CHƯƠNG 2. LỜI NGUYỀN CỦA DÒNG HỌ BASKERVILLE
“Tôi có mang theo trong túi áo một bản thảo,” Bác sĩ James Mortimer lên tiếng.
“Tôi đã nhận ra nó ngay từ lúc ông vừa bước vào phòng,” Holmes đáp.
“Một bản thảo đã cũ lắm rồi.”
“Đầu thế kỷ mười tám, trừ phi đó là đồ giả mạo.”
“Làm sao ngài có thể biết được điều ấy, thưa ngài?”
“Ông đã vô tình để lộ ra chừng một hai inch mép giấy cho tôi quan sát suốt quãng thời gian ông trò chuyện. Một chuyên gia mà không đoán nổi niên đại của một văn kiện trong phạm vi chục năm thì quả là kém cỏi. Có lẽ ông đã từng đọc qua chuyên khảo nho nhỏ của tôi về đề tài này rồi. Tôi phỏng đoán nó rơi vào khoảng năm 1730.”
“Niên đại chính xác là năm 1742.” Bác sĩ Mortimer rút bản thảo ra khỏi túi áo ngực. “Văn kiện gia tộc này đã được Ngài Charles Baskerville ủy thác cho tôi trông nom. Cái chết đột ngột và đầy bi thương của ngài ấy cách nay chừng ba tháng đã làm dấy lên bao xôn xao khắp vùng Devonshire. Có thể nói tôi vừa là bạn tâm giao, vừa là thầy thuốc riêng của ngài ấy. Ngài là một con người có ý chí kiên cường, thưa ngài, sắc sảo, thực tế, và cũng là một người chẳng có chút trí tưởng tượng nào, y hệt như tôi vậy. Ấy vậy mà ngài lại hết sức coi trọng bản thảo này, và dường như tâm trí ngài đã sẵn sàng đón nhận một kết cục y hệt như những gì cuối cùng đã giáng xuống ngài.”
Holmes đưa tay đón lấy bản thảo, nhẹ nhàng vuốt phẳng nó trên đầu gối. “Anh sẽ thấy đấy, Watson, cách người xưa dùng luân phiên chữ s dài và chữ s ngắn1. Đó là một trong số ít những dấu hiệu giúp tôi định vị niên đại.”
Tôi nghiêng người nhìn qua vai anh, dõi mắt vào tờ giấy ố vàng cùng những dòng chữ đã nhạt nhòa theo năm tháng. Nơi góc trên có ghi: “Trang viên Baskerville”, và ngay bên dưới là những con số to, nguệch ngoạc: “1742.”
“Trông giống như một bản tường trình thì phải.”
“Đúng thế, một bản tường trình về một truyền thuyết nào đó vẫn được lưu truyền trong dòng họ Baskerville.”
“Nhưng tôi hiểu rằng có một chuyện gì đó mang tính thời sự và thực tiễn hơn mà ông muốn tham vấn tôi?”
“Hết sức thời sự. Một vấn đề vô cùng thực tiễn, cấp bách, buộc phải đi đến quyết định trong vòng hai mươi bốn giờ tới. Thế nhưng bản thảo này khá ngắn gọn và lại có mối liên hệ mật thiết với vụ việc. Nếu được ngài cho phép, tôi xin đọc lên cho ngài nghe.”
Holmes tựa lưng vào ghế, chụm các đầu ngón tay vào nhau rồi nhắm mắt lại với vẻ cam chịu. Bác sĩ Mortimer xoay bản thảo về phía ánh sáng, bắt đầu cất giọng the thé, rè rè đọc lên câu chuyện cổ xưa kỳ lạ sau đây:
“Về nguồn gốc của Con Chó Săn nhà Baskerville, thiên hạ đã kể lại bằng nhiều giọng khác nhau. Nhưng bởi cha là dòng dõi trực hệ của Hugo Baskerville, và bởi cha đã nghe câu chuyện này từ chính ông nội các con - người cũng nghe lại từ cha của ông - nên cha chép ra đây với trọn niềm tin rằng mọi sự đã xảy ra đúng như những gì được trình bày. Cha mong các con hãy tin điều này, hỡi các con yêu quý của cha, rằng cũng chính Công lý từng trừng phạt tội lỗi, lại có thể khoan dung mà thứ tha cho nó. Chẳng có lời nguyền nào nặng nề đến mức không thể rửa sạch bằng lời cầu nguyện và sự sám hối. Vậy nên, hãy rút ra bài học từ câu chuyện này: đừng sợ hãi những hậu quả của quá khứ, nhưng hãy thận trọng trong tương lai, kẻo những dục vọng xấu xa - thứ đã khiến gia tộc ta chịu quá nhiều đau khổ - một lần nữa được thả rông mà làm hại chúng ta.
“Vậy thì, hãy biết rằng vào thời kỳ Cuộc Đại Nổi Loạn2 (lịch sử về cuộc nổi loạn này do học giả Lord Clarendon chấp bút, cha rất chân thành khuyên các con nên chú tâm đọc lấy), Trang viên Baskerville này được cai quản bởi Hugo - kẻ mang chính cái tên ấy. Và không ai có thể phủ nhận rằng hắn là một kẻ hoang dại, báng bổ và vô thần đến tột cùng. Sự thực thì, những người láng giềng của hắn có lẽ đã bỏ qua cho điều ấy, bởi các vị thánh chưa từng một lần xuất hiện nơi miền đất này. Nhưng trong con người hắn còn chất chứa một thứ hài hước độc ác và ngông cuồng, khiến tên tuổi hắn trở thành câu cửa miệng khắp miền Tây. Rồi chuyện xảy ra, Hugo này đem lòng yêu - nếu quả thực một dục vọng đen tối như thế có thể được gọi bằng cái tên sáng sủa như vậy - con gái của một tá điền có đất đai nằm sát kề điền trang Baskerville. Nhưng cô gái trẻ, vốn kín đáo và có tiếng thơm về đức hạnh, luôn tránh mặt hắn, bởi nàng khiếp sợ cái tên độc ác ấy. Vậy rồi, vào đúng dịp lễ Michaelmas3, Hugo cùng năm sáu tên bạn bè rỗi rãi và xấu xa đã lẻn xuống trang trại, bắt cóc cô gái - bởi hắn biết rõ cha và các anh trai nàng đều vắng nhà. Khi cả bọn đưa được nàng về Trang viên, cô gái bị nhốt trong một căn phòng trên lầu, trong khi Hugo và đám bạn ngồi xuống bắt đầu cuộc chè chén kéo dài, như cái thói quen hàng đêm của chúng. Lúc ấy, cô gái đáng thương trên lầu gần như phát điên bởi tiếng hát hò, tiếng la hét và những lời chửi thề tục tĩu vọng lên từ phía dưới. Người ta kể rằng những lời Hugo Baskerville thốt ra lúc say rượu có thể làm bất cứ ai nghe phải đều kinh hãi. Cuối cùng, trong cơn kìm kẹp của nỗi sợ, nàng đã làm một việc khiến ngay cả kẻ đàn ông dũng cảm hay lanh lợi nhất cũng phải chùn bước. Nhờ những nhánh thường xuân mọc phủ kín - và vẫn còn phủ kín đến tận ngày nay - bức tường phía nam, nàng đã trèo xuống từ dưới mái hiên, rồi cứ thế chạy băng qua đầm lầy để về nhà. Khoảng cách từ Trang viên đến trang trại của cha nàng là ba dặm.
“Số là, ít lâu sau, Hugo rời khỏi đám khách để mang đồ ăn thức uống - cùng có lẽ với những thứ tồi tệ khác - cho kẻ bị giam cầm của mình. Thế rồi hắn phát hiện chiếc lồng đã trống rỗng, con chim đã bay mất. Ngay lập tức, dường như hắn đã trở thành một kẻ bị quỷ ám. Hắn lao xuống cầu thang, xông vào phòng ăn, nhảy phốc lên chiếc bàn lớn khiến bình rượu và đĩa bát văng bay tứ tung. Trước mặt tất cả những kẻ có mặt, hắn gào lên rằng hắn nguyện dâng hiến cả thể xác lẫn linh hồn mình cho Quỷ Dữ ngay trong đêm đó, nếu hắn có thể đuổi kịp con ả kia. Đám ăn chơi đứng chết trân trước cơn thịnh nộ của hắn, cho đến khi một kẻ - có lẽ xấu xa hơn, hoặc say xỉn hơn những kẻ khác - hét lên rằng phải thả chó săn ra đuổi theo nàng ngay. Nghe thế, Hugo chạy vụt ra khỏi nhà, gào gọi đám người giữ ngựa bảo chúng phải thắng yên cho con ngựa cái của hắn và thả bầy chó săn khỏi chuồng. Hắn ném cho lũ chó chiếc khăn tay của cô gái, rồi hướng chúng theo dấu vết. Cả bầy vừa sủa vang vừa lao đi dưới ánh trăng, băng qua đầm lầy.
“Trong giây lát, đám ăn chơi đứng há hốc mồm, không sao hiểu nổi tất cả những gì vừa xảy ra trong cơn hối hả ấy. Nhưng rồi, những cái đầu lờ đờ vì rượu dần nhận ra bản chất của sự việc sắp diễn ra trên vùng đầm lầy. Mọi thứ bỗng trở nên náo loạn: kẻ gọi súng lục, kẻ đòi ngựa, kẻ lại đòi thêm một bình rượu nữa. Cuối cùng, một chút tỉnh táo cũng quay về với những bộ óc điên cuồng. Tất cả bọn chúng, tổng cộng mười ba tên, leo lên ngựa và bắt đầu cuộc đuổi theo. Mặt trăng chiếu rực rỡ trên đầu họ. Chúng cưỡi ngựa lao đi sát cánh bên nhau, men theo hướng mà cô gái ắt phải đi, nếu nàng muốn về đến nhà.
“Đi được một hoặc hai dặm, chúng gặp một người chăn cừu đêm trên đầm lầy, và cùng nhau hét lên hỏi lão có thấy cuộc đi săn hay không. Người đàn ông ấy, theo như câu chuyện kể lại, đã sợ hãi đến mức gần như không thể nói nên lời. Mãi sau, lão mới thốt lên rằng, quả thực lão đã thấy cô gái bất hạnh, với bầy chó săn bám sát gót nàng. ‘Nhưng tôi còn thấy nhiều hơn thế,’ lão nói, ‘bởi Hugo Baskerville đã vượt qua tôi trên con ngựa cái đen của ông ta. Và này, chạy lặng lẽ phía sau ông ta là một con chó săn của chốn địa ngục. Cầu Chúa đừng bao giờ để nó ở đằng sau gót chân tôi!’ Nghe vậy, những gã điền chủ say khướt chửi rủa người chăn cừu rồi tiếp tục cưỡi ngựa tiến lên. Nhưng chẳng mấy chốc, da thịt chúng bỗng lạnh toát. Một tiếng vó ngựa phi nước đại vọng qua đầm lầy, và con ngựa cái đen, mình đẫm bọt trắng, chạy vụt ngang qua với dây cương lủng lẳng, yên ngựa trống không. Lúc này, đám ăn chơi cưỡi ngựa xích sát vào nhau, bởi một nỗi sợ lớn đang bủa vây lấy chúng. Dẫu vậy, chúng vẫn tiếp tục tiến qua đầm lầy, mặc dù mỗi kẻ, nếu đi một mình, ắt sẽ mừng rỡ mà quay đầu ngựa chạy trốn. Cứ cưỡi ngựa chầm chậm như thế, cuối cùng chúng cũng đuổi kịp bầy chó săn. Dù nổi tiếng về lòng dũng cảm và nòi giống, cả bầy chó lúc này đang rên rỉ, co cụm vào nhau ở rìa một hố sâu - hay khe nứt, như cách người ta vẫn gọi - trên đầm lầy. Vài con lảng vảng bỏ đi, vài con khác, với lớp lông dựng đứng và đôi mắt trợn trừng, đang chăm chăm nhìn xuống thung lũng hẹp trước mặt.
“Cả nhóm dừng lại. Bọn đàn ông lúc này đã tỉnh táo hơn lúc mới khởi hành, như bạn có thể mường tượng. Phần đông không muốn tiến thêm một bước nào nữa. Nhưng ba kẻ trong số đó, những kẻ táo bạo nhất - hoặc có lẽ là say xỉn nhất - đã thúc ngựa tiến xuống khe nứt. Ở dưới ấy, một khoảng không gian rộng lớn mở ra. Tại đó có hai tảng đá lớn vẫn còn sừng sững đến tận ngày nay, được dựng lên bởi một dân tộc xa lạ nào đó đã bị lãng quên từ thuở xa xưa. Mặt trăng chiếu sáng vằng vặc trên khoảng đất trống, và ở chính giữa, cô gái bất hạnh nằm đó, nơi nàng đã ngã gục, chết vì sợ hãi và kiệt sức. Nhưng không phải cảnh tượng thi thể nàng, cũng chẳng phải cảnh Hugo Baskerville nằm chết gần bên, đã làm dựng tóc gáy ba kẻ ồn ào liều lĩnh ấy. Mà chính là thứ đang đứng trên người Hugo, cấu xé cổ họng hắn - một con thú đen láy hôi hám, to lớn, mang hình dáng một con chó săn, nhưng lại lớn hơn bất kỳ con chó săn nào mắt người trần tục từng nhìn thấy. Và ngay khi chúng còn đang trố mắt nhìn, sinh vật ấy xé toạc cổ họng Hugo Baskerville, rồi quay đôi mắt rực lửa cùng cái hàm nhỏ dãi về phía chúng. Ba gã đàn ông hét lên khiếp đảm, quay ngựa chạy thục mạng, vẫn gào thét vang vọng khắp đầm lầy. Người ta kể rằng, một gã đã chết ngay trong đêm đó vì những gì hắn chứng kiến, còn hai kẻ kia thì chỉ còn là những cái xác không hồn trong suốt quãng đời còn lại.
“Đó là câu chuyện, hỡi các con của cha, về sự xuất hiện của con chó săn mà từ đó đến nay được cho là đã hành hạ gia tộc ta một cách khủng khiếp. Sở dĩ cha chép lại điều này, là bởi những gì được biết rõ ràng bao giờ cũng ít gây kinh hoàng hơn những điều chỉ được ám chỉ hay phỏng đoán. Cũng không thể phủ nhận rằng nhiều người trong gia tộc đã không có được cái kết êm đẹp, những cái chết đã đến một cách đột ngột, đẫm máu và đầy bí ẩn. Dầu sao, chúng ta vẫn có thể nương tựa vào lòng nhân từ vô hạn của Chúa Trời, Đấng sẽ không mãi mãi trừng phạt những người vô tội vượt quá thế hệ thứ ba hay thứ tư, như lời cảnh báo trong Kinh Thánh. Hỡi các con của cha, cha xin giao phó các con cho Chúa Trời, và khuyên các con như một lời cảnh giác rằng hãy kiềm chế, đừng băng qua đầm lầy vào những giờ tối tăm khi sức mạnh của cái ác đang trỗi dậy.
“[Lời này từ Hugo Baskerville gửi đến hai con trai Rodger và John, cùng chỉ thị rằng chúng không được nói bất cứ điều gì về chuyện này với em gái Elizabeth.]”
Khi Bác sĩ Mortimer đọc xong câu chuyện kỳ lạ ấy, ông đẩy cặp kính lên trán và nhìn chằm chằm vào Sherlock Holmes. Còn Holmes thì ngáp dài rồi ném mẩu thuốc lá đang hút dở vào lò sưởi.
“Sao nào?” anh nói.
“Ngài không thấy nó thú vị ư?”
“Đối với một người sưu tầm truyện cổ tích thì có.”
Bác sĩ Mortimer rút từ trong túi ra một tờ báo được gấp gọn gàng.
"Thưa ngài Holmes, giờ tôi sẽ đưa cho ngài một thứ có phần mới mẻ hơn. Đây là tờ Devon County Chronicle ra ngày 14 tháng Năm năm nay. Trong đó có một bài tường thuật ngắn gọn về những tình tiết được hé lộ xung quanh cái chết của Ngài Charles Baskerville, xảy ra chỉ ít ngày trước đó."
Bạn tôi khẽ nghiêng người về phía trước, nét mặt trở nên tập trung cao độ. Vị khách chỉnh lại cặp kính và bắt đầu đọc:
"Sự ra đi đột ngột của Ngài Charles Baskerville mới đây - người từng được nhắc đến như một ứng cử viên sáng giá của Đảng Tự do cho khu vực Mid-Devon trong kỳ bầu cử sắp tới - đã ném một bóng đen u ám xuống khắp cả vùng quận. Dù thời gian Ngài Charles cư trú tại Trang viên Baskerville chưa phải là dài, nhưng bản tính hòa nhã cùng tấm lòng hào phóng vô bờ của ông đã chiếm trọn tình cảm và sự kính trọng của hết thảy những ai từng có dịp tiếp xúc. Giữa thời buổi mà những kẻ mới nổi mọc lên như nấm này, thực là một điều tươi mát hiếm hoi khi bắt gặp một trường hợp: hậu duệ của một dòng họ lâu đời trong vùng, sau bao phen sa sút, đã tự tay gây dựng lại cơ đồ và mang của cải ấy trở về quê hương để phục hưng sự huy hoàng đã tàn của gia tộc mình. Ai ai cũng biết, Ngài Charles đã kiếm được cả một gia tài kếch xù từ những phi vụ đầu cơ ở Nam Phi. Khôn ngoan hơn những kẻ cứ mải miết lao theo vòng quay cho đến khi bánh xe số phận quay lưng, ông đã kịp thời chốt lời và mang tất thảy trở về nước Anh. Mới chỉ hai năm kể từ ngày ông đặt chân đến Trang viên Baskerville, người ta vẫn thường xì xào về những kế hoạch tái thiết và cải tạo đầy tham vọng của ông - những giấc mơ giờ đây đã bị cái chết cắt ngang. Không con cái, ước nguyện mà ông từng công khai bày tỏ là toàn bộ miền quê này, ngay trong đời ông, sẽ được hưởng lộc từ vận may của ông, và biết bao người hẳn có lý do riêng để thương tiếc cho một kết thúc đến quá sớm. Những món quà hào phóng ông dành cho các tổ chức từ thiện địa phương và toàn quận đã hơn một lần được ghi nhận trên chính những trang báo này.
"Không thể nói rằng các tình tiết quanh cái chết của Ngài Charles đã được phơi bày trọn vẹn dưới ánh sáng của cuộc điều tra. Tuy nhiên, ít nhất cũng đã có đủ chứng cứ để dập tắt những lời đồn đại mà sự mê tín địa phương đã thêu dệt nên. Không có lý do gì để nghi ngờ có bàn tay khuất tất, hay để tưởng tượng rằng cái chết này đến từ bất cứ nguyên nhân nào khác ngoài tự nhiên. Ngài Charles là một người góa vợ, và có thể nói, ở một phương diện nào đó, ông mang những thói quen tinh thần khá lập dị. Dù sở hữu khối tài sản đáng kể, lối sống và nhu cầu cá nhân của ông lại vô cùng giản dị. Những người hầu trong nhà tại Trang viên Baskerville chỉ vỏn vẹn một cặp vợ chồng tên Barrymore - người chồng giữ vai trò quản gia, còn người vợ đảm nhiệm việc nội trợ. Lời khai của họ, được củng cố bởi lời chứng của một số bạn bè, đều cho thấy sức khỏe của Ngài Charles đã suy giảm một thời gian. Đặc biệt, họ chỉ ra một chứng bệnh tim mạch nào đó, biểu hiện qua sắc da đổi màu, hơi thở khó nhọc và những cơn trầm cảm thần kinh cấp tính. Bác sĩ James Mortimer, vừa là bạn vừa là y sĩ riêng của người đã khuất, cũng đã đưa ra những bằng chứng cùng ý nghĩa ấy.
"Sự thực của vụ việc thì rất đơn giản. Ngài Charles Baskerville có thói quen mỗi đêm, trước khi đi ngủ, đi dạo dọc theo lối đi rợp bóng thủy tùng trứ danh của Trang viên Baskerville. Lời khai của vợ chồng Barrymore đã xác nhận điều này. Vào ngày mùng 4 tháng Năm, Ngài Charles tuyên bố ý định sẽ khởi hành đi London vào hôm sau, và đã sai Barrymore chuẩn bị hành lý cho ông. Đêm hôm ấy, ông ra ngoài như thường lệ để thực hiện cuộc tản bộ đêm quen thuộc - trong suốt quãng thời gian đó, ông thường hút một điếu xì gà. Ông đã không bao giờ trở lại. Vào lúc mười hai giờ đêm, quản gia Barrymore nhận thấy cửa sảnh chính vẫn còn mở, bèn trở nên hoảng hốt. Ông thắp một chiếc đèn lồng và lên đường tìm kiếm chủ nhân. Hôm ấy trời mưa, những dấu chân của Ngài Charles dễ dàng được lần theo suốt dọc lối đi. Ngang lưng chừng lối đi ấy có một cánh cổng dẫn ra phía đầm lầy. Nhiều dấu hiệu cho thấy Ngài Charles đã dừng lại nơi đây một lát. Sau đó, ông tiếp tục men theo lối đi, và ở tận cùng lối đi, thi thể ông đã được tìm thấy. Một chi tiết chưa từng được giải thích nằm ở lời khai của Barrymore: dấu chân của chủ nhân đã thay đổi tính chất kể từ lúc ông bước qua cánh cổng đầm lầy - và dường như từ thời điểm ấy trở đi, ông chỉ còn bước đi bằng đầu ngón chân. Có một người tên Murphy, một tay Digan buôn ngựa, đang lảng vảng trên đầm lầy cách đó không xa vào thời điểm xảy ra sự việc, nhưng theo lời y tự thú, y dường như đã quá chén. Y khai rằng có nghe thấy những tiếng kêu la, song không thể nói rõ chúng vọng đến từ hướng nào. Không một dấu hiệu bạo lực nào được tìm thấy trên cơ thể Ngài Charles. Và dù chứng cứ y khoa do bác sĩ cung cấp có chỉ ra một sự biến dạng khôn xiết trên gương mặt - dữ dội đến nỗi thoạt đầu chính bác sĩ Mortimer đã từ chối tin rằng người nằm trước mặt mình thực sự là bạn và cũng là bệnh nhân của ông - thì điều ấy đã được giải thích như một triệu chứng không hề hiếm gặp trong những ca khó thở và tử vong do suy tim. Lời giải thích này được củng cố thêm bởi kết quả khám nghiệm tử thi, cho thấy căn bệnh mãn tính nội tạng đã tồn tại từ lâu. Bồi thẩm đoàn của nhân viên điều tra đã đưa ra một phán quyết phù hợp với các chứng cứ y khoa. Thực là may khi sự việc được giải quyết như vậy, bởi hiển nhiên điều quan trọng bậc nhất lúc này là người thừa kế của Ngài Charles sớm về an cư tại Trang viên và tiếp nối những công việc tốt đẹp đã bị gián đoạn một cách đầy đáng tiếc. Nếu như phán quyết thuần lý trí ấy của nhân viên điều tra không đủ sức chấm dứt hoàn toàn những câu chuyện hoang đường đã len lỏi trong những lời thì thầm về vụ việc, thì có lẽ Trang viên Baskerville sẽ khó lòng tìm được ai thuê. Được biết, người thân cận nhất là Ngài Henry Baskerville, nếu anh ta còn sống - con trai của người em trai quá cố của Ngài Charles. Chàng thanh niên này lần cuối cùng được nghe tin tức là đang ở Mỹ, và những cuộc tìm kiếm đang được tiến hành nhằm thông báo cho anh ta về vận may vừa bất ngờ ghé thăm mình."
Bác sĩ Mortimer gấp tờ báo lại, cất vào túi áo. "Đó là toàn bộ những sự thật đã được công khai, thưa ngài Holmes, liên quan đến cái chết của Ngài Charles Baskerville."
"Tôi phải cảm ơn ông," Sherlock Holmes đáp, "vì đã lưu tâm tôi đến một vụ án mang trong mình không ít tình tiết lý thú. Hồi ấy tôi cũng có lướt qua vài dòng bình luận trên báo, nhưng lúc đó tôi đang mải miết với vụ những bức chạm khắc ngọc ở Vatican. Lòng sốt sắng muốn làm vừa lòng Đức Giáo Hoàng đã khiến tôi lỡ mất vài vụ án đáng chú ý ngay trên đất Anh. Vậy tờ báo này, theo lời ông, đã chứa tất cả những sự thật công khai rồi?"
"Đúng vậy."
"Thế thì xin ông hãy kể cho tôi nghe những bí mật riêng tư." Holmes ngả lưng ra ghế, những đầu ngón tay chụm vào nhau, gương mặt khoác lên vẻ trầm tĩnh và đầy suy xét nhất của mình.
"Khi làm điều này," bác sĩ Mortimer nói, và giờ đây những dấu hiệu của một nỗi xúc động mạnh mẽ đã bắt đầu hiện rõ nơi ông, "tôi đang thổ lộ điều mà mình chưa từng tâm sự với bất kỳ ai. Động cơ khiến tôi giấu kín chuyện này trước cuộc điều tra của nhân viên điều tra cái chết bất thường, ấy là: một người làm khoa học như tôi ắt sẽ ngần ngại khi tự đặt mình vào thế công khai tán đồng một điều mê tín chốn dân gian. Tôi còn một động cơ nữa - Trang viên Baskerville, như tờ báo đã nói, ắt hẳn sẽ không còn bóng người lai vãng nếu có thêm bất cứ điều gì khiến cho cái danh tiếng vốn đã rùng rợn của nó càng trở nên đáng sợ hơn. Vì hai lẽ đó, tôi tự nhủ mình có lý khi không nói ra hết những gì mình biết, bởi chẳng ích lợi thiết thực gì có thể rút ra từ đó. Nhưng với ngài thì tôi chẳng có lý do chi mà không hoàn toàn thẳng thắn.
"Vùng đầm lầy dân cư rất thưa thớt, và những ai sống gần nhau thì lại vô cùng thân thiết. Chính vì vậy mà tôi đã gặp gỡ Ngài Charles Baskerville khá nhiều. Ngoại trừ ông Frankland ở Lafter Hall cùng ông Stapleton, nhà tự nhiên học, thì trong vòng nhiều dặm quanh đó chẳng còn người đàn ông có học thức nào khác. Ngài Charles vốn sống ẩn dật, thế nhưng cơ may từ chính căn bệnh của ông đã đưa chúng tôi lại gần nhau, và mối quan tâm chung về khoa học thì lại giữ chúng tôi ở bên nhau như thế. Ông đã mang về rất nhiều tư liệu khoa học quý giá từ Nam Phi, và biết bao buổi tối thú vị chúng tôi đã dành cho nhau để thảo luận về giải phẫu học so sánh giữa người Bushman và người Hottentot4.
"Trong vòng mấy tháng gần đây, tôi ngày càng thấy rõ hệ thần kinh của Ngài Charles đã bị dồn nén đến mức cực hạn. Cái truyền thuyết mà tôi đã đọc cho ngài nghe đã khắc sâu vào tâm trí ông một cách mãnh liệt - mãnh liệt đến nỗi, dù ông vẫn thường tản bộ trong khuôn viên trang viên của mình, chẳng có gì có thể thuyết phục ông bước chân ra ngoài đầm lầy lúc màn đêm buông xuống. Nghe có vẻ khó tin, thưa ngài Holmes, nhưng ông ấy thực lòng tin rằng một số phận kinh hoàng đang treo lơ lửng trên đầu dòng họ mình, và quả thực những ghi chép mà ông có thể đưa ra về tổ tiên chẳng hề mang lại chút an ủi nào. Ý niệm về một sự hiện diện ma quái nào đó cứ đeo bám ông triền miên, và đã hơn một lần ông hỏi tôi liệu trong những chuyến đi khám bệnh đêm khuya, tôi có bao giờ nhìn thấy bất kỳ sinh vật kỳ lạ nào hay nghe thấy tiếng sủa của một con chó săn hay không. Câu hỏi sau này ông đã nhắc đi nhắc lại với tôi vài lần, lần nào giọng cũng run lên vì kích động.
"Tôi còn nhớ rất rõ lần mình đánh xe đến nhà ông ấy vào một buổi tối, khoảng ba tuần trước khi thảm kịch xảy ra. Tình cờ ông đang đứng nơi cửa đại sảnh. Tôi vừa bước xuống xe, đứng ngay trước mặt ông, thì trông thấy ánh mắt ông dán chặt qua vai tôi và nhìn chằm chằm về phía sau lưng tôi với một vẻ kinh hoàng tột độ. Tôi quay phắt lại, chỉ vừa kịp thoáng thấy một thứ mà tôi đoán là một con bê đen khổng lồ đang băng qua đầu lối đi. Ông ấy hoảng hốt kích động đến mức tôi buộc phải đi xuống tận chỗ con vật đã đứng và ngó quanh để tìm nó. Thế nhưng, nó đã biến mất, và sự việc ấy dường như để lại ấn tượng tồi tệ nhất trong tâm trí ông. Tôi đã ở lại với ông suốt cả buổi tối hôm đó, và chính vào dịp ấy - để lý giải cho nỗi xúc động mà ông đã biểu lộ - ông đã giao phó câu chuyện mà tôi từng đọc cho ngài nghe khi mới đến đây để tôi giữ gìn. Tôi kể lại tình tiết nhỏ này là vì nó mang một tầm quan trọng nhất định khi đặt trong thảm kịch xảy ra sau đó, nhưng lúc bấy giờ tôi tin chắc rằng sự việc hoàn toàn tầm thường và nỗi kích động của ông chẳng có lý do gì chính đáng.
"Chính theo lời khuyên của tôi mà Ngài Charles đã chuẩn bị đi London. Tôi biết tim ông đang có vấn đề, và nỗi lo âu thường trực mà ông đang sống trong đó - bất kể nguyên nhân có ảo tưởng đến đâu - rõ ràng đang gây ra một tác động nghiêm trọng đến sức khỏe của ông. Tôi nghĩ chỉ cần vài tháng giữa những thú vui náo nhiệt của phố thị cũng đủ đưa ông trở lại làm một con người mới. Ông Stapleton, một người bạn chung rất đỗi quan tâm đến tình trạng của ông, cũng đồng quan điểm. Rồi vào chính giây phút cuối cùng, thảm họa khủng khiếp này đã ập xuống.
"Vào cái đêm Ngài Charles qua đời, quản gia Barrymore - người đầu tiên phát hiện ra - đã sai người coi ngựa Perkins phi ngựa đến gặp tôi. Tôi vẫn đang còn thức khuya, nên đã có mặt ở Trang viên Baskerville trong vòng một giờ sau khi sự việc xảy ra. Tôi đã kiểm tra và xác thực tất cả những tình tiết được nêu ra tại cuộc điều tra. Tôi lần theo dấu chân dọc theo lối đi rợp bóng thủy tùng, tôi quan sát vị trí ở cổng đầm lầy nơi ông dường như đã đứng chờ. Tôi nhận thấy sự thay đổi trong hình dạng các dấu chân sau điểm đó, tôi ghi nhận rằng không hề có dấu chân nào khác ngoài dấu của Barrymore trên nền sỏi mềm, và cuối cùng, tôi kiểm tra tỉ mỉ thi thể - thứ vẫn còn nằm nguyên chưa bị động đến cho tới lúc tôi tới. Ngài Charles nằm sấp mặt, hai cánh tay dang rộng, những ngón tay cắm sâu vào lòng đất, và các đường nét trên gương mặt co rúm lại dưới một cảm xúc mạnh mẽ nào đó đến mức tôi gần như không dám thề về danh tính của ông nữa. Dứt khoát không có bất kỳ chấn thương thể chất nào. Nhưng có một lời khai sai sự thật mà Barrymore đã đưa ra tại cuộc điều tra. Gã ta nói rằng không hề có bất kỳ dấu vết nào trên mặt đất quanh thi thể. Gã bảo mình chẳng quan sát thấy thứ gì. Nhưng tôi thì có - ở một khoảng cách gần đó, nhưng còn tươi mới và rành rành rõ rệt."
"Dấu chân ư?"
"Dấu chân."
"Của đàn ông hay đàn bà?"
Bác sĩ Mortimer nhìn chúng tôi một cách kỳ lạ trong khoảnh khắc, rồi giọng ông chùng xuống gần như một tiếng thì thầm khi ông trả lời:
"Thưa ngài Holmes, đó là dấu chân của một con chó săn khổng lồ!"
-
Trong kỹ thuật in ấn và viết tay của tiếng Anh trước thế kỷ 19, có một ký tự gọi là 's dài' (hình dáng giống chữ 'f' không gạch ngang) được dùng ở đầu hoặc giữa từ, phân biệt với 's ngắn' dùng ở cuối từ. ↩
-
Tên gọi cũ của cuộc Nội chiến Anh (1642-1651), một biến cố lịch sử lớn dẫn đến sự hành quyết của Vua Charles I và việc thiết lập nền cộng hòa trong thời gian ngắn tại Anh. ↩
-
Ngày lễ của Tổng lãnh thiên thần Michael (29 tháng 9). Ở nước Anh xưa, ngày này thường đánh dấu thời điểm kết thúc mùa thu hoạch và là hạn chót để trả tiền thuê đất. ↩
-
Đây là tên gọi cũ chỉ các nhóm dân tộc bản địa ở Nam Phi. Vào thế kỷ 19, đặc điểm sinh lý của những tộc người này là một chủ đề rất thu hút các nhà nghiên cứu giải phẫu học người châu Âu. ↩
Chapter 2. The Curse of the Baskervilles
“I have in my pocket a manuscript,” said Dr. James Mortimer.
“I observed it as you entered the room,” said Holmes.
“It is an old manuscript.”
“Early eighteenth century, unless it is a forgery.”
“How can you say that, sir?”
“You have presented an inch or two of it to my examination all the time that you have been talking. It would be a poor expert who could not give the date of a document within a decade or so. You may possibly have read my little monograph upon the subject. I put that at 1730.”
“The exact date is 1742.” Dr. Mortimer drew it from his breast-pocket. “This family paper was committed to my care by Sir Charles Baskerville, whose sudden and tragic death some three months ago created so much excitement in Devonshire. I may say that I was his personal friend as well as his medical attendant. He was a strong-minded man, sir, shrewd, practical, and as unimaginative as I am myself. Yet he took this document very seriously, and his mind was prepared for just such an end as did eventually overtake him.”
Holmes stretched out his hand for the manuscript and flattened it upon his knee. “You will observe, Watson, the alternative use of the long s and the short. It is one of several indications which enabled me to fix the date.”
I looked over his shoulder at the yellow paper and the faded script. At the head was written: “Baskerville Hall,” and below in large, scrawling figures: “1742.”
“It appears to be a statement of some sort.”
“Yes, it is a statement of a certain legend which runs in the Baskerville family.”
“But I understand that it is something more modern and practical upon which you wish to consult me?”
“Most modern. A most practical, pressing matter, which must be decided within twenty-four hours. But the manuscript is short and is intimately connected with the affair. With your permission I will read it to you.”
Holmes leaned back in his chair, placed his finger-tips together, and closed his eyes, with an air of resignation. Dr. Mortimer turned the manuscript to the light and read in a high, cracking voice the following curious, old-world narrative:
“Of the origin of the Hound of the Baskervilles there have been many statements, yet as I come in a direct line from Hugo Baskerville, and as I had the story from my father, who also had it from his, I have set it down with all belief that it occurred even as is here set forth. And I would have you believe, my sons, that the same Justice which punishes sin may also most graciously forgive it, and that no ban is so heavy but that by prayer and repentance it may be removed. Learn then from this story not to fear the fruits of the past, but rather to be circumspect in the future, that those foul passions whereby our family has suffered so grievously may not again be loosed to our undoing.
“Know then that in the time of the Great Rebellion (the history of which by the learned Lord Clarendon I most earnestly commend to your attention) this Manor of Baskerville was held by Hugo of that name, nor can it be gainsaid that he was a most wild, profane, and godless man. This, in truth, his neighbours might have pardoned, seeing that saints have never flourished in those parts, but there was in him a certain wanton and cruel humour which made his name a by-word through the West. It chanced that this Hugo came to love (if, indeed, so dark a passion may be known under so bright a name) the daughter of a yeoman who held lands near the Baskerville estate. But the young maiden, being discreet and of good repute, would ever avoid him, for she feared his evil name. So it came to pass that one Michaelmas this Hugo, with five or six of his idle and wicked companions, stole down upon the farm and carried off the maiden, her father and brothers being from home, as he well knew. When they had brought her to the Hall the maiden was placed in an upper chamber, while Hugo and his friends sat down to a long carouse, as was their nightly custom. Now, the poor lass upstairs was like to have her wits turned at the singing and shouting and terrible oaths which came up to her from below, for they say that the words used by Hugo Baskerville, when he was in wine, were such as might blast the man who said them. At last in the stress of her fear she did that which might have daunted the bravest or most active man, for by the aid of the growth of ivy which covered (and still covers) the south wall she came down from under the eaves, and so homeward across the moor, there being three leagues betwixt the Hall and her father’s farm.
“It chanced that some little time later Hugo left his guests to carry food and drink-with other worse things, perchance-to his captive, and so found the cage empty and the bird escaped. Then, as it would seem, he became as one that hath a devil, for, rushing down the stairs into the dining-hall, he sprang upon the great table, flagons and trenchers flying before him, and he cried aloud before all the company that he would that very night render his body and soul to the Powers of Evil if he might but overtake the wench. And while the revellers stood aghast at the fury of the man, one more wicked or, it may be, more drunken than the rest, cried out that they should put the hounds upon her. Whereat Hugo ran from the house, crying to his grooms that they should saddle his mare and unkennel the pack, and giving the hounds a kerchief of the maid’s, he swung them to the line, and so off full cry in the moonlight over the moor.
“Now, for some space the revellers stood agape, unable to understand all that had been done in such haste. But anon their bemused wits awoke to the nature of the deed which was like to be done upon the moorlands. Everything was now in an uproar, some calling for their pistols, some for their horses, and some for another flask of wine. But at length some sense came back to their crazed minds, and the whole of them, thirteen in number, took horse and started in pursuit. The moon shone clear above them, and they rode swiftly abreast, taking that course which the maid must needs have taken if she were to reach her own home.
“They had gone a mile or two when they passed one of the night shepherds upon the moorlands, and they cried to him to know if he had seen the hunt. And the man, as the story goes, was so crazed with fear that he could scarce speak, but at last he said that he had indeed seen the unhappy maiden, with the hounds upon her track. ‘But I have seen more than that,’ said he, ‘for Hugo Baskerville passed me upon his black mare, and there ran mute behind him such a hound of hell as God forbid should ever be at my heels.’ So the drunken squires cursed the shepherd and rode onward. But soon their skins turned cold, for there came a galloping across the moor, and the black mare, dabbled with white froth, went past with trailing bridle and empty saddle. Then the revellers rode close together, for a great fear was on them, but they still followed over the moor, though each, had he been alone, would have been right glad to have turned his horse’s head. Riding slowly in this fashion they came at last upon the hounds. These, though known for their valour and their breed, were whimpering in a cluster at the head of a deep dip or goyal, as we call it, upon the moor, some slinking away and some, with starting hackles and staring eyes, gazing down the narrow valley before them.
“The company had come to a halt, more sober men, as you may guess, than when they started. The most of them would by no means advance, but three of them, the boldest, or it may be the most drunken, rode forward down the goyal. Now, it opened into a broad space in which stood two of those great stones, still to be seen there, which were set by certain forgotten peoples in the days of old. The moon was shining bright upon the clearing, and there in the centre lay the unhappy maid where she had fallen, dead of fear and of fatigue. But it was not the sight of her body, nor yet was it that of the body of Hugo Baskerville lying near her, which raised the hair upon the heads of these three dare-devil roysterers, but it was that, standing over Hugo, and plucking at his throat, there stood a foul thing, a great, black beast, shaped like a hound, yet larger than any hound that ever mortal eye has rested upon. And even as they looked the thing tore the throat out of Hugo Baskerville, on which, as it turned its blazing eyes and dripping jaws upon them, the three shrieked with fear and rode for dear life, still screaming, across the moor. One, it is said, died that very night of what he had seen, and the other twain were but broken men for the rest of their days.
“Such is the tale, my sons, of the coming of the hound which is said to have plagued the family so sorely ever since. If I have set it down it is because that which is clearly known hath less terror than that which is but hinted at and guessed. Nor can it be denied that many of the family have been unhappy in their deaths, which have been sudden, bloody, and mysterious. Yet may we shelter ourselves in the infinite goodness of Providence, which would not forever punish the innocent beyond that third or fourth generation which is threatened in Holy Writ. To that Providence, my sons, I hereby commend you, and I counsel you by way of caution to forbear from crossing the moor in those dark hours when the powers of evil are exalted.
“[This from Hugo Baskerville to his sons Rodger and John, with instructions that they say nothing thereof to their sister Elizabeth.]”
When Dr. Mortimer had finished reading this singular narrative he pushed his spectacles up on his forehead and stared across at Mr. Sherlock Holmes. The latter yawned and tossed the end of his cigarette into the fire.
“Well?” said he.
“Do you not find it interesting?”
“To a collector of fairy tales.”
Dr. Mortimer drew a folded newspaper out of his pocket.
“Now, Mr. Holmes, we will give you something a little more recent. This is the Devon County Chronicle of May 14th of this year. It is a short account of the facts elicited at the death of Sir Charles Baskerville which occurred a few days before that date.”
My friend leaned a little forward and his expression became intent. Our visitor readjusted his glasses and began:
“The recent sudden death of Sir Charles Baskerville, whose name has been mentioned as the probable Liberal candidate for Mid-Devon at the next election, has cast a gloom over the county. Though Sir Charles had resided at Baskerville Hall for a comparatively short period his amiability of character and extreme generosity had won the affection and respect of all who had been brought into contact with him. In these days of nouveaux riches it is refreshing to find a case where the scion of an old county family which has fallen upon evil days is able to make his own fortune and to bring it back with him to restore the fallen grandeur of his line. Sir Charles, as is well known, made large sums of money in South African speculation. More wise than those who go on until the wheel turns against them, he realised his gains and returned to England with them. It is only two years since he took up his residence at Baskerville Hall, and it is common talk how large were those schemes of reconstruction and improvement which have been interrupted by his death. Being himself childless, it was his openly expressed desire that the whole countryside should, within his own lifetime, profit by his good fortune, and many will have personal reasons for bewailing his untimely end. His generous donations to local and county charities have been frequently chronicled in these columns.
“The circumstances connected with the death of Sir Charles cannot be said to have been entirely cleared up by the inquest, but at least enough has been done to dispose of those rumours to which local superstition has given rise. There is no reason whatever to suspect foul play, or to imagine that death could be from any but natural causes. Sir Charles was a widower, and a man who may be said to have been in some ways of an eccentric habit of mind. In spite of his considerable wealth he was simple in his personal tastes, and his indoor servants at Baskerville Hall consisted of a married couple named Barrymore, the husband acting as butler and the wife as housekeeper. Their evidence, corroborated by that of several friends, tends to show that Sir Charles’s health has for some time been impaired, and points especially to some affection of the heart, manifesting itself in changes of colour, breathlessness, and acute attacks of nervous depression. Dr. James Mortimer, the friend and medical attendant of the deceased, has given evidence to the same effect.
“The facts of the case are simple. Sir Charles Baskerville was in the habit every night before going to bed of walking down the famous yew alley of Baskerville Hall. The evidence of the Barrymores shows that this had been his custom. On the fourth of May Sir Charles had declared his intention of starting next day for London, and had ordered Barrymore to prepare his luggage. That night he went out as usual for his nocturnal walk, in the course of which he was in the habit of smoking a cigar. He never returned. At twelve o’clock Barrymore, finding the hall door still open, became alarmed, and, lighting a lantern, went in search of his master. The day had been wet, and Sir Charles’s footmarks were easily traced down the alley. Halfway down this walk there is a gate which leads out on to the moor. There were indications that Sir Charles had stood for some little time here. He then proceeded down the alley, and it was at the far end of it that his body was discovered. One fact which has not been explained is the statement of Barrymore that his master’s footprints altered their character from the time that he passed the moor-gate, and that he appeared from thence onward to have been walking upon his toes. One Murphy, a gipsy horse-dealer, was on the moor at no great distance at the time, but he appears by his own confession to have been the worse for drink. He declares that he heard cries but is unable to state from what direction they came. No signs of violence were to be discovered upon Sir Charles’s person, and though the doctor’s evidence pointed to an almost incredible facial distortion-so great that Dr. Mortimer refused at first to believe that it was indeed his friend and patient who lay before him-it was explained that that is a symptom which is not unusual in cases of dyspnœa and death from cardiac exhaustion. This explanation was borne out by the post-mortem examination, which showed long-standing organic disease, and the coroner’s jury returned a verdict in accordance with the medical evidence. It is well that this is so, for it is obviously of the utmost importance that Sir Charles’s heir should settle at the Hall and continue the good work which has been so sadly interrupted. Had the prosaic finding of the coroner not finally put an end to the romantic stories which have been whispered in connection with the affair, it might have been difficult to find a tenant for Baskerville Hall. It is understood that the next of kin is Mr. Henry Baskerville, if he be still alive, the son of Sir Charles Baskerville’s younger brother. The young man when last heard of was in America, and inquiries are being instituted with a view to informing him of his good fortune.”
Dr. Mortimer refolded his paper and replaced it in his pocket. “Those are the public facts, Mr. Holmes, in connection with the death of Sir Charles Baskerville.”
“I must thank you,” said Sherlock Holmes, “for calling my attention to a case which certainly presents some features of interest. I had observed some newspaper comment at the time, but I was exceedingly preoccupied by that little affair of the Vatican cameos, and in my anxiety to oblige the Pope I lost touch with several interesting English cases. This article, you say, contains all the public facts?”
“It does.”
“Then let me have the private ones.” He leaned back, put his finger-tips together, and assumed his most impassive and judicial expression.
“In doing so,” said Dr. Mortimer, who had begun to show signs of some strong emotion, “I am telling that which I have not confided to anyone. My motive for withholding it from the coroner’s inquiry is that a man of science shrinks from placing himself in the public position of seeming to indorse a popular superstition. I had the further motive that Baskerville Hall, as the paper says, would certainly remain untenanted if anything were done to increase its already rather grim reputation. For both these reasons I thought that I was justified in telling rather less than I knew, since no practical good could result from it, but with you there is no reason why I should not be perfectly frank.
“The moor is very sparsely inhabited, and those who live near each other are thrown very much together. For this reason I saw a good deal of Sir Charles Baskerville. With the exception of Mr. Frankland, of Lafter Hall, and Mr. Stapleton, the naturalist, there are no other men of education within many miles. Sir Charles was a retiring man, but the chance of his illness brought us together, and a community of interests in science kept us so. He had brought back much scientific information from South Africa, and many a charming evening we have spent together discussing the comparative anatomy of the Bushman and the Hottentot.
“Within the last few months it became increasingly plain to me that Sir Charles’s nervous system was strained to the breaking point. He had taken this legend which I have read you exceedingly to heart-so much so that, although he would walk in his own grounds, nothing would induce him to go out upon the moor at night. Incredible as it may appear to you, Mr. Holmes, he was honestly convinced that a dreadful fate overhung his family, and certainly the records which he was able to give of his ancestors were not encouraging. The idea of some ghastly presence constantly haunted him, and on more than one occasion he has asked me whether I had on my medical journeys at night ever seen any strange creature or heard the baying of a hound. The latter question he put to me several times, and always with a voice which vibrated with excitement.
“I can well remember driving up to his house in the evening some three weeks before the fatal event. He chanced to be at his hall door. I had descended from my gig and was standing in front of him, when I saw his eyes fix themselves over my shoulder and stare past me with an expression of the most dreadful horror. I whisked round and had just time to catch a glimpse of something which I took to be a large black calf passing at the head of the drive. So excited and alarmed was he that I was compelled to go down to the spot where the animal had been and look around for it. It was gone, however, and the incident appeared to make the worst impression upon his mind. I stayed with him all the evening, and it was on that occasion, to explain the emotion which he had shown, that he confided to my keeping that narrative which I read to you when first I came. I mention this small episode because it assumes some importance in view of the tragedy which followed, but I was convinced at the time that the matter was entirely trivial and that his excitement had no justification.
“It was at my advice that Sir Charles was about to go to London. His heart was, I knew, affected, and the constant anxiety in which he lived, however chimerical the cause of it might be, was evidently having a serious effect upon his health. I thought that a few months among the distractions of town would send him back a new man. Mr. Stapleton, a mutual friend who was much concerned at his state of health, was of the same opinion. At the last instant came this terrible catastrophe.
“On the night of Sir Charles’s death Barrymore the butler, who made the discovery, sent Perkins the groom on horseback to me, and as I was sitting up late I was able to reach Baskerville Hall within an hour of the event. I checked and corroborated all the facts which were mentioned at the inquest. I followed the footsteps down the yew alley, I saw the spot at the moor-gate where he seemed to have waited, I remarked the change in the shape of the prints after that point, I noted that there were no other footsteps save those of Barrymore on the soft gravel, and finally I carefully examined the body, which had not been touched until my arrival. Sir Charles lay on his face, his arms out, his fingers dug into the ground, and his features convulsed with some strong emotion to such an extent that I could hardly have sworn to his identity. There was certainly no physical injury of any kind. But one false statement was made by Barrymore at the inquest. He said that there were no traces upon the ground round the body. He did not observe any. But I did-some little distance off, but fresh and clear.”
“Footprints?”
“Footprints.”
“A man’s or a woman’s?”
Dr. Mortimer looked strangely at us for an instant, and his voice sank almost to a whisper as he answered.
“Mr. Holmes, they were the footprints of a gigantic hound!”