CHƯƠNG V. NHỮNG THIÊN THẦN BÁO THÙ.
Suốt đêm, họ băng qua những hẻm núi quanh co và những lối mòn gồ ghề rải rác đá tảng. Không dưới một lần họ lạc đường, nhưng nhờ Hope thuộc lòng từng ngóc ngách của vùng núi này, họ lại tìm được đúng lối. Khi bình minh hé rạng, một bức tranh tuyệt mỹ nhưng hoang vu đến rợn người hiện ra trước mắt. Tứ phía, những đỉnh núi khổng lồ phủ tuyết trắng vây bọc lấy họ, nối tiếp nhau trùng điệp vươn mãi đến tận chân trời xa thẳm. Những vách đá dựng đứng hai bên cao đến nỗi lũ cây lá rộng lẫn tùng bách trông như đang treo lơ lửng trên đầu - chỉ chực một trận cuồng phong là đổ ập xuống. Nỗi sợ ấy quả không thừa, bởi thung lũng cằn cỗi dưới chân đã ngổn ngang những thân cây và tảng đá rơi rụng theo đúng cách ấy. Ngay lúc họ đi qua, một khối đá khổng lồ đổ sầm xuống, tiếng động ầm ầm đánh thức âm vang trong các khe núi tĩnh mịch, khiến bầy ngựa mệt mỏi hoảng hốt lồng lên.
Mặt trời từ từ nhô lên khỏi đường chân trời phía đông, lần lượt thắp sáng từng đỉnh núi lớn, tựa như những chiếc lồng đèn trong ngày hội, cho đến khi tất cả đều rực rỡ và ửng hồng. Quang cảnh tráng lệ ấy làm nức lòng ba kẻ chạy trốn, tiếp thêm cho họ một nguồn sinh lực mới. Bên một dòng suối cuồn cuộn tuôn ra từ khe núi, họ dừng chân cho ngựa uống nước và dùng vội bữa sáng. Lucy cùng cha nàng muốn nghỉ ngơi lâu hơn một chút, nhưng Jefferson Hope nhất quyết không nhượng bộ. "Lúc này bọn chúng hẳn đã bám theo dấu vết của chúng ta rồi," chàng nói. "Tất cả đều phụ thuộc vào tốc độ của chúng ta. Một khi đã an toàn đến Carson, chúng ta có thể tha hồ nghỉ ngơi suốt phần đời còn lại."
Suốt ngày hôm ấy, họ gắng sức vượt qua hết hẻm núi này đến hẻm núi khác. Đến tối, họ ước tính đã cách xa kẻ thù hơn ba mươi dặm. Đêm xuống, họ chọn chân một vách đá nhô ra làm chốn trú thân - nơi những tảng đá phần nào che chắn được cơn gió buốt giá. Ở đó, họ rúc vào nhau giữ ấm và tận hưởng vài giờ chợp mắt. Thế nhưng trước lúc bình minh, họ đã thức dậy và lại lên đường. Vẫn chưa thấy dấu hiệu nào của những kẻ truy đuổi, Jefferson Hope bắt đầu tin rằng họ đã thực sự thoát khỏi tầm tay của tổ chức đáng sợ mà họ đã chuốc lấy thù hận. Gã đâu hay bàn tay sắt ấy có thể vươn xa đến nhường nào, hay nó sẽ nhanh chóng siết chặt và nghiền nát họ ra sao.
Khoảng giữa ngày thứ hai của cuộc chạy trốn, lương thực ít ỏi của họ bắt đầu cạn dần. Thế nhưng điều ấy chẳng khiến chàng thợ săn quá bận tâm - trên núi vốn có thú rừng, và trước nay gã vẫn thường trông cậy vào khẩu súng trường để kiếm miếng ăn. Chọn một góc khuất gió, gã gom vài cành khô và đốt một đống lửa bùng cháy, để những người bạn đồng hành có thể sưởi ấm. Lúc này họ đang ở độ cao gần năm nghìn feet so với mực nước biển, và không khí lạnh buốt thấu xương. Sau khi cột bầy ngựa lại và chào tạm biệt Lucy, gã khoác súng lên vai rồi lên đường tìm kiếm bất cứ con mồi nào tình cờ gặp được. Ngoảnh đầu nhìn lại, gã thấy lão nông và cô thiếu nữ đang cuộn tròn bên đống lửa hừng hực, còn ba con vật thì đứng bất động phía sau. Rồi những tảng đá chắn ngang đã che khuất họ khỏi tầm mắt gã.
Gã rảo bộ vài dặm, hết khe núi này đến khe núi khác, mà chẳng thu được gì - dù từ những vết cào trên vỏ cây và bao dấu hiệu khác, gã đoán chắc có không ít gấu đang quanh quẩn gần đây. Cuối cùng, sau hai ba tiếng tìm kiếm vô vọng, gã định quay về trong tuyệt vọng thì bỗng ngước mắt lên và bắt gặp một cảnh tượng khiến tim gã đập rộn ràng vì vui sướng. Ở rìa một đỉnh núi nhô ra, cách gã chừng ba bốn trăm feet, có một con vật trông hao hao giống cừu, nhưng lại sở hữu cặp sừng khổng lồ. Một con cừu sừng lớn - người ta vẫn gọi nó như vậy - có lẽ đang làm nhiệm vụ canh gác cho cả đàn khuất khỏi tầm mắt người thợ săn. Nhưng may mắn làm sao, nó đang quay mặt về hướng ngược lại và không hề nhận ra gã. Nằm sấp xuống, gã tì súng lên một tảng đá, nín thở nhắm thật lâu và thật vững trước khi siết cò. Con vật tung mình lên không trung, loạng choạng một thoáng bên bờ vực thẳm, rồi rơi ầm xuống thung lũng bên dưới.
Con thú quá lớn, không thể vác nguyên con đi được, nên người thợ săn đành bằng lòng cắt lấy một phần đùi và một phần sườn. Vác chiến lợi phẩm trên vai, gã vội vã quay lại theo dấu cũ, vì trời đã bắt đầu sập tối. Nhưng vừa xuất phát, gã đã nhận ra khó khăn đang bủa vây. Trong cơn nôn nóng, gã đã đi lạc khỏi những khe núi quen thuộc, và giờ đây thật không dễ để nhận diện lại con đường mình đã chọn. Thung lũng nơi gã đang đứng chia ra rồi lại rẽ nhánh thành vô số hẻm núi, chúng giống hệt nhau đến mức không tài nào phân biệt nổi. Gã men theo một hẻm núi được chừng một dặm hoặc hơn thì gặp một con suối cuồn cuộn từ trên núi đổ xuống - thứ mà gã chắc chắn mình chưa từng thấy bao giờ. Biết mình đã rẽ nhầm, gã thử lần sang một ngả khác, nhưng kết quả vẫn thế. Màn đêm đổ xuống rất nhanh, và trời gần như tối mịt trước khi gã rốt cuộc cũng tìm thấy một hẻm núi quen thuộc. Ngay cả khi đó, việc giữ đúng hướng vẫn chẳng dễ dàng gì, vì mặt trăng chưa mọc, còn những vách đá cao ngất hai bên khiến bóng tối thêm sâu hun hút. Trĩu nặng dưới gánh thịt, mỏi rã rời sau bao nỗ lực, gã lảo đảo bước đi, bám víu vào niềm tin rằng mỗi bước chân đều đưa gã đến gần Lucy hơn, và gã đang mang theo đủ thức ăn để bảo đảm cho phần còn lại của cuộc hành trình.
Gã đã về đến ngay miệng hẻm núi, nơi gã để họ lại. Dẫu trong bóng tối, gã vẫn nhận ra đường viền những vách đá bao quanh chốn ấy. Gã thầm nghĩ, hẳn họ đang thấp thỏm đợi gã trở về, bởi gã đã vắng mặt gần năm tiếng đồng hồ. Niềm vui sướng trào dâng, gã chụm hai tay lên miệng và cất tiếng gọi to làm vang động cả hẻm núi như một tín hiệu báo tin trở về. Gã dừng lại, lắng nghe tiếng đáp lời.
Nhưng chẳng có gì đáp lại, ngoại trừ chính tiếng gã vọng vào những khe núi vắng lặng, ảm đạm, rồi dội ngược lại thành trăm nghìn tiếng vọng ma quái. Gã lại hét lên, lần này còn to hơn nữa, nhưng vẫn không một tiếng thì thầm nào đáp lời từ những người bạn mà gã vừa rời đi cách đây không lâu. Một nỗi kinh hãi mơ hồ, không tên, bỗng ập xuống - gã cuống cuồng lao về phía trước, trong cơn hoảng loạn đánh rơi cả món thức ăn quý giá.
Vòng qua góc ngoặt, gã nhìn thấy toàn bộ chốn cắm trại nơi đống lửa từng được nhóm lên. Đống tro củi vẫn còn rực hồng, nhưng rõ ràng đã không được ai chăm chút kể từ lúc gã rời đi. Bầu tĩnh lặng chết chóc vẫn y nguyên bao trùm nơi ấy. Nỗi sợ hãi giờ đây hóa thành một sự xác nhận chắc chắn - gã lao đến. Chẳng một sinh vật sống nào còn gần tàn lửa. Thú vật, con người, thiếu nữ - tất cả đều đã biến mất, như tan vào hư không. Rõ ràng một thảm họa bất ngờ và khủng khiếp nào đó đã giáng xuống trong lúc gã vắng mặt - một thảm họa cuốn phăng tất cả mà không để lại dù chỉ một dấu vết.
Bàng hoàng và choáng váng trước cú sốc này, Jefferson Hope thấy đầu óc quay cuồng, phải chống vào khẩu súng trường mới khỏi ngã khuỵu. Nhưng vốn là con người của hành động, gã nhanh chóng thoát khỏi cơn bất lực tạm thời. Rút một thanh củi cháy dở từ đống lửa đang tàn, gã thổi bùng nó thành ngọn lửa, rồi soi ánh sáng ấy để xem xét khu trại nhỏ. Mặt đất hằn đầy dấu móng ngựa - dấu hiệu cho thấy một toán kỵ binh đông đảo đã đuổi kịp những kẻ chạy trốn. Hướng của những vết chân chứng tỏ sau đó chúng đã quay trở lại Salt Lake City. Liệu chúng có bắt cả hai người bạn đồng hành của gã đi không? Jefferson Hope gần như thuyết phục được mình rằng ắt hẳn là vậy, nhưng rồi ánh mắt gã bắt gặp một vật khiến từng thớ thần kinh tê rần. Bên một góc trại là một nấm đất đỏ mới đắp, hơi nhô cao lên - thứ trước đây chắc chắn chưa hề có ở đó. Không thể lầm lẫn với bất cứ điều gì khác: đó là một nấm mồ mới đào. Khi chàng thợ săn trẻ tiến lại gần, gã trông thấy một cành cây được cắm trên nấm mồ, chỗ chia nhánh có kẹp một tờ giấy. Trên đó viết mấy dòng ngắn gọn mà rành mạch:
JOHN FERRIER,
Trước đây ở Salt Lake City,
Mất ngày 4 tháng Tám năm 1860.
Lão nông cứng cỏi, người mà gã vừa rời đi cách đây chưa lâu, nay đã ra đi vĩnh viễn - và đây là toàn bộ tấm văn bia dành cho ông. Jefferson Hope điên cuồng đảo mắt tìm kiếm một nấm mồ thứ hai, nhưng chẳng thấy dấu hiệu nào. Lucy đã bị những kẻ truy đuổi tàn nhẫn bắt đi, để rồi hoàn thành định mệnh đã được sắp đặt từ trước: trở thành một phần trong hậu cung của con trai viên Trưởng lão. Khi nhận ra trọn vẹn sự thật không sao chối bỏ - số phận của nàng và sự bất lực của chính mình - gã ước gì mình cũng được yên nghỉ cùng lão nông trong nấm mồ lặng lẽ này.
Nhưng một lần nữa, tinh thần năng động trong gã lại rũ bỏ được cơn đờ đẫn do nỗi tuyệt vọng sinh ra. Nếu chẳng còn gì để sống, thì ít nhất gã cũng có thể hiến dâng phần đời còn lại cho lý tưởng báo thù. Ngoài lòng kiên nhẫn và sự nhẫn nại bền bỉ, Jefferson Hope còn mang trong mình một năng lực thù hận dai dẳng khôn nguôi - thứ mà có lẽ gã đã học được từ những người Da Đỏ nơi gã từng chung sống. Đứng bên đống lửa hoang tàn, gã cảm thấy điều duy nhất có thể xoa dịu nỗi đau đớn này chính là một sự trừng phạt trọn vẹn và triệt để, do chính tay gã giáng xuống kẻ thù. Gã quyết tâm sẽ dồn toàn bộ ý chí mạnh mẽ và nghị lực không mệt mỏi của mình cho mục đích duy nhất ấy. Với khuôn mặt trắng bệch, lạnh như đá, gã quay lại nơi mình đã đánh rơi thức ăn, rồi sau khi nhen lại đống lửa tàn, gã chế biến đủ đồ dùng cho vài ngày tới. Gói ghém thành một bọc, dẫu mệt mỏi đến đâu, gã vẫn bắt đầu cuộc hành trình đi bộ ngược trở lại qua những dãy núi, lần theo dấu chân của lũ thiên thần báo thù1.
Suốt năm ngày, gã lê bước chân đau đớn và rã rời qua những hẻm núi mà trước đó gã đã từng cưỡi ngựa băng qua. Ban đêm, gã thả mình xuống giữa các tảng đá, chợp mắt được vài tiếng; nhưng trước khi bình minh hé rạng, gã lại vững vàng tiếp bước. Vào ngày thứ sáu, gã đến được Eagle Cañon, nơi khởi đầu của cuộc chạy trốn định mệnh. Từ đây, gã có thể nhìn xuống quê hương của các vị Thánh. Tiều tụy và kiệt quệ, gã dựa vào khẩu súng trường, giận dữ vung nắm tay gầy guộc về phía tòa thành phố tĩnh lặng trải rộng bên dưới. Đưa mắt nhìn, gã nhận thấy những lá cờ treo trên vài con phố chính và nhiều dấu hiệu lễ hội khác. Đang khi tự hỏi điều ấy mang ý nghĩa gì, gã bỗng nghe tiếng móng ngựa lộp cộp và trông thấy một người cưỡi ngựa đang tiến về phía mình. Khi anh ta đến gần, gã nhận ra đó là một tín đồ Mormon tên Cowper - người mà gã đã từng giúp đỡ đôi lần. Gã bèn bước ra chào hỏi, hy vọng dò hỏi được số phận của Lucy Ferrier.
"Tôi là Jefferson Hope," gã nói. "Anh còn nhớ tôi chứ."
Gã Mormon nhìn gã với vẻ kinh ngạc chẳng thèm giấu diếm - quả thực, thật khó để nhận ra chàng thợ săn trẻ chỉn chu ngày nào trong bộ dạng của một kẻ lang thang nhếch nhác, rách rưới, với khuôn mặt trắng bệch như xác chết và đôi mắt hoang dại, dữ tợn này. Cuối cùng, khi đã bị thuyết phục về danh tính của gã, vẻ kinh ngạc của anh ta chuyển thành nỗi kinh hoàng.
"Anh điên rồi mới đến đây," anh ta kêu lên. "Chỉ việc thấy tôi nói chuyện với anh thôi cũng đủ khiến tôi mất mạng rồi. Hội đồng Tứ Thánh đã ra lệnh truy nã anh vì tội giúp nhà Ferrier trốn thoát."
"Tôi không sợ bọn chúng, hay cái lệnh truy nã của bọn chúng," Hope khẩn thiết nói. "Anh phải biết điều gì đó về chuyện này, Cowper. Tôi cầu khẩn anh, nhân danh tất cả những gì anh coi trọng, xin hãy trả lời vài câu hỏi cho tôi. Chúng ta vẫn luôn là bạn. Lạy Chúa, đừng từ chối tôi."
"Có chuyện gì vậy?" gã Mormon bồn chồn hỏi. "Mau lên. Ngay cả đá ở đây cũng có tai, và cây cũng có mắt."
"Lucy Ferrier ra sao rồi?"
"Cô ấy đã cưới Drebber trẻ vào ngày hôm qua. Đứng vững nào, anh bạn, đứng vững - trông anh chẳng còn chút sinh khí nào hết."
"Đừng bận tâm đến tôi," Hope nói, giọng yếu ớt. Mặt gã trắng bệch đến tận môi, và gã đổ gục xuống phiến đá mình đang dựa vào. "Đã cưới, anh vừa nói thế à?"
"Cưới ngày hôm qua - những lá cờ treo trên Tòa nhà Lễ Thụ Pháp2 là vì việc đó đấy. Đã có tranh cãi giữa Drebber trẻ và Stangerson trẻ xem ai sẽ được cô ấy. Cả hai đều nằm trong toán truy đuổi theo họ, và Stangerson đã bắn chết cha cô ấy - điều đó có vẻ cho hắn lợi thế lớn nhất; nhưng khi hai bên tranh luận trong hội đồng, phe Drebber lại mạnh hơn, nên vị Tiên Tri đã giao cô ấy cho hắn. Dù sao đi nữa, cũng chẳng ai giữ được cô ấy lâu đâu, vì hôm qua tôi đã thấy cái chết hiện rõ trên mặt cô ấy rồi. Cô ấy giống một bóng ma hơn là một người phụ nữ. Anh định đi rồi à?"
"Phải, tôi đi đây," Jefferson Hope đáp. Gã đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Khuôn mặt gã trông như được đẽo ra từ đá cẩm thạch - biểu cảm cứng rắn và kiên định đến tột cùng, trong khi đôi mắt gã rực lên một thứ ánh sáng đầy tai ương.
"Anh định đi đâu?"
"Đừng bận tâm," gã đáp, rồi vắt vũ khí lên vai, sải bước xuôi theo hẻm núi, tiến thẳng vào trong lòng những ngọn núi, về phía sào huyệt của các loài dã thú. Và trong số tất cả chúng, chẳng có con nào hung dữ và nguy hiểm như gã lúc này.
Lời tiên đoán của gã Mormon quả đã ứng nghiệm đến đau lòng. Chẳng rõ vì cái chết thảm khốc của cha nàng, hay vì tác động của cuộc hôn nhân đáng nguyền rủa mà nàng bị ép buộc bước vào, cô dâu tội nghiệp Lucy không bao giờ còn ngẩng đầu lên được nữa. Nàng cứ thế héo hon tàn lụi và qua đời chỉ trong vòng một tháng. Gã chồng nát rượu của nàng - kẻ cưới nàng chủ yếu vì khối tài sản của John Ferrier - chẳng tỏ ra đau buồn là bao trước sự mất mát này. Nhưng những bà vợ khác của hắn lại khóc thương nàng, và họ túc trực bên nàng suốt đêm trước ngày an táng, đúng theo phong tục của người Mormon. Họ đang quây quần bên linh cữu vào những giờ đầu tiên của buổi sáng, thì trước sự kinh hãi và sửng sốt tột cùng, cánh cửa bị hất tung ra, và một người đàn ông rừng rú, dãi dầu sương gió, trong bộ quần áo rách nát, sải bước tiến vào phòng. Chẳng buồn liếc nhìn hay thốt một lời với những người phụ nữ đang thu mình khiếp sợ, gã bước thẳng đến hình hài trắng muốt, yên lặng - nơi từng chứa đựng tâm hồn trong trắng của Lucy Ferrier. Cúi xuống trên nàng, gã thành kính áp môi lên vầng trán lạnh ngắt, rồi chộp lấy bàn tay nàng, tháo chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay. "Nàng sẽ không bị chôn cùng với thứ này," gã gầm lên trong cơn phẫn nộ. Và trước khi bất kỳ ai kịp hoàn hồn kêu cứu, gã đã lao xuống cầu thang và biến mất. Toàn bộ sự việc diễn ra kỳ lạ và chóng vánh đến mức chính những người túc trực tang lễ hẳn cũng phải thấy khó tin nổi, nếu không có một bằng chứng không thể chối cãi - chiếc vòng vàng nhỏ đánh dấu nàng từng là một nàng dâu đã biến mất.
Suốt nhiều tháng trời, Jefferson Hope nán lại giữa vùng núi, sống một cuộc đời hoang dại kỳ lạ và nuôi trong lòng ngọn lửa khát khao báo thù tàn nhẫn đang thiêu đốt gã. Những câu chuyện lan truyền khắp Thành phố về một bóng người quái dị thường bị bắt gặp đang rình rập quanh các khu ngoại ô và lảng vảng nơi những hẻm núi hoang vu. Một lần, một viên đạn rít qua khung cửa sổ nhà Stangerson và găm dẹt trên tường, chỉ cách hắn chưa đầy một foot. Lần khác, khi Drebber đi qua phía dưới một vách núi, một tảng đá khổng lồ ầm ầm đổ xuống, và hắn chỉ thoát khỏi cái chết kinh hoàng bằng cách ném sấp mình xuống đất. Hai gã thanh niên Mormon chẳng mất nhiều thời gian để khám phá ra lý do đằng sau những nỗ lực tước đoạt mạng sống của chúng. Chúng nhiều lần dẫn các toán viễn chinh vào núi với hy vọng bắt được hoặc giết chết kẻ thù, nhưng tất cả đều thất bại. Sau đó, chúng áp dụng biện pháp đề phòng: không bao giờ ra ngoài một mình hay sau khi trời tối, và bố trí người canh gác quanh nhà. Một thời gian sau, chúng bắt đầu nới lỏng những biện pháp ấy, bởi chẳng còn nghe hay thấy bất kỳ động tĩnh gì từ đối thủ nữa. Chúng hy vọng thời gian đã dập tắt được ngọn lửa báo thù trong lòng gã.
Nhưng nếu có gì thay đổi, thì thời gian chỉ càng khiến nó thêm sục sôi hơn. Tâm trí người thợ săn mang một bản chất cứng cỏi, không khoan nhượng, và ý niệm báo thù thống trị đã chiếm trọn tâm trí ấy, không còn chỗ cho bất kỳ xúc cảm nào khác. Dẫu vậy, gã trên hết vẫn là một kẻ thực tế. Gã sớm nhận ra rằng ngay cả thể trạng gang thép cũng không thể chịu nổi sức ép dai dẳng mà gã đang tự đặt lên mình. Những ngày dãi nắng dầm sương và thiếu thốn thức ăn sạch đang bào mòn gã. Nếu gã chết như một con chó giữa vùng núi hoang vu này, thì cuộc báo thù của gã sẽ ra sao? Ấy vậy mà cái chết như thế chắc chắn sẽ tìm đến nếu gã cứ ngoan cố bám trụ. Gã cảm thấy đó chính là điều kẻ thù mong muốn, nên gã miễn cưỡng quay về các mỏ cũ ở Nevada - để phục hồi sức khỏe và tích cóp đủ tiền hầu theo đuổi mục tiêu mà không bị thiếu thốn cản bước.
Ban đầu gã dự định sẽ đi vắng nhiều nhất là một năm, nhưng một chuỗi tình huống bất ngờ xảy đến đã ngăn gã rời khỏi khu mỏ trong suốt gần năm năm. Thế nhưng khi khoảng thời gian ấy kết thúc, ký ức về những oan khuất và cơn khát báo thù trong gã vẫn sắc lẹm y nguyên như cái đêm định mệnh gã đứng bên nấm mồ John Ferrier. Cải trang và mang một cái tên giả, gã quay lại Salt Lake City, bất chấp số phận mình ra sao, miễn là gã giành được thứ mà gã biết là công lý. Nhưng nơi đây, những tin dữ đang đợi gã. Vài tháng trước, một cuộc ly giáo đã bùng nổ trong nội bộ Những Người Được Chọn3 - một số thành viên trẻ tuổi của Giáo hội đã vùng lên chống lại quyền uy của các Trưởng lão. Kết quả là sự ly khai của một nhóm bất mãn, những kẻ đã rời bỏ Utah và trở thành dân ngoại đạo4. Drebber và Stangerson nằm trong số đó, và chẳng ai biết chúng đã đi đâu. Lời đồn đại thì bảo Drebber đã xoay xở chuyển phần lớn tài sản thành tiền mặt và ra đi như một kẻ giàu có, trong khi đồng bọn Stangerson thì tương đối nghèo túng. Nhưng bất chấp mọi lời đồn, chẳng có một manh mối nào về nơi ở của chúng.
Không ít người, dẫu ôm trong lòng ý chí phục thù đến đâu đi nữa, cũng đã từ bỏ mọi ý định khi đối diện với một trở ngại như thế. Nhưng Jefferson Hope thì không hề nao núng, dù chỉ một giây. Với chút vốn liếng nhỏ nhoi gã có, sống lay lắt qua ngày nhờ những công việc lặt vặt kiếm được, gã lang bạt từ thị trấn này sang thị trấn khác trên khắp nước Mỹ để truy tìm kẻ thù. Năm này qua năm khác, mái tóc đen của gã dần điểm hoa râm, nhưng gã vẫn tiếp tục cuộc lang thang - tựa như một con chó săn người - với toàn bộ tâm trí chỉ tập trung vào mục tiêu duy nhất mà gã đã hiến dâng cả cuộc đời mình. Rốt cuộc, sự kiên trì của gã cũng được đền đáp. Chỉ là một cái liếc qua một khuôn mặt nơi ô cửa sổ, nhưng cái liếc mắt ấy đủ để nói cho gã biết rằng Cleveland, bang Ohio, đang chứa chấp những kẻ mà gã đã bấy lâu săn đuổi. Gã quay về khu nhà trọ tồi tàn của mình với một kế hoạch báo thù đã được sắp xếp trọn vẹn. Nhưng trớ trêu thay, Drebber - khi nhìn qua khung cửa sổ của hắn - đã nhận ra gã lang thang trên phố và đọc thấy ý đồ giết người trong đôi mắt ấy. Hắn vội vã đến trình diện một viên thẩm phán hòa giải, dẫn theo Stangerson - lúc này đã trở thành thư ký riêng của hắn - và khai với viên thẩm phán rằng tính mạng của chúng đang bị đe dọa bởi sự ghen tuông và thù hận của một tình địch cũ. Tối hôm ấy, Jefferson Hope bị bắt giam, và vì không tìm được người bảo lãnh, gã bị giam giữ suốt vài tuần. Cuối cùng, khi được trả tự do, gã chỉ kịp nhận ra rằng căn nhà của Drebber đã bị bỏ trống - hắn cùng gã thư ký đã lên đường sang châu Âu.
Một lần nữa, kẻ báo thù lại bị nẫng tay trên. Và một lần nữa, lòng căm thù sục sôi lại thôi thúc gã tiếp tục cuộc truy đuổi. Nhưng gã đang thiếu tiền, và thế là một khoảng thời gian dài gã phải quay về làm việc, chắt bóp từng đồng đô la cho chuyến hành trình sắp tới. Cuối cùng, khi đã gom góp đủ để duy trì sự sống, gã lên đường sang châu Âu và lần theo dấu vết kẻ thù từ thành phố này sang thành phố khác, kiếm sống bằng bất kỳ công việc hèn mọn nào, nhưng chẳng bao giờ kịp đuổi theo những kẻ chạy trốn. Khi gã đến St. Petersburg, chúng đã rời sang Paris; và khi gã bám theo chúng tới đó, gã lại hay tin chúng vừa khởi hành đi Copenhagen. Nơi thủ đô Đan Mạch, gã lại trễ vài ngày - chúng đã tiếp tục hành trình tới London. Và chính tại London, gã cuối cùng cũng dồn được chúng vào bước đường cùng. Về phần những gì đã xảy ra ở nơi đó, chúng ta chẳng còn cách nào tốt hơn là trích dẫn chính lời kể của gã thợ săn già, như đã được ghi chép hợp lệ trong cuốn Nhật Ký của Bác sĩ Watson - người mà chúng ta vốn đã mang ơn rất nhiều.
-
Dịch từ 'Avenging Angels' (hay nhóm Danite), một tổ chức bí mật mang tính chất cảnh sát ngầm của người Mormon thế kỷ 19, chuyên dùng bạo lực để trừng phạt những kẻ chống đối giáo hội. ↩
-
Dịch từ gốc tiếng Anh 'Endowment House'. Đây là một công trình lịch sử quan trọng của Giáo hội Mormon tại Salt Lake City vào thế kỷ 19, nơi thực hiện các nghi thức tôn giáo thiêng liêng như lễ thành hôn. ↩
-
Cách người Mormon tự xưng (nguyên gốc tiếng Anh: 'The Elect'), xuất phát từ niềm tin tôn giáo mãnh liệt rằng họ là nhóm người duy nhất được Chúa lựa chọn để nhận lãnh sự cứu rỗi. ↩
-
Trong bối cảnh văn hóa và tôn giáo của người Mormon thế kỷ 19, từ này (nguyên gốc: 'Gentiles') được dùng để chỉ chung tất cả những ai không gia nhập hoặc đã rời bỏ Giáo hội Mormon, bất kể họ có theo tôn giáo nào khác hay không. ↩
CHAPTER V. THE AVENGING ANGELS.
All night their course lay through intricate defiles and over irregular and rock-strewn paths. More than once they lost their way, but Hope’s intimate knowledge of the mountains enabled them to regain the track once more. When morning broke, a scene of marvellous though savage beauty lay before them. In every direction the great snow-capped peaks hemmed them in, peeping over each other’s shoulders to the far horizon. So steep were the rocky banks on either side of them, that the larch and the pine seemed to be suspended over their heads, and to need only a gust of wind to come hurtling down upon them. Nor was the fear entirely an illusion, for the barren valley was thickly strewn with trees and boulders which had fallen in a similar manner. Even as they passed, a great rock came thundering down with a hoarse rattle which woke the echoes in the silent gorges, and startled the weary horses into a gallop.
As the sun rose slowly above the eastern horizon, the caps of the great mountains lit up one after the other, like lamps at a festival, until they were all ruddy and glowing. The magnificent spectacle cheered the hearts of the three fugitives and gave them fresh energy. At a wild torrent which swept out of a ravine they called a halt and watered their horses, while they partook of a hasty breakfast. Lucy and her father would fain have rested longer, but Jefferson Hope was inexorable. “They will be upon our track by this time,” he said. “Everything depends upon our speed. Once safe in Carson we may rest for the remainder of our lives.”
During the whole of that day they struggled on through the defiles, and by evening they calculated that they were more than thirty miles from their enemies. At night-time they chose the base of a beetling crag, where the rocks offered some protection from the chill wind, and there huddled together for warmth, they enjoyed a few hours’ sleep. Before daybreak, however, they were up and on their way once more. They had seen no signs of any pursuers, and Jefferson Hope began to think that they were fairly out of the reach of the terrible organization whose enmity they had incurred. He little knew how far that iron grasp could reach, or how soon it was to close upon them and crush them.
About the middle of the second day of their flight their scanty store of provisions began to run out. This gave the hunter little uneasiness, however, for there was game to be had among the mountains, and he had frequently before had to depend upon his rifle for the needs of life. Choosing a sheltered nook, he piled together a few dried branches and made a blazing fire, at which his companions might warm themselves, for they were now nearly five thousand feet above the sea level, and the air was bitter and keen. Having tethered the horses, and bade Lucy adieu, he threw his gun over his shoulder, and set out in search of whatever chance might throw in his way. Looking back he saw the old man and the young girl crouching over the blazing fire, while the three animals stood motionless in the back-ground. Then the intervening rocks hid them from his view.
He walked for a couple of miles through one ravine after another without success, though from the marks upon the bark of the trees, and other indications, he judged that there were numerous bears in the vicinity. At last, after two or three hours’ fruitless search, he was thinking of turning back in despair, when casting his eyes upwards he saw a sight which sent a thrill of pleasure through his heart. On the edge of a jutting pinnacle, three or four hundred feet above him, there stood a creature somewhat resembling a sheep in appearance, but armed with a pair of gigantic horns. The big-horn-for so it is called-was acting, probably, as a guardian over a flock which were invisible to the hunter; but fortunately it was heading in the opposite direction, and had not perceived him. Lying on his face, he rested his rifle upon a rock, and took a long and steady aim before drawing the trigger. The animal sprang into the air, tottered for a moment upon the edge of the precipice, and then came crashing down into the valley beneath.
The creature was too unwieldy to lift, so the hunter contented himself with cutting away one haunch and part of the flank. With this trophy over his shoulder, he hastened to retrace his steps, for the evening was already drawing in. He had hardly started, however, before he realized the difficulty which faced him. In his eagerness he had wandered far past the ravines which were known to him, and it was no easy matter to pick out the path which he had taken. The valley in which he found himself divided and sub-divided into many gorges, which were so like each other that it was impossible to distinguish one from the other. He followed one for a mile or more until he came to a mountain torrent which he was sure that he had never seen before. Convinced that he had taken the wrong turn, he tried another, but with the same result. Night was coming on rapidly, and it was almost dark before he at last found himself in a defile which was familiar to him. Even then it was no easy matter to keep to the right track, for the moon had not yet risen, and the high cliffs on either side made the obscurity more profound. Weighed down with his burden, and weary from his exertions, he stumbled along, keeping up his heart by the reflection that every step brought him nearer to Lucy, and that he carried with him enough to ensure them food for the remainder of their journey.
He had now come to the mouth of the very defile in which he had left them. Even in the darkness he could recognize the outline of the cliffs which bounded it. They must, he reflected, be awaiting him anxiously, for he had been absent nearly five hours. In the gladness of his heart he put his hands to his mouth and made the glen re-echo to a loud halloo as a signal that he was coming. He paused and listened for an answer. None came save his own cry, which clattered up the dreary silent ravines, and was borne back to his ears in countless repetitions. Again he shouted, even louder than before, and again no whisper came back from the friends whom he had left such a short time ago. A vague, nameless dread came over him, and he hurried onwards frantically, dropping the precious food in his agitation.
When he turned the corner, he came full in sight of the spot where the fire had been lit. There was still a glowing pile of wood ashes there, but it had evidently not been tended since his departure. The same dead silence still reigned all round. With his fears all changed to convictions, he hurried on. There was no living creature near the remains of the fire: animals, man, maiden, all were gone. It was only too clear that some sudden and terrible disaster had occurred during his absence-a disaster which had embraced them all, and yet had left no traces behind it.
Bewildered and stunned by this blow, Jefferson Hope felt his head spin round, and had to lean upon his rifle to save himself from falling. He was essentially a man of action, however, and speedily recovered from his temporary impotence. Seizing a half-consumed piece of wood from the smouldering fire, he blew it into a flame, and proceeded with its help to examine the little camp. The ground was all stamped down by the feet of horses, showing that a large party of mounted men had overtaken the fugitives, and the direction of their tracks proved that they had afterwards turned back to Salt Lake City. Had they carried back both of his companions with them? Jefferson Hope had almost persuaded himself that they must have done so, when his eye fell upon an object which made every nerve of his body tingle within him. A little way on one side of the camp was a low-lying heap of reddish soil, which had assuredly not been there before. There was no mistaking it for anything but a newly-dug grave. As the young hunter approached it, he perceived that a stick had been planted on it, with a sheet of paper stuck in the cleft fork of it. The inscription upon the paper was brief, but to the point:
JOHN FERRIER,
Formerly of Salt Lake City,
Died August 4th, 1860.
The sturdy old man, whom he had left so short a time before, was gone, then, and this was all his epitaph. Jefferson Hope looked wildly round to see if there was a second grave, but there was no sign of one. Lucy had been carried back by their terrible pursuers to fulfil her original destiny, by becoming one of the harem of the Elder’s son. As the young fellow realized the certainty of her fate, and his own powerlessness to prevent it, he wished that he, too, was lying with the old farmer in his last silent resting-place.
Again, however, his active spirit shook off the lethargy which springs from despair. If there was nothing else left to him, he could at least devote his life to revenge. With indomitable patience and perseverance, Jefferson Hope possessed also a power of sustained vindictiveness, which he may have learned from the Indians amongst whom he had lived. As he stood by the desolate fire, he felt that the only one thing which could assuage his grief would be thorough and complete retribution, brought by his own hand upon his enemies. His strong will and untiring energy should, he determined, be devoted to that one end. With a grim, white face, he retraced his steps to where he had dropped the food, and having stirred up the smouldering fire, he cooked enough to last him for a few days. This he made up into a bundle, and, tired as he was, he set himself to walk back through the mountains upon the track of the avenging angels.
For five days he toiled footsore and weary through the defiles which he had already traversed on horseback. At night he flung himself down among the rocks, and snatched a few hours of sleep; but before daybreak he was always well on his way. On the sixth day, he reached the Eagle Cañon, from which they had commenced their ill-fated flight. Thence he could look down upon the home of the saints. Worn and exhausted, he leaned upon his rifle and shook his gaunt hand fiercely at the silent widespread city beneath him. As he looked at it, he observed that there were flags in some of the principal streets, and other signs of festivity. He was still speculating as to what this might mean when he heard the clatter of horse’s hoofs, and saw a mounted man riding towards him. As he approached, he recognized him as a Mormon named Cowper, to whom he had rendered services at different times. He therefore accosted him when he got up to him, with the object of finding out what Lucy Ferrier’s fate had been.
“I am Jefferson Hope,” he said. “You remember me.”
The Mormon looked at him with undisguised astonishment-indeed, it was difficult to recognize in this tattered, unkempt wanderer, with ghastly white face and fierce, wild eyes, the spruce young hunter of former days. Having, however, at last, satisfied himself as to his identity, the man’s surprise changed to consternation.
“You are mad to come here,” he cried. “It is as much as my own life is worth to be seen talking with you. There is a warrant against you from the Holy Four for assisting the Ferriers away.”
“I don’t fear them, or their warrant,” Hope said, earnestly. “You must know something of this matter, Cowper. I conjure you by everything you hold dear to answer a few questions. We have always been friends. For God’s sake, don’t refuse to answer me.”
“What is it?” the Mormon asked uneasily. “Be quick. The very rocks have ears and the trees eyes.”
“What has become of Lucy Ferrier?”
“She was married yesterday to young Drebber. Hold up, man, hold up, you have no life left in you.”
“Don’t mind me,” said Hope faintly. He was white to the very lips, and had sunk down on the stone against which he had been leaning. “Married, you say?”
“Married yesterday-that’s what those flags are for on the Endowment House. There was some words between young Drebber and young Stangerson as to which was to have her. They’d both been in the party that followed them, and Stangerson had shot her father, which seemed to give him the best claim; but when they argued it out in council, Drebber’s party was the stronger, so the Prophet gave her over to him. No one won’t have her very long though, for I saw death in her face yesterday. She is more like a ghost than a woman. Are you off, then?”
“Yes, I am off,” said Jefferson Hope, who had risen from his seat. His face might have been chiselled out of marble, so hard and set was its expression, while its eyes glowed with a baleful light.
“Where are you going?”
“Never mind,” he answered; and, slinging his weapon over his shoulder, strode off down the gorge and so away into the heart of the mountains to the haunts of the wild beasts. Amongst them all there was none so fierce and so dangerous as himself.
The prediction of the Mormon was only too well fulfilled. Whether it was the terrible death of her father or the effects of the hateful marriage into which she had been forced, poor Lucy never held up her head again, but pined away and died within a month. Her sottish husband, who had married her principally for the sake of John Ferrier’s property, did not affect any great grief at his bereavement; but his other wives mourned over her, and sat up with her the night before the burial, as is the Mormon custom. They were grouped round the bier in the early hours of the morning, when, to their inexpressible fear and astonishment, the door was flung open, and a savage-looking, weather-beaten man in tattered garments strode into the room. Without a glance or a word to the cowering women, he walked up to the white silent figure which had once contained the pure soul of Lucy Ferrier. Stooping over her, he pressed his lips reverently to her cold forehead, and then, snatching up her hand, he took the wedding-ring from her finger. “She shall not be buried in that,” he cried with a fierce snarl, and before an alarm could be raised sprang down the stairs and was gone. So strange and so brief was the episode, that the watchers might have found it hard to believe it themselves or persuade other people of it, had it not been for the undeniable fact that the circlet of gold which marked her as having been a bride had disappeared.
For some months Jefferson Hope lingered among the mountains, leading a strange wild life, and nursing in his heart the fierce desire for vengeance which possessed him. Tales were told in the City of the weird figure which was seen prowling about the suburbs, and which haunted the lonely mountain gorges. Once a bullet whistled through Stangerson’s window and flattened itself upon the wall within a foot of him. On another occasion, as Drebber passed under a cliff a great boulder crashed down on him, and he only escaped a terrible death by throwing himself upon his face. The two young Mormons were not long in discovering the reason of these attempts upon their lives, and led repeated expeditions into the mountains in the hope of capturing or killing their enemy, but always without success. Then they adopted the precaution of never going out alone or after nightfall, and of having their houses guarded. After a time they were able to relax these measures, for nothing was either heard or seen of their opponent, and they hoped that time had cooled his vindictiveness.
Far from doing so, it had, if anything, augmented it. The hunter’s mind was of a hard, unyielding nature, and the predominant idea of revenge had taken such complete possession of it that there was no room for any other emotion. He was, however, above all things practical. He soon realized that even his iron constitution could not stand the incessant strain which he was putting upon it. Exposure and want of wholesome food were wearing him out. If he died like a dog among the mountains, what was to become of his revenge then? And yet such a death was sure to overtake him if he persisted. He felt that that was to play his enemy’s game, so he reluctantly returned to the old Nevada mines, there to recruit his health and to amass money enough to allow him to pursue his object without privation.
His intention had been to be absent a year at the most, but a combination of unforeseen circumstances prevented his leaving the mines for nearly five. At the end of that time, however, his memory of his wrongs and his craving for revenge were quite as keen as on that memorable night when he had stood by John Ferrier’s grave. Disguised, and under an assumed name, he returned to Salt Lake City, careless what became of his own life, as long as he obtained what he knew to be justice. There he found evil tidings awaiting him. There had been a schism among the Chosen People a few months before, some of the younger members of the Church having rebelled against the authority of the Elders, and the result had been the secession of a certain number of the malcontents, who had left Utah and become Gentiles. Among these had been Drebber and Stangerson; and no one knew whither they had gone. Rumour reported that Drebber had managed to convert a large part of his property into money, and that he had departed a wealthy man, while his companion, Stangerson, was comparatively poor. There was no clue at all, however, as to their whereabouts.
Many a man, however vindictive, would have abandoned all thought of revenge in the face of such a difficulty, but Jefferson Hope never faltered for a moment. With the small competence he possessed, eked out by such employment as he could pick up, he travelled from town to town through the United States in quest of his enemies. Year passed into year, his black hair turned grizzled, but still he wandered on, a human bloodhound, with his mind wholly set upon the one object upon which he had devoted his life. At last his perseverance was rewarded. It was but a glance of a face in a window, but that one glance told him that Cleveland in Ohio possessed the men whom he was in pursuit of. He returned to his miserable lodgings with his plan of vengeance all arranged. It chanced, however, that Drebber, looking from his window, had recognized the vagrant in the street, and had read murder in his eyes. He hurried before a justice of the peace, accompanied by Stangerson, who had become his private secretary, and represented to him that they were in danger of their lives from the jealousy and hatred of an old rival. That evening Jefferson Hope was taken into custody, and not being able to find sureties, was detained for some weeks. When at last he was liberated, it was only to find that Drebber’s house was deserted, and that he and his secretary had departed for Europe.
Again the avenger had been foiled, and again his concentrated hatred urged him to continue the pursuit. Funds were wanting, however, and for some time he had to return to work, saving every dollar for his approaching journey. At last, having collected enough to keep life in him, he departed for Europe, and tracked his enemies from city to city, working his way in any menial capacity, but never overtaking the fugitives. When he reached St. Petersburg they had departed for Paris; and when he followed them there he learned that they had just set off for Copenhagen. At the Danish capital he was again a few days late, for they had journeyed on to London, where he at last succeeded in running them to earth. As to what occurred there, we cannot do better than quote the old hunter’s own account, as duly recorded in Dr. Watson’s Journal, to which we are already under such obligations.