🎧 Nghe chương này

CHƯƠNG II. KHOA HỌC SUY LUẬN.

Ngay hôm sau, đúng như lời hẹn, chúng tôi gặp lại nhau và cùng đến xem căn hộ ở số 221B phố Baker - nơi mà anh ta đã nhắc tới trong lần trò chuyện trước. Căn hộ gồm vài phòng ngủ ấm cúng và một phòng khách rộng rãi, thoáng đãng, bài trí tươi sáng và chan hòa ánh sáng từ hai khung cửa sổ lớn. Mọi thứ đều quá sức ưng ý, và tiền thuê chia đôi cho hai người thì thật phải chăng, nên chúng tôi quyết định ngay tại chỗ rồi dọn vào ở luôn. Ngay tối hôm ấy, tôi khuân đồ từ khách sạn sang; sáng hôm sau, Sherlock Holmes cũng theo chân với vài chiếc hộp cùng vali da. Một hai ngày đầu, chúng tôi tất bật mở đồ và sắp xếp lại tài sản sao cho hợp lý nhất có thể. Khi mọi thứ đã đâu vào đấy, chúng tôi dần ổn định cuộc sống và bắt đầu làm quen với tổ ấm mới của mình.

Quả thực, Holmes không phải là người khó sống chung chút nào. Anh ta có một lối sống trầm tĩnh và những thói quen rất đều đặn. Hiếm khi anh ta thức quá mười giờ đêm, và bao giờ cũng ăn sáng rồi rời khỏi nhà trước khi tôi trở dậy. Có ngày, anh ta dành trọn thời gian trong phòng thí nghiệm hóa học; có ngày, lại ở phòng giải phẫu; và thỉnh thoảng, lại lang thang những quãng đường dài xem chừng dẫn anh ta đến tận những khu phố tồi tàn nhất của thành phố. Chẳng ai bì kịp nguồn năng lượng nơi anh ta mỗi lúc cơn cuồng công việc bùng lên; thế nhưng, đôi khi một trạng thái hoàn toàn trái ngược lại nuốt chửng anh ta, và suốt nhiều ngày liền, anh ta cứ nằm duỗi dài trên ghế sô-pha ngoài phòng khách, từ sáng đến tối hầu như chẳng thốt một lời hay động đậy một bắp thịt nào. Những lúc như thế, tôi để ý trong mắt anh ta một vẻ mơ màng, đờ đẫn - sâu đến nỗi, nếu không nhờ nếp sống điều độ và sạch sẽ tuyệt đối của anh ta xóa tan mọi nghi ngờ, thì tôi đã nghĩ anh ta nghiện một thứ ma túy nào đó rồi.

Nhiều tuần lặng lẽ trôi, mối quan tâm của tôi dành cho anh ta, cũng như lòng tò mò về những mục tiêu trong đời anh ta, cứ thế ngày một ăn sâu hơn. Chỉ riêng vóc dáng và dung mạo của anh ta thôi cũng đủ khiến ngay cả những kẻ vô tâm nhất phải ngoái nhìn. Anh ta cao hơn sáu feet một chút, nhưng gầy guộc đến mức trông như cao hơn thế rất nhiều. Đôi mắt anh ta sắc bén và tinh tường, trừ những lúc rơi vào khoảng thời gian đờ đẫn mà tôi vừa nhắc tới; còn chiếc mũi thanh mảnh, vòng xuống như mỏ diều hâu, lại điểm lên toàn bộ gương mặt một vẻ lanh lợi và quả quyết. Chiếc cằm nhô ra, vuông vức - dấu chỉ của một con người đầy nghị lực. Hai bàn tay anh ta lúc nào cũng lấm tấm vết mực và ố màu hóa chất, thế nhưng anh ta lại có một sự khéo léo lạ thường, điều mà tôi có không ít dịp chứng kiến mỗi khi quan sát anh ta thao tác với những dụng cụ thí nghiệm mỏng manh của mình.

Có lẽ bạn đọc sẽ nghĩ tôi là một kẻ tọc mạch hết thuốc chữa, khi tôi thú nhận rằng con người này đã khơi dậy trong tôi một trí tò mò mãnh liệt đến nhường nào, và tôi đã hết lần này đến lần khác cố đập vỡ lớp vỏ kín kẽ mà anh ta dựng lên quanh tất cả những gì liên quan đến bản thân mình. Nhưng, trước khi phán xét, xin hãy nhớ lại rằng cuộc sống của tôi lúc ấy trôi dạt vô định ra sao, và tôi có quá ít việc để bận tâm như thế nào. Sức khỏe không cho phép tôi ra ngoài, trừ những hôm thời tiết thực sự ôn hòa, và tôi cũng chẳng có người bạn nào ghé qua để khuấy động bầu không khí tẻ nhạt của những ngày tháng đơn điệu. Trong hoàn cảnh ấy, tôi háo hức bám lấy chút bí ẩn bao bọc quanh người bạn cùng nhà, và dành phần lớn thời gian cố tháo gỡ từng mảnh một.

Anh ta không hề học y. Chính anh ta - khi tôi hỏi - đã xác nhận nhận định của Stamford về điểm đó. Anh ta cũng chẳng có vẻ gì đang theo đuổi bất kỳ chương trình học nào để lấy bằng khoa học, hay bất kỳ con đường chính thống nào giúp anh ta bước chân vào giới học thuật. Vậy mà, niềm đam mê của anh ta đối với một số môn học lại đáng kinh ngạc đến lạ; và trong những ranh giới quái dị, kiến thức của anh ta phong phú và chi tiết đến độ những quan sát của anh ta đã khiến tôi hoàn toàn sửng sốt. Chắc chắn, chẳng ai lại lao vào công việc chăm chỉ đến thế, hay tích lũy những thông tin chính xác đến nhường ấy, trừ khi người đó có một mục tiêu rành rành trước mắt. Những kẻ đọc sách qua loa hiếm khi có được kiến thức chuẩn xác đến vậy. Cũng chẳng ai tự nhồi nhét vào đầu những chuyện vụn vặt, trừ phi họ có một lý do thực sự chính đáng để làm điều đó.

Sự thiếu hiểu biết của anh ta cũng khiến người ta kinh ngạc không kém gì những kiến thức uyên bác anh ta sở hữu. Văn chương đương thời, triết học, chính trị - dường như anh ta mù tịt hoàn toàn. Có lần tôi trích dẫn một câu của Thomas Carlyle, anh ta liền hỏi bằng cái giọng hồn nhiên đến mức ngây thơ rằng người ấy là ai và đã làm nên trò trống gì. Thế nhưng sự kinh ngạc của tôi chỉ thực sự dâng lên đến tột đỉnh khi tôi tình cờ khám phá ra rằng anh ta chẳng hề hay biết gì về Thuyết Copernicus và cách Hệ Mặt trời vận hành. Một con người văn minh sống giữa thế kỷ mười chín này, thế mà không biết Trái đất quay quanh Mặt trời - sự thật ấy lạ lùng đến nỗi tôi gần như không dám tin vào tai mình nữa.

“Anh có vẻ sửng sốt nhỉ,” anh ta cất tiếng, mỉm cười trước vẻ mặt ngỡ ngàng của tôi. “Giờ thì tôi đã biết chuyện ấy rồi đấy, nhưng tôi sẽ cố mà quên nó đi.”

“Quên nó đi ư!”

“Anh thấy đấy,” anh ta giảng giải, “tôi vẫn hình dung bộ não con người lúc ban đầu tựa như một căn gác mái nhỏ trống không, và anh phải chọn lựa những món đồ nội thất mình muốn để xếp vào đó. Một kẻ khờ dại sẽ vơ vét đủ thứ tạp nham gã bắt gặp trên đường, thành thử những kiến thức lẽ ra có thể hữu ích lại bị tống ra ngoài, hoặc tệ hơn nữa là lẫn lộn vào giữa một mớ hỗn độn những thứ khác, khiến cho gã khó lòng mà lôi ra được khi cần đến. Còn một người thợ lành nghề thì sẽ hết sức cẩn trọng với những gì mình đem vào căn gác mái trí não. Anh ta sẽ chẳng giữ lại bất cứ thứ gì, trừ những công cụ thực sự giúp ích cho công việc của mình - nhưng với chừng ấy công cụ, anh ta có đủ mọi chủng loại, và tất cả đều được sắp xếp theo một trật tự hoàn hảo nhất. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng căn phòng nhỏ bé ấy sở hữu những bức tường co giãn và có thể phình ra vô hạn. Hãy tin tôi, sẽ đến một lúc mà cứ mỗi kiến thức mới được nạp vào, anh lại đánh mất đi một điều mình từng biết trước kia. Bởi vậy, điều quan trọng bậc nhất là đừng bao giờ để những dữ kiện vô bổ chen lấn, xô đẩy những dữ kiện hữu ích.”

“Nhưng đó là Hệ Mặt trời cơ mà!” tôi kêu lên phản đối.

“Thế thì có cái quái gì liên quan đến tôi cơ chứ?” anh ta cắt ngang, giọng đầy sốt ruột. “Anh bảo rằng chúng ta quay quanh mặt trời. Dẫu cho chúng ta có quay quanh mặt trăng đi chăng nữa, thì điều ấy cũng chẳng mảy may tạo ra chút khác biệt nào đối với tôi hay công việc của tôi.”

Tôi toan hỏi xem cái công việc ấy là gì, nhưng một nét gì đó trong thái độ của anh ta cho tôi biết rằng câu hỏi đó sẽ chẳng được hoan nghênh. Dẫu vậy, tôi vẫn miên man suy ngẫm về cuộc trò chuyện ngắn ngủi vừa rồi, và cố tự mình đưa ra những suy luận. Anh ta từng nói rằng mình sẽ không thu nạp bất cứ kiến thức nào chẳng liên quan đến mục tiêu của bản thân. Vậy thì, tất thảy những gì anh ta am tường đều ắt phải là những thứ mang lại lợi ích cho anh ta. Tôi thầm điểm lại trong đầu từng lĩnh vực mà anh ta đã phô bày cho tôi thấy một sự hiểu biết sâu sắc lạ thường. Tôi thậm chí còn rút bút chì ra và ghi chép hẳn hoi. Đến khi hoàn tất, nhìn lại bản danh sách, tôi không sao nén nổi một nụ cười. Nó được viết ra như thế này-

Sherlock Holmes - những giới hạn của anh ta.

    - Kiến thức Văn học. - Không.

    - Triết học. - Không.

    - Thiên văn học. - Không.

    - Chính trị. - Non yếu.

    - Thực vật học. - Chắp vá. Cực kỳ am hiểu về cà độc dược, thuốc phiện, và các chất độc nói chung. Chẳng biết gì về làm vườn thực tiễn.

    - Địa chất học. - Thực dụng, nhưng giới hạn. Chỉ một cái liếc mắt đã phân biệt được các loại đất khác nhau. Sau những cuộc tản bộ, anh ta chỉ cho tôi những vệt bùn vấy trên ống quần mình, rồi căn cứ vào sắc màu cùng độ đặc của chúng mà nói cho tôi nghe anh ta dính bùn ở khu vực nào của London.

    - Hóa học. - Uyên bác.

    - Giải phẫu học. - Chuẩn xác, song thiếu hệ thống.

    - Văn chương Giật gân. - Đồ sộ. Anh ta dường như biết đến từng chi tiết của mọi vụ trọng án kinh hoàng từng xảy ra trong thế kỷ này.

    - Chơi vĩ cầm cừ khôi.

    - Là một tay chơi gậy, võ sĩ quyền Anh, và kiếm thủ điêu luyện.

    - Có kiến thức thực tế khá vững về luật pháp Anh quốc.

Ghi đến đây, tôi tuyệt vọng vo tròn tờ giấy và ném vào lửa. “Nếu mình có thể tìm ra mục tiêu mà cái gã này đang nhắm đến bằng cách kết nối tất tần tật những tài năng kia lại với nhau, mà vạch ra được một nghề nghiệp đòi hỏi toàn bộ những thứ đó,” tôi lẩm bẩm, “thì có lẽ nên từ bỏ ngay nỗ lực ấy từ bây giờ thì hơn.”

Tôi nhớ mình từng nhắc đến tài nghệ chơi vĩ cầm của Holmes trước đó rồi. Tài nghệ ấy quả thực rất đáng nể, nhưng cũng kỳ quặc không kém bất cứ kỹ năng nào khác của anh ta. Tôi biết chắc anh có thể chơi được những bản nhạc khó, vì đã có lần, theo lời tôi yêu cầu, anh chơi cho tôi nghe mấy khúc Mendelssohn's Lieder và vài giai điệu tôi yêu thích. Thế nhưng mỗi khi chỉ có một mình, anh lại hiếm khi tấu lên một bản nhạc hoàn chỉnh hay cố gắng chơi một giai điệu quen thuộc nào cả. Vào buổi tối, anh thường ngả lưng trên chiếc ghế bành, nhắm mắt lại và kéo cây vĩ cầm đặt vắt ngang đầu gối một cách hờ hững, vu vơ. Có lúc những hợp âm nghe thật trầm buồn và sầu thảm. Có lúc chúng lại trở nên bay bổng và tươi vui. Hiển nhiên những thanh âm ấy phản chiếu dòng suy tư đang cuộn chảy trong tâm trí anh, nhưng liệu âm nhạc có trợ giúp gì cho những suy tư kia không, hay việc chơi đàn chỉ đơn thuần là kết quả của một ý thích bất chợt nảy sinh, hoặc một cơn mộng mơ vu vơ, thì tôi thực sự chẳng thể nào đoán định nổi. Và tôi có lẽ đã sớm nổi loạn chống lại những màn độc tấu inh tai nhức óc này, nếu như sau mỗi lần như vậy, anh không thường kết thúc bằng cách chơi liên tiếp một loạt những giai điệu tôi yêu thích - như một cách đền bù nho nhỏ cho sự kiên nhẫn đã bị thử thách của tôi.

Suốt tuần đầu tiên, chẳng có ai ghé thăm, và tôi đã bắt đầu tin rằng người bạn cùng nhà của mình cũng là một kẻ cô độc, không bè bạn, y hệt như tôi. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau, tôi phát hiện ra rằng anh ta có vô số người quen, thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Có một gã nhỏ thó, mặt nhọn như chuột, da vàng vọt, mắt đen láy - được giới thiệu với tôi là ông Lestrade - gã này ghé thăm đến ba, bốn lần chỉ trong vòng một tuần. Một buổi sáng nọ, một cô gái trẻ ăn vận sành điệu ghé qua và nán lại hơn nửa tiếng đồng hồ. Cùng chiều hôm ấy, một vị khách tóc hoa râm, y phục tồi tàn, trông hệt như một người Do Thái bán hàng rong, xuất hiện với vẻ mặt hết sức kích động; theo sát gót ông ta là một bà lão luộm thuộm. Rồi vào một dịp khác, một quý ông tóc bạc lớn tuổi đến trao đổi với bạn tôi; sau đó lại là một anh khuân vác ở ga xe lửa trong bộ đồng phục nhung tăm. Bất kỳ khi nào một trong những nhân vật khó hiểu ấy xuất hiện, Sherlock Holmes đều ngỏ lời xin phép được dùng phòng khách, và tôi lại lẳng lặng lui về phòng ngủ của mình. Anh luôn gửi lời xin lỗi tôi vì sự bất tiện này. "Tôi buộc phải dùng căn phòng này làm nơi làm việc," anh nói, "và những người này là khách hàng của tôi." Thêm một lần nữa, tôi lại có cơ hội để đặt thẳng câu hỏi với anh, và thêm một lần nữa, sự tế nhị đã ngăn tôi ép buộc một người đàn ông khác phải thổ lộ tâm sự với mình. Khi ấy, tôi từng tưởng tượng rằng anh hẳn phải có lý do mạnh mẽ nào đó để không nhắc đến chuyện này, nhưng rồi anh nhanh chóng xua tan ý nghĩ đó bằng cách tự mình chủ động gợi lại đề tài ấy.

Đó là vào ngày mùng 4 tháng Ba - một ngày tôi có lý do để không bao giờ quên - tôi thức dậy sớm hơn thường lệ đôi chút, và phát hiện Sherlock Holmes vẫn còn đang ngồi ăn dang dở bữa điểm tâm. Bà chủ trọ đã quá quen với tật dậy trễ của tôi đến nỗi chưa hề sắp đĩa hay pha cho tôi tách cà phê nào. Mang trong mình cái thứ cáu bẳn vô cớ vốn là đặc quyền của loài người, tôi giật mạnh chuông và cộc lốc thông báo mình đã sẵn sàng dùng bữa. Đoạn, tôi vớ lấy một cuốn tạp chí trên bàn, cố giết thời gian trong khi anh bạn đồng hành của tôi cứ lặng lẽ nhai nốt miếng bánh mì nướng. Một trong những bài viết trong đó có nét bút chì đánh dấu nơi tiêu đề, và tôi, như một lẽ tự nhiên, bắt đầu đưa mắt lướt qua.

Nhan đề bài viết thật đầy tham vọng - "Cuốn Sách của Cuộc Đời" - và nó ra sức chứng minh rằng một con người tinh tế có thể thu thập được biết bao nhiêu là hiểu biết chỉ bằng cách quan sát một cách chính xác và có hệ thống tất cả những gì lọt vào tầm mắt. Bài viết đập vào trí óc tôi như một sự trộn lẫn kỳ quặc giữa sắc sảo và lố bịch. Lập luận thì chặt chẽ và đầy sức nặng, thế nhưng những kết luận lại khiến tôi có cảm giác gượng ép và cường điệu quá đà. Tác giả quả quyết rằng, chỉ qua một thoáng biểu cảm, một cái giật cơ, hay một ánh mắt, ông ta có thể đọc thấu những tư tưởng thầm kín nhất của một con người. Dối trá, theo như lời ông ta, là điều bất khả thi trước một kẻ được tôi luyện trong nghệ thuật quan sát và phân tích. Những kết luận ông ta rút ra được khẳng định là chính xác ngang với các định đề của Euclid1. Và kết quả của chúng sẽ khiến những kẻ ngoại đạo phải sửng sốt đến mức, chừng nào họ chưa thấu hiểu được tiến trình mà ông ta đã đi để đạt tới những kết luận ấy, người ta hẳn sẽ coi ông ta không khác gì một gã thầy phù thủy.

"Từ một giọt nước lẻ loi," tác giả viết, "một nhà logic học có thể suy luận ra sự tồn tại của cả một Đại Tây Dương hay một thác Niagara, dù chưa từng mục kích hay nghe nhắc đến. Cũng y như thế, toàn bộ cuộc sống là một sợi xích to lớn, và bản chất của nó có thể nhận biết được ngay khi ta được trao một mắt xích duy nhất. Cũng tựa như bao bộ môn nghệ thuật khác, Khoa học Suy luận và Phân tích chỉ có thể thông thạo được sau một quá trình nghiên cứu dài lâu và nhẫn nại, mà đời người vốn chẳng đủ dài để cho phép bất kỳ kẻ phàm trần nào vươn tới sự toàn hảo tuyệt đối trong lĩnh vực này. Trước khi đụng đến những khía cạnh đạo đức và tinh thần của vấn đề - vốn đặt ra những trở ngại lớn lao nhất - hãy để người tập sự khởi đầu bằng việc thuần thục những bài toán sơ đẳng hơn. Hãy để anh ta, khi chạm mặt một kẻ đồng bối, tập luyện sao cho chỉ cần liếc mắt một cái là phân biệt được ngay tiểu sử của kẻ đó, cũng như ngành nghề hay chuyên môn mà người ấy đang theo đuổi. Dẫu cho một bài tập như thế này nghe có vẻ ấu trĩ, song nó lại mài sắc khả năng quan sát và dạy cho người ta biết phải dõi mắt về đâu, và phải tìm kiếm những gì. Qua móng tay của một người, qua ống tay áo, qua đôi giày, qua đầu gối quần, qua những vết chai trên ngón cái và ngón trỏ, qua nét mặt, qua cổ tay áo sơ mi - qua từng thứ trong số đó, nghề nghiệp của một con người đều bị phơi bày không chút che đậy. Việc tất cả những yếu tố ấy hội tụ lại mà vẫn không thể khai sáng cho một nhà nghiên cứu thành thạo trong bất cứ trường hợp nào, quả là một điều gần như hoang đường."

"Thật là một đống rác rưởi khôn tả xiết!" tôi buột miệng thốt lên, ném phịch cuốn tạp chí xuống mặt bàn. "Cả đời tôi chưa từng đọc thứ gì nhảm nhí đến nhường này."

"Có chuyện chi thế?" Sherlock Holmes hỏi.

"Chính là cái bài này đây," tôi đáp, vừa ngồi xuống dùng bữa điểm tâm vừa dùng thìa trứng chỉ thẳng vào nó. "Tôi thấy anh đã đọc rồi, vì anh có đánh dấu sẵn. Tôi không phủ nhận là nó được viết cực kỳ khéo léo. Nhưng dù sao thì nó cũng làm tôi điên tiết. Rõ ràng đây thuần túy là lý thuyết của một gã ăn không ngồi rồi, chỉ biết ườn mình trên ghế bành và vạch ra tất thảy những nghịch lý nho nhỏ gọn gàng này trong cái tĩnh lặng của căn phòng làm việc riêng. Chẳng có tí thực tiễn nào trong đó hết. Tôi rất muốn được thấy gã ta bị tống vào một toa hạng ba trên Tàu điện ngầm, rồi bị bắt phải chỉ ra nghề nghiệp của từng hành khách xung quanh. Tôi dám cá một nghìn ăn một."

"Anh sẽ mất tiền đấy," Sherlock Holmes điềm nhiên nhận xét. "Còn về bài báo, thì chính tôi là người đã viết ra nó."

"Anh ư!"

"Đúng thế. Tôi có sở trường về cả quan sát lẫn suy luận. Những lý thuyết tôi trình bày trong bài viết ấy, những điều mà anh cho là cực kỳ viển vông, thì thực ra lại vô cùng thiết thực - thiết thực đến nỗi tôi sống được là nhờ vào chúng đấy."

"Nhờ vào chúng bằng cách nào?" tôi buột miệng hỏi.

"À, tôi có một cái nghề riêng. Tôi cho rằng mình là kẻ duy nhất trên cõi đời này làm cái nghề đó. Tôi là một thám tử tư vấn, nếu như anh có thể hình dung ra đó là thứ gì. Ở cái London này, ta có hàng tá thám tử của Chính phủ và cũng lắm anh thám tử tư. Mỗi khi những gã đó sa vào ngõ cụt, họ tìm đến tôi, và tôi xoay xở đưa họ trở lại đúng đường. Họ bày toàn bộ tang chứng trước mặt tôi, và tôi thường có thể, nhờ vào kiến thức về lịch sử tội phạm của mình, vạch cho họ lối đi đúng đắn. Giữa những hành vi phạm tội luôn có một sự tương đồng mạnh mẽ, và nếu anh nắm rõ từng chi tiết của một nghìn vụ án trong lòng bàn tay, thì quả là đáng ngạc nhiên nếu anh không thể phá được vụ thứ một nghìn lẻ một. Lestrade là một thám tử có tiếng. Mới đây, gã rơi vào bế tắc trong một vụ giả mạo giấy tờ, và đó chính là lý do dẫn gã tới chỗ này."

"Thế còn những người khác?"

"Họ phần nhiều được các văn phòng điều tra tư nhân giới thiệu tới. Toàn là những kẻ đang vướng vào rắc rối nào đó và muốn có chút soi sáng. Tôi lắng nghe câu chuyện của họ, họ lắng nghe những nhận định của tôi, và thế là tôi bỏ túi khoản thù lao."

"Nhưng ý anh là," tôi nói, "anh không cần bước chân ra khỏi phòng mà vẫn gỡ được một mớ bòng bong khiến bao kẻ khác bó tay, mặc dù chính bọn họ đã tận mắt chứng kiến mọi chi tiết?"

"Hoàn toàn đúng. Tôi có một thứ trực giác đặc biệt về khoản ấy. Đôi lúc cũng có vụ phức tạp hơn nổi lên. Lúc đó tôi buộc lòng phải chạy tới chạy lui và tận mắt quan sát mọi sự. Anh thấy đấy, tôi sở hữu khối kiến thức chuyên môn đồ sộ mà tôi đem áp dụng vào vấn đề, và chúng khiến mọi thứ trở nên dễ dàng một cách kỳ diệu. Những nguyên tắc suy luận được nêu trong bài báo đó, thứ đã khơi dậy lòng khinh bỉ nơi anh, thì lại là vô giá với tôi trong công việc thực tế. Với tôi, quan sát đã trở thành bản năng thứ hai. Hẳn anh đã ngạc nhiên khi ngay lần đầu tiên ta gặp nhau, tôi đã nói với anh rằng anh vừa trở về từ Afghanistan2."

"Tôi chắc mẩm là đã có ai kể với anh."

"Tuyệt nhiên không. Tôi đã biết anh đến từ Afghanistan. Nhờ thói quen lâu ngày, dòng suy tưởng chạy trong trí óc tôi nhanh đến mức tôi đi đến kết luận mà không hề hay biết về những bước trung gian. Dẫu sao thì những bước ấy vẫn tồn tại. Chuỗi suy luận diễn ra như thế này: 'Đây là một quý ông thuộc kiểu người làm trong ngành y, nhưng phong thái lại mang dáng dấp một quân nhân. Vậy rõ ràng là một bác sĩ quân y. Anh ta vừa đến từ miền nhiệt đới, vì gương mặt anh ta sạm nắng, và đó không phải là màu da tự nhiên, bởi cổ tay anh ta trắng bệch ra. Anh ta đã nếm trải gian khổ và bệnh tật, điều mà khuôn mặt hốc hác của anh ta đã hùng hồn phơi bày. Cánh tay trái của anh ta từng bị thương. Anh ta giữ nó trong một tư thế cứng nhắc và mất tự nhiên. Một bác sĩ quân y người Anh thì có thể nếm trải gian khổ và bị thương nơi cánh tay ở vùng nhiệt đới nào đây? Rành rành là Afghanistan.' Toàn bộ mạch suy nghĩ ấy chỉ tốn chưa đầy một giây. Rồi sau đó tôi buông một câu nhận xét rằng anh vừa từ Afghanistan về, và anh đã kinh ngạc."

"Nghe anh giải thích thì mọi chuyện thật giản đơn," tôi mỉm cười nói. "Anh làm tôi nhớ đến Dupin của Edgar Allan Poe3. Tôi chưa từng nghĩ những con người như thế lại có thật ngoài đời, chứ không chỉ tồn tại trong tiểu thuyết."

Sherlock Holmes đứng dậy, châm lửa cho chiếc tẩu. "Hẳn là anh nghĩ mình đang khen tôi khi ví tôi với Dupin," anh ta nhận xét. "Nhưng theo tôi, Dupin chỉ là một gã tầm thường. Cái trò chen ngang dòng suy nghĩ của bạn mình bằng một lời nhận xét đâu ra đấy, sau khi im lặng suốt mười lăm phút - thật là màu mè và nông cạn. Không thể phủ nhận hắn có chút năng khiếu phân tích. Nhưng hắn tuyệt đối không phải là một thiên tài như Poe đã tưởng tượng."

"Anh đã đọc Gaboriau chưa?" tôi hỏi. "Liệu Lecoq4 có đạt đến chuẩn mực thám tử của anh không?"

Sherlock Holmes khịt mũi chế nhạo. "Lecoq là một tay vụng về thảm hại," anh ta đáp, giọng bực bội. "Hắn chỉ có đúng một điểm đáng khen - ấy là sức lực. Cuốn sách ấy khiến tôi phát ngấy. Vấn đề đặt ra chẳng qua là làm sao nhận dạng một tù nhân vô danh. Tôi có thể làm xong việc đó trong vòng hai mươi tư giờ. Lecoq thì mất những sáu tháng, hoặc chừng ấy. Người ta có thể coi đó là sách giáo khoa cho các thám tử - dạy họ những gì nên tránh."

Tôi cảm thấy khá phẫn nộ khi hai nhân vật mình hằng ngưỡng mộ lại bị đối xử trịch thượng đến vậy. Tôi bước đến bên cửa sổ, đứng nhìn ra con phố đông đúc. "Gã này có thể rất thông minh," tôi tự nhủ, "nhưng gã chắc chắn cực kỳ tự phụ."

"Thời buổi này làm gì còn tội ác, cũng chẳng còn tội phạm nào ra hồn nữa," anh ta càu nhàu. "Có đầu óc trong cái nghề này thì để làm gì? Tôi biết rõ mình sở hữu đủ khả năng để tạo nên danh tiếng. Xưa nay, chưa từng có ai - dù đang sống hay đã khuất - mang đến cho công việc điều tra tội phạm một khối kiến thức và tài năng thiên bẩm như tôi. Vậy mà kết quả ra sao? Chẳng có vụ án nào để điều tra. Cùng lắm cũng chỉ là vài trò lưu manh vụng về, với động cơ lộ liễu đến mức một kẻ ở Scotland Yard5 cũng có thể nhìn thấu."

Tôi vẫn còn khó chịu vì cái lối nói chuyện ngạo mạn của anh ta, và nghĩ thầm rằng tốt nhất nên đổi chủ đề.

"Tôi tự hỏi gã đàn ông vạm vỡ đằng kia đang tìm gì?" tôi lên tiếng, chỉ tay về phía một người có thân hình lực lưỡng, ăn vận giản dị, đang thong thả bước dọc theo vỉa hè bên kia đường. Hắn chăm chú dò từng số nhà với vẻ mặt đầy lo lắng. Trên tay hắn cầm một chiếc phong bì lớn màu xanh - rõ ràng là một người đưa thư.

"Ý anh là viên trung sĩ Thủy quân Lục chiến đã xuất ngũ kia à?" Sherlock Holmes nói.

"Chỉ giỏi khoác lác!" tôi thầm nghĩ. "Gã biết thừa là mình sẽ chẳng thể kiểm chứng được lời phỏng đoán ấy."

Ý nghĩ ấy vừa lóe lên trong đầu tôi thì người đàn ông chúng tôi đang quan sát bỗng nhận ra số nhà trước cửa, rồi chạy vội băng qua đường. Chúng tôi nghe thấy một tiếng gõ cửa lớn bên dưới, một giọng nói trầm vọng lên, và những bước chân nặng nề leo cầu thang.

"Thư gửi ngài Sherlock Holmes," người đưa thư nói, bước vào phòng và trao cho bạn tôi bức thư.

Đây rồi - cơ hội để dập tắt thói tự phụ của gã. Hẳn gã không ngờ tới tình huống này khi lỡ buông lời đoán bừa. "Này anh bạn," tôi cất giọng hết sức vô thưởng vô phạt, "công việc của anh là gì thế?"

"Người đưa thư, thưa ngài," anh ta đáp cộc lốc. "Đồng phục đem đi sửa rồi ạ."

"Thế còn trước kia?" tôi hỏi, liếc về phía người bạn cùng nhà với một ánh mắt có phần ác ý.

"Trung sĩ, thưa ngài. Thuộc Lực lượng Bộ binh Nhẹ Thủy quân Lục chiến Hoàng gia, thưa ngài. Không có hồi âm phải không ạ? Xin phép ngài."

Anh ta đập hai gót giày vào nhau, giơ tay chào theo kiểu nhà binh, rồi quay gót bước ra.



  1. Các nguyên lý toán học nền tảng do nhà hình học Hy Lạp cổ đại Euclid đặt ra. Chúng được coi là những chân lý hiển nhiên, không thể chối cãi và có độ chính xác tuyệt đối. 

  2. Ám chỉ cuộc Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai (1878-1880). Nhiều quân nhân và bác sĩ quân y Anh, như nhân vật Watson, đã được phái đến đây và chịu thương vong. 

  3. C. Auguste Dupin là nhân vật do nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe sáng tạo, được giới văn học coi là hình tượng thám tử hư cấu đầu tiên với khả năng suy luận logic xuất chúng, tạo nền tảng cho sự ra đời của Sherlock Holmes sau này. 

  4. Nhân vật thám tử nổi tiếng trong tiểu thuyết của nhà văn Pháp Émile Gaboriau. Lecoq đại diện cho trường phái điều tra phá án dựa trên việc thu thập tỉ mỉ các dấu vết và bằng chứng vật lý. 

  5. Trụ sở của Cảnh sát Đô thành London, đại diện cho lực lượng cảnh sát chính quy của nhà nước. Trong tiểu thuyết, họ thường bị giới thám tử tư chê bai là rập khuôn và thiếu nhạy bén.