CHƯƠNG VII. ÁNH SÁNG TRONG BÓNG TỐI.
Tin Lestrade mang đến quá đỗi hệ trọng và đột ngột, khiến cả ba chúng tôi đều sững sờ. Gregson bật phắt khỏi ghế, tay hất đổ toàn bộ ly rượu whiskey pha nước còn dang dở. Tôi chỉ biết lặng người nhìn Sherlock Holmes - môi anh mím chặt, còn đôi lông mày nhíu sâu đến mức che khuất cả ánh mắt.
"Cả Stangerson nữa!" anh lẩm bẩm. "Vụ này càng lúc càng thêm rối ren."
"Trước đó đã đủ rối ren lắm rồi," Lestrade càu nhàu, vừa nói vừa kéo ghế ngồi xuống. "Trông tôi cứ như vừa lạc vào một hội đồng chiến tranh ấy."
"Anh có - anh có chắc về tin này không?" Gregson lắp bắp.
"Tôi vừa từ phòng hắn tới đây," Lestrade đáp. "Tôi chính là người đầu tiên phát hiện ra vụ việc."
"Chúng tôi vừa được nghe quan điểm của Gregson về chuyện này," Holmes lên tiếng. "Anh có phiền cho chúng tôi biết anh đã chứng kiến những gì và làm những gì không?"
"Tôi sẵn lòng," Lestrade đáp, ngồi xuống ghế. "Tôi thành thực thú nhận rằng tôi đã tin Stangerson có dính líu đến cái chết của Drebber. Nhưng diễn biến mới này cho thấy tôi đã hoàn toàn sai lầm. Nghĩ như vậy, tôi quyết tâm lần ra tung tích của gã thư ký. Người ta trông thấy họ đi cùng nhau ở ga Euston1 vào khoảng tám giờ rưỡi tối mùng ba. Đến hai giờ sáng, thi thể Drebber được phát hiện trên đường Brixton. Câu hỏi tôi đặt ra là: Stangerson đã làm gì trong khoảng thời gian từ tám giờ rưỡi đến lúc vụ án mạng xảy ra, và sau đó hắn đã đi đâu? Tôi đánh điện báo đến Liverpool, miêu tả nhân dạng của gã và yêu cầu họ để mắt đến những chuyến tàu chở khách Mỹ. Sau đó, tôi bắt tay vào việc ghé thăm từng khách sạn, từng nhà trọ quanh khu vực Euston. Các ông thấy đấy, tôi lập luận thế này: nếu Drebber và bạn đồng hành bị chia cắt, thì lẽ tự nhiên gã kia sẽ tìm một chỗ nào đó quanh đây để qua đêm, rồi sáng hôm sau lại quanh quẩn ở nhà ga."
"Rất có thể họ đã thống nhất sẵn một điểm hẹn," Holmes nhận xét.
"Đúng là như vậy. Tôi đã dành trọn buổi tối hôm qua để dò hỏi, nhưng hoàn toàn vô ích. Sáng nay tôi bắt đầu từ rất sớm, và đến tám giờ thì đã có mặt tại Khách sạn Tư nhân Halliday, trên phố Little George. Khi tôi hỏi liệu có ông Stangerson nào đang trọ ở đây không, họ lập tức trả lời rằng có.
'Chắc hẳn ông chính là vị khách mà ông ấy đang mong đợi,' họ nói. 'Ông ấy đã chờ một vị khách suốt hai ngày nay.'
'Giờ ông ấy đâu rồi?' tôi hỏi.
'Ông ấy đang ngủ trên lầu. Ông ấy dặn đánh thức lúc chín giờ.'
'Tôi sẽ lên gặp ông ấy ngay,' tôi đáp.
Tôi nghĩ rằng sự xuất hiện bất ngờ của mình có thể khiến hắn giật mình và buột miệng thốt ra điều gì đó. Cậu bé đánh giày tình nguyện dẫn tôi lên phòng - căn phòng nằm ở lầu hai, và có một hành lang nhỏ dẫn tới đó. Cậu bé chỉ tay về phía cánh cửa rồi định quay xuống lầu, thì tôi chợt nhìn thấy một thứ khiến tôi lạnh người, bất chấp suốt hai mươi năm hành nghề. Từ bên dưới khe cửa, một dải máu nhỏ màu đỏ đang rỉ ra, uốn lượn băng qua lối đi và đọng lại thành một vũng nhỏ dọc theo chân tường phía đối diện. Tôi buột miệng kêu lên một tiếng, khiến cậu bé đánh giày quay trở lại. Cậu ta suýt ngất xỉu khi trông thấy cảnh tượng ấy. Cánh cửa bị khóa từ bên trong, nhưng chúng tôi dồn vai vào và phá tung nó ra. Cửa sổ trong phòng mở toang, và bên cạnh cửa sổ, nằm cuộn tròn trên sàn, là thi thể một người đàn ông mặc đồ ngủ. Hắn đã chết cứng và hẳn đã chết từ lâu, bởi chân tay hắn đã cứng đơ và lạnh toát. Khi chúng tôi lật thi thể lại, cậu bé đánh giày nhận ra ngay đó chính là vị khách đã thuê phòng dưới cái tên Joseph Stangerson. Nguyên nhân tử vong là một nhát đâm sâu vào mạn sườn trái, dường như đã xuyên thấu tim. Và giờ mới đến phần kỳ lạ nhất. Các ông thử đoán xem, ngay phía trên thi thể của gã đàn ông bị sát hại có thứ gì?"
Tôi cảm thấy rợn tóc gáy, và một linh cảm về nỗi kinh hoàng sắp tới ập đến, ngay cả trước khi Sherlock Holmes đáp lời.
"Chữ RACHE, viết bằng những chữ cái đẫm máu," anh nói.
"Đúng vậy," Lestrade cất giọng đầy kính sợ. Và tất cả chúng tôi đều lặng đi hồi lâu.
Có một sự bài bản và khó hiểu đến khó tin trong hành động của tên sát nhân vô danh này - điều đó càng phủ thêm một lớp rùng rợn mới lên những tội ác của hắn. Thần kinh tôi, vốn đủ vững vàng trên chiến trường, giờ đây cũng phải run lên bần bật khi nghĩ đến chuyện đó.
"Có người đã trông thấy kẻ đó," Lestrade nói tiếp. "Một cậu bé giao sữa, trên đường đến xưởng sữa, tình cờ đi dọc theo con ngõ hẻm dẫn từ khu chuồng ngựa ra phía sau khách sạn. Cậu bé để ý thấy một chiếc thang - vốn thường nằm bỏ không ở đó - đang được dựng dựa vào một trong những ô cửa sổ đang mở toang trên tầng hai. Sau khi đi qua, cậu ngoái đầu lại và thấy một người đàn ông đang trèo xuống thang. Hắn bước xuống một cách thản nhiên và công khai đến mức cậu bé tưởng đó là một tay thợ mộc hay thợ sửa chữa nào đó đang làm việc trong khách sạn. Cậu bé chẳng mấy để tâm đến hắn, chỉ thầm nghĩ rằng gã này đi làm hơi sớm. Cậu có ấn tượng rằng gã đàn ông đó cao lớn, mặt đỏ bừng, và mặc một chiếc áo khoác dài màu nâu. Chắc chắn hắn đã nán lại trong phòng một thời gian ngắn sau khi gây án, vì chúng tôi tìm thấy nước dính máu trong chậu rửa - nơi hắn đã rửa tay - và những vết bẩn trên tấm ga trải giường, nơi hắn đã cố ý lau dao."
Tôi liếc nhìn Holmes khi nghe lời miêu tả về tên sát nhân - nó hoàn toàn trùng khớp với những gì anh đã phác họa trước đó. Thế nhưng, trên khuôn mặt anh không hề lộ ra chút dấu vết nào của sự đắc thắng hay hài lòng.
"Anh có tìm thấy thứ gì trong phòng có thể cung cấp manh mối về tên sát nhân không?" anh hỏi.
"Không có gì cả. Stangerson giữ ví của Drebber trong túi, nhưng điều này có vẻ cũng bình thường, vì hắn là người lo toàn bộ việc chi trả. Bên trong có hơn tám mươi bảng Anh2, nhưng chẳng có thứ gì bị lấy đi. Dù động cơ đằng sau những tội ác phi thường này là gì đi nữa, thì cướp bóc chắc chắn không nằm trong số đó. Trong túi gã đàn ông bị sát hại, chẳng có giấy tờ hay sổ tay ghi chép gì, ngoại trừ một bức điện tín duy nhất, gửi từ Cleveland3 khoảng một tháng trước, với dòng chữ: 'J. H. đang ở Châu Âu.' Không có chữ ký nào ở cuối tin nhắn này."
"Và không còn gì khác sao?" Holmes hỏi.
"Chẳng có gì đáng kể cả. Cuốn tiểu thuyết mà gã đọc trước khi ngủ vẫn còn nằm trên giường, và tẩu thuốc của gã đặt trên chiếc ghế cạnh đó. Trên bàn có một ly nước, còn trên bậu cửa sổ là một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ bào, đựng vài viên thuốc."
Sherlock Holmes bật phắt khỏi ghế, miệng thốt lên một tiếng reo đầy phấn khích.
"Mắt xích cuối cùng," anh tuyên bố với vẻ đắc thắng không giấu nổi. "Vụ án của tôi đã khép lại trọn vẹn rồi."
Hai viên thám tử trân trối nhìn anh, sững sờ.
"Lúc này trong tay tôi," anh bạn tôi nói, giọng đầy tự tin, "tôi đã nắm trọn từng sợi chỉ từng dệt nên cái mớ bòng bong này. Dĩ nhiên vẫn còn đôi ba tình tiết nhỏ cần bồi đắp thêm, nhưng tôi dám quả quyết về toàn bộ những gì cốt yếu - từ cái khoảnh khắc Drebber chia tay Stangerson nơi sân ga, cho đến lúc người ta phát hiện ra thi thể của gã sau này - tường tận như thể chính mắt tôi đã chứng kiến từng diễn biến một. Để các anh thấy mức độ thấu đáo của tôi đến đâu, tôi sẽ cho các anh một bằng chứng. Anh còn giữ mấy viên thuốc đó chứ?"
"Tôi có giữ đây," Lestrade đáp, vừa lôi ra một hộp nhỏ màu trắng. "Tôi đã thu chúng cùng với chiếc ví và bức điện tín, định đem về Đồn cất vào nơi an toàn. Việc tôi lấy mấy viên thuốc này, thực lòng mà nói, hoàn toàn là tình cờ - bởi tôi buộc phải thú nhận rằng tôi chẳng coi trọng chúng một chút nào."
"Đưa chúng cho tôi nào," Holmes bảo. Rồi quay sang tôi, anh hỏi: "Này bác sĩ, liệu đó có phải là loại thuốc thông thường không?"
Chúng rõ ràng không phải. Những viên thuốc mang một sắc xám ngả ngọc trai, tròn nhỏ, gần như trong suốt khi soi lên trước ánh sáng. "Xét độ nhẹ và độ trong của chúng, tôi phỏng đoán rằng chúng tan được trong nước," tôi nhận định.
"Chính xác," Holmes gật đầu. "Giờ anh có phiền xuống dưới nhà bế lên đây con chó sục nhỏ tội nghiệp đã ốm bao lâu nay không - cái con mà hôm qua bà chủ nhà còn muốn anh giúp nó thoát khỏi cơn đau đớn ấy."
Tôi bước xuống cầu thang và ôm con chó trên tay đưa lên gác. Hơi thở nó nặng nhọc từng nhịp, đôi mắt lờ đờ vô hồn - tất cả đều cho thấy cái chết đã kề cận bên nó. Quả thực, lớp lông trắng toát phủ quanh cái mõm đã chứng tỏ nó đã sống lâu hơn tuổi thọ thường tình của loài chó. Tôi đặt nó nằm xuống một tấm nệm nhỏ trải trên thảm.
"Giờ tôi sẽ bổ đôi một trong số những viên thuốc này," Holmes tuyên bố, đoạn rút con dao nhíp ra và làm đúng như lời anh nói. "Một nửa ta sẽ cất lại vào hộp cho mục đích về sau. Còn nửa này, tôi sẽ thả vào ly rượu đây, trong đó đã pha sẵn một thìa cà phê nước. Như anh thấy đấy, người bạn bác sĩ của chúng ta đã nói không sai - nó tan hết sức dễ dàng."
"Hẳn là thú vị lắm đây," Lestrade cất giọng, mang cái vẻ tự ái của một kẻ nghi ngờ mình đang là trò cười cho kẻ khác, "có điều tôi vẫn chưa thấy chuyện này thì dính dáng gì đến cái chết của ông Joseph Stangerson."
"Hãy kiên nhẫn nào, anh bạn thân mến, kiên nhẫn! Rồi anh sẽ thấy nó liên can đến tất thảy mọi thứ. Nào, giờ tôi sẽ thêm một chút sữa cho hỗn hợp này thêm phần dễ uống, và khi đưa cho con chó, chúng ta sẽ thấy nó liếm sạch sẽ ngay tức thì."
Anh vừa nói vừa rót chất lỏng từ ly rượu vào một chiếc đĩa con, đặt ngay trước mõm con chó sục. Nó nhanh chóng thè lưỡi liếm sạch chẳng chừa lại giọt nào. Dáng vẻ nghiêm trang của Sherlock Holmes từ đầu đến giờ đã thuyết phục cả bọn đến mức tất thảy chúng tôi đều im phăng phắc, mắt dán chặt vào con vật, chờ đợi một hiệu ứng giật gân nào đó xảy ra. Nhưng - chẳng có gì xảy ra cả. Con chó vẫn nằm ườn trên tấm nệm, hơi thở khó nhọc từng chập, mà rõ ràng chẳng khá hơn cũng chẳng tệ đi tí nào so với trước khi uống liều thuốc ấy.
Holmes đã rút đồng hồ ra tự lúc nào, và khi từng phút nối nhau trôi qua chẳng mang theo một kết quả nào, một vẻ phiền muộn, một nỗi thất vọng khôn cùng dần dần phủ kín gương mặt anh. Anh cắn chặt môi, mấy ngón tay gõ từng nhịp dồn dập xuống mặt bàn, rồi bộc lộ hết thảy những triệu chứng khác của một cơn mất kiên nhẫn đến tột cùng. Cảm xúc của anh dâng lên dữ dội đến nỗi tôi thực lòng thấy xót xa cho anh, trong khi hai viên thám tử thì nở nụ cười nhạo báng, chẳng hề phiền lòng chút nào trước cái thất bại mà anh vừa hứng chịu.
"Không thể nào là trùng hợp được," rốt cuộc anh kêu lên, bật dậy khỏi ghế, rảo bước điên cuồng khắp căn phòng. "Không thể nào đây chỉ đơn thuần là một sự ngẫu nhiên. Chính những viên thuốc mà tôi đã ngờ tới trong vụ Drebber, lại thực sự được tìm thấy sau cái chết của Stangerson. Vậy mà chúng lại chẳng có tác dụng gì hết. Thế thì nghĩa là làm sao? Không lẽ toàn bộ chuỗi suy luận của tôi là sai ư? Không thể có chuyện đó! Vậy mà, con chó khốn khổ kia chẳng bị làm sao sất. A, tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi!" Bằng một tiếng hét tràn trề sung sướng, anh lao đến chiếc hộp, cắt đôi viên thuốc còn lại, hòa tan nó, thêm sữa và đặt xuống trước mặt con chó sục. Cái lưỡi của sinh vật tội nghiệp dường như chỉ vừa kịp thấm ướt chất lỏng thì cả thân nó đã rùng lên từng cơn co giật dữ dội, rồi nằm cứng đơ, vô hồn, tựa hồ như vừa bị sét đánh trúng vậy.
Sherlock Holmes hít một hơi thật dài, rồi đưa tay lau mồ hôi rịn trên trán. "Đáng lẽ tôi phải có thêm chút niềm tin," anh bảo. "Đáng lẽ đến nước này tôi phải biết rằng, hễ khi nào một sự kiện nom có vẻ đi ngược lại toàn bộ chuỗi suy luận dài dằng dặc của mình, thì thường nó vẫn luôn mở ra cho mình một cách lý giải khác. Trong hai viên thuốc đựng trong chiếc hộp đó, một viên là chất độc nguy hiểm vào bậc chí mạng, còn viên kia thì hoàn toàn vô hại. Đáng lẽ tôi phải biết điều đó trước cả khi được nhìn thấy cái hộp."
Nhận định cuối cùng này của anh nghe đối với tôi quá đỗi choáng váng, đến mức tôi khó lòng mà tin rằng anh vẫn còn đang tỉnh táo. Dẫu sao, xác con chó chết sờ sờ ra đó chính là bằng chứng cho thấy phỏng đoán của anh đã không hề sai. Tôi cảm thấy như màn sương trong tâm trí mình đang dần dà tan loãng, và tôi bắt đầu lờ mờ nhận thức được sự thật - dù vẫn còn mơ hồ và chưa thành hình hẳn.
"Tất cả những điều này hẳn có vẻ kỳ lạ đối với anh," Holmes nói tiếp, "bởi ngay từ đầu cuộc điều tra, anh đã không nắm bắt được tầm quan trọng của manh mối thực sự duy nhất đặt ra trước mắt anh. Tôi may mắn nắm được nó, và mọi chuyện xảy ra kể từ đó đều chỉ để xác nhận giả định ban đầu của tôi - thực ra, chúng chính là hệ quả logic của nó. Vậy nên, những điều khiến anh bối rối và làm vụ án thêm mờ mịt, thì với tôi, chúng lại soi sáng và củng cố những kết luận của mình. Nhầm lẫn giữa sự kỳ lạ với điều bí ẩn quả là một sai lầm. Một tội ác hết sức tầm thường lại thường là điều bí ẩn nhất, vì nó chẳng mang đến một nét mới lạ hay đặc biệt nào để từ đó có thể suy luận. Vụ án mạng này sẽ khó gỡ hơn gấp bội, nếu thi thể nạn nhân chỉ đơn giản được tìm thấy nằm trên đường, mà không có bất kỳ thứ gì kỳ dị và giật gân nào kèm theo - những thứ đã khiến nó trở nên đáng chú ý. Mấy chi tiết lạ lùng đó, không những không khiến vụ án thêm khó khăn, mà thực ra còn làm cho nó bớt nan giải đi đôi phần."
Viên thám tử Gregson vốn đã nghe bài diễn thuyết này với một sự sốt ruột ra mặt, và giờ đây gã không thể nhịn thêm được nữa. "Nghe này, thưa ông Sherlock Holmes," gã nói, "tất cả chúng tôi đều sẵn lòng công nhận rằng ông là một kẻ thông minh, và rằng ông có những phương pháp làm việc của riêng mình. Thế nhưng, lúc này chúng tôi cần thứ gì đó hơn là lý thuyết và thuyết giáo suông. Vấn đề ở đây là bắt kẻ thủ ác. Tôi đã trình bày lập luận của mình, và xem ra tôi đã sai. Cậu trai trẻ Charpentier chẳng thể nào dính líu vào vụ thứ hai này. Lestrade đã truy đuổi mục tiêu của anh ta, Stangerson, và có vẻ anh ta cũng sai nốt. Ông thì hết buông gợi ý chỗ này, lại úp mở chỗ kia, dường như ông biết nhiều hơn chúng tôi. Nhưng đã đến lúc chúng tôi cảm thấy mình có quyền hỏi thẳng ông: ông biết chính xác bao nhiêu về vụ này? Ông có thể nêu tên kẻ đã gây ra mọi chuyện không?"
"Tôi không thể không thấy Gregson nói phải, thưa ông," Lestrade nhận xét. "Cả hai chúng tôi đều đã cố gắng, và cả hai đều đã thất bại. Ông đã nhận xét đâu chỉ một lần, kể từ khi tôi bước vào căn phòng này, rằng ông đã có đủ mọi bằng chứng mình cần. Hẳn ông sẽ không giấu giếm thêm nữa."
"Bất kỳ sự chậm trễ nào trong việc bắt giữ tên sát nhân," tôi góp lời, "đều có thể cho hắn thời gian để gây thêm một vài tội ác mới."
Bị tất cả chúng tôi dồn ép như vậy, Holmes lộ ra đôi chút dấu hiệu của sự chần chừ. Anh tiếp tục đi đi lại lại khắp phòng, đầu gục xuống ngực và đôi lông mày nhíu chặt - cái dáng vẻ quen thuộc của anh mỗi khi chìm sâu trong suy tư.
"Sẽ không có thêm án mạng nào nữa đâu," cuối cùng anh lên tiếng, đột ngột dừng bước và quay mặt về phía chúng tôi. "Các anh gạt bỏ mối lo ấy đi. Các anh hỏi tôi có biết tên kẻ sát nhân không. Tôi biết. Tuy nhiên, chỉ biết được cái tên hắn thôi thì chẳng thấm vào đâu so với việc ra tay tóm gọn hắn. Chuyện đó tôi hy vọng sẽ thực hiện được trong một thời gian rất ngắn sắp tới. Tôi có nhiều hy vọng sẽ thu xếp được việc ấy bằng những sắp đặt của riêng mình; nhưng đó là một công việc cần xử lý hết sức tinh tế, bởi chúng ta đang phải đối phó với một kẻ ranh mãnh và liều lĩnh. Kẻ mà - như tôi đã có dịp chứng minh - còn được hỗ trợ bởi một đồng bọn cũng xảo quyệt chẳng kém gì hắn. Chừng nào tên này chưa mảy may ngờ rằng có ai đó nắm được manh mối, thì ta vẫn còn cơ hội tóm được hắn. Nhưng nếu hắn thoáng một chút nghi ngờ mỏng manh nào thôi, hắn sẽ đổi tên, đổi họ và biến mất trong nháy mắt giữa bốn triệu dân cư của cái thành phố rộng lớn này. Dù không hề có ý làm tổn thương lòng tự ái của cả hai anh, tôi buộc phải nói rằng tôi coi bọn này thừa sức qua mặt lực lượng cảnh sát chính quy, và đó là lý do tôi đã không yêu cầu các anh trợ giúp. Nếu tôi thất bại, dĩ nhiên tôi sẽ chuốc lấy mọi lời đổ lỗi vì sự thiếu sót ấy; nhưng tôi đã chuẩn bị tinh thần cho điều đó rồi. Lúc này, tôi sẵn lòng hứa rằng, ngay khi có thể liên lạc với các anh mà không gây nguy hiểm cho những tính toán của riêng mình, tôi sẽ làm vậy."
Gregson và Lestrade trông hoàn toàn chẳng hài lòng chút nào trước lời cam đoan này, hay trước cái ám chỉ đầy vẻ gièm pha nhắm vào lực lượng cảnh sát thám tử. Gã trước thì đỏ mặt tía tai đến tận chân mớ tóc vàng hoe, còn gã sau thì đôi mắt ti hí ánh lên vẻ tò mò xen lẫn tức tối. Thế nhưng, cả hai chưa kịp thốt ra tiếng nào thì đã có tiếng gõ cửa. Người phát ngôn của lũ nhóc đường phố, thằng Wiggins, bước vào với dáng vẻ nhỏ thó và khó ưa của nó.
"Thưa ông," nó nói, tay sờ lên chỏm tóc trước trán, "cháu đã gọi được xe ngựa đỗ ở dưới nhà rồi ạ."
"Giỏi lắm, chú," Holmes điềm nhiên buông lời. "Sao các anh không giới thiệu mẫu này ở Scotland Yard nhỉ?" anh nói tiếp, tay rút từ trong ngăn kéo ra một chiếc còng tay bằng thép. "Cứ nhìn cái lò xo này mà xem - nó bật khóa trong nháy mắt, đẹp tuyệt vời."
"Mẫu cũ cũng đã đủ tốt rồi," Lestrade nhận xét, "chỉ tiếc là giờ mới tìm ra người để tra nó vào."
"Rất tốt, rất tốt," Holmes cười khẽ. "Gã đánh xe có thể giúp tôi khuân mấy cái rương cũng được. Chú lên đây gọi hắn lên đi, Wiggins."
Tôi thoáng ngạc nhiên khi nghe bạn mình nói cứ như thể anh sắp sửa ra đi xa vậy, bởi lẽ anh chưa từng hé răng với tôi nửa lời nào về chuyện đó. Trong phòng có một chiếc vali nhỏ; anh kéo nó ra và bắt đầu thắt lại mấy sợi quai. Anh vẫn đang mải mê với công việc ấy thì gã đánh xe bước vào.
"Giúp tôi cài cái khóa này một tay, anh đánh xe," anh nói, vẫn quỳ gối bên chiếc vali và không hề quay đầu.
Gã tiến lại gần, vẻ mặt cau có pha chút thách thức, rồi cúi xuống đưa tay ra giúp. Đúng vào khoảnh khắc ấy - một tiếng "tách" sắc gọn vang lên, tiếp theo là tiếng kim loại va vào nhau leng keng - và Sherlock Holmes đã lại đứng thẳng dậy.
"Thưa các quý ông," anh cất tiếng sang sảng, đôi mắt bừng sáng, "xin trân trọng giới thiệu với các vị - ông Jefferson Hope, kẻ sát nhân của Enoch Drebber và Joseph Stangerson."
Mọi chuyện xảy ra chỉ trong một chớp mắt - nhanh đến mức tôi không kịp nhận thức điều gì đang diễn ra. Tôi vẫn còn giữ một ký ức sống động như in về khoảnh khắc đó: gương mặt đắc thắng rạng ngời của Holmes cùng chất giọng sang sảng vang lên; và khuôn mặt vừa choáng váng vừa man dại của gã đánh xe khi gã trân trân nhìn chiếc còng tay sáng loáng - thứ dường như đã xuất hiện như một phép lạ trên cổ tay gã. Trong một, hai giây, tất cả chúng tôi như biến thành những pho tượng đá. Rồi - với một tiếng gầm gào giận dữ không thành lời - tên tù nhân giằng mình thoát khỏi cú kẹp của Holmes và lao thẳng người qua khung cửa sổ. Gỗ khung và kính cửa vỡ tan tành dưới sức nặng của gã; nhưng trước khi gã kịp chui hẳn qua, Gregson, Lestrade và Holmes đã đồng loạt chồm lên người gã như một bầy chó săn. Gã bị lôi ngược trở vào phòng, và thế là bắt đầu một cuộc vật lộn kinh hoàng. Gã mạnh mẽ và hung tợn đến nỗi bốn người chúng tôi liên tục bị hất tung ra hết lần này đến lần khác. Gã dường như sở hữu một thứ sức mạnh co giật - như thể một kẻ đang lên cơn động kinh dữ dội. Mặt mũi và tay chân gã bị những mảnh kính vỡ cào xé tan hoang sau cú lao qua cửa sổ, nhưng mất máu chẳng hề khiến sức phản kháng của gã suy giảm đi chút nào. Phải đến khi Lestrade thành công trong việc luồn tay vào sâu trong chiếc khăn quàng cổ của gã và siết đến nghẹt thở, chúng tôi mới khiến gã nhận ra rằng mọi giãy giụa của gã đều vô vọng; và ngay cả khi ấy, chúng tôi vẫn chưa cảm thấy an toàn cho đến khi trói chặt cả chân lẫn tay gã lại. Xong xuôi, tất cả chúng tôi đứng bật dậy, thở hồng hộc và hổn hển không ra hơi.
"Chúng ta đã có sẵn xe ngựa của hắn," Sherlock Holmes lên tiếng. "Nó sẽ chở hắn thẳng đến Scotland Yard. Và giờ đây, thưa các quý ông," anh nói tiếp, nở một nụ cười dễ chịu, "chúng ta đã đi đến hồi kết của màn bí ẩn nho nhỏ này rồi. Các vị cứ thoải mái đặt bất kỳ câu hỏi nào mình muốn cho tôi, và lúc này thì không có nguy cơ gì khiến tôi từ chối trả lời đâu."
-
Euston (hay Ga Euston) là một nhà ga đường sắt lớn và lâu đời tại trung tâm London, Anh, mở cửa từ năm 1837. Đây là cửa ngõ giao thông quan trọng nối London với các khu vực phía Bắc nước Anh. ↩
-
Bảng Anh là đơn vị tiền tệ của Vương quốc Anh. Vào thời kỳ Victoria cuối thế kỷ 19, 80 bảng là một khoản tiền rất lớn, lớn hơn cả mức thu nhập bình quân trong cả một năm của một người lao động phổ thông thời bấy giờ. ↩
-
Cleveland là một thành phố lớn nằm ở tiểu bang Ohio, miền Trung Tây Hoa Kỳ. ↩
CHAPTER VII. LIGHT IN THE DARKNESS.
The intelligence with which Lestrade greeted us was so momentous and so unexpected, that we were all three fairly dumfoundered. Gregson sprang out of his chair and upset the remainder of his whiskey and water. I stared in silence at Sherlock Holmes, whose lips were compressed and his brows drawn down over his eyes.
“Stangerson too!” he muttered. “The plot thickens.”
“It was quite thick enough before,” grumbled Lestrade, taking a chair. “I seem to have dropped into a sort of council of war.”
“Are you-are you sure of this piece of intelligence?” stammered Gregson.
“I have just come from his room,” said Lestrade. “I was the first to discover what had occurred.”
“We have been hearing Gregson’s view of the matter,” Holmes observed. “Would you mind letting us know what you have seen and done?”
“I have no objection,” Lestrade answered, seating himself. “I freely confess that I was of the opinion that Stangerson was concerned in the death of Drebber. This fresh development has shown me that I was completely mistaken. Full of the one idea, I set myself to find out what had become of the Secretary. They had been seen together at Euston Station about half-past eight on the evening of the third. At two in the morning Drebber had been found in the Brixton Road. The question which confronted me was to find out how Stangerson had been employed between 8.30 and the time of the crime, and what had become of him afterwards. I telegraphed to Liverpool, giving a description of the man, and warning them to keep a watch upon the American boats. I then set to work calling upon all the hotels and lodging-houses in the vicinity of Euston. You see, I argued that if Drebber and his companion had become separated, the natural course for the latter would be to put up somewhere in the vicinity for the night, and then to hang about the station again next morning.”
“They would be likely to agree on some meeting-place beforehand,” remarked Holmes.
“So it proved. I spent the whole of yesterday evening in making enquiries entirely without avail. This morning I began very early, and at eight o’clock I reached Halliday’s Private Hotel, in Little George Street. On my enquiry as to whether a Mr. Stangerson was living there, they at once answered me in the affirmative.
“‘No doubt you are the gentleman whom he was expecting,’ they said. ‘He has been waiting for a gentleman for two days.’
“‘Where is he now?’ I asked.
“‘He is upstairs in bed. He wished to be called at nine.’
“‘I will go up and see him at once,’ I said.
“It seemed to me that my sudden appearance might shake his nerves and lead him to say something unguarded. The Boots volunteered to show me the room: it was on the second floor, and there was a small corridor leading up to it. The Boots pointed out the door to me, and was about to go downstairs again when I saw something that made me feel sickish, in spite of my twenty years’ experience. From under the door there curled a little red ribbon of blood, which had meandered across the passage and formed a little pool along the skirting at the other side. I gave a cry, which brought the Boots back. He nearly fainted when he saw it. The door was locked on the inside, but we put our shoulders to it, and knocked it in. The window of the room was open, and beside the window, all huddled up, lay the body of a man in his nightdress. He was quite dead, and had been for some time, for his limbs were rigid and cold. When we turned him over, the Boots recognized him at once as being the same gentleman who had engaged the room under the name of Joseph Stangerson. The cause of death was a deep stab in the left side, which must have penetrated the heart. And now comes the strangest part of the affair. What do you suppose was above the murdered man?”
I felt a creeping of the flesh, and a presentiment of coming horror, even before Sherlock Holmes answered.
“The word RACHE, written in letters of blood,” he said.
“That was it,” said Lestrade, in an awe-struck voice; and we were all silent for a while.
There was something so methodical and so incomprehensible about the deeds of this unknown assassin, that it imparted a fresh ghastliness to his crimes. My nerves, which were steady enough on the field of battle tingled as I thought of it.
“The man was seen,” continued Lestrade. “A milk boy, passing on his way to the dairy, happened to walk down the lane which leads from the mews at the back of the hotel. He noticed that a ladder, which usually lay there, was raised against one of the windows of the second floor, which was wide open. After passing, he looked back and saw a man descend the ladder. He came down so quietly and openly that the boy imagined him to be some carpenter or joiner at work in the hotel. He took no particular notice of him, beyond thinking in his own mind that it was early for him to be at work. He has an impression that the man was tall, had a reddish face, and was dressed in a long, brownish coat. He must have stayed in the room some little time after the murder, for we found blood-stained water in the basin, where he had washed his hands, and marks on the sheets where he had deliberately wiped his knife.”
I glanced at Holmes on hearing the description of the murderer, which tallied so exactly with his own. There was, however, no trace of exultation or satisfaction upon his face.
“Did you find nothing in the room which could furnish a clue to the murderer?” he asked.
“Nothing. Stangerson had Drebber’s purse in his pocket, but it seems that this was usual, as he did all the paying. There was eighty odd pounds in it, but nothing had been taken. Whatever the motives of these extraordinary crimes, robbery is certainly not one of them. There were no papers or memoranda in the murdered man’s pocket, except a single telegram, dated from Cleveland about a month ago, and containing the words, ‘J. H. is in Europe.’ There was no name appended to this message.”
“And there was nothing else?” Holmes asked.
“Nothing of any importance. The man’s novel, with which he had read himself to sleep was lying upon the bed, and his pipe was on a chair beside him. There was a glass of water on the table, and on the window-sill a small chip ointment box containing a couple of pills.”
Sherlock Holmes sprang from his chair with an exclamation of delight.
“The last link,” he cried, exultantly. “My case is complete.”
The two detectives stared at him in amazement.
“I have now in my hands,” my companion said, confidently, “all the threads which have formed such a tangle. There are, of course, details to be filled in, but I am as certain of all the main facts, from the time that Drebber parted from Stangerson at the station, up to the discovery of the body of the latter, as if I had seen them with my own eyes. I will give you a proof of my knowledge. Could you lay your hand upon those pills?”
“I have them,” said Lestrade, producing a small white box; “I took them and the purse and the telegram, intending to have them put in a place of safety at the Police Station. It was the merest chance my taking these pills, for I am bound to say that I do not attach any importance to them.”
“Give them here,” said Holmes. “Now, Doctor,” turning to me, “are those ordinary pills?”
They certainly were not. They were of a pearly grey colour, small, round, and almost transparent against the light. “From their lightness and transparency, I should imagine that they are soluble in water,” I remarked.
“Precisely so,” answered Holmes. “Now would you mind going down and fetching that poor little devil of a terrier which has been bad so long, and which the landlady wanted you to put out of its pain yesterday.”
I went downstairs and carried the dog upstairs in my arms. Its laboured breathing and glazing eye showed that it was not far from its end. Indeed, its snow-white muzzle proclaimed that it had already exceeded the usual term of canine existence. I placed it upon a cushion on the rug.
“I will now cut one of these pills in two,” said Holmes, and drawing his penknife he suited the action to the word. “One half we return into the box for future purposes. The other half I will place in this wine glass, in which is a teaspoonful of water. You perceive that our friend, the Doctor, is right, and that it readily dissolves.”
“This may be very interesting,” said Lestrade, in the injured tone of one who suspects that he is being laughed at, “I cannot see, however, what it has to do with the death of Mr. Joseph Stangerson.”
“Patience, my friend, patience! You will find in time that it has everything to do with it. I shall now add a little milk to make the mixture palatable, and on presenting it to the dog we find that he laps it up readily enough.”
As he spoke he turned the contents of the wine glass into a saucer and placed it in front of the terrier, who speedily licked it dry. Sherlock Holmes’ earnest demeanour had so far convinced us that we all sat in silence, watching the animal intently, and expecting some startling effect. None such appeared, however. The dog continued to lie stretched upon the cushion, breathing in a laboured way, but apparently neither the better nor the worse for its draught.
Holmes had taken out his watch, and as minute followed minute without result, an expression of the utmost chagrin and disappointment appeared upon his features. He gnawed his lip, drummed his fingers upon the table, and showed every other symptom of acute impatience. So great was his emotion, that I felt sincerely sorry for him, while the two detectives smiled derisively, by no means displeased at this check which he had met.
“It can’t be a coincidence,” he cried, at last springing from his chair and pacing wildly up and down the room; “it is impossible that it should be a mere coincidence. The very pills which I suspected in the case of Drebber are actually found after the death of Stangerson. And yet they are inert. What can it mean? Surely my whole chain of reasoning cannot have been false. It is impossible! And yet this wretched dog is none the worse. Ah, I have it! I have it!” With a perfect shriek of delight he rushed to the box, cut the other pill in two, dissolved it, added milk, and presented it to the terrier. The unfortunate creature’s tongue seemed hardly to have been moistened in it before it gave a convulsive shiver in every limb, and lay as rigid and lifeless as if it had been struck by lightning.
Sherlock Holmes drew a long breath, and wiped the perspiration from his forehead. “I should have more faith,” he said; “I ought to know by this time that when a fact appears to be opposed to a long train of deductions, it invariably proves to be capable of bearing some other interpretation. Of the two pills in that box one was of the most deadly poison, and the other was entirely harmless. I ought to have known that before ever I saw the box at all.”
This last statement appeared to me to be so startling, that I could hardly believe that he was in his sober senses. There was the dead dog, however, to prove that his conjecture had been correct. It seemed to me that the mists in my own mind were gradually clearing away, and I began to have a dim, vague perception of the truth.
“All this seems strange to you,” continued Holmes, “because you failed at the beginning of the inquiry to grasp the importance of the single real clue which was presented to you. I had the good fortune to seize upon that, and everything which has occurred since then has served to confirm my original supposition, and, indeed, was the logical sequence of it. Hence things which have perplexed you and made the case more obscure, have served to enlighten me and to strengthen my conclusions. It is a mistake to confound strangeness with mystery. The most commonplace crime is often the most mysterious because it presents no new or special features from which deductions may be drawn. This murder would have been infinitely more difficult to unravel had the body of the victim been simply found lying in the roadway without any of those outré and sensational accompaniments which have rendered it remarkable. These strange details, far from making the case more difficult, have really had the effect of making it less so.”
Mr. Gregson, who had listened to this address with considerable impatience, could contain himself no longer. “Look here, Mr. Sherlock Holmes,” he said, “we are all ready to acknowledge that you are a smart man, and that you have your own methods of working. We want something more than mere theory and preaching now, though. It is a case of taking the man. I have made my case out, and it seems I was wrong. Young Charpentier could not have been engaged in this second affair. Lestrade went after his man, Stangerson, and it appears that he was wrong too. You have thrown out hints here, and hints there, and seem to know more than we do, but the time has come when we feel that we have a right to ask you straight how much you do know of the business. Can you name the man who did it?”
“I cannot help feeling that Gregson is right, sir,” remarked Lestrade. “We have both tried, and we have both failed. You have remarked more than once since I have been in the room that you had all the evidence which you require. Surely you will not withhold it any longer.”
“Any delay in arresting the assassin,” I observed, “might give him time to perpetrate some fresh atrocity.”
Thus pressed by us all, Holmes showed signs of irresolution. He continued to walk up and down the room with his head sunk on his chest and his brows drawn down, as was his habit when lost in thought.
“There will be no more murders,” he said at last, stopping abruptly and facing us. “You can put that consideration out of the question. You have asked me if I know the name of the assassin. I do. The mere knowing of his name is a small thing, however, compared with the power of laying our hands upon him. This I expect very shortly to do. I have good hopes of managing it through my own arrangements; but it is a thing which needs delicate handling, for we have a shrewd and desperate man to deal with, who is supported, as I have had occasion to prove, by another who is as clever as himself. As long as this man has no idea that anyone can have a clue there is some chance of securing him; but if he had the slightest suspicion, he would change his name, and vanish in an instant among the four million inhabitants of this great city. Without meaning to hurt either of your feelings, I am bound to say that I consider these men to be more than a match for the official force, and that is why I have not asked your assistance. If I fail I shall, of course, incur all the blame due to this omission; but that I am prepared for. At present I am ready to promise that the instant that I can communicate with you without endangering my own combinations, I shall do so.”
Gregson and Lestrade seemed to be far from satisfied by this assurance, or by the depreciating allusion to the detective police. The former had flushed up to the roots of his flaxen hair, while the other’s beady eyes glistened with curiosity and resentment. Neither of them had time to speak, however, before there was a tap at the door, and the spokesman of the street Arabs, young Wiggins, introduced his insignificant and unsavoury person.
“Please, sir,” he said, touching his forelock, “I have the cab downstairs.”
“Good boy,” said Holmes, blandly. “Why don’t you introduce this pattern at Scotland Yard?” he continued, taking a pair of steel handcuffs from a drawer. “See how beautifully the spring works. They fasten in an instant.”
“The old pattern is good enough,” remarked Lestrade, “if we can only find the man to put them on.”
“Very good, very good,” said Holmes, smiling. “The cabman may as well help me with my boxes. Just ask him to step up, Wiggins.”
I was surprised to find my companion speaking as though he were about to set out on a journey, since he had not said anything to me about it. There was a small portmanteau in the room, and this he pulled out and began to strap. He was busily engaged at it when the cabman entered the room.
“Just give me a help with this buckle, cabman,” he said, kneeling over his task, and never turning his head.
The fellow came forward with a somewhat sullen, defiant air, and put down his hands to assist. At that instant there was a sharp click, the jangling of metal, and Sherlock Holmes sprang to his feet again.
“Gentlemen,” he cried, with flashing eyes, “let me introduce you to Mr. Jefferson Hope, the murderer of Enoch Drebber and of Joseph Stangerson.”
The whole thing occurred in a moment-so quickly that I had no time to realize it. I have a vivid recollection of that instant, of Holmes’ triumphant expression and the ring of his voice, of the cabman’s dazed, savage face, as he glared at the glittering handcuffs, which had appeared as if by magic upon his wrists. For a second or two we might have been a group of statues. Then, with an inarticulate roar of fury, the prisoner wrenched himself free from Holmes’s grasp, and hurled himself through the window. Woodwork and glass gave way before him; but before he got quite through, Gregson, Lestrade, and Holmes sprang upon him like so many staghounds. He was dragged back into the room, and then commenced a terrific conflict. So powerful and so fierce was he, that the four of us were shaken off again and again. He appeared to have the convulsive strength of a man in an epileptic fit. His face and hands were terribly mangled by his passage through the glass, but loss of blood had no effect in diminishing his resistance. It was not until Lestrade succeeded in getting his hand inside his neckcloth and half-strangling him that we made him realize that his struggles were of no avail; and even then we felt no security until we had pinioned his feet as well as his hands. That done, we rose to our feet breathless and panting.
“We have his cab,” said Sherlock Holmes. “It will serve to take him to Scotland Yard. And now, gentlemen,” he continued, with a pleasant smile, “we have reached the end of our little mystery. You are very welcome to put any questions that you like to me now, and there is no danger that I will refuse to answer them.”