nhất cõi trần! Nào là mấy gã ăn vận như lính gác thời cổ đại, tay lăm lăm xà mâu; nào là bọn cảnh sát đội mũ giáp, tay vung vẩy dùi cui; lại còn mấy gã đàn ông mặc đồ nhếch nhác đội mũ phớt-chẳng lẫn vào đâu được chính là đám thám tử chìm dù chỉ nhìn từ xa-đang múa may súng lục với gậy ba toong. Cả bọn cứ điên cuồng vung vẩy vũ khí, đồng thanh gào thét rát cả cổ họng: 'Dừng lại, dừng lại, dừng lại!'"

Phút chốc, Cóc quỳ sụp xuống giữa đống than, chắp hai chân trước lạy lấy lạy để, nức nở van nài: "Cứu tôi với, xin hãy cứu rỗi đời tôi, hỡi ngài lái tàu nhân từ và cao quý, tôi xin khai thật tất cả! Tôi vốn chẳng phải là bà thợ giặt đơn thuần như cái vỏ bọc này! Tôi làm gì có đứa trẻ nào ngóng đợi ở nhà, dù là ngây thơ hay không! Tôi là một con cóc-ngài Cóc lừng danh và đáng kính, một bậc điền chủ; tôi chỉ vừa mới thoát thân, nhờ vào lòng quả cảm và trí tuệ siêu phàm của mình, khỏi cái ngục tối tăm hôi hám mà kẻ thù hắc ám đã ném tôi vào. Và nếu đám hung thần trên chiếc đầu máy kia mà tóm được tôi, thì ôi thôi, gông cùm xích sắt, bánh mì khô, nước lã, ổ rơm mốc meo và sự khốn khổ sẽ một lần nữa giáng xuống đầu gã Cóc đáng thương, bất hạnh và hoàn toàn vô tội này!"

Người lái tàu trừng mắt nhìn xuống cậu, ánh nhìn sắc lẹm, gằn giọng: "Bây giờ hãy khai thật đi; bà bị tống vào ngục vì tội gì?"

"Dạ, cũng chẳng to tát gì cho cam," Cóc tội nghiệp ấp úng, mặt đỏ lựng như gấc chín. "Tôi... tôi chỉ mượn tạm một chiếc ô tô trong lúc đám chủ xe đang dùng bữa trưa; đằng nào lúc ấy họ cũng có dùng đến đâu. Thề có trời, tôi đâu có ý định ăn cắp nó; thế nhưng thiên hạ-nhất là mấy gã quan tòa-lại cứ thích đánh giá quá khắt khe về những phút giây bốc đồng xốc nổi của tuổi trẻ."

Người lái tàu trầm ngâm vẻ vô cùng nghiêm trọng, rồi tuyên bố: "Tôi e rằng bà đích thị là một con cóc hư đốn, và chiếu theo lý lẽ, tôi phải giao nộp bà cho nền công lý đã bị xúc phạm. Tuy nhiên, rõ ràng là bà đang bần cùng khốn đốn thế này, tôi cũng không nỡ vứt bỏ bà. Một phần là tôi chẳng ủng hộ gì đám ô tô; phần nữa, tôi cũng không ủng hộ việc bị lũ cảnh sát sai khiến ngay trên chính buồng lái của mình. Và cảnh một sinh vật nhỏ rơi lệ lúc nào cũng làm tôi cảm thấy kỳ lạ và mủi lòng. Thế nên xốc lại tinh thần đi, Cóc! Tôi sẽ dốc toàn lực, và chúng ta vẫn có thể đánh bại chúng!"

Họ lao vào xúc thêm than, xúc hùng hục điên cuồng; lò sấy gầm gào dữ dội, tàn lửa bắn tung tóe sáng lòa. Đầu máy chồm lên và rung bần bật, nhưng đám truy đuổi phía sau vẫn đang lầm lỳ thu hẹp khoảng cách. Người lái tàu buông một tiếng thở dài thườn thượt, vơ túm xơ bông lau vầng trán, gằn giọng: "Tôi e là không ổn rồi, Cóc ạ. Bà thấy đấy, chúng chạy không tải, và chúng có một đầu máy tốt hơn. Giờ chỉ còn một việc duy nhất, và đây là cơ hội duy nhất của bà. Vì vậy hãy vểnh tai lên mà nghe cho thật kỹ những gì tôi nói với bà đây. Phía trước có một đường hầm dài, và ở phía bên kia, tuyến đường ray đi xuyên qua một khu rừng rậm rạp. Bây giờ, tôi sẽ tăng tốc tối đa khi chạy qua đường hầm, nhưng bọn chúng theo lẽ tự nhiên sẽ giảm tốc độ chút đỉnh vì sợ tai nạn. Khi chúng ta qua khỏi hầm, tôi sẽ ngắt hơi nước và phanh gấp hết sức có thể. Ngay khi cảm thấy an toàn, bà phải phóng ngay xuống và trốn vào rừng sâu, trước khi bọn chúng kịp lọt qua hầm và nhìn thấy bà. Sau đó, tôi sẽ lại rồ ga vọt lên phía trước, và bọn chúng cứ việc cắm đầu đuổi theo tôi bao lâu tùy thích, bao xa tùy thích. Nào, chú ý và chuẩn bị nhảy ngay khi tôi bảo bà!"

Cả hai lại hì hục xúc thêm than. Đoàn tàu rít lên, lao vun vút vào màn đêm đặc quánh của đường hầm, đầu máy chồm tới, gầm rít và rung bần bật. Cho đến khi cuối cùng họ vọt ra khỏi đường hầm ở đầu bên kia, lao mình vào bầu không khí trong trẻo quyện cùng ánh trăng thanh bình, và nhìn thấy khu rừng chìm trong bóng tối đầy vẻ hữu ích ở hai bên đường ray. Người lái tàu ngắt hơi nước và đạp phanh. Cóc bám tay bước xuống bậc lên xuống, và khi đoàn tàu giảm tốc xuống gần bằng tốc độ đi bộ, cậu nghe tiếng người lái tàu xé toạc màn đêm: "Bây giờ, nhảy đi!"

Cóc nhảy xuống, lăn lông lốc theo một bờ kè thấp, rồi đứng dậy mà chẳng hề sứt mẻ gì. Cậu lồm cồm bò vào trong rừng rậm và ẩn nấp.

Từ chỗ nấp nhìn trộm ra ngoài, cậu thấy chuyến tàu của mình đang tăng tốc trở lại, thoáng chốc đã lao đi với một vận tốc kinh hồn. Ngay sau đó, chiếc đầu máy bám đuôi cũng xé gió lao ra khỏi đường hầm. Tiếng động cơ gầm rú, tiếng còi rít lên inh ỏi. Đám người ô hợp trên tàu vừa vung vẩy đủ loại vũ khí vừa gào thét khản cổ: "Dừng lại! Dừng lại! Dừng lại!" Phải đợi đến khi bọn chúng đi khuất dạng, Cóc mới dám bật cười sảng khoái-đó là tràng cười đầu tiên của cậu kể từ cái ngày bị tống vào ngục tối.

Nhưng nụ cười chẳng đọng lại được bao lâu. Màn đêm đã buông xuống từ lúc nào, mang theo cái lạnh thấu xương. Cậu đang kẹt lại trong một khu rừng xa lạ, ruột gan cồn cào mà túi lại chẳng còn lấy một đồng cắc mẻ. Bạn bè, mái ấm thân thương đều đang ở một nơi xa tít tắp. Nhất là cái tĩnh lặng đến rợn người của vạn vật xung quanh-sau khi đã quen với tiếng gầm rú và nhịp rung lắc dữ dội của đoàn tàu-giáng xuống tâm trí cậu một cú sốc nặng nề. Chẳng dám ló mặt ra khỏi bóng tối của những tán cây, cậu đành cắm cúi luồn sâu vào rừng thẳm, rắp tâm bỏ lại tuyến đường sắt phía sau lưng càng xa càng tốt.

Quá quen với cảnh bị giam cầm giữa bốn bức tường suốt nhiều tuần lễ, Cóc bỗng thấy khu rừng này sao mà xa lạ và đầy ác ý. Cậu có cảm giác như mọi thứ xung quanh đang cố tình trêu chọc mình. Tiếng cú muỗi rền rĩ, khô khốc vang lên đều đặn trong đêm khiến cậu cứ ngỡ khu rừng đang đầy rẫy lính gác bủa lưới sục sạo, mỗi lúc một siết chặt vòng vây. Rồi một con cú xé gió lao xuống câm lặng, sượt cánh qua vai cậu. Cóc giật bắn mình, kinh hãi đinh ninh rằng có một bàn tay vừa túm lấy mình. Nhưng con chim đã lướt đi nhẹ bẫng như một bóng bướm đêm, bỏ lại những tiếng kêu "ho! ho! ho!" trầm đục như đang cười nhạo; điều mà Cóc cho là vô cùng thô thiển. Một lúc sau, cậu lại đụng độ một gã cáo. Gã dừng bước, soi mói cậu từ đầu đến chân với ánh mắt đầy mỉa mai rồi cất giọng: "Chào, bà thợ giặt! Tuần này mày làm thiếu nửa đôi tất và một cái vỏ gối đấy nhé! Liệu hồn đừng để chuyện này xảy ra lần nữa!" và vênh váo bước đi, cười khùng khục. Cóc điên tiết ngó quanh tìm một hòn đá để chọi cho gã một trận, nhưng ngặt nỗi chẳng đào đâu ra hòn đá nào, và điều đó lại càng làm cậu bực tức thêm gấp bội. Cuối cùng, khi cái lạnh, cơn đói và sự mệt mỏi đã vắt kiệt chút sức lực tàn, cậu đành chui vào một gốc cây rỗng ruột. Bằng những cành rụng và lá mục, cậu tự lót cho mình một ổ nằm êm ái nhất có thể, rồi chìm vào giấc ngủ say sưa cho tới tận sáng.



  1. Đồng 'sovereign' là một loại tiền xu bằng vàng của Anh quốc thời xưa, có giá trị bằng một bảng Anh (pound sterling). Vào thời Edward, một đồng sovereign là một số tiền rất lớn, đặc biệt đối với tầng lớp lao động như một thợ giặt, do đó nó có sức mạnh đập tan mọi sự e ngại. 

  2. 'Gile' (waistcoat) kết hợp với áo khoác ngoài là bộ trang phục tiêu chuẩn, mang tính biểu tượng của một quý ông (gentleman) thuộc tầng lớp thượng lưu Anh. 

  3. 'Shilling' là một đơn vị tiền tệ cũ của Anh (được sử dụng trước năm 1971), 20 shilling mới đổi được 1 bảng Anh. 

  4. Chi tiết này nhắc đến một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội Anh thời bấy giờ: các nam sinh trường nội trú thường được cho tiền để tự mua vé tàu về nhà, nhưng vì trót tiêu sạch vào quà vặt nên đành phải chui tọt xuống gầm ghế trốn vé để qua mặt nhân viên đường sắt.