PHẦN 1.
(Trích từ Hồi ký của John H. Watson, Bác sĩ Y khoa, nguyên sĩ quan Cục Quân y.)
CHƯƠNG I. ÔNG SHERLOCK HOLMES.
Năm 1878, tôi tốt nghiệp tấm bằng Bác sĩ Y khoa tại Đại học London, rồi thẳng tiến đến Netley để tham gia khóa huấn luyện dành cho bác sĩ phẫu thuật quân đội. Vừa hoàn tất chương trình ở Netley, tôi liền được bổ nhiệm vào Trung đoàn Bộ binh Northumberland số 5, giữ chức Trợ lý Bác sĩ Phẫu thuật. Vào thời điểm ấy, trung đoàn đang đóng quân tận Ấn Độ xa xôi. Nhưng còn chưa kịp đặt chân đến đơn vị, cuộc chiến Afghanistan lần thứ hai1 đã bùng nổ dữ dội. Khi con tàu cập bến Bombay, tôi nhận được tin đoàn quân của mình đã vượt qua những con đèo hiểm trở, tiến sâu vào lòng địch. Dẫu vậy, tôi cùng một số sĩ quan đồng cảnh ngộ vẫn quyết tâm lên đường. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được Candahar an toàn. Ở đây, tôi tìm gặp lại trung đoàn của mình và ngay lập tức lao vào nhiệm vụ mới.
Cuộc chiến ấy đem về danh vọng và cơ hội thăng tiến cho không ít người, nhưng với riêng tôi, nó chỉ chất chồng thêm hiểm nguy và bất hạnh. Tôi bị điều chuyển khỏi lữ đoàn cũ, nhận nhiệm sở mới tại trung đoàn Berkshire. Cùng họ, tôi bước vào trận Maiwand2 định mệnh - trận đánh chết chóc khủng khiếp nhất đời mình. Tại nơi ấy, một viên đạn Jezail3 găm thẳng vào vai tôi. Nó nghiền nát mảnh xương, sượt qua động mạch dưới đòn. Và tôi hẳn đã trở thành miếng mồi cho lũ chiến binh Ghazi4 khát máu, nếu không có lòng trung thành cùng sự gan dạ phi thường của Murray - anh lính phụ tá của tôi. Murray quẳng tôi vắt ngang lưng một con ngựa thồ, rồi phi nước đại đưa tôi về phòng tuyến quân Anh.
Thân thể đau đớn rã rời, tinh thần kiệt quệ sau chuỗi ngày dài chịu đựng gian lao, người ta đưa tôi - cùng một đoàn dài thương binh - lùi về bệnh viện tuyến sau ở Peshawar. Tại đó, tôi dần dà hồi phục. Sức khỏe khá lên đến mức tôi có thể thơ thẩn dạo quanh các phòng bệnh, thậm chí bước ra ngoài hiên tắm chút nắng hiếm hoi. Vậy mà, vận rủi vẫn chưa buông tha. Tôi mắc phải bệnh thương hàn, cơn ác mộng kinh hoàng nhất chốn thuộc địa Ấn Độ của chúng tôi. Suốt bao tháng trời, tôi nằm liệt giường, sự sống chỉ còn là một sợi chỉ mảnh treo lơ lửng. Khi cuối cùng cũng tỉnh dậy và bước vào giai đoạn tĩnh dưỡng, tôi đã gầy rộc đến mức báo động. Yếu ớt đến nỗi hội đồng y khoa tuyên bố không thể chần chừ thêm một ngày nào: tôi phải được đưa về Anh ngay lập tức. Và thế là tôi lên tàu chở quân "Orontes". Một tháng sau, tôi đặt chân xuống bến cảng Portsmouth, sức khỏe đã suy kiệt đến mức khó lòng vãn hồi. Dẫu sao, chính phủ nhân từ vẫn ban cho tôi chín tháng nghỉ phép, hi vọng tôi có thể gượng gạo hồi phục phần nào.
Ở nước Anh, tôi chẳng có lấy một người thân thích. Vậy nên tôi hoàn toàn tự do - hay nói cho đúng hơn, là tự do trong giới hạn mà mức lương mười một shilling sáu xu5 mỗi ngày cho phép. Trong hoàn cảnh ấy, tôi gần như bị nam châm hút thẳng về London - cái hố tử thần khổng lồ không thể cưỡng lại, nơi đám dân nhàn rỗi và lũ lãng tử khắp Đế quốc đều dạt về như nước chảy chỗ trũng. Thời gian đầu, tôi trú ngụ trong một khách sạn tư nhân trên đường Strand, sống một cuộc đời tẻ nhạt thiếu thốn mọi tiện nghi. Lại thêm cái tật tiêu xài phóng túng, rộng rãi vượt quá mức cần thiết. Chẳng mấy chốc, tình hình tài chính của tôi gióng lên hồi chuông báo động. Tôi chợt nhận ra: hoặc phải rời bỏ thủ đô, lui về một miền quê hẻo lánh nào đó sống ẩn dật, hoặc phải thay đổi triệt để lối sống ngay từ bây giờ. Tôi chọn cách thứ hai. Và bước đầu tiên, tôi quyết định rời khách sạn, tìm kiếm một nơi ở khiêm tốn hơn, bớt hào nhoáng và nhẹ gánh chi tiêu hơn.
Đúng vào cái ngày tôi đưa ra quyết định ấy, khi đang đứng ở quán Criterion Bar, bỗng có ai đó vỗ nhẹ lên vai tôi. Quay người lại, tôi nhận ra chàng Stamford trẻ tuổi - người từng là phụ tá dưới quyền tôi hồi còn ở bệnh viện Barts. Giữa cái thành London mênh mông hoang lạnh này, bắt gặp một gương mặt quen thuộc quả thật là điều ấm lòng xiết bao đối với một kẻ cô độc như tôi. Stamford trước đây vốn chẳng phải bạn bè thân thiết gì, ấy thế mà giờ đây tôi chào đón cậu ta bằng tất cả sự hân hoan. Về phía mình, cậu ta dường như cũng mừng rỡ không kém khi gặp tôi. Đang lúc cao hứng, tôi rủ cậu ta đến nhà hàng Holborn dùng bữa trưa, rồi cả hai cùng nhảy lên một chiếc xe ngựa hansom6.
"Rốt cuộc anh đã làm gì với bản thân mình thế này, Watson?" Cậu ta hỏi, giọng đầy kinh ngạc, chẳng thèm che giấu, khi chiếc xe lạch cạch lăn bánh băng qua những con phố London đông nghịt người. "Anh gầy như que củi, lại còn đen nhẻm như hạt dẻ nữa."
Tôi kể vắn tắt cho cậu ta nghe về những chuyến phiêu lưu của mình, và câu chuyện vừa dứt thì chúng tôi cũng vừa đến nơi.
"Khổ thân anh quá!" Cậu ta thốt lên đầy thương cảm sau khi nghe hết những vận rủi tôi trải qua. "Thế giờ anh tính làm gì đây?"
"Tìm chỗ trọ," tôi đáp. "Đang loay hoay với bài toán làm sao kiếm được mấy căn phòng vừa thoải mái, vừa túi tiền."
"Trùng hợp lạ thật đấy," người bạn đồng hành của tôi nhận xét. "Anh là người thứ hai trong ngày hôm nay nói với tôi đúng câu ấy."
"Vậy người đầu tiên là ai?" Tôi hỏi.
"Một anh chàng làm việc ở phòng thí nghiệm hóa học trên bệnh viện. Sáng nay anh ta cứ rên rỉ suốt vì tìm được mấy phòng rất tuyệt, nhưng lại quá sức mình, chẳng kiếm nổi ai chịu san sẻ tiền thuê."
"Trời đất ơi!" Tôi kêu lên. "Nếu anh ta thực sự muốn tìm người ở ghép để chia đôi chi phí, thì tôi chính là người mà anh ta cần rồi. Tôi cũng thấy ở cùng bạn chung phòng dễ chịu hơn là sống một mình."
Chàng Stamford trẻ tuổi nhìn tôi qua vành ly rượu với một vẻ hơi kỳ lạ. "Anh chưa biết Sherlock Holmes đâu," cậu ta nói. "Biết đâu anh sẽ chẳng muốn sống chung với anh ta làm bạn đồng hành thường trực."
"Vì sao? Cậu thấy anh ta có điểm gì không ổn à?"
"Ồ, tôi không bảo anh ta có gì không ổn cả. Chỉ là tư tưởng của anh ta hơi kỳ quái một chút - kiểu một kẻ cuồng nhiệt đến mức say mê trong vài ba lĩnh vực khoa học. Mà theo tôi biết, thì bản thân anh ta cũng khá tử tế đấy."
"Tôi đoán là một sinh viên y khoa?" Tôi nói.
"Không - tôi cũng chẳng rõ anh ta định theo nghề gì nữa. Tôi tin rằng anh ta rất giỏi giải phẫu, lại còn là một nhà hóa học hàng đầu; nhưng theo chỗ tôi biết, anh ta chưa từng đăng ký lớp y khoa bài bản nào hết. Việc học hành của anh ta rất tùy hứng và lập dị, thế nhưng lạ thay, anh ta tích góp được cả một kho kiến thức độc đáo khổng lồ, đến nỗi khiến các giáo sư của mình cũng phải kinh ngạc."
"Cậu chưa bao giờ hỏi xem anh ta định theo nghề gì à?" Tôi hỏi tiếp.
"Chưa. Anh ta không phải mẫu người dễ mà dò hỏi, mặc dù lúc có hứng thì anh ta cũng cởi mở lắm."
"Tôi muốn gặp anh ta," tôi đáp. "Nếu đã phải ở trọ chung với ai đó, tôi thích một người ham học và có lối sống yên tĩnh. Tôi vẫn chưa đủ khỏe để chịu nổi tiếng ồn ào hay náo động. Những thứ ấy ở Afghanistan đã quá đủ cho cả phần đời còn lại của tôi rồi. Làm sao tôi có thể gặp được người bạn này của cậu?"
"Chắc chắn lúc này anh ta đang ở phòng thí nghiệm," người bạn đồng hành của tôi đáp. "Anh ta thì hoặc là biệt tăm khỏi chỗ đó hàng tuần liền, hoặc là cắm cúi làm việc từ sáng sớm tới tối mịt. Nếu anh muốn, ăn trưa xong chúng ta cùng đánh xe qua đó."
"Chắc chắn rồi," tôi đáp, rồi cuộc trò chuyện trôi dần sang những chủ đề khác.
Khi chúng tôi rời nhà hàng Holborn để lên đường tới bệnh viện, Stamford kể thêm cho tôi vài chi tiết nữa về người quý ông mà tôi đang định ngỏ lời mời làm bạn cùng phòng.
"Nếu có không hòa hợp được với anh ta thì anh đừng trách tôi đấy nhé," cậu ta dặn. "Tôi cũng chẳng biết gì hơn ngoài mấy lần thỉnh thoảng gặp anh ta ở phòng thí nghiệm. Chính anh là người đề xuất vụ này, nên anh không thể bắt tôi chịu trách nhiệm được đâu."
"Không hợp thì đường ai nấy đi, dễ thôi mà," tôi đáp. Rồi tôi nói thêm, mắt nhìn chằm chằm vào người bạn đồng hành: "Stamford này, hình như cậu đang có lý do gì đó để phủi tay khỏi chuyện này thì phải. Con người anh chàng ấy đáng sợ lắm sao, hay là thế nào? Đừng có úp úp mở mở nữa."
"Khó mà diễn tả được những thứ không thể diễn tả," cậu ta đáp kèm theo một tiếng cười. "Holmes hơi quá khoa học đối với gu của tôi - kiểu gần như lạnh máu ấy. Tôi có thể hình dung ra cảnh anh ta cho một người bạn uống thử một liều alkaloid thực vật mới nhất, không phải vì ác ý đâu, anh hiểu chứ, mà đơn thuần chỉ vì tinh thần tò mò muốn thấy tận mắt tác dụng của nó một cách chính xác. Mà nói đi cũng phải nói lại, tôi nghĩ anh ta cũng sẵn sàng tự mình uống liều ấy với cùng một sự háo hức như vậy. Anh ta dường như có một niềm đam mê mãnh liệt với những tri thức chính xác và minh bạch."
"Thế thì cũng tốt chứ sao."
"Đúng, nhưng có thể bị đẩy đi quá xa đấy. Mà khi chuyện ấy dẫn đến cảnh cầm gậy đập thình thịch vào xác chết trong phòng giải phẫu, thì nó mang một hình thái khá là kỳ dị rồi."
"Đập vào xác chết á!"
"Đúng vậy, chỉ để kiểm chứng xem sau khi chết thì các vết bầm tím có thể xuất hiện đến mức nào thôi. Tôi đã tận mắt thấy anh ta làm điều đó."
"Vậy mà cậu lại bảo anh ta không phải sinh viên y khoa?"
"Đúng vậy. Có trời mới biết mục đích nghiên cứu của anh ta là gì. Nhưng chúng ta đến nơi rồi, anh cứ tự mình mà cảm nhận về con người anh ta nhé." Vừa dứt lời, cậu ta rẽ vào một con ngõ hẹp và bước qua một cánh cửa phụ nhỏ, dẫn thẳng vào một chái của bệnh viện lớn. Nơi này đối với tôi đã quá quen thuộc, chẳng cần ai dẫn đường khi chúng tôi cùng bước lên cầu thang đá lạnh toát, rồi đi dọc theo hành lang dài trải ra trước mắt với những bức tường quét vôi trắng xóa và những cánh cửa màu nâu xám sẫm trải dài. Gần cuối hành lang, một lối đi thấp hình vòm rẽ ngang, dẫn thẳng vào phòng thí nghiệm hóa học.
Đó là một căn phòng trần cao, bốn bề ken dày vô số chai lọ. Những chiếc bàn thấp và rộng nằm rải rác khắp nơi, bên trên bày la liệt các bình cổ cong, ống nghiệm và những ngọn đèn Bunsen bé xíu với ánh lửa xanh leo lắt, nhấp nháy không ngừng. Chỉ có vỏn vẹn một sinh viên trong phòng, anh ta đang cúi gập người trên chiếc bàn cuối góc, hoàn toàn chìm đắm vào công việc của mình. Nghe tiếng bước chân chúng tôi, anh ta ngoảnh đầu nhìn lại, rồi ngay lập tức bật dậy, kèm theo một tiếng reo vang đầy phấn khích. "Tôi tìm ra rồi! Tôi tìm ra rồi!" Anh ta hét lớn với người bạn đồng hành của tôi, tay vẫn nắm chặt chiếc ống nghiệm, hối hả chạy xộc về phía chúng tôi. "Tôi đã khám phá ra một loại thuốc thử chỉ kết tủa duy nhất với huyết sắc tố - còn với bất kỳ chất nào khác, nó tuyệt nhiên không phản ứng." Ngay cả khi đào được cả một mỏ vàng, tôi dám chắc gương mặt anh ta cũng không thể rạng rỡ niềm hân hoan nào lớn hơn thế.
"Bác sĩ Watson, đây là anh Sherlock Holmes," Stamford lên tiếng giới thiệu.
"Anh khỏe chứ?" Anh ta nói, giọng thật chân tình, rồi siết chặt lấy bàn tay tôi bằng một sức mạnh đáng kinh ngạc mà tôi khó lòng ngờ tới nơi một thân hình mảnh khảnh như anh ta. "Tôi thấy là anh vừa từ Afghanistan trở về."
"Quỷ thần ơi, làm sao anh biết được điều đó?" Tôi thốt lên, sững sờ.
"Đừng bận tâm làm gì," anh ta đáp, rồi bật cười khúc khích một mình. "Vấn đề bây giờ là huyết sắc tố. Hẳn anh cũng nhận ra tầm vóc quan trọng trong khám phá này của tôi chứ?"
"Về mặt hóa học thì rõ ràng nó rất thú vị," tôi trả lời, "nhưng xét về mặt thực tiễn thì--"
"Trời đất ơi, anh bạn thân mến, đây chính là khám phá pháp y mang tính thực tiễn bậc nhất trong suốt bao nhiêu năm qua đấy. Chẳng lẽ anh không thấy rằng nó trao cho chúng ta một phép thử không-thể-sai-lệch đối với các vết máu hay sao? Nào, lại đây!" Trong cơn háo hức tột độ, anh ta túm chặt lấy tay áo khoác của tôi và lôi tôi về phía chiếc bàn nơi anh ta đang làm việc. "Chúng ta hãy lấy một ít máu tươi nhé," anh ta vừa nói vừa dùng một chiếc kim dài chích vào đầu ngón tay mình, rồi khéo léo dùng ống hút hóa học rút lên giọt máu vừa rịn ra. "Giờ thì, tôi sẽ hòa lượng máu nhỏ xíu này vào một lít nước. Anh có thể thấy đấy, hỗn hợp thu được trông y hệt như nước tinh khiết. Tỷ lệ máu ở đây không thể nào vượt quá một phần triệu. Thế nhưng, tôi chẳng hề nghi ngờ gì rằng chúng ta vẫn sẽ có được phản ứng đặc trưng."
Vừa dứt lời, anh ta ném vào bình thủy tinh vài tinh thể màu trắng, rồi nhỏ thêm mấy giọt chất lỏng trong suốt. Ngay tắp lự, hỗn hợp biến thành một màu gụ xỉn đầy u ám, và một lớp bụi nâu mịn lặng lẽ kết tủa xuống đáy bình.
"Ha! Ha!" Anh ta reo to, vỗ tay liên hồi, trông vui sướng y hệt một đứa trẻ vừa được tặng món đồ chơi mới toanh. "Anh nghĩ sao về điều này?"
"Có vẻ như đây là một phép thử cực kỳ nhạy," tôi nhận xét.
"Tuyệt mỹ! Tuyệt mỹ! Cái phép thử Guiacum7 cũ kỹ vừa cồng kềnh lại vừa thiếu chính xác. Soi tế bào máu dưới kính hiển vi cũng chẳng khá hơn là bao. Phương pháp soi ấy hoàn toàn vô giá trị nếu vết máu đã khô qua vài giờ. Còn phép thử này đây, nó dường như vận hành trơn tru bất kể vết máu đã cũ hay còn mới. Giá như phép thử này được phát minh ra sớm hơn, thì giờ đây hàng trăm gã đàn ông đang thản nhiên nhởn nhơ ngoài kia đã phải đền mạng cho những tội ác chúng gây ra từ lâu rồi."
"Đến thế cơ ư!" Tôi lẩm bẩm.
"Các vụ án hình sự vẫn luôn xoay quanh một điểm mấu chốt duy nhất đó thôi. Một gã nào đó có thể bị tình nghi phạm tội sau nhiều tháng kể từ khi vụ việc xảy ra. Quần áo của hắn được đem ra kiểm tra, và người ta phát hiện trên đó những vết ố màu nâu sẫm. Chúng là vết máu, vết bùn đất, vết rỉ sét, vết nước trái cây, hay là thứ gì khác? Đó là câu hỏi đã từng làm bối rối biết bao thế hệ chuyên gia. Và tại sao ư? Bởi lẽ chưa từng có một phép thử nào thực sự đáng tin cậy. Giờ đây chúng ta đã có phép thử Sherlock Holmes, và mọi trở ngại sẽ chẳng còn tồn tại nữa."
Đôi mắt anh ta rực sáng lên khi nói những lời ấy, rồi anh ta đặt bàn tay lên ngực và cúi chào, hệt như thể mình đang đứng trước một đám đông hò reo cổ vũ do chính trí tưởng tượng phong phú của bản thân dựng nên vậy.
"Xin chúc mừng anh," tôi buột miệng, khá sững sờ trước cơn hưng phấn của anh ta.
"Có vụ Von Bischoff ở Frankfort hồi năm ngoái. Nếu phép thử này tồn tại vào lúc đó, gã chắc chắn đã lên giá treo cổ rồi. Rồi còn Mason ở Bradford, gã Muller khét tiếng, Lefevre bên Montpellier, và Samson tận New Orleans. Tôi có thể kể ra hàng chục vụ án mà chỉ cần có nó thôi, kết cục đã được định đoạt từ lâu."
"Anh nom cứ như một cuốn biên niên sử tội phạm biết đi vậy," Stamford bật cười. "Anh nên khởi nghiệp làm báo đi. Đặt tên là 'Tin tức Cảnh sát dĩ vãng' chẳng hạn."
"Đọc cũng sẽ rất thú vị đấy chứ," Sherlock Holmes nhận xét, vừa dán một miếng băng cá nhân nho nhỏ lên vết chích trên ngón tay. "Tôi phải cẩn thận mới được," anh nói tiếp, quay sang tôi kèm theo một nụ cười, "bởi tôi có thói quen táy máy với đủ thứ chất độc." Vừa dứt lời, anh chìa bàn tay ra, và tôi để ý thấy cả bàn tay anh lốm đốm những miếng băng cá nhân tương tự, lại còn loang lổ những vết đổi màu vì axit mạnh.
"Bọn tôi đến đây là vì công việc," Stamford lên tiếng, rồi ngồi xuống một chiếc ghế đẩu cao ba chân và dùng chân đẩy chiếc ghế thứ hai về phía tôi. "Anh bạn tôi đây đang kiếm chỗ trọ, mà anh thì cũng đang kêu ca vì chẳng tìm được ai chia đôi tiền nhà, nên tôi nghĩ cách hay nhất là lôi hai người đến gặp nhau."
Sherlock Holmes tỏ ra hết sức vui mừng trước ý tưởng tôi sẽ dọn đến ở ghép. "Tôi đang nhắm một dãy phòng trên phố Baker," anh nói, "rất hợp ý cả đôi bên. Tôi hy vọng anh không ngại mùi thuốc lá sợi nồng nhé?"
"Bản thân tôi cũng toàn hút loại thuốc dành cho thủy thủ thôi mà," tôi đáp.
"Thế là ổn rồi. Tôi hay để hóa chất lung tung lắm, và thỉnh thoảng cũng có làm thí nghiệm nữa. Liệu có phiền anh không?"
"Không hề."
"Để tôi xem nào - tôi còn tật xấu gì nữa nhỉ. Đôi lúc tôi rơi vào trạng thái trầm lắng, và có khi chẳng mở miệng thốt nổi một lời suốt mấy ngày liền. Những lúc như vậy, anh đừng tưởng tôi đang hờn dỗi nhé. Cứ kệ tôi, rồi tôi sẽ sớm trở lại bình thường thôi. Nào, giờ đến lượt anh thú tội đi. Tốt nhất là hai gã đàn ông nên tỏ tường thói hư tật xấu của nhau trước khi dọn về ở chung."
Tôi bật cười trước màn tra hỏi chéo này. "Tôi có nuôi một con chó bun con8," tôi nói, "và tôi cực ghét ồn ào vì thần kinh tôi đang suy nhược. Tôi còn hay thức giấc vào đủ mọi giờ giấc quái quỷ, và thì tôi lười vô cùng tận. Khi nào bình phục hẳn, tôi còn lắm tật xấu khác nữa, nhưng hiện tại thì mấy thứ ấy là chính yếu rồi."
"Anh có xếp chuyện kéo vĩ cầm vào hạng mục ồn ào không đấy?" anh ta lo lắng hỏi.
"Còn tùy người kéo chứ," tôi đáp. "Một bản vĩ cầm hay thì đúng là quà trời ban - còn tệ thì--"
"Ồ, vậy thì êm rồi," anh ta reo lên cùng một tràng cười sảng khoái. "Tôi nghĩ đôi bên có thể coi như mọi chuyện đã ngã ngũ rồi - tất nhiên, nếu anh ưng mấy căn phòng ấy."
"Bao giờ thì ta đi xem phòng?"
"Trưa mai đến đây gọi tôi, rồi cùng đi và thu xếp nốt mọi thứ," anh đáp.
"Được rồi - đúng mười hai giờ trưa nhé," tôi nói, rồi bắt tay anh.
Chúng tôi để mặc Holmes say sưa với mớ chai lọ hóa chất của anh ta, rồi sánh bước cùng nhau về phía khách sạn của tôi.
"Nhân tiện," tôi chợt dừng chân, quay sang Stamford, "thế quái nào mà anh ta lại biết tôi vừa từ Afghanistan về nhỉ?"
Stamford nở một nụ cười đầy thần bí. "Đấy chính là cái tài vặt kỳ lạ của anh ta," cậu bạn tôi đáp. "Không ít người cũng đã muốn biết làm cách nào mà Holmes có thể nhìn thấu mọi thứ như thế."
"Ồ! Một bí ẩn cơ à?" tôi kêu lên, hứng khởi xoa hai tay vào nhau. "Chuyện này mỗi lúc một hấp dẫn. Tôi thực lòng biết ơn cậu vì đã kết nối chúng tôi. Cậu biết đấy, 'Đối tượng nghiên cứu xứng đáng nhất của nhân loại chính là con người'9."
"Vậy thì anh cứ tự mình mà nghiên cứu anh ta đi," Stamford nói, khi đã đến lúc phải chia tay. "Nhưng tôi cảnh báo trước, anh ta là một câu đố khó nhằn. Tôi dám cá là anh ta sẽ thấu hiểu anh nhiều hơn những gì anh có thể thấu hiểu về anh ta. Tạm biệt nhé."
"Tạm biệt," tôi đáp, rồi thong thả bước về phía khách sạn. Lòng tôi trào dâng một niềm háo hức lạ thường về con người mới quen đầy bí ẩn ấy.
-
Cuộc xung đột quân sự (1878-1880) giữa Đế quốc Anh và Vương quốc Afghanistan, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Nga tại khu vực này để bảo vệ thuộc địa Ấn Độ. ↩
-
Một trận đánh đẫm máu vào tháng 7 năm 1880, nơi quân đội Anh gánh chịu thất bại nặng nề trước lực lượng Afghanistan. ↩
-
Loại súng hỏa mai nòng dài tự chế, thường được các chiến binh Afghanistan sử dụng trong thế kỷ 19, có tầm bắn xa và độ sát thương cao. ↩
-
Trong ngữ cảnh này chỉ những chiến binh Hồi giáo người Afghanistan chiến đấu với tinh thần tử vì đạo chống lại quân đội nước ngoài. ↩
-
Shilling và xu (pence) là đơn vị tiền tệ của Anh trước năm 1971. Mức lương này là khoản trợ cấp hưu trí khá khiêm tốn đối với một sĩ quan sống tại London thời bấy giờ. ↩
-
Loại xe ngựa hai bánh do một ngựa kéo, rất phổ biến ở London cuối thế kỷ 19. Đặc điểm là người xà ích (tài xế) ngồi ở vị trí cao phía sau thùng xe. ↩
-
Một phương pháp thử máu hóa học cổ điển thế kỷ 19 dùng nhựa cây Guaiacum, nhưng thiếu độ tin cậy vì dễ phản ứng với nhiều chất khác ngoài máu. ↩
-
Nguyên gốc tiếng Anh là thành ngữ 'keep a bull pup', một cách nói lóng thời bấy giờ ám chỉ việc bản thân thỉnh thoảng có những cơn cáu bẳn hoặc nóng tính, chứ không phải nhân vật thực sự nuôi chó. ↩
-
Trích dẫn từ trường ca 'Essay on Man' (Luận về Con người) của nhà thơ Anh Alexander Pope, mang ý nghĩa con người nên tập trung tìm hiểu bản chất của chính đồng loại mình. ↩
PART 1.
(Being a reprint from the Reminiscences of John H. Watson, M.D., Late of the Army Medical Department.)
CHAPTER I. MR. SHERLOCK HOLMES.
In the year 1878 I took my degree of Doctor of Medicine of the University of London, and proceeded to Netley to go through the course prescribed for surgeons in the army. Having completed my studies there, I was duly attached to the Fifth Northumberland Fusiliers as Assistant Surgeon. The regiment was stationed in India at the time, and before I could join it, the second Afghan war had broken out. On landing at Bombay, I learned that my corps had advanced through the passes, and was already deep in the enemy’s country. I followed, however, with many other officers who were in the same situation as myself, and succeeded in reaching Candahar in safety, where I found my regiment, and at once entered upon my new duties.
The campaign brought honours and promotion to many, but for me it had nothing but misfortune and disaster. I was removed from my brigade and attached to the Berkshires, with whom I served at the fatal battle of Maiwand. There I was struck on the shoulder by a Jezail bullet, which shattered the bone and grazed the subclavian artery. I should have fallen into the hands of the murderous Ghazis had it not been for the devotion and courage shown by Murray, my orderly, who threw me across a pack-horse, and succeeded in bringing me safely to the British lines.
Worn with pain, and weak from the prolonged hardships which I had undergone, I was removed, with a great train of wounded sufferers, to the base hospital at Peshawar. Here I rallied, and had already improved so far as to be able to walk about the wards, and even to bask a little upon the verandah, when I was struck down by enteric fever, that curse of our Indian possessions. For months my life was despaired of, and when at last I came to myself and became convalescent, I was so weak and emaciated that a medical board determined that not a day should be lost in sending me back to England. I was dispatched, accordingly, in the troopship “Orontes,” and landed a month later on Portsmouth jetty, with my health irretrievably ruined, but with permission from a paternal government to spend the next nine months in attempting to improve it.
I had neither kith nor kin in England, and was therefore as free as air-or as free as an income of eleven shillings and sixpence a day will permit a man to be. Under such circumstances, I naturally gravitated to London, that great cesspool into which all the loungers and idlers of the Empire are irresistibly drained. There I stayed for some time at a private hotel in the Strand, leading a comfortless, meaningless existence, and spending such money as I had, considerably more freely than I ought. So alarming did the state of my finances become, that I soon realized that I must either leave the metropolis and rusticate somewhere in the country, or that I must make a complete alteration in my style of living. Choosing the latter alternative, I began by making up my mind to leave the hotel, and to take up my quarters in some less pretentious and less expensive domicile.
On the very day that I had come to this conclusion, I was standing at the Criterion Bar, when some one tapped me on the shoulder, and turning round I recognized young Stamford, who had been a dresser under me at Barts. The sight of a friendly face in the great wilderness of London is a pleasant thing indeed to a lonely man. In old days Stamford had never been a particular crony of mine, but now I hailed him with enthusiasm, and he, in his turn, appeared to be delighted to see me. In the exuberance of my joy, I asked him to lunch with me at the Holborn, and we started off together in a hansom.
“Whatever have you been doing with yourself, Watson?” he asked in undisguised wonder, as we rattled through the crowded London streets. “You are as thin as a lath and as brown as a nut.”
I gave him a short sketch of my adventures, and had hardly concluded it by the time that we reached our destination.
“Poor devil!” he said, commiseratingly, after he had listened to my misfortunes. “What are you up to now?”
“Looking for lodgings,” I answered. “Trying to solve the problem as to whether it is possible to get comfortable rooms at a reasonable price.”
“That’s a strange thing,” remarked my companion; “you are the second man to-day that has used that expression to me.”
“And who was the first?” I asked.
“A fellow who is working at the chemical laboratory up at the hospital. He was bemoaning himself this morning because he could not get someone to go halves with him in some nice rooms which he had found, and which were too much for his purse.”
“By Jove!” I cried, “if he really wants someone to share the rooms and the expense, I am the very man for him. I should prefer having a partner to being alone.”
Young Stamford looked rather strangely at me over his wine-glass. “You don’t know Sherlock Holmes yet,” he said; “perhaps you would not care for him as a constant companion.”
“Why, what is there against him?”
“Oh, I didn’t say there was anything against him. He is a little queer in his ideas-an enthusiast in some branches of science. As far as I know he is a decent fellow enough.”
“A medical student, I suppose?” said I.
“No-I have no idea what he intends to go in for. I believe he is well up in anatomy, and he is a first-class chemist; but, as far as I know, he has never taken out any systematic medical classes. His studies are very desultory and eccentric, but he has amassed a lot of out-of-the-way knowledge which would astonish his professors.”
“Did you never ask him what he was going in for?” I asked.
“No; he is not a man that it is easy to draw out, though he can be communicative enough when the fancy seizes him.”
“I should like to meet him,” I said. “If I am to lodge with anyone, I should prefer a man of studious and quiet habits. I am not strong enough yet to stand much noise or excitement. I had enough of both in Afghanistan to last me for the remainder of my natural existence. How could I meet this friend of yours?”
“He is sure to be at the laboratory,” returned my companion. “He either avoids the place for weeks, or else he works there from morning to night. If you like, we shall drive round together after luncheon.”
“Certainly,” I answered, and the conversation drifted away into other channels.
As we made our way to the hospital after leaving the Holborn, Stamford gave me a few more particulars about the gentleman whom I proposed to take as a fellow-lodger.
“You mustn’t blame me if you don’t get on with him,” he said; “I know nothing more of him than I have learned from meeting him occasionally in the laboratory. You proposed this arrangement, so you must not hold me responsible.”
“If we don’t get on it will be easy to part company,” I answered. “It seems to me, Stamford,” I added, looking hard at my companion, “that you have some reason for washing your hands of the matter. Is this fellow’s temper so formidable, or what is it? Don’t be mealy-mouthed about it.”
“It is not easy to express the inexpressible,” he answered with a laugh. “Holmes is a little too scientific for my tastes-it approaches to cold-bloodedness. I could imagine his giving a friend a little pinch of the latest vegetable alkaloid, not out of malevolence, you understand, but simply out of a spirit of inquiry in order to have an accurate idea of the effects. To do him justice, I think that he would take it himself with the same readiness. He appears to have a passion for definite and exact knowledge.”
“Very right too.”
“Yes, but it may be pushed to excess. When it comes to beating the subjects in the dissecting-rooms with a stick, it is certainly taking rather a bizarre shape.”
“Beating the subjects!”
“Yes, to verify how far bruises may be produced after death. I saw him at it with my own eyes.”
“And yet you say he is not a medical student?”
“No. Heaven knows what the objects of his studies are. But here we are, and you must form your own impressions about him.” As he spoke, we turned down a narrow lane and passed through a small side-door, which opened into a wing of the great hospital. It was familiar ground to me, and I needed no guiding as we ascended the bleak stone staircase and made our way down the long corridor with its vista of whitewashed wall and dun-coloured doors. Near the further end a low arched passage branched away from it and led to the chemical laboratory.
This was a lofty chamber, lined and littered with countless bottles. Broad, low tables were scattered about, which bristled with retorts, test-tubes, and little Bunsen lamps, with their blue flickering flames. There was only one student in the room, who was bending over a distant table absorbed in his work. At the sound of our steps he glanced round and sprang to his feet with a cry of pleasure. “I’ve found it! I’ve found it,” he shouted to my companion, running towards us with a test-tube in his hand. “I have found a re-agent which is precipitated by hæmoglobin, and by nothing else.” Had he discovered a gold mine, greater delight could not have shone upon his features.
“Dr. Watson, Mr. Sherlock Holmes,” said Stamford, introducing us.
“How are you?” he said cordially, gripping my hand with a strength for which I should hardly have given him credit. “You have been in Afghanistan, I perceive.”
“How on earth did you know that?” I asked in astonishment.
“Never mind,” said he, chuckling to himself. “The question now is about hæmoglobin. No doubt you see the significance of this discovery of mine?”
“It is interesting, chemically, no doubt,” I answered, “but practically--”
“Why, man, it is the most practical medico-legal discovery for years. Don’t you see that it gives us an infallible test for blood stains. Come over here now!” He seized me by the coat-sleeve in his eagerness, and drew me over to the table at which he had been working. “Let us have some fresh blood,” he said, digging a long bodkin into his finger, and drawing off the resulting drop of blood in a chemical pipette. “Now, I add this small quantity of blood to a litre of water. You perceive that the resulting mixture has the appearance of pure water. The proportion of blood cannot be more than one in a million. I have no doubt, however, that we shall be able to obtain the characteristic reaction.” As he spoke, he threw into the vessel a few white crystals, and then added some drops of a transparent fluid. In an instant the contents assumed a dull mahogany colour, and a brownish dust was precipitated to the bottom of the glass jar.
“Ha! ha!” he cried, clapping his hands, and looking as delighted as a child with a new toy. “What do you think of that?”
“It seems to be a very delicate test,” I remarked.
“Beautiful! beautiful! The old Guiacum test was very clumsy and uncertain. So is the microscopic examination for blood corpuscles. The latter is valueless if the stains are a few hours old. Now, this appears to act as well whether the blood is old or new. Had this test been invented, there are hundreds of men now walking the earth who would long ago have paid the penalty of their crimes.”
“Indeed!” I murmured.
“Criminal cases are continually hinging upon that one point. A man is suspected of a crime months perhaps after it has been committed. His linen or clothes are examined, and brownish stains discovered upon them. Are they blood stains, or mud stains, or rust stains, or fruit stains, or what are they? That is a question which has puzzled many an expert, and why? Because there was no reliable test. Now we have the Sherlock Holmes’ test, and there will no longer be any difficulty.”
His eyes fairly glittered as he spoke, and he put his hand over his heart and bowed as if to some applauding crowd conjured up by his imagination.
“You are to be congratulated,” I remarked, considerably surprised at his enthusiasm.
“There was the case of Von Bischoff at Frankfort last year. He would certainly have been hung had this test been in existence. Then there was Mason of Bradford, and the notorious Muller, and Lefevre of Montpellier, and Samson of New Orleans. I could name a score of cases in which it would have been decisive.”
“You seem to be a walking calendar of crime,” said Stamford with a laugh. “You might start a paper on those lines. Call it the ‘Police News of the Past.’”
“Very interesting reading it might be made, too,” remarked Sherlock Holmes, sticking a small piece of plaster over the prick on his finger. “I have to be careful,” he continued, turning to me with a smile, “for I dabble with poisons a good deal.” He held out his hand as he spoke, and I noticed that it was all mottled over with similar pieces of plaster, and discoloured with strong acids.
“We came here on business,” said Stamford, sitting down on a high three-legged stool, and pushing another one in my direction with his foot. “My friend here wants to take diggings, and as you were complaining that you could get no one to go halves with you, I thought that I had better bring you together.”
Sherlock Holmes seemed delighted at the idea of sharing his rooms with me. “I have my eye on a suite in Baker Street,” he said, “which would suit us down to the ground. You don’t mind the smell of strong tobacco, I hope?”
“I always smoke ‘ship’s’ myself,” I answered.
“That’s good enough. I generally have chemicals about, and occasionally do experiments. Would that annoy you?”
“By no means.”
“Let me see-what are my other shortcomings. I get in the dumps at times, and don’t open my mouth for days on end. You must not think I am sulky when I do that. Just let me alone, and I’ll soon be right. What have you to confess now? It’s just as well for two fellows to know the worst of one another before they begin to live together.”
I laughed at this cross-examination. “I keep a bull pup,” I said, “and I object to rows because my nerves are shaken, and I get up at all sorts of ungodly hours, and I am extremely lazy. I have another set of vices when I’m well, but those are the principal ones at present.”
“Do you include violin-playing in your category of rows?” he asked, anxiously.
“It depends on the player,” I answered. “A well-played violin is a treat for the gods-a badly-played one--”
“Oh, that’s all right,” he cried, with a merry laugh. “I think we may consider the thing as settled-that is, if the rooms are agreeable to you.”
“When shall we see them?”
“Call for me here at noon to-morrow, and we’ll go together and settle everything,” he answered.
“All right-noon exactly,” said I, shaking his hand.
We left him working among his chemicals, and we walked together towards my hotel.
“By the way,” I asked suddenly, stopping and turning upon Stamford, “how the deuce did he know that I had come from Afghanistan?”
My companion smiled an enigmatical smile. “That’s just his little peculiarity,” he said. “A good many people have wanted to know how he finds things out.”
“Oh! a mystery is it?” I cried, rubbing my hands. “This is very piquant. I am much obliged to you for bringing us together. ‘The proper study of mankind is man,’ you know.”
“You must study him, then,” Stamford said, as he bade me good-bye. “You’ll find him a knotty problem, though. I’ll wager he learns more about you than you about him. Good-bye.”
“Good-bye,” I answered, and strolled on to my hotel, considerably interested in my new acquaintance.