🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG II. ĐÓA HOA XỨ UTAH.

Nơi đây không phải là chốn để ôn lại những thử thách và cơ cực mà đoàn người Mormon1 nhập cư đã nếm trải trước khi đặt chân đến bến bờ sau cuối. Từ bờ sông Mississippi đến tận triền tây dãy Rocky, họ đã vật lộn sinh tồn với một nghị lực gần như chưa từng thấy trong sử sách. Man tộc và thú dữ, cơn đói, cơn khát, kiệt quệ và bệnh tật - mọi chướng ngại mà Tạo hóa bày ra trên lối đi, thảy đều khuất phục trước sự ngoan cường của dòng máu Anglo-Saxon2. Thế nhưng, hành trình dằng dặc cùng những nỗi kinh hoàng chất chồng cũng đủ sức làm rung chuyển ngay cả những trái tim gan dạ nhất. Chẳng một ai còn đứng vững trên đôi chân mình mà không quỳ xuống dâng lời nguyện cầu tha thiết, khi phóng tầm mắt xuống thung lũng Utah mênh mông đang tắm mình trong nắng vàng rực rỡ, và lắng nghe chính miệng vị thủ lĩnh tuyên phán rằng đây chính là miền đất hứa, rằng những mẫu đất hoang sơ này từ nay sẽ mãi mãi thuộc về họ.

Young3 mau chóng chứng tỏ mình vừa là một nhà cai trị khôn khéo, vừa là một thủ lĩnh quả quyết. Bản đồ được vạch ra, sơ đồ được chuẩn bị, và trên đó thành phố tương lai đã được phác thảo đâu vào đấy. Quanh vùng, nông trang được chia chác và phân bổ tương xứng với địa vị mỗi người. Lái buôn được giao việc buôn bán, thợ thủ công được trao nghề của họ. Trong thị trấn, phố xá và quảng trường mọc lên như có phép nhiệm màu. Ngoài thôn dã, người ta đào kênh thoát nước, dựng hàng rào, trồng trọt và khai hoang, cho đến tận mùa hè năm sau, cả một vùng đồng quê rực vàng dưới sắc lúa mì chín rộ. Hết thảy đều hưng thịnh trong khu định cư xa lạ này. Trên tất cả, đền thờ vĩ đại mà họ dựng lên ở trung tâm thành phố mỗi ngày lại cao thêm một chút. Từ tia nắng rạng đông đầu tiên cho đến khi vầng tà dương khuất bóng, tiếng búa nện chan chát cùng tiếng cưa rít inh tai chẳng lúc nào ngớt tại công trình kỷ niệm mà những người nhập cư đang dựng lên để tôn kính Đấng đã dẫn lối cho họ bình an vượt qua muôn trùng nguy hiểm.

Hai kẻ lưu lạc, John Ferrier và cô bé mà ông đã sẻ chia số phận rồi nhận làm con nuôi, đã cùng đồng hành với đoàn người Mormon suốt cuộc trường chinh vĩ đại. Bé Lucy Ferrier được chuyên chở khá dễ chịu trên chiếc xe kéo của Trưởng lão4 Stangerson, một nơi trú thân mà cô bé chia sẻ cùng ba người vợ của người đàn ông Mormon và cậu con trai mười hai tuổi bướng bỉnh, hỗn xược của ông ta. Nhờ sức bật của tuổi thơ, cô bé đã hồi phục sau cú sốc mất mẹ, rồi chẳng mấy chốc trở thành con cưng của đám đàn bà, và quen dần với cuộc sống mới trong căn nhà bạt di động của mình. Trong lúc đó, Ferrier, sau khi bình phục khỏi những cơn thiếu thốn, đã tỏ ra xuất chúng trong vai một người dẫn đường đắc lực và một tay thợ săn bền bỉ. Ông nhanh chóng chiếm được lòng kính trọng của những người bạn đồng hành mới, đến nỗi khi cuộc du hành chấm dứt, mọi người nhất trí rằng ông xứng đáng được ban cho một mảnh đất rộng rãi và phì nhiêu, không thua kém bất kỳ ai trong đoàn định cư, ngoại trừ chính Young cùng bốn vị Trưởng lão chính: Stangerson, Kemball, Johnston và Drebber.

Trên mảnh đất vừa được cấp, John Ferrier đã dựng cho mình một căn nhà gỗ chắc chắn, rồi trong những năm kế tiếp, nó được cơi nới thêm rất nhiều, đến mức biến thành một tòa biệt thự thênh thang. Ông là người có đầu óc thực tiễn, sắc sảo trong giao dịch và khéo léo với đôi tay của chính mình. Sức vóc sắt đá cho phép ông làm việc từ tinh mơ đến tối mịt để cải tạo và cày xới đất đai. Nhờ vậy, nông trang của ông cùng tất thảy những gì thuộc về ông đều cực kỳ phát đạt. Trong ba năm, ông đã khá giả hơn láng giềng; sau sáu năm, ông trở nên sung túc; sau chín năm, ông trở nên giàu có; và sau mười hai năm, trên toàn cõi Thành phố Salt Lake này, không có đến nửa tá người sánh kịp ông. Từ vùng nội hải mênh mông5 cho đến dãy núi Wahsatch6 xa mờ, chẳng có cái tên nào lừng lẫy hơn cái tên John Ferrier.

Có một điều, và chỉ một điều duy nhất, khiến ông làm tổn thương đến sự nhạy cảm của những người đồng đạo. Chẳng một lý lẽ hay lời khuyên nhủ nào có thể xui khiến ông thiết lập một gia đình nhiều nữ giới7 theo kiểu của những bạn đồng hành chung quanh. Ông chưa bao giờ giải thích lý do cho sự từ chối dai dẳng này, mà chỉ bằng lòng kiên quyết và cứng rắn bám giữ quyết định của mình. Một số kẻ buộc tội ông thờ ơ với tôn giáo mà mình đã theo; số khác thì quy cho lòng tham giàu sang và sự miễn cưỡng phải gánh thêm chi phí. Lại có người thì thầm về một mối tình thời niên thiếu, về một cô gái tóc vàng đã héo hon tàn tạ nơi bờ biển Đại Tây Dương xa xôi. Nhưng dù lý do là gì đi nữa, Ferrier vẫn tuyệt đối sống cuộc đời độc thân. Ở mọi phương diện khác, ông đều tuân thủ tôn giáo của khu định cư non trẻ này, và giành được tiếng tăm như một con chiên chính thống giáo, sống đời ngay thẳng.

Lucy Ferrier khôn lớn giữa mái nhà gỗ đơn sơ, ngày ngày sớm tối phụ giúp cha nuôi đủ mọi việc trong nhà. Thay cho vú nuôi, thay cho vòng tay mẹ, cô gái nhỏ lớn lên bằng bầu không khí trong lành của vùng núi cao và mùi hương mát rượi tỏa ra từ những hàng thông. Hết năm này đến năm khác trôi qua, dáng hình cô càng thêm cao ráo và mạnh mẽ, đôi má càng thắm một màu hồng khỏe khoắn, và mỗi bước chân cô lại trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển hơn. Bao lữ khách qua lại trên con đường lộ chạy ngang trang trại nhà Ferrier đã cảm thấy những ký ức tưởng chừng đã ngủ quên từ lâu bỗng trỗi dậy trong lòng ngực, khi họ thoáng thấy thân hình thiếu nữ mảnh dẻ của cô lướt đi thanh thoát giữa những cánh đồng lúa mì, hay bắt gặp cô ngồi vững chãi trên lưng con ngựa hoang của cha, điều khiển nó bằng tất cả vẻ thuần thục tự nhiên và duyên dáng của một đứa trẻ đích thực sinh ra từ miền Tây. Rồi cũng đến lúc nụ hoa chúm chím kia bung nở thành đóa hoa rực rỡ. Cùng cái năm mà cha cô trở thành người nông dân giàu có nhất cả vùng, Lucy cũng trở thành một thiếu nữ Mỹ xinh đẹp tuyệt trần - có lẽ chẳng ai tìm nổi một sắc đẹp nào sánh kịp trên khắp những triền dốc Thái Bình Dương.

Thế nhưng, không phải người cha là kẻ đầu tiên nhận ra đứa trẻ ngày nào đã thực sự trở thành một người đàn bà. Những chuyện như thế thì trước nay vẫn hiếm khi xảy ra. Sự chuyển biến huyền nhiệm ấy tinh vi và chậm chạp đến mức chẳng ai có thể đong đếm nó bằng tháng ngày. Ngay chính bản thân người thiếu nữ lại càng không hề hay biết - cho đến một khoảnh khắc, khi thanh âm của một giọng nói thốt lên hay cái chạm tay của một ai đó khiến trái tim trong lồng ngực nàng bỗng rung lên thổn thức, và nàng nhận ra, trong một tâm trạng đan xen giữa niềm kiêu hãnh và nỗi sợ hãi mơ hồ, rằng có một bản chất mới mẻ, rộng lớn hơn đang thức tỉnh từ sâu thẳm bên trong mình. Có mấy ai trong đời lại không thể nhớ lại cái ngày ấy, không thể gợi về cái sự kiện nhỏ nhoi mà đã báo hiệu buổi bình minh của một cuộc đời mới? Còn trong trường hợp của Lucy Ferrier, bản thân sự kiện ấy hóa ra lại đủ nghiêm trọng - chưa cần nói đến ảnh hưởng lâu dài của nó đối với số phận của chính nàng sau này, và của bao con người khác nữa.

Đó là một buổi sáng tháng Sáu ấm áp. Các vị Thánh Hữu Ngày Sau8 đang tất bật như những con ong - loài vật họ đã chọn làm biểu tượng của mình9. Trên khắp cánh đồng lẫn đường phố, đâu đâu cũng vang lên thứ tiếng vo ve không ngớt của sự cần cù lao động. Dọc theo những con đường lộ đầy bụi, từng đoàn la chở nặng nối đuôi nhau tiến về phía tây, bởi cơn sốt vàng vừa bùng nổ ở California10, và Tuyến Đường Bộ11 chạy xuyên qua Thành phố của Những Người Được Chọn12. Những đàn cừu, đàn bò từ các đồng cỏ xa xôi cũng đổ dồn về đây. Xen lẫn trong dòng người ngựa ấy là những đoàn dân nhập cư rệu rã, người và ngựa đều kiệt quệ sau chặng đường dài vô tận.

Len lỏi xuyên qua đám đông hỗn tạp, Lucy Ferrier thúc ngựa phi nước đại với sự thuần thục của một tay cưỡi ngựa lão luyện. Khuôn mặt xinh đẹp của cô ửng hồng vì vận động, mái tóc dài màu hạt dẻ tung bay phía sau theo từng nhịp phi. Cô được cha giao cho một việc cần làm trong Thành phố, và như bao lần trước, cô lao đi với tất cả lòng can đảm của tuổi trẻ, trong đầu chỉ nghĩ đến nhiệm vụ trước mắt và cách hoàn thành nó. Những nhà thám hiểm lấm lem bụi đường kinh ngạc ngoái nhìn theo cô. Ngay cả những người da đỏ vốn vô cảm, đang thồ những bộ lông thú trên đường, cũng đánh rơi vẻ khắc kỷ thường ngày để trầm trồ trước vẻ đẹp của người thiếu nữ da trắng.

Khi đến vùng ngoại ô thành phố, cô phát hiện con đường bị chặn bởi một đàn gia súc khổng lồ, do chừng nửa tá gã chăn bò trông hoang dã từ vùng bình nguyên lùa đi. Mất kiên nhẫn, cô cố vượt qua chướng ngại bằng cách thúc ngựa luồn vào một khe hở tưởng chừng có thể chui lọt. Thế nhưng, cô chưa kịp tiến sâu vào trong thì đàn gia súc đã khép kín phía sau, nhốt cô hoàn toàn giữa dòng sông di động của những con bò đực sừng dài với ánh mắt hung dữ. Dù đã quen đối phó với gia súc, cô vẫn không hề hoảng sợ. Cô tận dụng từng cơ hội để thúc ngựa tiến lên, hy vọng chen được ra ngoài.

Nhưng rồi không may, chiếc sừng của một con bò - vô tình hay cố ý - đâm sầm vào mạn sườn con ngựa hoang, khiến nó phát điên lên. Trong khoảnh khắc, con vật chồm lên bằng hai vó sau, khịt mũi giận dữ, rồi nhảy chồm chồm và hất tung dữ dội - một cú hất có thể quật ngã bất kỳ ai, trừ những tay cưỡi ngựa điêu luyện nhất. Tình thế lúc này đầy hiểm nguy. Mỗi cú lao của con ngựa hoảng loạn lại quật nó va vào những chiếc sừng thêm một lần nữa, càng kích động nó đến mức điên cuồng mới. Tất cả những gì cô gái có thể làm là bám chặt lấy yên ngựa, nhưng chỉ một cú trượt tay thôi cũng đồng nghĩa với cái chết kinh hoàng dưới móng guốc của bầy thú to lớn đang hoảng loạn.

Chưa từng quen với những tình huống khẩn cấp bất ngờ, đầu óc Lucy bắt đầu quay cuồng. Lực bám dây cương của cô mỗi lúc một lỏng dần. Nghẹt thở trong đám mây bụi mù mịt và hơi nước bốc lên từ bầy thú đang giày xéo nhau, cô có lẽ đã buông xuôi trong tuyệt vọng - nếu không có một giọng nói tử tế vang lên ngay sát khuỷu tay, trấn an rằng sẽ giúp cô. Cùng lúc ấy, một bàn tay rám nắng, cuồn cuộn những thớ gân, nắm chặt lấy dây hàm thiếc của con ngựa đang hoảng loạn, rồi dùng sức mạnh rẽ một lối đi xuyên qua bầy gia súc, nhanh chóng đưa cô ra đến rìa ngoài an toàn.

"Mong rằng cô không bị thương, thưa cô," người vừa cứu mạng cô cất lời, cung kính.

Lucy ngước nhìn lên khuôn mặt rám nắng hoang dại của anh, rồi bật cười đầy tinh quái. "Tôi sợ muốn chết khiếp," cô thú nhận, giọng ngây thơ hết mực; "ai mà ngờ được Poncho lại hoảng hồn chỉ vì một lũ bò già nua thế kia chứ?"

"Tạ ơn Chúa vì cô vẫn ngồi vững trên yên," chàng trai nói, giọng nghiêm trang. Anh ta là một thanh niên cao lớn, vẻ ngoài dữ dội đậm chất hoang dã, cưỡi trên lưng một con ngựa xám đốm oai vệ, khoác lên mình bộ đồ thô ráp của dân thợ săn, với khẩu súng trường dài vắt chéo ngang vai. "Tôi đoán cô chính là con gái của John Ferrier," anh nhận định, "tôi thấy cô phi ngựa xuống từ phía trang trại của ông ấy. Lúc nào gặp ông, cô hãy hỏi thử xem ông ấy có còn nhớ nhà Jefferson Hope ở St. Louis không nhé. Nếu đúng là ông Ferrier ấy, thì cha tôi với ông nhà từng là chỗ thân tình lắm."

"Thế sao anh không tự mình đến mà hỏi, như vậy chẳng phải hay hơn ư?" cô nhẹ nhàng đáp.

Chàng trai trẻ có vẻ hài lòng trước lời gợi ý ấy, đôi mắt đen của anh rực sáng lên đầy phấn khởi. "Tôi sẽ làm thế," anh nói, "chỉ có điều tụi tôi đã ở trên núi suốt hai tháng nay rồi, bộ dạng thế này e chưa tiện cho việc thăm hỏi lắm. Có lẽ ông ấy sẽ phải chấp nhận tụi tôi với cái dạng này thôi."

"Ông ấy mang ơn anh rất nhiều, và tôi cũng vậy," Lucy đáp lời, "ông ấy thương tôi lắm. Nếu đàn bò đó mà giẫm lên người tôi, hẳn ông ấy sẽ chẳng bao giờ gượng dậy nổi mất."

"Tôi cũng vậy thôi," người bạn đồng hành của cô nói.

"Anh á! Chà, tôi chẳng thấy chuyện đó có ảnh hưởng gì ghê gớm đến anh cả. Anh còn đâu phải là bạn bè gì của chúng tôi."

Nghe câu nói ấy, khuôn mặt sạm nắng của chàng thợ săn trẻ thoắt tối sầm lại, đến mức Lucy Ferrier phải phì cười thành tiếng.

"Này, tôi không có ý đó đâu," cô vội nói; "tất nhiên rồi, giờ thì anh đã là một người bạn. Anh nhất định phải đến thăm tụi tôi đấy nhé. Còn bây giờ tôi phải đi tiếp đây, nếu không cha tôi sẽ chẳng còn tin tưởng mà giao việc cho tôi nữa. Tạm biệt nhé!"

"Tạm biệt," anh đáp, đưa tay nhấc chiếc mũ sombrero13 rộng vành lên khỏi đầu, rồi cúi xuống hôn lên bàn tay nhỏ nhắn của cô. Lucy quay ngoắt con ngựa hoang, quất cho nó một roi da, rồi lao vút đi trên con đường rộng thênh thang mù mịt bụi.

Còn lại một mình phía sau, chàng trai trẻ Jefferson Hope tiếp tục cưỡi ngựa bên những người bạn đồng hành, ủ rũ và lầm lì. Anh và nhóm thợ săn đã ở lại dãy núi Nevada để thăm dò mỏ bạc, và nay đang quay về Thành phố Salt Lake với hy vọng huy động đủ vốn để khai thác những mạch quặng mà họ đã phát hiện. Anh vốn cũng háo hức với công việc làm ăn này chẳng kém gì bất kỳ ai trong nhóm - cho đến khi cái sự cố bất ngờ kia đột ngột kéo dòng suy nghĩ của anh sang một ngã rẽ hoàn toàn khác. Hình bóng người thiếu nữ xinh đẹp, thẳng thắn và thuần khiết như những cơn gió thổi về từ dãy Sierra14, đã khuấy động đến tận đáy sâu trái tim hoang dại và cuồng nhiệt của anh. Khi bóng cô đã khuất hẳn khỏi tầm mắt, anh nhận ra rằng một bước ngoặt đã thực sự mở ra trong đời mình, và rằng chẳng còn vụ đầu cơ mỏ bạc nào, hay bất kỳ vấn đề gì khác trên thế gian này, có thể quan trọng đối với anh bằng mối bận tâm mới mẻ và choán hết tâm trí ấy nữa. Tình yêu vừa nảy nở trong lồng ngực anh không phải là thứ cảm xúc bốc đồng, dễ thay đổi của một cậu thiếu niên, mà là niềm đam mê mãnh liệt, dữ dội của một người đàn ông mang ý chí kiên cường và tính khí độc đoán. Anh đã quen với việc thành công trong tất cả những gì mình đảm nhận. Anh thề với lòng mình rằng anh sẽ không thất bại trong chuyện này, nếu như nỗ lực và lòng kiên trì của một con người có thể giúp anh đạt được điều đó.

Đêm hôm ấy, anh tìm đến thăm John Ferrier, rồi sau đó lại ghé thăm thêm nhiều lần nữa, đến nỗi gương mặt anh dần trở nên thân quen nơi trang trại. John, suốt mười hai năm ròng giam mình trong thung lũng, mải miết với công việc đồng áng, hầu như chẳng mấy khi có dịp biết đến những tin tức bên ngoài thế giới. Thế mà Jefferson Hope lại có thể kể cho ông nghe tất thảy những điều đó, bằng một cung cách lôi cuốn đến mức cả Lucy lẫn cha nàng đều say mê lắng nghe. Anh từng là kẻ tiên phong nơi đất California, có thể kể ra biết bao câu chuyện kỳ lạ về những gia sản được gầy dựng rồi lại tan biến trong những tháng ngày hoang dã nhưng thanh bình ấy. Anh cũng từng làm trinh sát, rồi thợ đánh bẫy, kẻ săn tìm mỏ bạc, và cả tay làm công nơi trang trại. Bất kỳ chốn nào ấp ủ những cuộc phiêu lưu kỳ thú, thì nơi ấy, Jefferson Hope đều đã từng đặt chân đến để săn tìm. Chẳng mấy chốc, anh đã chiếm trọn cảm tình của lão nông già, và ông cứ say sưa kể mãi về những đức tính tốt đẹp của anh. Những lúc như thế, Lucy chỉ lặng thinh, nhưng đôi má ửng hồng và cặp mắt long lanh rạng rỡ, chan chứa niềm hạnh phúc, đã nói lên tất cả - quá rõ ràng rằng trái tim thiếu nữ của nàng chẳng còn thuộc về nàng nữa rồi. Người cha thật thà của nàng có lẽ chẳng nhận ra những dấu hiệu ấy, nhưng chúng thì tuyệt đối không qua nổi mắt người đàn ông đã chiếm đoạt trái tim nàng.

Một buổi chiều hè, anh thúc ngựa phi nước đại dọc con đường mòn rồi ghì cương dừng lại trước cổng. Nàng đang đứng nơi bậu cửa, bèn bước xuống đón anh. Anh vắt dây cương qua hàng rào, sải những bước dài trên lối đi.

"Anh phải đi rồi, Lucy à," anh cất lời, nắm trọn đôi bàn tay nàng, âu yếm nhìn sâu vào gương mặt nàng; "ngay lúc này, anh chưa thể đòi hỏi em cùng đi với anh, nhưng khi anh quay về đây, em sẽ sẵn lòng theo anh chứ?"

"Và chừng nào thì anh quay về?" nàng hỏi, má ửng đỏ, môi mỉm cười.

"Chậm nhất là vài tháng nữa thôi. Bấy giờ anh sẽ đến và rước em đi, người yêu dấu của anh. Sẽ chẳng còn ai có thể chen vào giữa đôi ta nữa."

"Thế còn cha thì sao?" nàng hỏi.

"Ông ấy đã ưng thuận rồi, miễn là chúng ta đưa được mấy cái mỏ bạc ấy vào hoạt động hẳn hoi. Anh chẳng hề băn khoăn gì về chuyện đó."

"Ôi, vậy thì còn gì để nói nữa đâu, nếu anh và cha đã thu xếp mọi việc ổn thỏa cả rồi," nàng thì thầm, áp má vào vòm ngực vạm vỡ của anh.

"Tạ ơn Chúa!" anh thốt lên, giọng khàn đặc, rồi cúi xuống hôn nàng. "Vậy là quyết định rồi nhé. Càng nấn ná ở lại lâu, anh sẽ càng khó lòng dứt ra được. Họ đang đợi anh dưới hẻm núi kia. Tạm biệt nhé, tình yêu của anh - tạm biệt em. Hai tháng nữa thôi, em sẽ lại thấy anh."

Vừa dứt lời, anh dứt khoát buông nàng ra, phóng mình lên lưng ngựa, rồi thúc ngựa lao đi như điên dại, thậm chí chẳng một lần ngoảnh đầu nhìn lại, cứ như thể sợ rằng quyết tâm của mình sẽ sụp đổ tan tành nếu anh liếc nhìn lại những gì anh đang bỏ lại phía sau. Nàng đứng nơi cổng, dõi mắt nhìn theo anh cho đến khi anh khuất hẳn khỏi tầm mắt. Rồi nàng bước trở vào nhà, là cô gái hạnh phúc nhất trên toàn cõi Utah.



  1. Mormon là tên gọi phổ biến của các tín đồ thuộc Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô. Trong thế kỷ 19, họ đã thực hiện cuộc di cư vĩ đại về miền Tây nước Mỹ để tránh bị bức hại tôn giáo. 

  2. Chỉ những người da trắng có nguồn gốc từ Anh và Bắc Âu. Trong bối cảnh này, tác giả dùng cụm từ này để ca ngợi tinh thần khai phá và sức chịu đựng bền bỉ của những người Mỹ tiên phong. 

  3. Tức Brigham Young (1801-1877), vị lãnh đạo tôn giáo vĩ đại thứ hai của phong trào Mormon, người đã dẫn dắt các tín đồ băng qua miền Tây hoang dã đến định cư tại thung lũng Utah và sáng lập Thành phố Salt Lake. 

  4. Trong tiếng Anh là 'Elder'. Đây là một chức phẩm trong hệ thống tư tế của giáo hội Mormon, thường dành cho những nam giới trưởng thành có uy tín và đảm nhận vai trò lãnh đạo trong cộng đồng. 

  5. Ám chỉ Hồ Muối Lớn (Great Salt Lake) nằm ở phía bắc bang Utah. Đây là một hồ nước mặn rộng lớn trong đất liền, tàn tích của một vùng biển nội địa thời tiền sử. 

  6. Dãy Wasatch (cách đánh vần cũ là Wahsatch), một dãy núi hiểm trở kéo dài ở rìa phía tây của Dãy núi Rocky, chạy dọc qua miền trung bang Utah. 

  7. Ám chỉ chế độ đa thê (polygamy). Ở thế kỷ 19, giáo hội Mormon từng cho phép và khuyến khích nam giới lấy nhiều vợ, một thực hành được gọi là 'hôn nhân đa nguyên' trước khi bị bãi bỏ chính thức vào năm 1890. 

  8. Tên gọi chính thức của các tín đồ Mormon, viết tắt của 'Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô' (Latter-day Saints). 

  9. Ong mật (trong ngôn ngữ Mormon cổ gọi là 'Deseret') là biểu tượng đặc trưng của bang Utah và cộng đồng người Mormon, tượng trưng cho sự cần cù lao động, tính hợp tác và tinh thần tự lực. 

  10. Sự kiện lịch sử lớn bắt đầu vào năm 1848 khi người ta phát hiện ra vàng ở California, thu hút hàng trăm ngàn người từ khắp nơi rầm rộ đổ về miền Tây nước Mỹ để tìm kiếm cơ hội đổi đời. 

  11. Overland Trail, một mạng lưới các tuyến đường mòn xe ngựa băng qua lục địa Bắc Mỹ vào thế kỷ 19, được hàng ngàn người tiên phong, thợ mỏ và dân định cư sử dụng để đi về miền Tây. 

  12. Ám chỉ Thành phố Salt Lake. Người Mormon tự coi mình là những tín đồ đích thực được Thượng đế lựa chọn và che chở, được Ngài dẫn dắt đến miền đất hứa để xây dựng một vương quốc thánh thiện trên trần gian. 

  13. Loại mũ truyền thống có nguồn gốc từ Mexico với vành rất rộng và chóp cao, được những người chăn bò và dân miền Tây nước Mỹ đặc biệt ưa chuộng để che nắng rát của sa mạc. 

  14. Ám chỉ dãy núi Sierra Nevada hùng vĩ nằm ở phía tây Bắc Mỹ, trải dài chủ yếu dọc theo sườn đông của bang California.