CHƯƠNG 10. TRÍCH NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ WATSON

Cho đến lúc này, tôi vẫn có thể trích dẫn từ những bản tường trình mà tôi đã gửi cho Sherlock Holmes trong những ngày đầu. Thế nhưng, giờ đây tôi đã chạm đến một khúc quanh trong câu chuyện của mình - nơi tôi buộc phải rời xa lối kể ấy mà quay về nương tựa vào trí nhớ, với sự trợ giúp của cuốn nhật ký tôi đã chép vào thời điểm đó. Một vài đoạn trích từ cuốn nhật ký sẽ dẫn tôi trở lại những cảnh tượng đã khảm sâu đến từng chi tiết trong tâm trí. Vậy thì, tôi xin tiếp tục kể từ buổi sáng sau cuộc rượt đuổi tên tù vượt ngục bất thành, và những trải nghiệm kỳ lạ khác trên vùng đầm lầy hoang vắng.

Ngày 16 tháng 10. - Một ngày ảm đạm và mù sương, điểm thêm cơn mưa bụi lất phất. Tòa lâu đài bị vây kín trong những đám mây cuồn cuộn trườn qua, thỉnh thoảng lại dâng lên để hé lộ những đường nét cằn cỗi của đầm lầy bên dưới - những mạch nước mỏng manh lấp lóa ánh bạc trên triền đồi, và những tảng đá xa xa nhấp nháy mỗi khi ánh sáng chạm vào bề mặt ướt đẫm của chúng. Bầu không khí thật u sầu, cả trong lẫn ngoài. Ngài nam tước thì chìm trong tâm trạng u ám sau những chấn động của đêm hôm trước. Còn bản thân tôi, một gánh nặng đè lên trái tim, cùng một linh cảm về hiểm họa đang siết chặt vòng vây - thứ hiểm họa luôn rình rập và càng thêm khủng khiếp bởi tôi chẳng thể gọi tên nó ra được.

Nhưng liệu tôi có thiếu lý do để cảm thấy như vậy hay sao? Cứ thử nhìn vào chuỗi dài sự kiện mà xem - tất cả đều chĩa về một thế lực đen tối nào đó đang lẩn khuất giữa chúng tôi. Nào là cái chết của vị chủ nhân cuối cùng của trang viên, ứng nghiệm đến từng chi tiết với những điều kiện trong truyền thuyết gia tộc. Nào là những báo cáo lặp đi lặp lại từ dân làng về sự xuất hiện của một sinh vật kỳ quái trên đầm lầy. Và những hai lần, chính tai tôi đã nghe thấy âm thanh nghe tựa tiếng sủa của một con chó săn vọng lại từ chốn xa xăm. Tin vào chuyện đó ư? Thật khó mà chấp nhận. Làm sao có chuyện nó nằm ngoài những quy luật tự nhiên thông thường cho được. Một con chó săn ma quái - để lại dấu chân bằng xương bằng thịt và lấp đầy không trung bằng tiếng tru thê lương - điều ấy quả thực không thể nào tin nổi. Stapleton có thể tin vào những chuyện mê tín như thế. Mortimer cũng vậy. Nhưng nếu trên đời này tôi có một phẩm chất gì đáng kể, thì đó chính là nhãn quan thực tế, và chẳng điều gì có thể thuyết phục tôi tin vào chuyện hoang đường ấy. Tin vào nó chẳng khác nào hạ mình xuống ngang hàng với những người nông dân tội nghiệp kia - những kẻ không chỉ bằng lòng với một con chó quỷ thông thường, mà còn khăng khăng mô tả nó với ngọn lửa địa ngục phun ra từ miệng và mắt. Holmes sẽ chẳng thèm nghe những chuyện ảo tưởng như vậy, và tôi là người đại diện của anh ấy. Nhưng sự thật vẫn cứ là sự thật - tôi đã hai lần nghe thấy tiếng tru ấy vẳng lên từ đầm lầy. Giả như thực sự có một con chó săn khổng lồ nào đó đang rảo bước trên ấy, thì điều đó ắt sẽ cắt nghĩa được biết bao điều. Nhưng một con chó săn như thế thì ẩn náu ở đâu? Nó kiếm ăn nơi nào? Nó từ đâu mà đến? Và làm sao lại không có ai nhìn thấy nó giữa ban ngày? Phải thú nhận rằng, lối giải thích thuần lý đó cũng chất chứa gần như bấy nhiêu điều khó hiểu so với cách giải thích siêu nhiên kia. Và luôn luôn, bên cạnh con chó săn, còn có một sự thật về bàn tay con người ở London - gã đàn ông trên chiếc xe ngựa, và bức thư cảnh báo Ngài Henry tránh xa đầm lầy. Ít nhất điều này là có thực, chỉ có điều nó hoàn toàn có thể là tác phẩm của một người bạn bảo vệ, cũng như của một kẻ thù. Vậy người bạn hay kẻ thù ấy hiện giờ ở đâu? Hắn có còn ở London không, hay đã theo chân chúng tôi xuống tận chốn này? Liệu có khả năng nào không - liệu có khả năng nào hắn chính là kẻ lạ mặt mà tôi đã nhìn thấy trên đỉnh đồi đá hôm ấy?

Sự thật là tôi chỉ mới liếc thấy hắn đúng một lần, nhưng có vài điều tôi dám chắc như đinh đóng cột. Hắn không phải bất kỳ ai tôi đã gặp ở chốn này - và giờ thì tôi đã gặp hết thảy mọi người hàng xóm quanh đây rồi. Dáng người ấy cao hơn Stapleton rất nhiều, và gầy hơn Frankland rất nhiều. Có lẽ đó là Barrymore chăng? Nhưng chúng tôi đã để ông ta ở lại phía sau, và tôi chắc chắn rằng ông ta không tài nào bám theo chúng tôi được. Vậy là vẫn có một kẻ lạ mặt lẽo đẽo theo dõi chúng tôi, hệt như kẻ lạ mặt đã bám theo chúng tôi ở London. Chúng tôi chưa bao giờ cắt đuôi được hắn. Nếu tôi có thể tóm được gã đàn ông ấy, thì cuối cùng rất có thể chúng tôi sẽ đứng ở điểm kết thúc của mọi rắc rối. Chính vì mục tiêu duy nhất ấy mà giờ đây tôi phải dốc toàn bộ tâm lực của mình.

Ý nghĩ bộc phát đầu tiên của tôi là kể cho Ngài Henry tất cả kế hoạch của mình. Nhưng rồi quyết định thứ hai - cũng là quyết định khôn ngoan hơn cả - chính là tự mình chơi ván cờ riêng và nói càng ít càng tốt với bất kỳ ai. Ngài ấy lúc này đang trầm lặng và mất tập trung. Thần kinh của ngài ấy đã bị chấn động một cách lạ lùng bởi âm thanh kia vọng lên từ đầm lầy. Tôi sẽ không nói thêm điều gì để làm tăng nỗi lo âu trong lòng ngài nữa. Tôi sẽ tự mình thực hiện những bước đi của riêng mình, để đạt được mục đích.

Sáng nay, sau bữa điểm tâm, chúng tôi đã chứng kiến một màn kịch nho nhỏ. Barrymore xin phép được nói chuyện riêng với Ngài Henry, và họ cùng nhau lui vào phòng làm việc. Tôi ngồi lại trong phòng bida, nhưng đã hơn một lần tiếng nói vọng ra mỗi lúc một lớn, đủ để tôi đoán ra khá rõ câu chuyện đang được bàn thảo. Một lát sau, vị nam tước mở cửa và gọi tôi vào. "Barrymore cho rằng ông ta có điều để bất bình," ngài nói. "Ông ta nghĩ thật bất công khi chúng ta săn lùng anh rể của ông ta, trong khi chính ông ta - hoàn toàn tự nguyện - đã tiết lộ bí mật ấy cho chúng ta."

Người quản gia đứng trước mặt chúng tôi, sắc mặt tái nhợt nhưng thần thái hết sức điềm tĩnh.

"Có lẽ tôi đã lỡ lời nóng nảy, thưa ngài," ông ta cất tiếng, "và nếu quả thực như vậy, tôi chắc chắn xin ngài thứ lỗi. Dẫu sao, tôi đã vô cùng sửng sốt khi nghe hai ngài trở về vào sáng nay và biết rằng các ngài đã truy đuổi Selden. Gã tội nghiệp ấy đã có quá đủ thứ để đối phó rồi, đâu cần tôi chất thêm gánh nặng lên dấu vết của hắn."

"Nếu ông tự nguyện nói cho chúng tôi ngay từ đầu, thì mọi chuyện đã khác," vị nam tước đáp. "Ông chỉ chịu nói - hay nói đúng hơn, chính vợ ông mới là người nói - khi sự việc bị ép buộc đến mức ông không thể làm khác được."

"Tôi không nghĩ ngài sẽ lợi dụng điều đó, thưa Ngài Henry - thực lòng tôi không nghĩ vậy."

"Hắn ta là mối nguy cho công chúng. Có những ngôi nhà hẻo lánh nằm rải rác khắp vùng đầm lầy, và hắn là kẻ chẳng từ một thủ đoạn nào. Chỉ cần liếc qua khuôn mặt hắn là đủ thấy. Cứ lấy nhà của anh Stapleton làm ví dụ - chẳng có ai ngoài chính anh ta để bảo vệ nó. Sẽ chẳng ai được an toàn chừng nào hắn chưa bị nhốt sau song sắt."

"Hắn sẽ không đột nhập vào bất kỳ ngôi nhà nào đâu, thưa ngài. Tôi xin lấy danh dự mà đảm bảo với ngài điều đó. Nhưng hắn sẽ chẳng bao giờ quấy rầy thêm một ai trên mảnh đất này nữa. Tôi cam đoan với ngài, thưa Ngài Henry, rằng chỉ trong vài ngày nữa thôi, mọi sắp xếp cần thiết sẽ được hoàn tất và hắn sẽ lên đường sang Nam Mỹ. Vì Chúa, thưa ngài, tôi van xin ngài đừng để cảnh sát biết rằng hắn vẫn còn lẩn khuất trên đầm lầy. Họ đã từ bỏ cuộc truy lùng ở đó rồi, và hắn có thể nằm im cho đến khi con tàu sẵn sàng. Ngài không thể tố giác hắn mà không khiến vợ tôi và tôi lâm vào cảnh khốn cùng. Tôi cầu xin ngài, thưa ngài, đừng nói gì với cảnh sát."

"Anh nghĩ sao, Watson?"

Tôi nhún vai. "Nếu hắn đã rời khỏi đất nước một cách an toàn, thì điều đó hẳn sẽ làm nhẹ gánh cho những người đóng thuế1."

"Nhưng làm sao biết được liệu hắn có còn kịp chặn đường ai đó trước khi đi hay không?"

"Hắn sẽ không làm điều gì điên rồ như vậy đâu, thưa ngài. Chúng tôi đã cung cấp cho hắn mọi thứ hắn có thể cần. Phạm thêm tội chẳng khác nào tự chỉ ra nơi mình đang ẩn náu."

"Nói cũng phải," Ngài Henry gật đầu. "Thôi được rồi, Barrymore -"

"Xin Chúa phù hộ cho ngài, thưa ngài, và cảm ơn ngài từ tận đáy lòng tôi! Nếu hắn bị bắt lại, điều đó sẽ giết chết người vợ tội nghiệp của tôi mất."

"Tôi e rằng chúng ta đang chứa chấp và tiếp tay cho tội ác đấy, Watson? Nhưng sau những gì đã nghe, tôi không nỡ giao nộp gã đàn ông đó, vậy là xong chuyện này. Được rồi, Barrymore, ông có thể lui."

Người đàn ông cất vài lời cảm tạ ngập ngừng rồi quay bước. Nhưng ông ta khựng lại, do dự, rồi quay trở vào.

"Ngài đã quá tốt với chúng tôi, thưa ngài, đến nỗi tôi muốn làm điều tốt nhất có thể cho ngài để đền đáp. Tôi biết một điều, thưa Ngài Henry, và lẽ ra tôi nên nói ra từ trước, nhưng mãi đến sau cuộc điều tra tôi mới phát hiện ra. Tôi chưa từng hé môi nửa lời về điều này với bất kỳ ai. Nó liên quan đến cái chết của Ngài Charles đáng thương."

Vị nam tước và tôi cùng đứng bật dậy. "Ông biết ngài ấy chết như thế nào sao?"

"Không, thưa ngài, tôi không biết điều đó."

"Vậy thì là gì?"

"Tôi biết tại sao ngài ấy lại có mặt ở cổng vào giờ đó. Là để gặp một người phụ nữ."

"Gặp một người phụ nữ! Ngài Charles ư?"

"Vâng, thưa ngài."

"Và tên của người phụ nữ đó?"

"Tôi không thể cho ngài biết tên, thưa ngài, nhưng tôi có thể cho ngài biết các chữ cái viết tắt. Tên viết tắt của cô ấy là L. L."

"Làm sao ông biết được điều này, Barrymore?"

"Chà, thưa Ngài Henry, chú của ngài có nhận được một bức thư vào buổi sáng hôm đó. Ngài ấy vốn nhận rất nhiều thư, bởi ngài là người của công chúng và nổi tiếng vì lòng nhân hậu, khiến bất kỳ ai gặp khó khăn cũng đều vui lòng tìm đến ngài. Nhưng sáng hôm ấy, tình cờ thay, chỉ có duy nhất bức thư này, nên tôi đã chú ý đến nó nhiều hơn. Thư được gửi từ Coombe Tracey, và địa chỉ trên phong bì là nét chữ của một người phụ nữ."

"Và sau đó?"

"Chà, thưa ngài, tôi đã không nghĩ gì thêm về chuyện này, và sẽ chẳng bao giờ nhớ đến nó nếu không có vợ tôi. Chỉ vài tuần trước, bà ấy đang dọn dẹp phòng làm việc của Ngài Charles - căn phòng chưa từng bị xáo trộn kể từ khi ngài qua đời - và bà ấy tìm thấy tro của một bức thư bị đốt trong góc lò sưởi. Phần lớn đã cháy thành từng mảnh vụn, nhưng một mẩu giấy nhỏ - phần cuối của trang thư - vẫn còn dính lại với nhau, và nét chữ vẫn có thể đọc được, dù chỉ là màu xám trên nền đen. Đối với chúng tôi, nó dường như là lời tái bút ở cuối thư, với nội dung: 'Làm ơn, làm ơn, vì ngài là một quý ông, hãy đốt bức thư này, và có mặt ở cổng vào lúc mười giờ.' Phía dưới được ký bằng các chữ cái viết tắt L. L."

"Ông có giữ mẩu giấy đó không?"

"Không, thưa ngài, nó đã vỡ vụn thành từng mảnh ngay khi chúng tôi chạm vào."

"Ngài Charles có từng nhận được bức thư nào khác có cùng nét chữ đó không?"

"Chà, thưa ngài, tôi không đặc biệt chú ý đến thư từ của ngài. Tôi đáng lẽ đã không để ý đến bức thư này, chỉ vì nó tình cờ đến một mình."

"Và ông không có chút manh mối nào về việc L. L. là ai sao?"

"Không, thưa ngài. Cũng mù mờ như ngài vậy. Nhưng tôi kỳ vọng rằng nếu chúng ta có thể tìm ra người phụ nữ đó, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về cái chết của Ngài Charles."

"Tôi không thể hiểu nổi, Barrymore, làm sao ông có thể giấu nhẹm một thông tin quan trọng như vậy."

"Chà, thưa ngài, đó là ngay sau khi rắc rối của chính chúng tôi ập đến. Và còn một lẽ nữa, thưa ngài, cả hai chúng tôi đều vô cùng quý trọng Ngài Charles, và đó cũng là lẽ đương nhiên, vì tất cả những gì ngài đã làm cho chúng tôi. Bới móc chuyện này lên cũng chẳng thể giúp được người chủ đáng thương của chúng tôi, và tốt nhất là nên thận trọng khi có một quý bà dính líu đến vụ việc. Ngay cả những người tốt nhất trong chúng ta cũng -"

"Ông nghĩ điều đó có thể làm tổn hại đến danh tiếng của ngài ấy?"

"Chà, thưa ngài, tôi đã nghĩ rằng chẳng có điều gì tốt đẹp có thể đến từ chuyện đó. Nhưng giờ đây ngài đã đối xử tốt với chúng tôi, và tôi cảm thấy sẽ là bất công với ngài nếu không nói cho ngài tất cả những gì tôi biết về vấn đề này."

"Rất tốt, Barrymore; ông có thể đi." Khi người quản gia đã lui ra, Ngài Henry quay sang tôi. "Chà, Watson, anh nghĩ sao về tia sáng mới này?"

"Dường như nó chỉ khiến bóng tối thêm đen kịt mà thôi."

"Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng nếu chúng ta có thể lần ra dấu vết của L. L., nó sẽ làm sáng tỏ toàn bộ sự việc. Chúng ta đã tiến được đến mức này rồi. Chúng ta biết rằng có một người đang nắm giữ sự thật, chỉ cần tìm ra cô ta mà thôi. Anh nghĩ chúng ta nên làm gì?"

"Hãy báo cho Holmes biết mọi chuyện ngay lập tức. Nó sẽ cung cấp cho anh ấy manh mối mà anh ấy đang tìm kiếm. Tôi nhầm to nếu điều này không đưa anh ấy xuống tận đây."

Tôi lập tức trở về phòng mình và soạn bản báo cáo về cuộc trò chuyện buổi sáng cho Holmes. Tôi thấy rõ rằng dạo này anh ấy hết sức bận rộn, vì những bức thư ngắn ngủi tôi nhận được từ phố Baker thưa thớt và súc tích, không một lời bình luận nào về những thông tin tôi đã gửi, và hầu như chẳng đả động gì đến nhiệm vụ của tôi. Không còn nghi ngờ gì nữa, vụ án tống tiền mà anh ấy đang theo đuổi đã ngốn hết mọi tâm trí của anh. Ấy vậy mà yếu tố mới mẻ này chắc chắn phải thu hút sự chú ý của anh và khơi dậy trở lại mối quan tâm của anh. Tôi ước gì anh ấy có mặt ở đây.

Ngày 17 tháng 10. - Suốt cả ngày hôm nay, mưa trút xuống như thác đổ, ràn rạt trên những tán thường xuân và lộp độp rơi từ mái hiên. Tôi nghĩ đến gã tù vượt ngục ngoài kia, giữa chốn đầm lầy lạnh lẽo hoang vu, không một mái che, không một bàn tay cứu giúp. Tội nghiệp thay cho con người khốn khổ ấy! Dù tội lỗi của hắn có là gì đi nữa, thì những gì hắn đang chịu đựng cũng đủ để chuộc lại phần nào. Rồi tôi lại nghĩ đến một kẻ khác - gương mặt trong cỗ xe ngựa, bóng hình in trên nền trăng bạc. Liệu hắn ta có đang ở ngoài kia, trong cơn đại hồng thủy này không - kẻ bám đuôi lén lút, gã đàn ông của bóng tối?

Vào buổi chiều tối, tôi khoác áo mưa lên người và bước đi thật xa trên vùng đầm lầy sũng nước. Đầu óc tôi ngập tràn những ảo ảnh đen tối, mưa quất vào mặt và gió rít gào bên tai. Cầu Chúa cứu rỗi cho bất kỳ ai lỡ lạc bước vào Đại đầm lầy Grimpen trong lúc này, bởi ngay cả những vùng cao nguyên tưởng chừng vững chãi giờ cũng đang tan ra thành bùn lầy. Tôi tìm thấy ngọn đồi đá đen, nơi tôi từng trông thấy bóng kẻ bám theo cô độc hôm trước, rồi leo lên đỉnh núi đá lởm chởm của nó mà nhìn ra khắp những triền đồi thấp ảm đạm phía xa. Từng cơn gió giật cuốn theo mưa quét xoèn xoẹt trên bề mặt nâu đỏ của chúng, và những đám mây xám đen nặng trĩu lơ lửng treo mình trên toàn cảnh, kéo dài thành những vòng hoa xám xịt vắt ngang sườn những ngọn đồi kỳ quái. Nơi thung lũng xa xa phía tay trái, lấp ló sau màn sương, hai tòa tháp mảnh mai của Trang viên Baskerville vươn lên trên những ngọn cây. Đó là dấu vết duy nhất của sự sống con người mà tôi có thể nhìn thấy, ngoại trừ mấy túp lều thời tiền sử nằm rải rác bên triền đồi. Tuyệt nhiên không một bóng dáng nào của gã đàn ông cô độc mà tôi đã thấy ở chính vị trí này cách đây hai đêm.

Khi tôi thong thả bước về, bác sĩ Mortimer đã vượt qua tôi trên cỗ xe ngựa của ông, đang lọc cọc lăn bánh trên con đường gồ ghề chạy ngang đầm lầy, dẫn từ nông trang hẻo lánh Foulmire trở ra. Ông ấy luôn hết mực quan tâm đến chúng tôi, và hầu như chẳng ngày nào trôi qua mà ông không ghé qua trang viên để hỏi thăm tình hình. Ông nài nỉ tôi trèo lên xe và cho tôi đi nhờ về nhà. Tôi nhận thấy ông đang rất phiền muộn vì chú chó spaniel nhỏ của mình đã mất tích. Nó chạy rong trên đầm lầy rồi chẳng bao giờ quay trở lại. Tôi đã cố an ủi ông hết mức, nhưng trong thâm tâm, tôi nghĩ đến chú ngựa con trên bãi lầy Grimpen2, và tôi chẳng dám mường tượng rằng ông sẽ còn được gặp lại chú chó nhỏ của mình thêm lần nào nữa.

"Nhân tiện này, Mortimer," tôi lên tiếng khi chúng tôi xóc nảy trên con đường gập ghềnh, "tôi đoán là chẳng có mấy ai sống trong phạm vi có thể lái xe đến đây mà ông lại không biết, phải không?"

"Hầu như là không có ai, tôi nghĩ thế."

"Vậy ông có thể cho tôi biết tên của bất kỳ người phụ nữ nào có tên viết tắt là L. L. không?"

Ông trầm ngâm suy nghĩ trong giây lát.

"Không," ông đáp. "Có vài người Di-gan và lao công mà tôi không thể trả lời chắc chắn được, nhưng trong số nông dân hay giới quý tộc thì chẳng có ai mang những chữ cái đầu ấy cả. Mà khoan đã," ông nói thêm sau một thoáng ngập ngừng. "Có Laura Lyons - tên viết tắt của cô ấy là L. L. - nhưng cô ấy sống ở Coombe Tracey."

"Cô ấy là ai vậy?" tôi hỏi.

"Cô ấy là con gái của lão Frankland."

"Cái gì! Lão Frankland lập dị đó sao?"

"Đúng vậy. Cô ấy kết hôn với một họa sĩ tên là Lyons, hắn đến đây để vẽ ký họa trên đầm lầy. Hắn hóa ra là một kẻ đê tiện và đã ruồng bỏ cô ấy. Tuy nhiên, theo những gì tôi nghe được, lỗi lầm có lẽ không hoàn toàn nằm về một phía. Cha cô ấy đã đoạn tuyệt mọi liên hệ với cô, bởi cô đã kết hôn mà không có sự đồng thuận của ông ta, và có lẽ còn vì một vài lý do khác nữa. Thế nên, giữa một bên là lão già tội đồ và một bên là gã trai trẻ, cô gái đáng thương ấy đã phải trải qua những tháng ngày hết sức cơ cực."

"Cô ấy sống bằng cách nào?"

"Tôi đoán là lão Frankland chu cấp cho cô một khoản trợ cấp rẻ mạt, nhưng cũng chẳng thể nhiều hơn, bởi công việc làm ăn của chính lão ta cũng đang bế tắc đáng kể. Dù cô ấy có đáng bị như thế nào đi nữa, người ta cũng không thể đứng nhìn cô ấy trượt dài trong tuyệt vọng mà sa ngã được. Câu chuyện của cô ấy đã lan truyền khắp nơi, và một số người ở đây đã chung tay giúp cô ấy kiếm sống một cách lương thiện. Stapleton đã góp một phần, Ngài Charles cũng góp một phần. Bản thân tôi cũng đóng góp một khoản nhỏ. Số tiền ấy dùng để lập cho cô ấy một công việc đánh máy."

Ông ấy muốn biết mục đích những câu hỏi của tôi, nhưng tôi đã khéo léo xoay sở để thỏa mãn trí tò mò của ông mà không phải tiết lộ quá nhiều, bởi chẳng có lý do gì để chúng tôi lôi kéo thêm bất kỳ ai vào vòng bí mật của mình. Sáng ngày mai, tôi sẽ tìm đường đến Coombe Tracey, và nếu tôi có thể gặp được bà Laura Lyons, người phụ nữ mang tiếng tăm không mấy rõ ràng này, thì một bước tiến dài sẽ được thực hiện trong công cuộc làm sáng tỏ một mắt xích bí ẩn trong toàn bộ vụ án này. Tôi quả thực đang mài giũa sự khôn ngoan của loài rắn3, bởi khi Mortimer dồn dập đặt câu hỏi đến mức bất tiện, tôi đã thản nhiên hỏi lại ông rằng hộp sọ của lão Frankland thuộc loại hình gì, và thế là chúng tôi chẳng nghe thấy gì khác ngoài môn sọ não học trong suốt quãng đường còn lại. Tôi đã không sống cùng Sherlock Holmes ngần ấy năm trời mà không học được điều gì.

Tôi chỉ còn một sự kiện nữa cần ghi lại trong cái ngày giông bão và u ám này. Đó là cuộc trò chuyện vừa rồi của tôi với Barrymore, và nó đã trao vào tay tôi thêm một lá bài mạnh để ra đúng thời điểm.

Mortimer ở lại dùng bữa tối, rồi ông cùng ngài nam tước chơi bài écarté4 sau đó. Khi người quản gia mang cà phê vào thư viện cho tôi, tôi liền nắm ngay cơ hội để hỏi ông ta vài câu.

"Này," tôi lên tiếng, "cái ông họ hàng quý hóa của ông đã rời đi chưa, hay hắn vẫn còn lẩn khuất đâu đó ngoài kia?"

"Tôi không rõ, thưa ngài. Tôi cầu trời cho hắn đi rồi, bởi hắn chẳng mang lại điều gì ngoài rắc rối cho nơi này! Tôi không nghe ngóng được gì về hắn kể từ lần cuối tôi để thức ăn lại, cách đây đã ba ngày rồi."

"Lần đó ông có trông thấy hắn không?"

"Không, thưa ngài, nhưng lần sau khi tôi đi ngang qua lối ấy, thức ăn đã biến mất."

"Vậy thì chắc chắn hắn vẫn ở đó?"

"Ngài ắt sẽ nghĩ thế, thưa ngài, trừ phi có một gã đàn ông khác đã lấy mất."

Tôi khựng tách cà phê lưng chừng môi và chăm chăm nhìn Barrymore.

"Vậy là ông biết có một người đàn ông khác ư?"

"Vâng, thưa ngài; có một kẻ khác ngoài đầm lầy."

"Ông đã trông thấy hắn chưa?"

"Chưa, thưa ngài."

"Thế làm sao ông biết về hắn?"

"Selden kể cho tôi nghe, thưa ngài, khoảng một tuần trước hoặc hơn. Hắn ta cũng đang ẩn trốn, nhưng theo như tôi nhận ra thì hắn không phải tù vượt ngục. Tôi không thích điều này chút nào, thưa bác sĩ Watson - tôi xin nói thẳng với ngài, thưa ngài, tôi không thích điều đó." Ông ta thốt lên bằng một niềm tha thiết chân thành đột ngột.

"Nào, hãy nghe tôi đây, Barrymore! Tôi không có mục đích gì trong chuyện này ngoài quyền lợi của chủ nhân ông. Tôi đến đây chỉ với một lý do duy nhất là giúp đỡ ngài ấy. Hãy nói cho tôi biết, một cách thẳng thắn, điều gì khiến ông bất an."

Barrymore lưỡng lự một lát, như thể ông ta hối hận vì đã lỡ lời, hoặc thấy khó khăn để thổ lộ cảm xúc của chính mình.

"Chính là tất cả những chuyện đang diễn ra, thưa ngài," cuối cùng ông ta kêu lên, vẫy tay về phía cánh cửa sổ đang bị mưa quất dữ dội, trông thẳng ra đầm lầy. "Có một trò mờ ám nào đó đang diễn ra, và có một âm mưu đen tối đang dần thành hình, tôi xin thề là như thế! Tôi sẽ rất mừng, thưa ngài, khi được thấy Ngài Henry quay về London một lần nữa!"

"Nhưng điều gì khiến ông lo sợ đến vậy?"

"Hãy nhìn cái chết của Ngài Charles mà xem! Chuyện đó đã đủ tồi tệ rồi, bất kể viên điều tra viên đã kết luận ra sao. Rồi hãy nghe những âm thanh trên đầm lầy vào ban đêm. Chẳng có người đàn ông nào dám băng qua đó sau khi mặt trời lặn, dù có trả tiền cho hắn đi nữa. Lại còn cái kẻ lạ mặt đang ẩn nấp ngoài kia, theo dõi và chờ đợi. Hắn đang chờ điều gì? Chuyện này có ý nghĩa gì? Chẳng có điềm lành nào cho bất kỳ ai mang dòng họ Baskerville cả, và tôi sẽ vô cùng mãn nguyện được trút bỏ tất cả vào cái ngày những người hầu mới của Ngài Henry sẵn sàng tiếp quản trang viên."

"Nhưng về kẻ lạ mặt này," tôi nói. "Ông có thể cho tôi biết gì về hắn không? Selden đã nói những gì? Hắn có phát hiện ra nơi gã trú ẩn, hay gã đang làm gì không?"

"Hắn đã bắt gặp gã một hoặc hai lần, nhưng gã này thâm sâu lắm, không để lộ tí gì. Thoạt đầu, hắn tưởng gã là cảnh sát, nhưng chẳng mấy chốc hắn vỡ ra rằng gã có một mưu đồ riêng. Gã thuộc hạng người quý phái, theo như những gì hắn quan sát được, nhưng gã đang làm gì thì hắn hoàn toàn không thể hiểu nổi."

"Và hắn nói gã sống ở đâu?"

"Trong đám nhà cũ trên sườn đồi - mấy túp lều đá nơi người cổ đại từng trú ngụ."

"Thế còn thức ăn của gã thì sao?"

"Selden phát hiện ra gã có một thằng nhỏ làm việc cho gã, mang đến mọi thứ gã cần. Tôi dám chắc gã xuống tận Coombe Tracey để lấy những gì mình muốn."

"Tốt lắm, Barrymore. Chúng ta có thể nói thêm về chuyện này vào lúc khác." Khi người quản gia đã lui ra, tôi bước đến bên khung cửa sổ tối đen, nhìn xuyên qua lớp kính mờ ảo ra những đám mây đang cuồn cuộn trôi và hình bóng nghiêng ngả của những thân cây bị gió quần. Đó quả là một đêm hoang dại ngay cả khi ở trong nhà - huống chi là trong một túp lều đá giữa đầm lầy. Một lòng hận thù cuồng si nào đã xui khiến một gã đàn ông phải ẩn mình ở một nơi như thế trong thời tiết như thế! Và một mục đích sâu xa, khẩn thiết đến nhường nào mới đòi hỏi một thử thách khắc nghiệt đến vậy! Ngay tại đó, trong căn chòi trên đầm lầy kia, dường như chính là tâm điểm của vấn đề đã khiến tôi vô cùng khắc khoải. Tôi thề rằng sẽ không để một ngày nào nữa trôi qua trước khi tôi làm tất cả những gì con người có thể làm để chạm tới trái tim của bí ẩn.



  1. Chi phí để duy trì nhà tù, nuôi giữ và truy nạp tội phạm ở Anh được trích từ ngân sách quốc gia do người dân đóng thuế. 

  2. Bãi lầy Grimpen (Grimpen Mire) là một khu vực hư cấu dựa trên những bãi lầy (bog) nguy hiểm có thật ở vùng Dartmoor, nước Anh. Những nơi này bề ngoài trông có vẻ vững chãi nhưng bên dưới là lớp bùn lầy sâu thẳm, có thể nuốt chửng con người và động vật bất cẩn bước vào. 

  3. Cụm từ này lấy cảm hứng từ một câu Kinh Thánh (Ma-thi-ơ 10:16): 'khôn ngoan như rắn và đơn sơ như chim bồ câu', ám chỉ sự khôn khéo, mưu trí và biết cách đánh lạc hướng khôn ngoan trong những tình huống khó khăn để đạt được mục đích mà không làm lộ bí mật. 

  4. Écarté là một trò chơi đánh bài truyền thống của Pháp dành cho hai người, rất phổ biến trong giới thượng lưu ở Anh thời bấy giờ. Trò chơi này đòi hỏi sự tính toán và kỹ năng chiến thuật, thường được các quý ông chơi để giải trí hoặc cá cược sau bữa tối.