CHƯƠNG VII. LỜI KẾT.
Tất cả chúng tôi đều đã nhận được trát triệu tập phải có mặt tại tòa sơ thẩm vào ngày thứ Năm; thế nhưng, khi ngày thứ Năm gõ cửa, cơ hội để bất kỳ ai đưa ra lời khai đã tan biến tựa mây khói. Một vị Thẩm phán ở cõi trên đã can thiệp vào vụ án này, và Jefferson Hope bị triệu hồi ra trước một phiên tòa mà ở đó, công lý tuyệt đối mới là lẽ phải được thực thi. Ngay trong đêm sau khi bị bắt, khối phình động mạch1 của gã đã vỡ tung, và sáng hôm sau người ta thấy gã nằm duỗi dài trên nền đá lạnh của phòng giam, gương mặt còn vương một nụ cười thư thái lạ kỳ, như thể trong khoảnh khắc cuối cùng của đời mình, gã đã kịp ngoảnh đầu nhìn lại một kiếp sống có ích và một công việc đã được hoàn tất một cách trọn vẹn.
"Thế nào Gregson với Lestrade cũng phát cuồng lên vì cái chết của gã cho mà xem," Holmes nhận định, khi chúng tôi ngồi trò chuyện về sự kiện ấy vào buổi tối hôm sau. "Cái bản cáo thị rùm beng của họ giờ sẽ đi tong ra sao đây?"
"Tôi chẳng thấy họ đóng góp được là bao trong công cuộc tóm cổ gã cả," tôi đáp.
"Anh làm được những gì trên cõi đời này, suy cho cùng, chẳng mấy quan trọng," người bạn tôi đáp lại, giọng chan chứa vị đắng cay. "Vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ: anh có thể khiến người đời tin rằng anh đã làm được những điều đó hay không. Nhưng thôi, bỏ qua chuyện ấy đi," anh nói tiếp, giọng khởi sắc hơn sau một thoáng lặng thinh. "Tôi sẽ chẳng đời nào chịu bỏ lỡ cuộc điều tra này, dẫu có phải đánh đổi bất cứ thứ gì. Trong ký ức của tôi, chưa từng có vụ án nào lý thú hơn thế. Dẫu cho nó vô cùng đơn giản, nhưng lại hàm chứa vài điểm hết sức đáng để nghiền ngẫm."
"Đơn giản ư!" tôi buột miệng kêu lên.
"Chà, thực ra thì, khó lòng diễn đạt theo cách nào khác được," Sherlock Holmes đáp, mỉm cười trước vẻ kinh ngạc của tôi. "Minh chứng cho sự đơn giản cốt lõi của vụ án này là ở chỗ: không cần bất kỳ sự trợ giúp nào ngoài vài phép suy luận hết sức thông thường, tôi đã tóm được cổ tên tội phạm chỉ trong vòng ba ngày."
"Quả đúng là như vậy," tôi nói.
"Tôi đã từng giải thích với anh rằng, những điều khác thường thường là một chỉ dẫn hơn là một chướng ngại. Khi giải quyết một vấn đề thuộc loại này, điều tuyệt vời nhất chính là năng lực suy luận ngược. Đó là một thành tựu vô cùng hữu ích, lại cũng rất dễ dàng, thế nhưng người ta chẳng mấy khi thực hành nó. Trong những công việc đời thường, suy luận xuôi thường tỏ ra hữu ích hơn, và bởi vậy mà lối suy luận kia dần dà bị lãng quên. Cứ năm mươi người biết suy luận tổng hợp2 thì may ra mới có một người biết suy luận phân tích3."
"Tôi xin thú thực," tôi nói, "rằng tôi chưa hoàn toàn hiểu được ý của anh."
"Tôi cũng chẳng mong anh hiểu ngay. Để tôi thử làm cho nó sáng rõ hơn nhé. Hầu hết mọi người, nếu anh kể cho họ một chuỗi sự kiện, họ sẽ cho anh biết kết quả sẽ ra sao. Họ gom những sự kiện ấy lại trong đầu, rồi từ đó lập luận rằng một điều gì đó sắp sửa xảy ra. Thế nhưng, có rất hiếm người, nếu anh đưa cho họ một kết quả, lại có thể tự mình truy ngược ra được những bước nào đã dẫn đến kết quả ấy. Chính năng lực này là điều tôi muốn nói khi nhắc đến suy luận ngược, hay suy luận phân tích."
"Tôi hiểu rồi," tôi nói.
"Vụ án này chính là một trường hợp mà anh được trao sẵn kết quả, rồi phải tự mình ráp nối tất cả những mảnh ghép còn lại. Giờ hãy để tôi thử chỉ cho anh thấy từng bước trong lập luận của tôi. Bắt đầu từ lúc khởi đầu nhé. Tôi tiếp cận ngôi nhà đó, như anh đã biết, bằng cách đi bộ, và với một tâm trí hoàn toàn trống rỗng, không hề vướng bận bởi bất kỳ ấn tượng nào. Lẽ tự nhiên, tôi bắt đầu bằng việc quan sát mặt đường. Và ở đó, như tôi đã giải thích với anh, tôi thấy rõ những vết hằn của một cỗ xe ngựa chở khách. Qua thăm dò, tôi xác định chắc chắn rằng nó đã đậu ở đó suốt cả đêm. Tôi tin chắc đó là một chiếc xe ngựa chở khách chứ không phải xe ngựa cá nhân, nhờ vào khoảng cách hẹp giữa hai bánh xe. Chiếc xe bốn bánh chở khách thông thường ở London có chiều ngang hẹp hơn đáng kể so với cỗ xe brougham4 của một quý ông.
"Đó là mắt xích đầu tiên tôi thu được. Sau đó, tôi bước chậm rãi dọc theo lối đi trong vườn. Tình cờ thay, lối đi này lại được làm bằng đất sét - một loại đất đặc biệt thích hợp để lưu lại các dấu vết. Không nghi ngờ gì, với anh nó có vẻ chỉ là một vệt bùn nhão nhoẹt bị giẫm đạp tứ tung. Nhưng với đôi mắt đã qua rèn luyện của tôi, mỗi dấu vết trên bề mặt đó đều mang một ý nghĩa riêng. Không có nhánh nào của khoa học trinh thám lại quan trọng mà cũng bị lãng quên nhiều như nghệ thuật truy theo dấu chân. May mắn thay, tôi đã luôn đặt trọng tâm vào lĩnh vực này, và việc thực hành nhiều đã biến nó thành bản năng thứ hai của tôi. Tôi nhìn thấy những dấu chân nặng nề của đám cảnh sát. Nhưng tôi cũng thấy cả dấu vết của hai người đàn ông đầu tiên bước qua khu vườn. Rất dễ để nhận ra họ đã đi trước những người khác, bởi vì ở một vài chỗ, dấu vết của họ đã bị những kẻ đến sau giẫm đè lên và xóa mờ hoàn toàn. Theo cách này, mắt xích thứ hai của tôi được hình thành. Nó cho tôi biết rằng những vị khách ghé thăm trong đêm gồm hai người: một kẻ nổi bật với chiều cao vượt trội - tôi tính toán được điều này từ độ dài sải chân của hắn - và một kẻ ăn mặc rất hợp thời trang, nếu đánh giá dựa trên dấu ấn nhỏ nhắn và thanh lịch mà đôi ủng của hắn để lại.
"Khi tôi bước vào trong nhà, suy luận cuối cùng này liền được xác nhận. Gã đàn ông đi đôi ủng bảnh bao của tôi đang nằm ngay trước mặt tôi. Vậy thì, kẻ cao lớn chính là thủ phạm đã ra tay - nếu quả thực đây là một vụ giết người. Trên thi thể người chết không hề có vết thương nào. Nhưng vẻ mặt đầy kích động của hắn đã khẳng định với tôi rằng hắn đã lường trước được số phận của mình trước khi nó ập đến. Những người chết vì bệnh tim, hay bất kỳ nguyên nhân tự nhiên đột ngột nào, không bao giờ để lộ sự kích động trên nét mặt như thế. Sau khi ngửi môi người chết, tôi phát hiện một mùi hơi chua. Từ đó tôi đi đến kết luận rằng hắn đã bị ép uống thuốc độc. Một lần nữa, tôi lập luận rằng hắn đã bị cưỡng ép, dựa vào vẻ căm thù và nỗi sợ hãi lộ rõ trên khuôn mặt. Bằng phương pháp loại trừ, tôi đã đi đến kết quả này - đơn giản là vì không có giả thuyết nào khác phù hợp với các dữ kiện. Đừng tưởng tượng rằng đó là một ý tưởng quá đỗi lạ lùng. Việc cưỡng ép uống thuốc độc tuyệt nhiên không phải là một điều mới mẻ trong biên niên sử tội phạm. Các vụ án của Dolsky ở Odessa, và của Leturier ở Montpellier5, sẽ nảy ra ngay lập tức đối với bất kỳ chuyên gia độc chất học nào.
"Và bây giờ đến câu hỏi lớn: động cơ là gì? Cướp bóc không phải là mục tiêu của vụ giết người, vì không có thứ gì bị lấy đi. Vậy đó là chuyện chính trị, hay là vì một người phụ nữ? Đó là câu hỏi đã đặt ra cho tôi. Ngay từ đầu, tôi đã nghiêng về giả thiết thứ hai. Những kẻ ám sát chính trị chỉ quá đỗi vui mừng khi làm xong việc của chúng rồi lập tức bỏ trốn. Trái lại, vụ giết người này được thực hiện vô cùng cẩn trọng. Kẻ thủ ác đã để lại dấu vết của hắn khắp căn phòng, cho thấy hắn đã ở đó suốt cả một khoảng thời gian dài. Hẳn phải là một mối thù oán cá nhân, chứ không phải chuyện chính trị, thì mới đòi hỏi một sự trả thù bài bản và tỉ mỉ đến như vậy. Khi dòng chữ trên tường được phát hiện, tôi càng nghiêng về nhận định của mình hơn bao giờ hết. Sự việc đó quá rõ ràng chỉ là một đòn hỏa mù. Tuy nhiên, khi chiếc nhẫn được tìm thấy, nó đã giải quyết dứt điểm câu hỏi này. Rõ ràng kẻ sát nhân đã dùng nó để nhắc nhở nạn nhân về một người phụ nữ nào đó đã khuất hay không còn hiện diện. Chính tại điểm này, tôi đã hỏi Gregson liệu anh ta có dò hỏi trong bức điện tín gửi đến Cleveland về bất kỳ điểm đặc biệt nào trong quá khứ của Drebber hay không. Anh còn nhớ đấy, anh ta đã trả lời thẳng thừng là không.
"Sau đó tôi tiến hành kiểm tra tỉ mỉ căn phòng. Việc này đã củng cố nhận định của tôi về chiều cao của kẻ sát nhân, đồng thời cung cấp cho tôi những chi tiết bổ sung: điếu xì gà Trichinopoly và độ dài móng tay của hắn. Tôi đã đi đến kết luận - vì không hề có dấu hiệu giằng co - rằng vết máu vương vãi trên sàn đã trào ra từ mũi của kẻ sát nhân trong lúc hắn quá kích động. Tôi có thể nhận thấy vết máu trùng khớp với dấu chân của hắn. Hiếm có người đàn ông nào, trừ phi hắn ta vô cùng sung sức, lại bị chảy máu theo cách này chỉ vì cảm xúc. Vì vậy tôi đánh bạo đưa ra nhận định rằng tên tội phạm có lẽ là một gã đàn ông vạm vỡ với khuôn mặt đỏ gay. Các sự kiện sau đó đã chứng minh rằng tôi đã phán đoán hoàn toàn chính xác.
"Sau khi rời khỏi ngôi nhà, tôi bắt tay vào làm điều mà Gregson đã bỏ quên. Tôi đánh điện cho cảnh sát trưởng ở Cleveland, giới hạn câu hỏi của mình vào những tình huống liên quan đến cuộc hôn nhân của Enoch Drebber. Câu trả lời mang tính quyết định. Nó cho tôi biết rằng Drebber đã từng cầu xin pháp luật bảo vệ khỏi một tình địch cũ, một kẻ mang tên Jefferson Hope, và chính gã Hope này hiện đang ở châu Âu. Giờ thì tôi biết rằng mình đã nắm giữ manh mối then chốt của toàn bộ bí ẩn trong tay. Tất cả những gì còn lại chỉ là phải tóm gọn tên sát nhân.
"Tôi đã tự mình xác định một điều trong đầu: kẻ đã bước vào nhà cùng Drebber không ai khác chính là kẻ đã điều khiển cỗ xe ngựa. Những dấu vết trên mặt đường cho tôi thấy con ngựa đã đi lang thang theo một kiểu mà sẽ không thể xảy ra nếu có ai đó đang trông chừng nó. Vậy thì, người xà ích có thể ở đâu, nếu hắn không ở bên trong ngôi nhà? Một lần nữa, thật vô lý khi cho rằng bất kỳ kẻ tỉnh táo nào lại thực hiện một tội ác có chủ đích ngay dưới con mắt quan sát - có thể nói như vậy - của một kẻ thứ ba, kẻ chắc chắn sẽ tố giác hắn. Cuối cùng, hãy thử nghĩ mà xem: giả sử một người muốn bám theo một người khác khắp London, thì còn cách nào tốt hơn là trở thành một người xà ích cơ chứ? Tất cả những suy xét này đã dẫn tôi đến một kết luận không thể chối cãi: Jefferson Hope phải được tìm thấy trong số những người đánh xe ngựa của Thủ đô.
"Nếu hắn đã từng là một người đánh xe, thì chẳng có lý do gì để tin rằng hắn đã bỏ nghề đó cả. Trái lại, theo quan điểm của chính hắn, bất kỳ sự thay đổi đột ngột nào cũng có thể sẽ thu hút sự chú ý vào bản thân. Hắn có lẽ, ít nhất là trong một thời gian, sẽ tiếp tục hành nghề. Cũng không có lý do gì để cho rằng hắn đang dùng tên giả. Tại sao hắn phải đổi tên ở một đất nước mà chẳng ai biết tên thật của hắn cơ chứ? Vì vậy, tôi đã tổ chức đội trinh sát nhóc tì đường phố của mình, và phái chúng đi một cách có hệ thống tới từng chủ xe ngựa ở London, cho đến khi chúng moi ra được gã đàn ông mà tôi cần. Chúng đã thành công tốt đẹp ra sao, và tôi đã nhanh chóng tận dụng điều đó như thế nào, hẳn vẫn còn in đậm trong trí nhớ của anh. Vụ án mạng của Stangerson là một sự cố hoàn toàn ngoài dự kiến, nhưng dù sao đi nữa cũng khó lòng ngăn chặn được. Thông qua vụ đó, như anh đã biết, tôi đã có được những viên thuốc nhỏ kia - sự tồn tại của chúng đã được tôi phỏng đoán từ trước. Anh thấy đấy, toàn bộ sự việc là một chuỗi các trình tự logic liền mạch, không hề có lấy một chỗ đứt đoạn hay thiếu sót nào."
"Thật là tuyệt diệu!" tôi buột miệng reo lên. "Công lao của anh xứng đáng được công chúng biết đến. Anh nên công bố một bản tường thuật đầy đủ về vụ án này. Nếu anh không làm, tôi sẽ làm thay anh đấy."
"Bác sĩ cứ làm bất cứ điều gì bác sĩ muốn," anh đáp. Rồi anh nói tiếp, tay đưa sang cho tôi một tờ báo: "Nhưng hãy xem cái này đã!"
Đó là tờ Echo ra ngày hôm ấy, và đoạn văn anh chỉ tay vào tường thuật về vụ án mà chúng tôi đang nhắc đến.
"Công chúng," bài báo viết, "đã vuột mất một món kịch tính đầy giật gân, khi gã đàn ông tên Hope - kẻ tình nghi thủ phạm trong vụ sát hại hai ông Enoch Drebber và Joseph Stangerson - đột ngột qua đời. Giờ đây, các chi tiết của vụ án này e rằng sẽ vĩnh viễn không bao giờ được phơi bày ra ánh sáng, mặc dù chúng tôi đã được một nguồn tin đáng tin cậy cho hay rằng tội ác này là kết quả của một mối tư thù lãng mạn và dai dẳng từ nhiều năm về trước, trong đó tình yêu và đạo Mormon cùng đóng một vai trò. Hình như cả hai nạn nhân, thời trai trẻ, đều là thành viên của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày Sau, và Hope, kẻ tù nhân giờ đã khuất, cũng có gốc gác từ Thành phố Salt Lake. Nếu vụ án này không để lại một ảnh hưởng nào khác, thì chí ít nó cũng soi rọi một cách hùng hồn nhất hiệu năng trác tuyệt của lực lượng cảnh sát trinh thám nước ta, đồng thời sẽ là một bài học cho hết thảy những kẻ ngoại quốc: rằng khôn ngoan hơn hết là cứ giải quyết những mối tư thù ở quê nhà mình đi, chứ đừng mang chúng đến trên đất Anh. Có một sự thật không thể chối cãi: toàn bộ công lao cho cuộc bắt giữ tài tình này hoàn toàn thuộc về hai viên chức trứ danh của Scotland Yard, các quý ông Lestrade và Gregson. Hình như gã tội phạm đã bị tóm gọn ngay trong phòng của một người nào đó tên là Sherlock Holmes - một kẻ nghiệp dư tự nhận mình có đôi chút năng khiếu trong lĩnh vực trinh thám, và với những tấm gương sáng như các quý ông kia dẫn lối, có lẽ một ngày nào đó anh ta cũng sẽ hy vọng đạt tới trình độ kỹ năng ngang hàng với họ. Người ta dự đoán một khoản tưởng thưởng nào đó sẽ được trao cho hai viên cảnh sát như một sự ghi nhận xứng đáng cho những cống hiến của họ."
"Tôi đã chẳng nói trước với anh như thế ngay từ lúc chúng ta vừa bắt đầu đó sao?" Sherlock Holmes cất tiếng cười lớn mà chua chát. "Đấy, kết quả của toàn bộ 'nghiên cứu' của chúng ta đây: kiếm cho bọn họ một món tiền thưởng!"
"Anh đừng bận tâm làm gì," tôi đáp. "Tôi đã ghi chép đầy đủ mọi sự thật trong nhật ký của mình, và công chúng rồi sẽ biết đến chúng. Còn trong lúc này, anh phải tự an ủi mình bằng chính ý thức về thành công mà anh đã đạt được, giống như gã hà tiện người La Mã kia6 -
'Thiên hạ nhạo báng ta, nhưng ta lại tự vỗ tay khen mình
Khi ngồi nhà một mình ngắm nghía những đồng tiền trong rương.'"
-
Bệnh phình động mạch: tình trạng một đoạn mạch máu bị phồng lên do thành mạch yếu. Khi khối phình này vỡ ra, nó gây xuất huyết ồ ạt bên trong cơ thể và thường dẫn đến tử vong nhanh chóng. ↩
-
Cách tư duy đi từ nguyên nhân hoặc các dữ kiện có sẵn để dự đoán kết quả sẽ xảy ra (tương tự lập luận xuôi chiều). ↩
-
Cách tư duy đi từ kết quả cuối cùng để lần ngược lại các bước và nguyên nhân đã tạo ra nó (cách mà Holmes gọi là 'suy luận ngược'). ↩
-
Brougham (đọc là 'broom' hoặc 'bru-ơm'): loại xe ngựa kín có bốn bánh, thường do một hoặc hai con ngựa kéo. Đây là phương tiện di chuyển sang trọng phổ biến của giới quý tộc và người giàu có ở Anh thế kỷ 19. ↩
-
Odessa là một thành phố cảng ở Đế quốc Nga (nay thuộc Ukraine), còn Montpellier là một thành phố ở Pháp nổi tiếng với trường đại học y khoa. Holmes đang nhắc đến các vụ án đầu độc có thật nổi tiếng trong lịch sử tội phạm học châu Âu. ↩
-
Ám chỉ một câu thơ châm biếm của thi hào Horace (La Mã cổ đại) viết về một kẻ hà tiện: bị thiên hạ chê cười nhưng hắn không bận tâm, chỉ tự mãn khi ở nhà ngắm nghía đống của cải. Watson dùng hình ảnh này để an ủi Holmes, rằng phần thưởng thật sự là sự tự hào về tài năng của chính mình chứ không phải danh vọng hão huyền từ báo chí. ↩
CHAPTER VII. THE CONCLUSION.
We had all been warned to appear before the magistrates upon the Thursday; but when the Thursday came there was no occasion for our testimony. A higher Judge had taken the matter in hand, and Jefferson Hope had been summoned before a tribunal where strict justice would be meted out to him. On the very night after his capture the aneurism burst, and he was found in the morning stretched upon the floor of the cell, with a placid smile upon his face, as though he had been able in his dying moments to look back upon a useful life, and on work well done.
“Gregson and Lestrade will be wild about his death,” Holmes remarked, as we chatted it over next evening. “Where will their grand advertisement be now?”
“I don’t see that they had very much to do with his capture,” I answered.
“What you do in this world is a matter of no consequence,” returned my companion, bitterly. “The question is, what can you make people believe that you have done. Never mind,” he continued, more brightly, after a pause. “I would not have missed the investigation for anything. There has been no better case within my recollection. Simple as it was, there were several most instructive points about it.”
“Simple!” I ejaculated.
“Well, really, it can hardly be described as otherwise,” said Sherlock Holmes, smiling at my surprise. “The proof of its intrinsic simplicity is, that without any help save a few very ordinary deductions I was able to lay my hand upon the criminal within three days.”
“That is true,” said I.
“I have already explained to you that what is out of the common is usually a guide rather than a hindrance. In solving a problem of this sort, the grand thing is to be able to reason backwards. That is a very useful accomplishment, and a very easy one, but people do not practise it much. In the every-day affairs of life it is more useful to reason forwards, and so the other comes to be neglected. There are fifty who can reason synthetically for one who can reason analytically.”
“I confess,” said I, “that I do not quite follow you.”
“I hardly expected that you would. Let me see if I can make it clearer. Most people, if you describe a train of events to them, will tell you what the result would be. They can put those events together in their minds, and argue from them that something will come to pass. There are few people, however, who, if you told them a result, would be able to evolve from their own inner consciousness what the steps were which led up to that result. This power is what I mean when I talk of reasoning backwards, or analytically.”
“I understand,” said I.
“Now this was a case in which you were given the result and had to find everything else for yourself. Now let me endeavour to show you the different steps in my reasoning. To begin at the beginning. I approached the house, as you know, on foot, and with my mind entirely free from all impressions. I naturally began by examining the roadway, and there, as I have already explained to you, I saw clearly the marks of a cab, which, I ascertained by inquiry, must have been there during the night. I satisfied myself that it was a cab and not a private carriage by the narrow gauge of the wheels. The ordinary London growler is considerably less wide than a gentleman’s brougham.
“This was the first point gained. I then walked slowly down the garden path, which happened to be composed of a clay soil, peculiarly suitable for taking impressions. No doubt it appeared to you to be a mere trampled line of slush, but to my trained eyes every mark upon its surface had a meaning. There is no branch of detective science which is so important and so much neglected as the art of tracing footsteps. Happily, I have always laid great stress upon it, and much practice has made it second nature to me. I saw the heavy footmarks of the constables, but I saw also the track of the two men who had first passed through the garden. It was easy to tell that they had been before the others, because in places their marks had been entirely obliterated by the others coming upon the top of them. In this way my second link was formed, which told me that the nocturnal visitors were two in number, one remarkable for his height (as I calculated from the length of his stride), and the other fashionably dressed, to judge from the small and elegant impression left by his boots.
“On entering the house this last inference was confirmed. My well-booted man lay before me. The tall one, then, had done the murder, if murder there was. There was no wound upon the dead man’s person, but the agitated expression upon his face assured me that he had foreseen his fate before it came upon him. Men who die from heart disease, or any sudden natural cause, never by any chance exhibit agitation upon their features. Having sniffed the dead man’s lips I detected a slightly sour smell, and I came to the conclusion that he had had poison forced upon him. Again, I argued that it had been forced upon him from the hatred and fear expressed upon his face. By the method of exclusion, I had arrived at this result, for no other hypothesis would meet the facts. Do not imagine that it was a very unheard of idea. The forcible administration of poison is by no means a new thing in criminal annals. The cases of Dolsky in Odessa, and of Leturier in Montpellier, will occur at once to any toxicologist.
“And now came the great question as to the reason why. Robbery had not been the object of the murder, for nothing was taken. Was it politics, then, or was it a woman? That was the question which confronted me. I was inclined from the first to the latter supposition. Political assassins are only too glad to do their work and to fly. This murder had, on the contrary, been done most deliberately, and the perpetrator had left his tracks all over the room, showing that he had been there all the time. It must have been a private wrong, and not a political one, which called for such a methodical revenge. When the inscription was discovered upon the wall I was more inclined than ever to my opinion. The thing was too evidently a blind. When the ring was found, however, it settled the question. Clearly the murderer had used it to remind his victim of some dead or absent woman. It was at this point that I asked Gregson whether he had enquired in his telegram to Cleveland as to any particular point in Mr. Drebber’s former career. He answered, you remember, in the negative.
“I then proceeded to make a careful examination of the room, which confirmed me in my opinion as to the murderer’s height, and furnished me with the additional details as to the Trichinopoly cigar and the length of his nails. I had already come to the conclusion, since there were no signs of a struggle, that the blood which covered the floor had burst from the murderer’s nose in his excitement. I could perceive that the track of blood coincided with the track of his feet. It is seldom that any man, unless he is very full-blooded, breaks out in this way through emotion, so I hazarded the opinion that the criminal was probably a robust and ruddy-faced man. Events proved that I had judged correctly.
“Having left the house, I proceeded to do what Gregson had neglected. I telegraphed to the head of the police at Cleveland, limiting my enquiry to the circumstances connected with the marriage of Enoch Drebber. The answer was conclusive. It told me that Drebber had already applied for the protection of the law against an old rival in love, named Jefferson Hope, and that this same Hope was at present in Europe. I knew now that I held the clue to the mystery in my hand, and all that remained was to secure the murderer.
“I had already determined in my own mind that the man who had walked into the house with Drebber, was none other than the man who had driven the cab. The marks in the road showed me that the horse had wandered on in a way which would have been impossible had there been anyone in charge of it. Where, then, could the driver be, unless he were inside the house? Again, it is absurd to suppose that any sane man would carry out a deliberate crime under the very eyes, as it were, of a third person, who was sure to betray him. Lastly, supposing one man wished to dog another through London, what better means could he adopt than to turn cabdriver. All these considerations led me to the irresistible conclusion that Jefferson Hope was to be found among the jarveys of the Metropolis.
“If he had been one there was no reason to believe that he had ceased to be. On the contrary, from his point of view, any sudden change would be likely to draw attention to himself. He would, probably, for a time at least, continue to perform his duties. There was no reason to suppose that he was going under an assumed name. Why should he change his name in a country where no one knew his original one? I therefore organized my Street Arab detective corps, and sent them systematically to every cab proprietor in London until they ferreted out the man that I wanted. How well they succeeded, and how quickly I took advantage of it, are still fresh in your recollection. The murder of Stangerson was an incident which was entirely unexpected, but which could hardly in any case have been prevented. Through it, as you know, I came into possession of the pills, the existence of which I had already surmised. You see the whole thing is a chain of logical sequences without a break or flaw.”
“It is wonderful!” I cried. “Your merits should be publicly recognized. You should publish an account of the case. If you won’t, I will for you.”
“You may do what you like, Doctor,” he answered. “See here!” he continued, handing a paper over to me, “look at this!”
It was the Echo for the day, and the paragraph to which he pointed was devoted to the case in question.
“The public,” it said, “have lost a sensational treat through the sudden death of the man Hope, who was suspected of the murder of Mr. Enoch Drebber and of Mr. Joseph Stangerson. The details of the case will probably be never known now, though we are informed upon good authority that the crime was the result of an old standing and romantic feud, in which love and Mormonism bore a part. It seems that both the victims belonged, in their younger days, to the Latter Day Saints, and Hope, the deceased prisoner, hails also from Salt Lake City. If the case has had no other effect, it, at least, brings out in the most striking manner the efficiency of our detective police force, and will serve as a lesson to all foreigners that they will do wisely to settle their feuds at home, and not to carry them on to British soil. It is an open secret that the credit of this smart capture belongs entirely to the well-known Scotland Yard officials, Messrs. Lestrade and Gregson. The man was apprehended, it appears, in the rooms of a certain Mr. Sherlock Holmes, who has himself, as an amateur, shown some talent in the detective line, and who, with such instructors, may hope in time to attain to some degree of their skill. It is expected that a testimonial of some sort will be presented to the two officers as a fitting recognition of their services.”
“Didn’t I tell you so when we started?” cried Sherlock Holmes with a laugh. “That’s the result of all our Study in Scarlet: to get them a testimonial!”
“Never mind,” I answered, “I have all the facts in my journal, and the public shall know them. In the meantime you must make yourself contented by the consciousness of success, like the Roman miser-
“‘Populus me sibilat, at mihi plaudo
Ipse domi simul ac nummos contemplor in arca.’”