PHẦN 2. VÙNG ĐẤT CỦA CÁC THÁNH ĐỒ.
CHƯƠNG I. TRÊN ĐỒNG BẰNG ALKALI RỘNG LỚN.
Nằm ngay giữa trung tâm lục địa Bắc Mỹ mênh mông là một hoang mạc khô cằn đến rợn người - nơi suốt bao năm dài đã sừng sững như một bức tường thành ngăn trở bước chân của nền văn minh. Trải dài từ rặng Sierra Nevada đến tận Nebraska, từ sông Yellowstone phương bắc đến dòng Colorado phía nam, tất cả chỉ là một vùng đất hoang lương và tĩnh mịch. Thế nhưng, Thiên nhiên không phải lúc nào cũng khoác lên mình cùng một dáng vẻ trên khắp miền đất khắc nghiệt ấy. Nơi đây có những ngọn núi cao sừng sững phủ đầy tuyết trắng, xen lẫn những thung lũng sâu hun hút tối tăm và u ám. Có những dòng sông cuồn cuộn chảy xiết, xô mình qua các hẻm núi lởm chởm đá tai mèo; và cũng có những đồng bằng trải dài vô tận - mùa đông thì trắng xóa một màu tuyết phủ, mùa hè lại xám ngắt một màu bụi kiềm1 mặn chát. Dẫu mang nhiều diện mạo khác nhau, song tất cả đều chung một đặc điểm: cằn cỗi, khắc nghiệt, và khốn cùng.
Vùng đất tuyệt vọng ấy không hề có bóng người cư ngụ. Thỉnh thoảng, một toán người thuộc bộ tộc Pawnee hay Blackfeet có thể băng qua đây để tìm đến những khu vực săn bắn mới, nhưng ngay cả những chiến binh gan dạ nhất cũng thở phào nhẹ nhõm khi khuất hẳn sau lưng những bình nguyên đáng sợ kia, để một lần nữa được đặt chân lên thảo nguyên quen thuộc của mình. Sói đồng cỏ lén lút luồn lách qua các bụi rậm, kền kền nặng nề vỗ cánh lượn lờ trên không trung, còn loài gấu xám vụng về lạch bạch len lỏi qua những khe núi tối om, nhặt nhạnh bất cứ thứ gì có thể lót dạ giữa đám đá tai mèo. Đó là những cư dân duy nhất của chốn hoang vu này.
Trên khắp thế gian, có lẽ chẳng có khung cảnh nào thê lương hơn cảnh tượng nhìn từ sườn phía bắc của dãy Sierra Blanco. Phóng tầm mắt ra xa tít tắp, người ta thấy một bình nguyên bằng phẳng rộng lớn, phủ đầy những mảng bụi kiềm mờ đục và bị chia cắt bởi những lùm cây bụi chaparral còi cọc, èo uột. Nằm ở tận đường chân trời xa thẳm là một dải những đỉnh núi nối tiếp nhau trùng trùng điệp điệp, với những chóp núi gồ ghề lốm đốm tuyết trắng. Trên dải đất mênh mông ấy, không hề có lấy một dấu hiệu của sự sống, hay bất cứ thứ gì gợi nhắc đến sự sống. Không một bóng chim trên vòm trời xanh thẳm tựa thép nguội, không một chuyển động nào trên mặt đất xám xịt buồn tẻ - và trên hết thảy, là một sự tĩnh lặng tuyệt đối. Dù có lắng tai nghe kỹ đến đâu, cũng chẳng có lấy một âm thanh nào vang lên trong toàn bộ khu vực hoang vu rộng lớn ấy; không gì hết, chỉ có sự tĩnh lặng - một sự tĩnh lặng hoàn toàn và choáng ngợp tâm can.
Người ta thường bảo rằng trên bình nguyên rộng lớn này không hề có bất cứ thứ gì liên quan đến sự sống. Điều ấy không hoàn toàn đúng. Nhìn xuống từ dãy Sierra Blanco, ta có thể thấy một con đường mòn in hằn vắt ngang qua sa mạc, uốn lượn quanh co rồi khuất bóng ở mãi tận phía xa xăm. Nó hằn sâu những vết bánh xe và bị giẫm đạp bởi bước chân của biết bao kẻ phiêu lưu. Rải rác đây đó, những vật thể trắng lóa lấp lánh dưới ánh mặt trời, nổi bật hẳn lên trên lớp cặn kiềm mờ đục. Hãy tiến lại gần mà xem xét chúng! Đó là những khúc xương: một số to lớn và thô kệch, số khác lại nhỏ nhắn và thanh mảnh hơn. Những khúc xương to lớn kia từng thuộc về bầy bò kéo, còn những khúc nhỏ bé là của con người. Dọc theo suốt chặng đường dài một ngàn năm trăm dặm, người ta có thể lần theo tuyến đường đáng sợ của những đoàn xe ngựa, thông qua những mảnh thi thể rải rác của những kẻ đã gục ngã bên vệ đường.
Vào ngày mùng bốn tháng Năm năm 1847, có một lữ khách đơn độc đứng lặng nhìn xuống chính khung cảnh này. Dáng vẻ ông ta trông chẳng khác nào vị thần linh hay ác quỷ ngự trị trên miền đất hoang vu ấy. Một người quan sát ắt hẳn khó lòng đoán nổi ông đang ở độ tuổi bốn mươi hay đã ngoài sáu mươi. Khuôn mặt ông gầy guộc, hốc hác; lớp da sạm nâu tựa như da thuộc căng cứng trên những đường xương lồ lộ nhô ra. Mái tóc cùng bộ râu dài màu nâu điểm lốm đốm những sợi bạc. Đôi mắt trũng sâu hoắm, rực cháy một thứ ánh sáng khác thường. Còn bàn tay đang nắm chặt khẩu súng trường thì nom chẳng khá hơn bàn tay của một bộ xương là bao. Khi đứng, ông phải tì cả người vào khẩu súng làm điểm tựa; thế nhưng vóc dáng cao lớn cùng bộ khung xương đồ sộ vẫn phảng phất nét dẻo dai, cường tráng của một cơ địa từng rất vạm vỡ. Dầu vậy, gương mặt hốc hác và bộ quần áo rộng thùng thình khoác trên thân thể teo tóp đã nói lên tất cả nguyên nhân đằng sau cái vẻ ngoài già nua và suy nhược ấy. Người đàn ông này đang hấp hối - hấp hối vì đói và vì khát.
Ông đã nhọc nhằn lê bước xuyên qua khe núi, trèo lên mỏm đất nhô cao này với niềm hy vọng hão huyền sẽ bắt gặp một dấu hiệu nào đó của nước. Thế nhưng giờ đây, bình nguyên muối mênh mông trải rộng trước mắt ông, cùng vành đai những ngọn núi hoang vu xa tít tắp tận chân trời, mà không hề có lấy một nhành cây hay ngọn cỏ nào báo hiệu hơi ẩm. Trong toàn bộ khung cảnh bao la ấy, tuyệt nhiên chẳng có nổi một tia hy vọng. Ông đảo đôi mắt hoang dại đầy dò hỏi về phía bắc, phía đông, rồi phía tây, và cuối cùng nhận ra rằng cuộc hành trình của mình đã đến hồi kết - rằng trên mỏm đá cằn cỗi này, cái chết đang lặng lẽ chờ ông. "Sao không ở đây luôn nhỉ, thay vì trên một chiếc giường êm ái hai mươi năm sau cơ chứ," ông lẩm bẩm một mình, rồi buông mình ngồi xuống dưới bóng râm của một tảng đá lớn.
Trước khi ngồi xuống, ông đã đặt khẩu súng trường vô dụng nằm dưới đất, cùng với một cái bọc lớn buộc bằng chiếc khăn choàng xám vắt qua vai phải. Dường như cái bọc ấy hơi quá nặng so với sức lực còn sót lại trong ông lúc này, bởi khi đặt xuống, nó va xuống nền đất một tiếng khá mạnh. Ngay tức thì, từ trong cái bọc xám ấy vẳng ra một tiếng rên khe khẽ, và rồi một khuôn mặt nhỏ nhắn đầy vẻ hốt hoảng thò ra, với đôi mắt nâu sáng ngời cùng hai nắm tay bé xíu, lấm tấm tàn nhang và mũm mĩm.
"Chú làm cháu đau đấy!" - giọng một đứa trẻ cất lên, đượm vẻ hờn trách.
"Thế à," người đàn ông đáp, thoáng vẻ hối lỗi, "chú không cố ý đâu." Vừa nói, ông vừa tháo chiếc khăn choàng xám ra, và đỡ ra ngoài một bé gái xinh xắn, trạc năm tuổi, với đôi giày thanh nhã cùng chiếc váy hồng xinh xinh kèm tạp dề vải lanh - tất cả đều là dấu vết của sự chăm sóc dịu dàng từ bàn tay một người mẹ. Cô bé trông nhợt nhạt và hốc hác, nhưng đôi tay chân vẫn còn săn chắc, cho thấy em phải chịu đựng ít hơn người bạn đồng hành của mình.
"Giờ cháu thấy sao rồi?" ông lo lắng hỏi, bởi cô bé vẫn đang lấy tay xoa xoa những lọn tóc xoăn vàng bù xù che kín phía sau đầu.
"Chú hôn nó đi, để nó mau khỏi ấy," cô bé nói, vẻ mặt hết sức nghiêm túc, rồi chìa phần bị đau ra cho ông xem. "Mẹ vẫn hay làm thế đấy. Mà mẹ đâu rồi hả chú?"
"Mẹ đi rồi. Chú nghĩ con sẽ sớm gặp lại mẹ thôi."
"Đi rồi sao!" cô bé kêu lên. "Lạ thật đấy, mẹ còn chẳng thèm chào tạm biệt con. Mẹ hầu như lúc nào cũng chào hẳn hoi, kể cả khi chỉ sang nhà dì uống trà thôi. Vậy mà giờ mẹ đi những tận ba ngày rồi. Này chú, ở đây khô hạn quá phải không? Chẳng có tí nước nào, cũng chẳng có gì để ăn hết sao?"
"Đúng vậy, chẳng có gì cả, cháu ngoan ạ. Chỉ cần kiên nhẫn thêm một chút nữa thôi, rồi mọi chuyện sẽ ổn cả. Dựa đầu vào chú này, như thế này này, con sẽ thấy dễ chịu hơn đấy. Nói thì chẳng dễ dàng gì khi môi chú khô cứng như da bò thế này, nhưng chú nghĩ tốt nhất là nên cho con biết tình hình thực sự lúc này. Mà con đang cầm gì trên tay đấy?"
"Đồ đẹp đấy! Đồ đẹp lắm!" cô bé háo hức reo lên, giơ cao hai mảnh mica lấp lánh. "Khi nào về nhà, con sẽ đưa cho anh Bob."
"Con sẽ sớm trông thấy những thứ còn đẹp hơn thế này nhiều," người đàn ông nói, giọng đầy vẻ tự tin. "Con cứ chờ một chút nhé. Nhưng chú định nói với con điều này - con có nhớ hồi chúng ta rời khỏi con sông không?"
"Ồ, có ạ."
"Thì đấy, chúng ta cứ đinh ninh là sẽ sớm gặp một con sông khác, con thấy đấy. Nhưng có chuyện gì đó đã xảy ra - la bàn, bản đồ, hay thứ gì đó trục trặc, và con sông thì mãi chẳng thấy đâu. Nước thì cạn sạch rồi. Chỉ còn vỏn vẹn một chút xíu cho những người như con, và - và -"
"Và chú còn chẳng tắm rửa được nữa," cô bé bạn đồng hành của ông ngắt lời, vẻ mặt trang nghiêm khi nhìn chăm chăm vào khuôn mặt nhem nhuốc của ông.
"Cũng chẳng còn nước để uống nữa. Và ông Bender là người đầu tiên ra đi, sau đó là lão da đỏ Pete, rồi đến bà McGregor, tiếp đến là Johnny Hones, và sau cùng, cháu ngoan ạ, là mẹ của con."
"Vậy ra mẹ cũng thành người chết rồi," cô bé bật khóc nức nở, vùi mặt vào chiếc tạp dề.
"Ừ, tất cả đều đi cả rồi, chỉ còn lại con và chú thôi. Sau đó chú nghĩ đi về hướng này may ra có cơ may tìm thấy nước, thế là chú vác con lên vai và hai chú cháu mình cùng cuốc bộ tới tận đây. Nhưng tình hình xem ra cũng chẳng khá khẩm hơn chút nào. Cơ may của chúng ta giờ đây quả thật là quá mong manh rồi!"
"Ý chú là chúng ta cũng sắp phải chết ư?" cô bé hỏi, nén tiếng nấc và ngước khuôn mặt đẫm nước mắt lên nhìn ông.
"Chú đoán là tình hình cũng xấp xỉ như thế."
"Sao chú không nói sớm hơn?" cô bé bỗng bật cười vui sướng. "Chú làm con sợ chết khiếp đi được. Thảo nào, đương nhiên rồi - thế thì chỉ cần chết đi là chúng ta sẽ lại được ở bên mẹ thôi."
"Đúng thế đấy, cháu ngoan ạ."
"Cả chú cũng vậy mà. Con sẽ kể cho mẹ nghe chú đã tốt với con như thế nào. Con cá là mẹ sẽ đứng đợi chúng ta ở cổng Thiên Đường với một bình nước thật lớn, cùng thật nhiều bánh kiều mạch nóng hổi, nướng vàng ươm cả hai mặt, y như món mà anh Bob với con vẫn mê ấy. Bao lâu nữa thì mới tới lượt chúng ta hả chú?"
"Chú không biết nữa - chắc chẳng còn lâu đâu." Đôi mắt người đàn ông dán chặt vào đường chân trời phía bắc. Trên vòm trời xanh thẳm, ba chấm đen nhỏ xíu vừa xuất hiện, và chúng đang lớn dần lên từng giây từng phút, lao đến với một tốc độ mau lẹ khác thường. Chỉ trong chớp mắt, chúng đã hiện rõ là ba con chim lớn màu nâu, lượn những vòng tròn trên đầu hai kẻ lang thang, rồi đậu xuống mấy tảng đá cao hơn mà nhìn xuống. Chúng là lũ kền kền - loài ăn xác thối của miền Tây, mà sự hiện diện của chúng chính là lời báo trước của tử thần.
"Gà trống với gà mái kìa!" cô bé vui sướng reo lên, tay chỉ về phía những hình bóng mang điềm gở ấy, rồi vỗ tay định xua chúng bay đi. "Này chú, có phải Chúa đã tạo ra vùng đất này không hả chú?"
"Tất nhiên là Ngài chứ," người bạn đồng hành của cô bé trả lời, hơi giật mình trước câu hỏi quá đỗi bất ngờ ấy.
"Ngài tạo ra vùng đất tận dưới Illinois này, và Ngài cũng tạo ra dòng Missouri nữa," cô bé tiếp tục. "Nhưng con nghĩ chắc là có ai đó khác đã tạo ra miền đất ở những nơi này. Làm chẳng được tỉ mỉ bằng. Họ quên mất nước và cây cối rồi."
"Con nghĩ thế nào về việc cầu nguyện nhỉ?" người đàn ông rụt rè hỏi.
"Nhưng đã tối đâu ạ," cô bé đáp.
"Không sao, con ạ. Dù không đúng lúc lắm, nhưng Ngài sẽ không để bụng đâu, chú tin là vậy. Con hãy đọc những bài kinh mà con vẫn thường đọc mỗi tối trên xe ngựa khi chúng ta còn ở vùng Đồng Cỏ ấy."
"Sao chú không tự đọc đi?" đứa trẻ hỏi, đôi mắt tròn xoe đầy ngạc nhiên.
"Chú có nhớ nổi đâu," ông trả lời. "Chú chưa từng đọc bài kinh nào từ hồi còn thấp chưa bằng nửa khẩu súng này. Nhưng chú nghĩ cầu nguyện thì chẳng bao giờ là muộn cả. Con đọc to lên đi, rồi chú sẽ đứng cạnh và hát theo đoạn điệp khúc."
"Vậy thì chú phải quỳ xuống đã, cả con nữa," cô bé nói, vừa trải chiếc khăn choàng ra đất để quỳ lên. "Chú phải giơ hai tay lên thế này này. Làm thế sẽ thấy nhẹ nhõm hơn đấy, chú ạ."
Quả là một cảnh tượng kỳ lạ, giá mà có ai đó ngoài lũ kền kền kia chứng kiến. Sát vai nhau trên tấm khăn choàng nhỏ hẹp, hai kẻ lang thang cùng quỳ gối - một đứa trẻ con bập bẹ và một gã phiêu lưu chai sạn, bất cần. Khuôn mặt bầu bĩnh của cô bé và gương mặt hốc hác, góc cạnh của người đàn ông cùng ngước lên bầu trời không một gợn mây, trong một lời khẩn cầu chân thành dâng lên đấng thiêng liêng đáng sợ mà họ sắp phải đối diện. Hai giọng nói hòa vào nhau - một trong trẻo và mảnh khảnh, một trầm khàn và khắc nghiệt - cùng cất lên lời van xin lòng xót thương và sự khoan dung. Lời cầu nguyện kết thúc, họ lại ngồi dưới bóng râm của tảng đá cho đến khi đứa trẻ ngủ thiếp đi, cuộn tròn trên lồng ngực rộng lớn của người bảo vệ mình. Ông ngồi canh giấc ngủ của cô bé thêm một lúc, nhưng rồi Thiên Nhiên đã quá mạnh mẽ với ông. Suốt ba ngày ba đêm, ông chưa hề cho phép mình nghỉ ngơi hay chợp mắt lấy một giây. Dần dần, đôi mí mắt nặng trĩu sụp xuống che lấp cặp mắt mệt mỏi rã rời, và cái đầu cúi gục xuống mỗi lúc một thấp hơn trên ngực, cho đến khi bộ râu hoa râm của người đàn ông hòa lẫn vào những lọn tóc vàng óng của cô bạn nhỏ đồng hành, và rồi cả hai cùng chìm vào một giấc ngủ say không mộng mị.
Giá như gã lữ khách lang thang kia cố thức thêm nửa giờ nữa, ông hẳn đã được chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng. Tít phía xa, nơi tận cùng của đồng bằng kiềm mênh mông, một dải bụi mỏng bắt đầu bốc lên. Thoạt đầu nó mờ nhạt đến mức khó lòng phân biệt nổi với màn sương viễn xứ, nhưng rồi từ từ cao dần, rộng dần, cho đến khi kết thành một đám mây đặc sệt, rõ nét. Đám mây ấy tiếp tục phình to mãi, đến mức chẳng còn nghi ngờ gì nữa: chỉ một đoàn sinh vật đông đảo đang di chuyển mới có thể khuấy tung lên ngần ấy bụi. Ở một vùng đất màu mỡ hơn, người ta hẳn sẽ nghĩ ngay đến một đàn bò rừng khổng lồ đang tiến tới từ những thảo nguyên xa xăm. Nhưng giữa chốn khô cằn hoang dã này, điều đó là bất khả. Khi vòng xoáy bụi tiến gần hơn đến mỏm đá cô độc nơi hai con người xấu số đang say ngủ, những chiếc mui bạt trắng của các cỗ xe ngựa cùng bóng dáng những kỵ binh mang vũ khí dần lộ ra sau làn sương mỏng, và cái bóng ma ấy cuối cùng hiện nguyên hình: một đoàn lữ hành khổng lồ đang cuồn cuộn tiến về miền Tây.
Nhưng đó quả là một đoàn lữ hành đáng kinh ngạc! Khi nhóm đi đầu đã kịp đặt chân đến tận chân núi, thì nhóm cuối cùng vẫn chưa hề ló dạng trên đường chân trời. Trải dài vắt ngang cả một vùng đồng bằng bao la là một đội hình đông đúc, kéo dài tưởng như vô tận: xe ngựa, xe kéo, những người cưỡi trên lưng ngựa và cả những người lầm lũi cuốc bộ. Vô số phụ nữ lảo đảo bước đi dưới những gánh nặng trĩu vai, còn lũ trẻ thì lẫm chẫm chạy bên cạnh các cỗ xe, hoặc thập thò ló đầu ra từ dưới những tấm bạt che trắng muốt. Thấy rõ đây không phải là một đoàn dân di cư thông thường, mà giống như cả một bộ lạc du mục nào đó bị hoàn cảnh xô đẩy, buộc phải lên đường kiếm tìm cho mình một miền đất mới. Giữa bầu không khí trong vắt, một mớ âm thanh hỗn độn, ầm ĩ bốc lên từ khối người khổng lồ ấy: tiếng bánh xe kẽo kẹt ken két, tiếng ngựa hí vang, và cả những tiếng người gọi nhau í ới. Thế nhưng, ngần ấy náo động vẫn chẳng đủ sức đánh thức nổi hai kẻ lữ hành kiệt sức đang thiếp ngủ trên cao.
Dẫn đầu đoàn người là khoảng hai mươi gã đàn ông. Khuôn mặt họ cứng rắn như đẽo từ sắt đá, vẻ mặt nghiêm nghị, khoác trên mình những bộ quần áo dệt thô màu tối sẫm, tay lăm lăm súng trường. Khi tiến đến sát chân mỏm đá, họ ghìm cương dừng lại và tổ chức một cuộc hội ý ngắn.
"Những giếng nước nằm ở bên phải, thưa các huynh đệ," một người cất tiếng. Đó là một gã đàn ông mặt nhẵn nhụi, môi mỏng dính, mái tóc đã điểm hoa râm.
"Bên phải dãy Sierra Blanco - men theo đó mà đi, ắt sẽ đến được sông Rio Grande," người thứ hai tiếp lời.
"Đừng bận tâm chuyện nước non làm chi!" người thứ ba cao giọng cất lời. "Đấng từng vắt được nước từ trong đá cứng2 sẽ không bao giờ bỏ rơi thần dân được Người chọn đâu!"
"Amen! Amen!" Cả đoàn đồng thanh vang đáp.
Họ vừa định tiếp tục cuộc hành trình thì một trong những chàng trai trẻ, mắt tinh tường nhất, bỗng thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc. Anh chỉ tay về phía vách đá gồ ghề cao vút phía trên đầu mọi người. Trên đỉnh vách đá, một túm nhỏ màu hồng đang phất phơ tung bay, nổi bật đến rực rỡ trên nền đá xám xịt phía sau. Trước cảnh tượng đó, tất cả đồng loạt ghìm cương và tháo súng ra khỏi bao, trong khi những kỵ binh khác phi ngựa tiến lên phía trước để tiếp ứng cho nhóm tiên phong. Từ "Lũ da đỏ" thoắt hiện lên trên môi từng người.
"Ở đây không thể có nhiều dân da đỏ được," người đàn ông đứng tuổi - kẻ có vẻ là thủ lĩnh của nhóm - lên tiếng. "Chúng ta vừa đi qua địa phận của tộc Pawnee rồi, và sẽ chẳng còn bộ lạc nào khác cho đến khi vượt qua những ngọn núi lớn phía trước."
"Để tôi tiến lên trước thám thính nhé, thưa Huynh trưởng Stangerson?" một người trong nhóm xung phong.
"Và cả tôi nữa!" "Cả tôi nữa!" Hàng tá giọng nói đồng loạt vang lên theo.
"Hãy để ngựa ở lại phía dưới này, chúng tôi sẽ đợi các anh ở đây," vị Trưởng lão đáp. Chỉ trong chớp mắt, những chàng thanh niên đã nhảy xuống khỏi yên ngựa, buộc chặt ngựa lại, và bắt đầu leo lên con dốc dựng đứng dẫn đến vật thể đã khơi dậy trí tò mò của họ. Họ tiến lên nhanh nhẹn và lặng lẽ, với tất cả sự tự tin và khéo léo của những trinh sát dày dạn kinh nghiệm. Những người đứng dưới đồng bằng ngước nhìn theo, thấy bóng họ thoăn thoắt chuyển từ tảng đá này sang tảng đá khác, cho đến khi hình bóng ấy in hẳn lên nền trời. Chàng trai trẻ tuổi đầu tiên phát hiện ra dấu hiệu lạ đang dẫn đầu cả nhóm. Đột ngột, những người theo sau thấy anh giang rộng hai cánh tay lên trời, như thể đang sững sờ tột độ. Và khi tiến đến sát bên cạnh, chính họ cũng bị cảnh tượng trước mắt làm cho chấn động y như thế.
Trên mỏm đất bằng phẳng ngự trị nơi đỉnh đồi trơ trọi, có một tảng đá khổng lồ nằm lặng lẽ. Tựa lưng vào tảng đá ấy là một người đàn ông cao lớn, râu dài và những đường nét cứng cỏi trên gương mặt, nhưng lại gầy guộc đến khó tin. Gương mặt ông thật bình yên, nhịp thở thật đều đặn - ông đang chìm trong một giấc ngủ say. Ngay bên cạnh ông là một đứa trẻ nhỏ. Đôi cánh tay tròn trịa, trắng trẻo của cô bé vòng ôm lấy chiếc cổ sạm nâu đầy gân guốc của người đàn ông, còn mái tóc vàng óng rực rỡ của em thì gối đầu lên bộ ngực mặc áo dài bằng nhung tăm của ông. Đôi môi hồng hào của cô bé khẽ hé mở, để lộ ra hàm răng trắng đều như những hạt ngô non, và một nụ cười tinh nghịch như còn đang vờn chơi trên từng đường nét ngây thơ trên khuôn mặt em. Đôi chân nhỏ xíu, bụ bẫm, trắng muốt trong đôi tất trắng và đôi giày nhỏ nhắn với những chiếc khóa sáng loáng, tạo nên một sự tương phản đến lạ kỳ với đôi chân dài ngoằng teo tóp của người bạn đồng hành. Trên gờ đá nhô ra phía trên cặp đôi kỳ dị ấy, ba con kền kền lớn đang đậu chễm chệ một cách trang nghiêm. Thoắt thấy bóng dáng những kẻ mới đến, chúng cất lên những tiếng kêu khàn khàn, đầy thất vọng, rồi lạch bạch vỗ cánh bay đi, nom hậm hực hết sức.
Tiếng kêu chói tai của lũ chim ăn xác đánh thức hai con người đang say ngủ. Họ bừng tỉnh, ngơ ngác nhìn quanh. Người đàn ông lảo đảo đứng dậy, đưa mắt quét xuống vùng bình nguyên trải dài bên dưới. Trước khi giấc ngủ ập xuống, nơi ấy chỉ là một khoảng không hoang vắng đến nao lòng. Thế mà giờ đây, cả vùng đất đã bị xâm chiếm bởi một đoàn người và súc vật khổng lồ. Gương mặt ông hằn lên vẻ hoài nghi tột độ. Ông chớp mắt, rồi đưa bàn tay xương xẩu lên dụi mắt như để xua đi ảo ảnh. "Chắc đây là thứ người ta vẫn gọi là ảo giác rồi," ông lẩm bẩm. Đứa trẻ đứng nép bên ông, bàn tay nhỏ nhắn nắm chặt lấy vạt áo khoác, chẳng thốt nên lời. Chỉ có đôi mắt trẻ thơ tròn xoe, ngập tràn tò mò và dò hỏi, đang lặng lẽ quan sát tất cả.
Đội cứu hộ chẳng mất nhiều thời gian để thuyết phục hai kẻ khốn khổ rằng sự xuất hiện của họ không phải là ảo mộng. Một người vươn tay bế thốc cô bé lên vai. Hai người khác đỡ lấy người bạn đồng hành hốc hác, dìu ông lê từng bước về phía những cỗ xe.
"Tôi là John Ferrier," người lữ khách cất giọng giải thích. "Tôi và đứa trẻ này là tất cả những gì còn sót lại của hai mươi mốt con người. Những người còn lại đã chết cả rồi - chết vì đói, vì khát, ở tít tận phía nam xa xôi kia."
"Đứa bé là con gái anh sao?" một giọng nói cất lên.
"Thì từ giờ trở đi là vậy," Ferrier đáp, giọng đầy thách thức. "Con bé là của tôi, bởi tôi đã cứu mạng nó. Chẳng ai có thể tước con bé khỏi tay tôi đâu. Từ hôm nay, nó là Lucy Ferrier." Ông ngừng lại, đưa đôi mắt tò mò nhìn những vị ân nhân lực lưỡng và rám nắng quanh mình. "Mà các vị là ai thế? Trông đông đảo quá."
"Ngót mười nghìn người," một thanh niên đáp. "Chúng tôi là những người con bị đàn áp của Chúa - những kẻ được Thiên thần Merona3 chọn lựa."
"Tôi chưa từng nghe danh vị ấy bao giờ," Ferrier đáp tỉnh bơ. "Nhưng xem ra ngài ấy chọn được một đám cũng kha khá đấy."
"Đừng có bỡn cợt những điều thiêng liêng," người thanh niên nghiêm giọng cắt lời. "Chúng tôi là những kẻ đặt đức tin vào các văn bản thiêng, được khắc bằng ký tự Ai Cập trên những tấm vàng dát mỏng, đã được trao lại cho Thánh Joseph Smith4 tại Palmyra. Chúng tôi đến từ Nauvoo5 thuộc Tiểu bang Illinois, nơi chúng tôi đã gầy dựng đền thờ của mình. Giờ chúng tôi lên đường tìm kiếm một nơi nương náu, tránh xa lũ người hung bạo và phường vô thần, dù có phải ẩn mình tận trung tâm sa mạc này."
Cái tên Nauvoo rõ ràng đã đánh thức điều gì đó trong trí nhớ của John Ferrier. "Tôi hiểu rồi," ông nói. "Các vị là tín đồ Mormon6."
"Chúng tôi là tín đồ Mormon," những người đồng hành đồng thanh đáp.
"Và các vị đang định đi đâu?"
"Chúng tôi không biết. Bàn tay Chúa dẫn lối chúng tôi qua vị Tiên tri của Ngài. Ông phải đến gặp ngài ấy. Ngài sẽ định đoạt số phận hai người."
Lúc này họ đã xuống đến chân đồi. Ngay lập tức, đám đông người hành hương vây kín lấy họ - những phụ nữ với gương mặt nhu mì nhợt nhạt, những đứa trẻ kháu khỉnh đang cười vang, và những người đàn ông với đôi mắt sáng quắc đầy âu lo. Nhiều tiếng thốt kinh ngạc, nhiều lời xót thương cất lên khi mọi người nhận ra sự non nớt của đứa trẻ và tình trạng thê thảm của người đàn ông. Nhưng đoàn hộ tống không dừng bước. Họ tiếp tục len qua biển người, bám theo sau là cả một đám đông tín đồ hiếu kỳ, cho đến khi chạm tới một cỗ xe ngựa. Cỗ xe ấy nổi bật hẳn giữa đoàn - đồ sộ, lòe loẹt và sang trọng hơn hẳn những chiếc còn lại. Sáu con ngựa được thắng vào cỗ xe, trong khi những cỗ khác chỉ có hai, hoặc nhiều nhất là bốn con. Bên cạnh người đánh xe là một người đàn ông chưa quá ba mươi tuổi, nhưng cái đầu to cùng vẻ mặt cương nghị đã tố cáo ông là một nhà lãnh đạo bẩm sinh. Ông đang mải mê đọc một cuốn sách bìa nâu. Khi đám đông ùa tới, ông khép sách lại, chăm chú lắng nghe câu chuyện được tường thuật. Đoạn, ông quay sang hai kẻ lạc loài khốn khổ.
"Nếu chúng ta nhận hai ngươi đi cùng," ngài lên tiếng, giọng trang nghiêm đến mức tưởng như không khí quanh đó cũng lắng xuống, "thì hai ngươi chỉ có thể bước đi với tư cách những tín đồ trung thành với đức tin của chúng ta. Bầy chiên này không chứa chấp sói dữ. Thà để xương cốt hai ngươi phơi trắng trên sa mạc này, còn hơn cho phép hai ngươi trở thành một đốm mục nhỏ, để rồi theo thời gian sẽ làm hỏng cả trái ngọt. Ngươi có sẵn lòng đồng hành cùng chúng ta, với những điều kiện ấy không?"
"Tôi nghĩ là tôi sẽ đi, dù điều kiện gì cũng được," Ferrier đáp, giọng nhấn nhá đến mức ngay cả những vị Trưởng lão nghiêm nghị nhất cũng không khỏi phì cười. Duy chỉ có vị lãnh đạo là giữ nguyên vẻ mặt uy nghiêm, sâu thẳm.
"Hãy đưa anh ta đi, Huynh trưởng Stangerson," ngài ra lệnh. "Cho anh ta thức ăn, nước uống. Và cả đứa trẻ nữa. Giao cho anh trọng trách truyền dạy cho anh ta giáo lý thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta đã trì hoãn quá lâu rồi. Tiến lên! Tiến về Zion7!"
"Tiến về Zion!" Đám đông tín đồ Mormon đồng loạt hô vang. Tiếng hô lan đi như sóng, truyền dọc theo đoàn xe dài dằng dặc, từ miệng người này sang miệng người khác, cho đến khi lịm dần thành một âm thanh rì rầm trầm đục ở tít phía xa. Những ngọn roi quất lên không trung. Bánh xe lại kẽo kẹt lăn. Những cỗ xe khổng lồ một lần nữa chuyển động, và chẳng mấy chốc, cả đoàn lữ hành lại uốn mình trườn tới như một con rắn khổng lồ trên mặt sa mạc. Vị Trưởng lão được giao phó nhiệm vụ chăm sóc hai kẻ mồ côi lang thang đã dẫn họ về cỗ xe của mình, nơi một bữa ăn thịnh soạn đã được bày sẵn, chờ đón họ.
"Hai người sẽ ở lại đây," ông nói. "Vài ngày tới, anh sẽ lấy lại sức sau những ngày cùng cực. Nhưng trong lúc chờ đợi, hãy ghi nhớ một điều: từ giờ phút này, và mãi mãi về sau, anh đã thuộc về tôn giáo của chúng tôi. Brigham Young8 đã phán như vậy. Và ngài ấy nói bằng giọng của Joseph Smith, cũng chính là tiếng nói của Chúa trời."
-
Đất kiềm (alkali) là loại đất chứa nồng độ muối khoáng tự nhiên rất cao, đặc trưng của các hoang mạc Bắc Mỹ. Tính kiềm mạnh và độ mặn khiến phần lớn thực vật không thể sống sót, tạo nên cảnh quan cằn cỗi, chết chóc. ↩
-
Điển tích Kinh Thánh (Xuất Hành 17:6) kể việc tiên tri Moses vâng lệnh Chúa gõ gậy vào tảng đá để tạo dòng nước tuôn trào, cứu dân Do Thái đang khát giữa sa mạc. Lịch sử di cư của người Mormon thường được ví như hành trình Xuất Hành này. ↩
-
Nguyên tác viết là Merona, ám chỉ Thiên thần Moroni trong giáo lý Mormon - vị thiên thần được cho là đã hiện ra và dẫn đường cho nhà sáng lập Joseph Smith tìm thấy những văn bản thiêng để lập nên tôn giáo này. ↩
-
Joseph Smith (1805-1844) là người sáng lập tôn giáo Mormon. Theo giáo lý, ông đã dịch các tấm vàng thiêng được thiên thần trao cho thành Sách Mormon, nền tảng đức tin của giáo hội. ↩
-
Một thành phố ở tiểu bang Illinois, từng là trung tâm phát triển hưng thịnh của người Mormon vào thập niên 1840 cho đến khi họ bị xung đột tôn giáo bức hại, buộc phải bỏ nhà cửa di cư về miền Tây. ↩
-
Những người thuộc Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, một tôn giáo bắt nguồn từ Mỹ đầu thế kỷ 19. Việc họ đại di cư qua sa mạc khắc nghiệt để tìm nơi tự do tín ngưỡng là sự kiện lịch sử quan trọng của miền Tây nước Mỹ. ↩
-
Trong Kinh Thánh và giáo lý Mormon, Zion mang nghĩa là "Vùng đất hứa" hoặc vương quốc của Chúa trên trần thế. Người Mormon dùng từ này để gọi vùng đất tị nạn mới mà họ đang tìm kiếm để xây dựng cộng đồng. ↩
-
Brigham Young (1801-1877) là vị lãnh đạo tối cao thứ hai của giáo hội Mormon. Ông được tôn vinh như "Moses của nước Mỹ" vì đã dẫn dắt hàng vạn tín đồ vượt sa mạc hiểm nghèo đến định cư và lập nên bang Utah ngày nay. ↩
PART 1. THE COUNTRY OF THE SAINTS
CHAPTER I. ON THE GREAT ALKALI PLAIN.
In the central portion of the great North American Continent there lies an arid and repulsive desert, which for many a long year served as a barrier against the advance of civilisation. From the Sierra Nevada to Nebraska, and from the Yellowstone River in the north to the Colorado upon the south, is a region of desolation and silence. Nor is Nature always in one mood throughout this grim district. It comprises snow-capped and lofty mountains, and dark and gloomy valleys. There are swift-flowing rivers which dash through jagged cañons; and there are enormous plains, which in winter are white with snow, and in summer are grey with the saline alkali dust. They all preserve, however, the common characteristics of barrenness, inhospitality, and misery.
There are no inhabitants of this land of despair. A band of Pawnees or of Blackfeet may occasionally traverse it in order to reach other hunting-grounds, but the hardiest of the braves are glad to lose sight of those awesome plains, and to find themselves once more upon their prairies. The coyote skulks among the scrub, the buzzard flaps heavily through the air, and the clumsy grizzly bear lumbers through the dark ravines, and picks up such sustenance as it can amongst the rocks. These are the sole dwellers in the wilderness.
In the whole world there can be no more dreary view than that from the northern slope of the Sierra Blanco. As far as the eye can reach stretches the great flat plain-land, all dusted over with patches of alkali, and intersected by clumps of the dwarfish chaparral bushes. On the extreme verge of the horizon lie a long chain of mountain peaks, with their rugged summits flecked with snow. In this great stretch of country there is no sign of life, nor of anything appertaining to life. There is no bird in the steel-blue heaven, no movement upon the dull, grey earth-above all, there is absolute silence. Listen as one may, there is no shadow of a sound in all that mighty wilderness; nothing but silence-complete and heart-subduing silence.
It has been said there is nothing appertaining to life upon the broad plain. That is hardly true. Looking down from the Sierra Blanco, one sees a pathway traced out across the desert, which winds away and is lost in the extreme distance. It is rutted with wheels and trodden down by the feet of many adventurers. Here and there there are scattered white objects which glisten in the sun, and stand out against the dull deposit of alkali. Approach, and examine them! They are bones: some large and coarse, others smaller and more delicate. The former have belonged to oxen, and the latter to men. For fifteen hundred miles one may trace this ghastly caravan route by these scattered remains of those who had fallen by the wayside.
Looking down on this very scene, there stood upon the fourth of May, eighteen hundred and forty-seven, a solitary traveller. His appearance was such that he might have been the very genius or demon of the region. An observer would have found it difficult to say whether he was nearer to forty or to sixty. His face was lean and haggard, and the brown parchment-like skin was drawn tightly over the projecting bones; his long, brown hair and beard were all flecked and dashed with white; his eyes were sunken in his head, and burned with an unnatural lustre; while the hand which grasped his rifle was hardly more fleshy than that of a skeleton. As he stood, he leaned upon his weapon for support, and yet his tall figure and the massive framework of his bones suggested a wiry and vigorous constitution. His gaunt face, however, and his clothes, which hung so baggily over his shrivelled limbs, proclaimed what it was that gave him that senile and decrepit appearance. The man was dying-dying from hunger and from thirst.
He had toiled painfully down the ravine, and on to this little elevation, in the vain hope of seeing some signs of water. Now the great salt plain stretched before his eyes, and the distant belt of savage mountains, without a sign anywhere of plant or tree, which might indicate the presence of moisture. In all that broad landscape there was no gleam of hope. North, and east, and west he looked with wild questioning eyes, and then he realised that his wanderings had come to an end, and that there, on that barren crag, he was about to die. “Why not here, as well as in a feather bed, twenty years hence,” he muttered, as he seated himself in the shelter of a boulder.
Before sitting down, he had deposited upon the ground his useless rifle, and also a large bundle tied up in a grey shawl, which he had carried slung over his right shoulder. It appeared to be somewhat too heavy for his strength, for in lowering it, it came down on the ground with some little violence. Instantly there broke from the grey parcel a little moaning cry, and from it there protruded a small, scared face, with very bright brown eyes, and two little speckled, dimpled fists.
“You’ve hurt me!” said a childish voice reproachfully.
“Have I though,” the man answered penitently, “I didn’t go for to do it.” As he spoke he unwrapped the grey shawl and extricated a pretty little girl of about five years of age, whose dainty shoes and smart pink frock with its little linen apron all bespoke a mother’s care. The child was pale and wan, but her healthy arms and legs showed that she had suffered less than her companion.
“How is it now?” he answered anxiously, for she was still rubbing the towsy golden curls which covered the back of her head.
“Kiss it and make it well,” she said, with perfect gravity, showing the injured part up to him. “That’s what mother used to do. Where’s mother?”
“Mother’s gone. I guess you’ll see her before long.”
“Gone, eh!” said the little girl. “Funny, she didn’t say good-bye; she ‘most always did if she was just goin’ over to Auntie’s for tea, and now she’s been away three days. Say, it’s awful dry, ain’t it? Ain’t there no water, nor nothing to eat?”
“No, there ain’t nothing, dearie. You’ll just need to be patient awhile, and then you’ll be all right. Put your head up agin me like that, and then you’ll feel bullier. It ain’t easy to talk when your lips is like leather, but I guess I’d best let you know how the cards lie. What’s that you’ve got?”
“Pretty things! fine things!” cried the little girl enthusiastically, holding up two glittering fragments of mica. “When we goes back to home I’ll give them to brother Bob.”
“You’ll see prettier things than them soon,” said the man confidently. “You just wait a bit. I was going to tell you though-you remember when we left the river?”
“Oh, yes.”
“Well, we reckoned we’d strike another river soon, d’ye see. But there was somethin’ wrong; compasses, or map, or somethin’, and it didn’t turn up. Water ran out. Just except a little drop for the likes of you and-and--”
“And you couldn’t wash yourself,” interrupted his companion gravely, staring up at his grimy visage.
“No, nor drink. And Mr. Bender, he was the fust to go, and then Indian Pete, and then Mrs. McGregor, and then Johnny Hones, and then, dearie, your mother.”
“Then mother’s a deader too,” cried the little girl dropping her face in her pinafore and sobbing bitterly.
“Yes, they all went except you and me. Then I thought there was some chance of water in this direction, so I heaved you over my shoulder and we tramped it together. It don’t seem as though we’ve improved matters. There’s an almighty small chance for us now!”
“Do you mean that we are going to die too?” asked the child, checking her sobs, and raising her tear-stained face.
“I guess that’s about the size of it.”
“Why didn’t you say so before?” she said, laughing gleefully. “You gave me such a fright. Why, of course, now as long as we die we’ll be with mother again.”
“Yes, you will, dearie.”
“And you too. I’ll tell her how awful good you’ve been. I’ll bet she meets us at the door of Heaven with a big pitcher of water, and a lot of buckwheat cakes, hot, and toasted on both sides, like Bob and me was fond of. How long will it be first?”
“I don’t know-not very long.” The man’s eyes were fixed upon the northern horizon. In the blue vault of the heaven there had appeared three little specks which increased in size every moment, so rapidly did they approach. They speedily resolved themselves into three large brown birds, which circled over the heads of the two wanderers, and then settled upon some rocks which overlooked them. They were buzzards, the vultures of the west, whose coming is the forerunner of death.
“Cocks and hens,” cried the little girl gleefully, pointing at their ill-omened forms, and clapping her hands to make them rise. “Say, did God make this country?”
“In course He did,” said her companion, rather startled by this unexpected question.
“He made the country down in Illinois, and He made the Missouri,” the little girl continued. “I guess somebody else made the country in these parts. It’s not nearly so well done. They forgot the water and the trees.”
“What would ye think of offering up prayer?” the man asked diffidently.
“It ain’t night yet,” she answered.
“It don’t matter. It ain’t quite regular, but He won’t mind that, you bet. You say over them ones that you used to say every night in the waggon when we was on the Plains.”
“Why don’t you say some yourself?” the child asked, with wondering eyes.
“I disremember them,” he answered. “I hain’t said none since I was half the height o’ that gun. I guess it’s never too late. You say them out, and I’ll stand by and come in on the choruses.”
“Then you’ll need to kneel down, and me too,” she said, laying the shawl out for that purpose. “You’ve got to put your hands up like this. It makes you feel kind o’ good.”
It was a strange sight had there been anything but the buzzards to see it. Side by side on the narrow shawl knelt the two wanderers, the little prattling child and the reckless, hardened adventurer. Her chubby face, and his haggard, angular visage were both turned up to the cloudless heaven in heartfelt entreaty to that dread being with whom they were face to face, while the two voices-the one thin and clear, the other deep and harsh-united in the entreaty for mercy and forgiveness. The prayer finished, they resumed their seat in the shadow of the boulder until the child fell asleep, nestling upon the broad breast of her protector. He watched over her slumber for some time, but Nature proved to be too strong for him. For three days and three nights he had allowed himself neither rest nor repose. Slowly the eyelids drooped over the tired eyes, and the head sunk lower and lower upon the breast, until the man’s grizzled beard was mixed with the gold tresses of his companion, and both slept the same deep and dreamless slumber.
Had the wanderer remained awake for another half hour a strange sight would have met his eyes. Far away on the extreme verge of the alkali plain there rose up a little spray of dust, very slight at first, and hardly to be distinguished from the mists of the distance, but gradually growing higher and broader until it formed a solid, well-defined cloud. This cloud continued to increase in size until it became evident that it could only be raised by a great multitude of moving creatures. In more fertile spots the observer would have come to the conclusion that one of those great herds of bisons which graze upon the prairie land was approaching him. This was obviously impossible in these arid wilds. As the whirl of dust drew nearer to the solitary bluff upon which the two castaways were reposing, the canvas-covered tilts of waggons and the figures of armed horsemen began to show up through the haze, and the apparition revealed itself as being a great caravan upon its journey for the West. But what a caravan! When the head of it had reached the base of the mountains, the rear was not yet visible on the horizon. Right across the enormous plain stretched the straggling array, waggons and carts, men on horseback, and men on foot. Innumerable women who staggered along under burdens, and children who toddled beside the waggons or peeped out from under the white coverings. This was evidently no ordinary party of immigrants, but rather some nomad people who had been compelled from stress of circumstances to seek themselves a new country. There rose through the clear air a confused clattering and rumbling from this great mass of humanity, with the creaking of wheels and the neighing of horses. Loud as it was, it was not sufficient to rouse the two tired wayfarers above them.
At the head of the column there rode a score or more of grave ironfaced men, clad in sombre homespun garments and armed with rifles. On reaching the base of the bluff they halted, and held a short council among themselves.
“The wells are to the right, my brothers,” said one, a hard-lipped, clean-shaven man with grizzly hair.
“To the right of the Sierra Blanco-so we shall reach the Rio Grande,” said another.
“Fear not for water,” cried a third. “He who could draw it from the rocks will not now abandon His own chosen people.”
“Amen! Amen!” responded the whole party.
They were about to resume their journey when one of the youngest and keenest-eyed uttered an exclamation and pointed up at the rugged crag above them. From its summit there fluttered a little wisp of pink, showing up hard and bright against the grey rocks behind. At the sight there was a general reining up of horses and unslinging of guns, while fresh horsemen came galloping up to reinforce the vanguard. The word “Redskins” was on every lip.
“There can’t be any number of Injuns here,” said the elderly man who appeared to be in command. “We have passed the Pawnees, and there are no other tribes until we cross the great mountains.”
“Shall I go forward and see, Brother Stangerson,” asked one of the band.
“And I,” “and I,” cried a dozen voices.
“Leave your horses below and we will await you here,” the Elder answered. In a moment the young fellows had dismounted, fastened their horses, and were ascending the precipitous slope which led up to the object which had excited their curiosity. They advanced rapidly and noiselessly, with the confidence and dexterity of practised scouts. The watchers from the plain below could see them flit from rock to rock until their figures stood out against the skyline. The young man who had first given the alarm was leading them. Suddenly his followers saw him throw up his hands, as though overcome with astonishment, and on joining him they were affected in the same way by the sight which met their eyes.
On the little plateau which crowned the barren hill there stood a single giant boulder, and against this boulder there lay a tall man, long-bearded and hard-featured, but of an excessive thinness. His placid face and regular breathing showed that he was fast asleep. Beside him lay a little child, with her round white arms encircling his brown sinewy neck, and her golden haired head resting upon the breast of his velveteen tunic. Her rosy lips were parted, showing the regular line of snow-white teeth within, and a playful smile played over her infantile features. Her plump little white legs terminating in white socks and neat shoes with shining buckles, offered a strange contrast to the long shrivelled members of her companion. On the ledge of rock above this strange couple there stood three solemn buzzards, who, at the sight of the new comers uttered raucous screams of disappointment and flapped sullenly away.
The cries of the foul birds awoke the two sleepers who stared about them in bewilderment. The man staggered to his feet and looked down upon the plain which had been so desolate when sleep had overtaken him, and which was now traversed by this enormous body of men and of beasts. His face assumed an expression of incredulity as he gazed, and he passed his boney hand over his eyes. “This is what they call delirium, I guess,” he muttered. The child stood beside him, holding on to the skirt of his coat, and said nothing but looked all round her with the wondering questioning gaze of childhood.
The rescuing party were speedily able to convince the two castaways that their appearance was no delusion. One of them seized the little girl, and hoisted her upon his shoulder, while two others supported her gaunt companion, and assisted him towards the waggons.
“My name is John Ferrier,” the wanderer explained; “me and that little un are all that’s left o’ twenty-one people. The rest is all dead o’ thirst and hunger away down in the south.”
“Is she your child?” asked someone.
“I guess she is now,” the other cried, defiantly; “she’s mine ’cause I saved her. No man will take her from me. She’s Lucy Ferrier from this day on. Who are you, though?” he continued, glancing with curiosity at his stalwart, sunburned rescuers; “there seems to be a powerful lot of ye.”
“Nigh upon ten thousand,” said one of the young men; “we are the persecuted children of God-the chosen of the Angel Merona.”
“I never heard tell on him,” said the wanderer. “He appears to have chosen a fair crowd of ye.”
“Do not jest at that which is sacred,” said the other sternly. “We are of those who believe in those sacred writings, drawn in Egyptian letters on plates of beaten gold, which were handed unto the holy Joseph Smith at Palmyra. We have come from Nauvoo, in the State of Illinois, where we had founded our temple. We have come to seek a refuge from the violent man and from the godless, even though it be the heart of the desert.”
The name of Nauvoo evidently recalled recollections to John Ferrier. “I see,” he said, “you are the Mormons.”
“We are the Mormons,” answered his companions with one voice.
“And where are you going?”
“We do not know. The hand of God is leading us under the person of our Prophet. You must come before him. He shall say what is to be done with you.”
They had reached the base of the hill by this time, and were surrounded by crowds of the pilgrims-pale-faced meek-looking women, strong laughing children, and anxious earnest-eyed men. Many were the cries of astonishment and of commiseration which arose from them when they perceived the youth of one of the strangers and the destitution of the other. Their escort did not halt, however, but pushed on, followed by a great crowd of Mormons, until they reached a waggon, which was conspicuous for its great size and for the gaudiness and smartness of its appearance. Six horses were yoked to it, whereas the others were furnished with two, or, at most, four a-piece. Beside the driver there sat a man who could not have been more than thirty years of age, but whose massive head and resolute expression marked him as a leader. He was reading a brown-backed volume, but as the crowd approached he laid it aside, and listened attentively to an account of the episode. Then he turned to the two castaways.
“If we take you with us,” he said, in solemn words, “it can only be as believers in our own creed. We shall have no wolves in our fold. Better far that your bones should bleach in this wilderness than that you should prove to be that little speck of decay which in time corrupts the whole fruit. Will you come with us on these terms?”
“Guess I’ll come with you on any terms,” said Ferrier, with such emphasis that the grave Elders could not restrain a smile. The leader alone retained his stern, impressive expression.
“Take him, Brother Stangerson,” he said, “give him food and drink, and the child likewise. Let it be your task also to teach him our holy creed. We have delayed long enough. Forward! On, on to Zion!”
“On, on to Zion!” cried the crowd of Mormons, and the words rippled down the long caravan, passing from mouth to mouth until they died away in a dull murmur in the far distance. With a cracking of whips and a creaking of wheels the great waggons got into motion, and soon the whole caravan was winding along once more. The Elder to whose care the two waifs had been committed, led them to his waggon, where a meal was already awaiting them.
“You shall remain here,” he said. “In a few days you will have recovered from your fatigues. In the meantime, remember that now and for ever you are of our religion. Brigham Young has said it, and he has spoken with the voice of Joseph Smith, which is the voice of God.”