CHƯƠNG 2. LỜI NGUYỀN CỦA DÒNG HỌ BASKERVILLE

“Tôi có mang theo trong túi áo một bản thảo,” Bác sĩ James Mortimer lên tiếng.

“Tôi đã nhận ra nó ngay từ lúc ông vừa bước vào phòng,” Holmes đáp.

“Một bản thảo đã cũ lắm rồi.”

“Đầu thế kỷ mười tám, trừ phi đó là đồ giả mạo.”

“Làm sao ngài có thể biết được điều ấy, thưa ngài?”

“Ông đã vô tình để lộ ra chừng một hai inch mép giấy cho tôi quan sát suốt quãng thời gian ông trò chuyện. Một chuyên gia mà không đoán nổi niên đại của một văn kiện trong phạm vi chục năm thì quả là kém cỏi. Có lẽ ông đã từng đọc qua chuyên khảo nho nhỏ của tôi về đề tài này rồi. Tôi phỏng đoán nó rơi vào khoảng năm 1730.”

“Niên đại chính xác là năm 1742.” Bác sĩ Mortimer rút bản thảo ra khỏi túi áo ngực. “Văn kiện gia tộc này đã được Ngài Charles Baskerville ủy thác cho tôi trông nom. Cái chết đột ngột và đầy bi thương của ngài ấy cách nay chừng ba tháng đã làm dấy lên bao xôn xao khắp vùng Devonshire. Có thể nói tôi vừa là bạn tâm giao, vừa là thầy thuốc riêng của ngài ấy. Ngài là một con người có ý chí kiên cường, thưa ngài, sắc sảo, thực tế, và cũng là một người chẳng có chút trí tưởng tượng nào, y hệt như tôi vậy. Ấy vậy mà ngài lại hết sức coi trọng bản thảo này, và dường như tâm trí ngài đã sẵn sàng đón nhận một kết cục y hệt như những gì cuối cùng đã giáng xuống ngài.”

Holmes đưa tay đón lấy bản thảo, nhẹ nhàng vuốt phẳng nó trên đầu gối. “Anh sẽ thấy đấy, Watson, cách người xưa dùng luân phiên chữ s dài và chữ s ngắn1. Đó là một trong số ít những dấu hiệu giúp tôi định vị niên đại.”

Tôi nghiêng người nhìn qua vai anh, dõi mắt vào tờ giấy ố vàng cùng những dòng chữ đã nhạt nhòa theo năm tháng. Nơi góc trên có ghi: “Trang viên Baskerville”, và ngay bên dưới là những con số to, nguệch ngoạc: “1742.”

“Trông giống như một bản tường trình thì phải.”

“Đúng thế, một bản tường trình về một truyền thuyết nào đó vẫn được lưu truyền trong dòng họ Baskerville.”

“Nhưng tôi hiểu rằng có một chuyện gì đó mang tính thời sự và thực tiễn hơn mà ông muốn tham vấn tôi?”

“Hết sức thời sự. Một vấn đề vô cùng thực tiễn, cấp bách, buộc phải đi đến quyết định trong vòng hai mươi bốn giờ tới. Thế nhưng bản thảo này khá ngắn gọn và lại có mối liên hệ mật thiết với vụ việc. Nếu được ngài cho phép, tôi xin đọc lên cho ngài nghe.”

Holmes tựa lưng vào ghế, chụm các đầu ngón tay vào nhau rồi nhắm mắt lại với vẻ cam chịu. Bác sĩ Mortimer xoay bản thảo về phía ánh sáng, bắt đầu cất giọng the thé, rè rè đọc lên câu chuyện cổ xưa kỳ lạ sau đây:

“Về nguồn gốc của Con Chó Săn nhà Baskerville, thiên hạ đã kể lại bằng nhiều giọng khác nhau. Nhưng bởi cha là dòng dõi trực hệ của Hugo Baskerville, và bởi cha đã nghe câu chuyện này từ chính ông nội các con - người cũng nghe lại từ cha của ông - nên cha chép ra đây với trọn niềm tin rằng mọi sự đã xảy ra đúng như những gì được trình bày. Cha mong các con hãy tin điều này, hỡi các con yêu quý của cha, rằng cũng chính Công lý từng trừng phạt tội lỗi, lại có thể khoan dung mà thứ tha cho nó. Chẳng có lời nguyền nào nặng nề đến mức không thể rửa sạch bằng lời cầu nguyện và sự sám hối. Vậy nên, hãy rút ra bài học từ câu chuyện này: đừng sợ hãi những hậu quả của quá khứ, nhưng hãy thận trọng trong tương lai, kẻo những dục vọng xấu xa - thứ đã khiến gia tộc ta chịu quá nhiều đau khổ - một lần nữa được thả rông mà làm hại chúng ta.

“Vậy thì, hãy biết rằng vào thời kỳ Cuộc Đại Nổi Loạn2 (lịch sử về cuộc nổi loạn này do học giả Lord Clarendon chấp bút, cha rất chân thành khuyên các con nên chú tâm đọc lấy), Trang viên Baskerville này được cai quản bởi Hugo - kẻ mang chính cái tên ấy. Và không ai có thể phủ nhận rằng hắn là một kẻ hoang dại, báng bổ và vô thần đến tột cùng. Sự thực thì, những người láng giềng của hắn có lẽ đã bỏ qua cho điều ấy, bởi các vị thánh chưa từng một lần xuất hiện nơi miền đất này. Nhưng trong con người hắn còn chất chứa một thứ hài hước độc ác và ngông cuồng, khiến tên tuổi hắn trở thành câu cửa miệng khắp miền Tây. Rồi chuyện xảy ra, Hugo này đem lòng yêu - nếu quả thực một dục vọng đen tối như thế có thể được gọi bằng cái tên sáng sủa như vậy - con gái của một tá điền có đất đai nằm sát kề điền trang Baskerville. Nhưng cô gái trẻ, vốn kín đáo và có tiếng thơm về đức hạnh, luôn tránh mặt hắn, bởi nàng khiếp sợ cái tên độc ác ấy. Vậy rồi, vào đúng dịp lễ Michaelmas3, Hugo cùng năm sáu tên bạn bè rỗi rãi và xấu xa đã lẻn xuống trang trại, bắt cóc cô gái - bởi hắn biết rõ cha và các anh trai nàng đều vắng nhà. Khi cả bọn đưa được nàng về Trang viên, cô gái bị nhốt trong một căn phòng trên lầu, trong khi Hugo và đám bạn ngồi xuống bắt đầu cuộc chè chén kéo dài, như cái thói quen hàng đêm của chúng. Lúc ấy, cô gái đáng thương trên lầu gần như phát điên bởi tiếng hát hò, tiếng la hét và những lời chửi thề tục tĩu vọng lên từ phía dưới. Người ta kể rằng những lời Hugo Baskerville thốt ra lúc say rượu có thể làm bất cứ ai nghe phải đều kinh hãi. Cuối cùng, trong cơn kìm kẹp của nỗi sợ, nàng đã làm một việc khiến ngay cả kẻ đàn ông dũng cảm hay lanh lợi nhất cũng phải chùn bước. Nhờ những nhánh thường xuân mọc phủ kín - và vẫn còn phủ kín đến tận ngày nay - bức tường phía nam, nàng đã trèo xuống từ dưới mái hiên, rồi cứ thế chạy băng qua đầm lầy để về nhà. Khoảng cách từ Trang viên đến trang trại của cha nàng là ba dặm.

“Số là, ít lâu sau, Hugo rời khỏi đám khách để mang đồ ăn thức uống - cùng có lẽ với những thứ tồi tệ khác - cho kẻ bị giam cầm của mình. Thế rồi hắn phát hiện chiếc lồng đã trống rỗng, con chim đã bay mất. Ngay lập tức, dường như hắn đã trở thành một kẻ bị quỷ ám. Hắn lao xuống cầu thang, xông vào phòng ăn, nhảy phốc lên chiếc bàn lớn khiến bình rượu và đĩa bát văng bay tứ tung. Trước mặt tất cả những kẻ có mặt, hắn gào lên rằng hắn nguyện dâng hiến cả thể xác lẫn linh hồn mình cho Quỷ Dữ ngay trong đêm đó, nếu hắn có thể đuổi kịp con ả kia. Đám ăn chơi đứng chết trân trước cơn thịnh nộ của hắn, cho đến khi một kẻ - có lẽ xấu xa hơn, hoặc say xỉn hơn những kẻ khác - hét lên rằng phải thả chó săn ra đuổi theo nàng ngay. Nghe thế, Hugo chạy vụt ra khỏi nhà, gào gọi đám người giữ ngựa bảo chúng phải thắng yên cho con ngựa cái của hắn và thả bầy chó săn khỏi chuồng. Hắn ném cho lũ chó chiếc khăn tay của cô gái, rồi hướng chúng theo dấu vết. Cả bầy vừa sủa vang vừa lao đi dưới ánh trăng, băng qua đầm lầy.

“Trong giây lát, đám ăn chơi đứng há hốc mồm, không sao hiểu nổi tất cả những gì vừa xảy ra trong cơn hối hả ấy. Nhưng rồi, những cái đầu lờ đờ vì rượu dần nhận ra bản chất của sự việc sắp diễn ra trên vùng đầm lầy. Mọi thứ bỗng trở nên náo loạn: kẻ gọi súng lục, kẻ đòi ngựa, kẻ lại đòi thêm một bình rượu nữa. Cuối cùng, một chút tỉnh táo cũng quay về với những bộ óc điên cuồng. Tất cả bọn chúng, tổng cộng mười ba tên, leo lên ngựa và bắt đầu cuộc đuổi theo. Mặt trăng chiếu rực rỡ trên đầu họ. Chúng cưỡi ngựa lao đi sát cánh bên nhau, men theo hướng mà cô gái ắt phải đi, nếu nàng muốn về đến nhà.

“Đi được một hoặc hai dặm, chúng gặp một người chăn cừu đêm trên đầm lầy, và cùng nhau hét lên hỏi lão có thấy cuộc đi săn hay không. Người đàn ông ấy, theo như câu chuyện kể lại, đã sợ hãi đến mức gần như không thể nói nên lời. Mãi sau, lão mới thốt lên rằng, quả thực lão đã thấy cô gái bất hạnh, với bầy chó săn bám sát gót nàng. ‘Nhưng tôi còn thấy nhiều hơn thế,’ lão nói, ‘bởi Hugo Baskerville đã vượt qua tôi trên con ngựa cái đen của ông ta. Và này, chạy lặng lẽ phía sau ông ta là một con chó săn của chốn địa ngục. Cầu Chúa đừng bao giờ để nó ở đằng sau gót chân tôi!’ Nghe vậy, những gã điền chủ say khướt chửi rủa người chăn cừu rồi tiếp tục cưỡi ngựa tiến lên. Nhưng chẳng mấy chốc, da thịt chúng bỗng lạnh toát. Một tiếng vó ngựa phi nước đại vọng qua đầm lầy, và con ngựa cái đen, mình đẫm bọt trắng, chạy vụt ngang qua với dây cương lủng lẳng, yên ngựa trống không. Lúc này, đám ăn chơi cưỡi ngựa xích sát vào nhau, bởi một nỗi sợ lớn đang bủa vây lấy chúng. Dẫu vậy, chúng vẫn tiếp tục tiến qua đầm lầy, mặc dù mỗi kẻ, nếu đi một mình, ắt sẽ mừng rỡ mà quay đầu ngựa chạy trốn. Cứ cưỡi ngựa chầm chậm như thế, cuối cùng chúng cũng đuổi kịp bầy chó săn. Dù nổi tiếng về lòng dũng cảm và nòi giống, cả bầy chó lúc này đang rên rỉ, co cụm vào nhau ở rìa một hố sâu - hay khe nứt, như cách người ta vẫn gọi - trên đầm lầy. Vài con lảng vảng bỏ đi, vài con khác, với lớp lông dựng đứng và đôi mắt trợn trừng, đang chăm chăm nhìn xuống thung lũng hẹp trước mặt.

“Cả nhóm dừng lại. Bọn đàn ông lúc này đã tỉnh táo hơn lúc mới khởi hành, như bạn có thể mường tượng. Phần đông không muốn tiến thêm một bước nào nữa. Nhưng ba kẻ trong số đó, những kẻ táo bạo nhất - hoặc có lẽ là say xỉn nhất - đã thúc ngựa tiến xuống khe nứt. Ở dưới ấy, một khoảng không gian rộng lớn mở ra. Tại đó có hai tảng đá lớn vẫn còn sừng sững đến tận ngày nay, được dựng lên bởi một dân tộc xa lạ nào đó đã bị lãng quên từ thuở xa xưa. Mặt trăng chiếu sáng vằng vặc trên khoảng đất trống, và ở chính giữa, cô gái bất hạnh nằm đó, nơi nàng đã ngã gục, chết vì sợ hãi và kiệt sức. Nhưng không phải cảnh tượng thi thể nàng, cũng chẳng phải cảnh Hugo Baskerville nằm chết gần bên, đã làm dựng tóc gáy ba kẻ ồn ào liều lĩnh ấy. Mà chính là thứ đang đứng trên người Hugo, cấu xé cổ họng hắn - một con thú đen láy hôi hám, to lớn, mang hình dáng một con chó săn, nhưng lại lớn hơn bất kỳ con chó săn nào mắt người trần tục từng nhìn thấy. Và ngay khi chúng còn đang trố mắt nhìn, sinh vật ấy xé toạc cổ họng Hugo Baskerville, rồi quay đôi mắt rực lửa cùng cái hàm nhỏ dãi về phía chúng. Ba gã đàn ông hét lên khiếp đảm, quay ngựa chạy thục mạng, vẫn gào thét vang vọng khắp đầm lầy. Người ta kể rằng, một gã đã chết ngay trong đêm đó vì những gì hắn chứng kiến, còn hai kẻ kia thì chỉ còn là những cái xác không hồn trong suốt quãng đời còn lại.

“Đó là câu chuyện, hỡi các con của cha, về sự xuất hiện của con chó săn mà từ đó đến nay được cho là đã hành hạ gia tộc ta một cách khủng khiếp. Sở dĩ cha chép lại điều này, là bởi những gì được biết rõ ràng bao giờ cũng ít gây kinh hoàng hơn những điều chỉ được ám chỉ hay phỏng đoán. Cũng không thể phủ nhận rằng nhiều người trong gia tộc đã không có được cái kết êm đẹp, những cái chết đã đến một cách đột ngột, đẫm máu và đầy bí ẩn. Dầu sao, chúng ta vẫn có thể nương tựa vào lòng nhân từ vô hạn của Chúa Trời, Đấng sẽ không mãi mãi trừng phạt những người vô tội vượt quá thế hệ thứ ba hay thứ tư, như lời cảnh báo trong Kinh Thánh. Hỡi các con của cha, cha xin giao phó các con cho Chúa Trời, và khuyên các con như một lời cảnh giác rằng hãy kiềm chế, đừng băng qua đầm lầy vào những giờ tối tăm khi sức mạnh của cái ác đang trỗi dậy.

“[Lời này từ Hugo Baskerville gửi đến hai con trai Rodger và John, cùng chỉ thị rằng chúng không được nói bất cứ điều gì về chuyện này với em gái Elizabeth.]”

Khi Bác sĩ Mortimer đọc xong câu chuyện kỳ lạ ấy, ông đẩy cặp kính lên trán và nhìn chằm chằm vào Sherlock Holmes. Còn Holmes thì ngáp dài rồi ném mẩu thuốc lá đang hút dở vào lò sưởi.

“Sao nào?” anh nói.

“Ngài không thấy nó thú vị ư?”

“Đối với một người sưu tầm truyện cổ tích thì có.”

Bác sĩ Mortimer rút từ trong túi ra một tờ báo được gấp gọn gàng.

"Thưa ngài Holmes, giờ tôi sẽ đưa cho ngài một thứ có phần mới mẻ hơn. Đây là tờ Devon County Chronicle ra ngày 14 tháng Năm năm nay. Trong đó có một bài tường thuật ngắn gọn về những tình tiết được hé lộ xung quanh cái chết của Ngài Charles Baskerville, xảy ra chỉ ít ngày trước đó."

Bạn tôi khẽ nghiêng người về phía trước, nét mặt trở nên tập trung cao độ. Vị khách chỉnh lại cặp kính và bắt đầu đọc:

"Sự ra đi đột ngột của Ngài Charles Baskerville mới đây - người từng được nhắc đến như một ứng cử viên sáng giá của Đảng Tự do cho khu vực Mid-Devon trong kỳ bầu cử sắp tới - đã ném một bóng đen u ám xuống khắp cả vùng quận. Dù thời gian Ngài Charles cư trú tại Trang viên Baskerville chưa phải là dài, nhưng bản tính hòa nhã cùng tấm lòng hào phóng vô bờ của ông đã chiếm trọn tình cảm và sự kính trọng của hết thảy những ai từng có dịp tiếp xúc. Giữa thời buổi mà những kẻ mới nổi mọc lên như nấm này, thực là một điều tươi mát hiếm hoi khi bắt gặp một trường hợp: hậu duệ của một dòng họ lâu đời trong vùng, sau bao phen sa sút, đã tự tay gây dựng lại cơ đồ và mang của cải ấy trở về quê hương để phục hưng sự huy hoàng đã tàn của gia tộc mình. Ai ai cũng biết, Ngài Charles đã kiếm được cả một gia tài kếch xù từ những phi vụ đầu cơ ở Nam Phi. Khôn ngoan hơn những kẻ cứ mải miết lao theo vòng quay cho đến khi bánh xe số phận quay lưng, ông đã kịp thời chốt lời và mang tất thảy trở về nước Anh. Mới chỉ hai năm kể từ ngày ông đặt chân đến Trang viên Baskerville, người ta vẫn thường xì xào về những kế hoạch tái thiết và cải tạo đầy tham vọng của ông - những giấc mơ giờ đây đã bị cái chết cắt ngang. Không con cái, ước nguyện mà ông từng công khai bày tỏ là toàn bộ miền quê này, ngay trong đời ông, sẽ được hưởng lộc từ vận may của ông, và biết bao người hẳn có lý do riêng để thương tiếc cho một kết thúc đến quá sớm. Những món quà hào phóng ông dành cho các tổ chức từ thiện địa phương và toàn quận đã hơn một lần được ghi nhận trên chính những trang báo này.

"Không thể nói rằng các tình tiết quanh cái chết của Ngài Charles đã được phơi bày trọn vẹn dưới ánh sáng của cuộc điều tra. Tuy nhiên, ít nhất cũng đã có đủ chứng cứ để dập tắt những lời đồn đại mà sự mê tín địa phương đã thêu dệt nên. Không có lý do gì để nghi ngờ có bàn tay khuất tất, hay để tưởng tượng rằng cái chết này đến từ bất cứ nguyên nhân nào khác ngoài tự nhiên. Ngài Charles là một người góa vợ, và có thể nói, ở một phương diện nào đó, ông mang những thói quen tinh thần khá lập dị. Dù sở hữu khối tài sản đáng kể, lối sống và nhu cầu cá nhân của ông lại vô cùng giản dị. Những người hầu trong nhà tại Trang viên Baskerville chỉ vỏn vẹn một cặp vợ chồng tên Barrymore - người chồng giữ vai trò quản gia, còn người vợ đảm nhiệm việc nội trợ. Lời khai của họ, được củng cố bởi lời chứng của một số bạn bè, đều cho thấy sức khỏe của Ngài Charles đã suy giảm một thời gian. Đặc biệt, họ chỉ ra một chứng bệnh tim mạch nào đó, biểu hiện qua sắc da đổi màu, hơi thở khó nhọc và những cơn trầm cảm thần kinh cấp tính. Bác sĩ James Mortimer, vừa là bạn vừa là y sĩ riêng của người đã khuất, cũng đã đưa ra những bằng chứng cùng ý nghĩa ấy.

"Sự thực của vụ việc thì rất đơn giản. Ngài Charles Baskerville có thói quen mỗi đêm, trước khi đi ngủ, đi dạo dọc theo lối đi rợp bóng thủy tùng trứ danh của Trang viên Baskerville. Lời khai của vợ chồng Barrymore đã xác nhận điều này. Vào ngày mùng 4 tháng Năm, Ngài Charles tuyên bố ý định sẽ khởi hành đi London vào hôm sau, và đã sai Barrymore chuẩn bị hành lý cho ông. Đêm hôm ấy, ông ra ngoài như thường lệ để thực hiện cuộc tản bộ đêm quen thuộc - trong suốt quãng thời gian đó, ông thường hút một điếu xì gà. Ông đã không bao giờ trở lại. Vào lúc mười hai giờ đêm, quản gia Barrymore nhận thấy cửa sảnh chính vẫn còn mở, bèn trở nên hoảng hốt. Ông thắp một chiếc đèn lồng và lên đường tìm kiếm chủ nhân. Hôm ấy trời mưa, những dấu chân của Ngài Charles dễ dàng được lần theo suốt dọc lối đi. Ngang lưng chừng lối đi ấy có một cánh cổng dẫn ra phía đầm lầy. Nhiều dấu hiệu cho thấy Ngài Charles đã dừng lại nơi đây một lát. Sau đó, ông tiếp tục men theo lối đi, và ở tận cùng lối đi, thi thể ông đã được tìm thấy. Một chi tiết chưa từng được giải thích nằm ở lời khai của Barrymore: dấu chân của chủ nhân đã thay đổi tính chất kể từ lúc ông bước qua cánh cổng đầm lầy - và dường như từ thời điểm ấy trở đi, ông chỉ còn bước đi bằng đầu ngón chân. Có một người tên Murphy, một tay Digan buôn ngựa, đang lảng vảng trên đầm lầy cách đó không xa vào thời điểm xảy ra sự việc, nhưng theo lời y tự thú, y dường như đã quá chén. Y khai rằng có nghe thấy những tiếng kêu la, song không thể nói rõ chúng vọng đến từ hướng nào. Không một dấu hiệu bạo lực nào được tìm thấy trên cơ thể Ngài Charles. Và dù chứng cứ y khoa do bác sĩ cung cấp có chỉ ra một sự biến dạng khôn xiết trên gương mặt - dữ dội đến nỗi thoạt đầu chính bác sĩ Mortimer đã từ chối tin rằng người nằm trước mặt mình thực sự là bạn và cũng là bệnh nhân của ông - thì điều ấy đã được giải thích như một triệu chứng không hề hiếm gặp trong những ca khó thở và tử vong do suy tim. Lời giải thích này được củng cố thêm bởi kết quả khám nghiệm tử thi, cho thấy căn bệnh mãn tính nội tạng đã tồn tại từ lâu. Bồi thẩm đoàn của nhân viên điều tra đã đưa ra một phán quyết phù hợp với các chứng cứ y khoa. Thực là may khi sự việc được giải quyết như vậy, bởi hiển nhiên điều quan trọng bậc nhất lúc này là người thừa kế của Ngài Charles sớm về an cư tại Trang viên và tiếp nối những công việc tốt đẹp đã bị gián đoạn một cách đầy đáng tiếc. Nếu như phán quyết thuần lý trí ấy của nhân viên điều tra không đủ sức chấm dứt hoàn toàn những câu chuyện hoang đường đã len lỏi trong những lời thì thầm về vụ việc, thì có lẽ Trang viên Baskerville sẽ khó lòng tìm được ai thuê. Được biết, người thân cận nhất là Ngài Henry Baskerville, nếu anh ta còn sống - con trai của người em trai quá cố của Ngài Charles. Chàng thanh niên này lần cuối cùng được nghe tin tức là đang ở Mỹ, và những cuộc tìm kiếm đang được tiến hành nhằm thông báo cho anh ta về vận may vừa bất ngờ ghé thăm mình."

Bác sĩ Mortimer gấp tờ báo lại, cất vào túi áo. "Đó là toàn bộ những sự thật đã được công khai, thưa ngài Holmes, liên quan đến cái chết của Ngài Charles Baskerville."

"Tôi phải cảm ơn ông," Sherlock Holmes đáp, "vì đã lưu tâm tôi đến một vụ án mang trong mình không ít tình tiết lý thú. Hồi ấy tôi cũng có lướt qua vài dòng bình luận trên báo, nhưng lúc đó tôi đang mải miết với vụ những bức chạm khắc ngọc ở Vatican. Lòng sốt sắng muốn làm vừa lòng Đức Giáo Hoàng đã khiến tôi lỡ mất vài vụ án đáng chú ý ngay trên đất Anh. Vậy tờ báo này, theo lời ông, đã chứa tất cả những sự thật công khai rồi?"

"Đúng vậy."

"Thế thì xin ông hãy kể cho tôi nghe những bí mật riêng tư." Holmes ngả lưng ra ghế, những đầu ngón tay chụm vào nhau, gương mặt khoác lên vẻ trầm tĩnh và đầy suy xét nhất của mình.

"Khi làm điều này," bác sĩ Mortimer nói, và giờ đây những dấu hiệu của một nỗi xúc động mạnh mẽ đã bắt đầu hiện rõ nơi ông, "tôi đang thổ lộ điều mà mình chưa từng tâm sự với bất kỳ ai. Động cơ khiến tôi giấu kín chuyện này trước cuộc điều tra của nhân viên điều tra cái chết bất thường, ấy là: một người làm khoa học như tôi ắt sẽ ngần ngại khi tự đặt mình vào thế công khai tán đồng một điều mê tín chốn dân gian. Tôi còn một động cơ nữa - Trang viên Baskerville, như tờ báo đã nói, ắt hẳn sẽ không còn bóng người lai vãng nếu có thêm bất cứ điều gì khiến cho cái danh tiếng vốn đã rùng rợn của nó càng trở nên đáng sợ hơn. Vì hai lẽ đó, tôi tự nhủ mình có lý khi không nói ra hết những gì mình biết, bởi chẳng ích lợi thiết thực gì có thể rút ra từ đó. Nhưng với ngài thì tôi chẳng có lý do chi mà không hoàn toàn thẳng thắn.

"Vùng đầm lầy dân cư rất thưa thớt, và những ai sống gần nhau thì lại vô cùng thân thiết. Chính vì vậy mà tôi đã gặp gỡ Ngài Charles Baskerville khá nhiều. Ngoại trừ ông Frankland ở Lafter Hall cùng ông Stapleton, nhà tự nhiên học, thì trong vòng nhiều dặm quanh đó chẳng còn người đàn ông có học thức nào khác. Ngài Charles vốn sống ẩn dật, thế nhưng cơ may từ chính căn bệnh của ông đã đưa chúng tôi lại gần nhau, và mối quan tâm chung về khoa học thì lại giữ chúng tôi ở bên nhau như thế. Ông đã mang về rất nhiều tư liệu khoa học quý giá từ Nam Phi, và biết bao buổi tối thú vị chúng tôi đã dành cho nhau để thảo luận về giải phẫu học so sánh giữa người Bushman và người Hottentot4.

"Trong vòng mấy tháng gần đây, tôi ngày càng thấy rõ hệ thần kinh của Ngài Charles đã bị dồn nén đến mức cực hạn. Cái truyền thuyết mà tôi đã đọc cho ngài nghe đã khắc sâu vào tâm trí ông một cách mãnh liệt - mãnh liệt đến nỗi, dù ông vẫn thường tản bộ trong khuôn viên trang viên của mình, chẳng có gì có thể thuyết phục ông bước chân ra ngoài đầm lầy lúc màn đêm buông xuống. Nghe có vẻ khó tin, thưa ngài Holmes, nhưng ông ấy thực lòng tin rằng một số phận kinh hoàng đang treo lơ lửng trên đầu dòng họ mình, và quả thực những ghi chép mà ông có thể đưa ra về tổ tiên chẳng hề mang lại chút an ủi nào. Ý niệm về một sự hiện diện ma quái nào đó cứ đeo bám ông triền miên, và đã hơn một lần ông hỏi tôi liệu trong những chuyến đi khám bệnh đêm khuya, tôi có bao giờ nhìn thấy bất kỳ sinh vật kỳ lạ nào hay nghe thấy tiếng sủa của một con chó săn hay không. Câu hỏi sau này ông đã nhắc đi nhắc lại với tôi vài lần, lần nào giọng cũng run lên vì kích động.

"Tôi còn nhớ rất rõ lần mình đánh xe đến nhà ông ấy vào một buổi tối, khoảng ba tuần trước khi thảm kịch xảy ra. Tình cờ ông đang đứng nơi cửa đại sảnh. Tôi vừa bước xuống xe, đứng ngay trước mặt ông, thì trông thấy ánh mắt ông dán chặt qua vai tôi và nhìn chằm chằm về phía sau lưng tôi với một vẻ kinh hoàng tột độ. Tôi quay phắt lại, chỉ vừa kịp thoáng thấy một thứ mà tôi đoán là một con bê đen khổng lồ đang băng qua đầu lối đi. Ông ấy hoảng hốt kích động đến mức tôi buộc phải đi xuống tận chỗ con vật đã đứng và ngó quanh để tìm nó. Thế nhưng, nó đã biến mất, và sự việc ấy dường như để lại ấn tượng tồi tệ nhất trong tâm trí ông. Tôi đã ở lại với ông suốt cả buổi tối hôm đó, và chính vào dịp ấy - để lý giải cho nỗi xúc động mà ông đã biểu lộ - ông đã giao phó câu chuyện mà tôi từng đọc cho ngài nghe khi mới đến đây để tôi giữ gìn. Tôi kể lại tình tiết nhỏ này là vì nó mang một tầm quan trọng nhất định khi đặt trong thảm kịch xảy ra sau đó, nhưng lúc bấy giờ tôi tin chắc rằng sự việc hoàn toàn tầm thường và nỗi kích động của ông chẳng có lý do gì chính đáng.

"Chính theo lời khuyên của tôi mà Ngài Charles đã chuẩn bị đi London. Tôi biết tim ông đang có vấn đề, và nỗi lo âu thường trực mà ông đang sống trong đó - bất kể nguyên nhân có ảo tưởng đến đâu - rõ ràng đang gây ra một tác động nghiêm trọng đến sức khỏe của ông. Tôi nghĩ chỉ cần vài tháng giữa những thú vui náo nhiệt của phố thị cũng đủ đưa ông trở lại làm một con người mới. Ông Stapleton, một người bạn chung rất đỗi quan tâm đến tình trạng của ông, cũng đồng quan điểm. Rồi vào chính giây phút cuối cùng, thảm họa khủng khiếp này đã ập xuống.

"Vào cái đêm Ngài Charles qua đời, quản gia Barrymore - người đầu tiên phát hiện ra - đã sai người coi ngựa Perkins phi ngựa đến gặp tôi. Tôi vẫn đang còn thức khuya, nên đã có mặt ở Trang viên Baskerville trong vòng một giờ sau khi sự việc xảy ra. Tôi đã kiểm tra và xác thực tất cả những tình tiết được nêu ra tại cuộc điều tra. Tôi lần theo dấu chân dọc theo lối đi rợp bóng thủy tùng, tôi quan sát vị trí ở cổng đầm lầy nơi ông dường như đã đứng chờ. Tôi nhận thấy sự thay đổi trong hình dạng các dấu chân sau điểm đó, tôi ghi nhận rằng không hề có dấu chân nào khác ngoài dấu của Barrymore trên nền sỏi mềm, và cuối cùng, tôi kiểm tra tỉ mỉ thi thể - thứ vẫn còn nằm nguyên chưa bị động đến cho tới lúc tôi tới. Ngài Charles nằm sấp mặt, hai cánh tay dang rộng, những ngón tay cắm sâu vào lòng đất, và các đường nét trên gương mặt co rúm lại dưới một cảm xúc mạnh mẽ nào đó đến mức tôi gần như không dám thề về danh tính của ông nữa. Dứt khoát không có bất kỳ chấn thương thể chất nào. Nhưng có một lời khai sai sự thật mà Barrymore đã đưa ra tại cuộc điều tra. Gã ta nói rằng không hề có bất kỳ dấu vết nào trên mặt đất quanh thi thể. Gã bảo mình chẳng quan sát thấy thứ gì. Nhưng tôi thì có - ở một khoảng cách gần đó, nhưng còn tươi mới và rành rành rõ rệt."

"Dấu chân ư?"

"Dấu chân."

"Của đàn ông hay đàn bà?"

Bác sĩ Mortimer nhìn chúng tôi một cách kỳ lạ trong khoảnh khắc, rồi giọng ông chùng xuống gần như một tiếng thì thầm khi ông trả lời:

"Thưa ngài Holmes, đó là dấu chân của một con chó săn khổng lồ!"



  1. Trong kỹ thuật in ấn và viết tay của tiếng Anh trước thế kỷ 19, có một ký tự gọi là 's dài' (hình dáng giống chữ 'f' không gạch ngang) được dùng ở đầu hoặc giữa từ, phân biệt với 's ngắn' dùng ở cuối từ. 

  2. Tên gọi cũ của cuộc Nội chiến Anh (1642-1651), một biến cố lịch sử lớn dẫn đến sự hành quyết của Vua Charles I và việc thiết lập nền cộng hòa trong thời gian ngắn tại Anh. 

  3. Ngày lễ của Tổng lãnh thiên thần Michael (29 tháng 9). Ở nước Anh xưa, ngày này thường đánh dấu thời điểm kết thúc mùa thu hoạch và là hạn chót để trả tiền thuê đất. 

  4. Đây là tên gọi cũ chỉ các nhóm dân tộc bản địa ở Nam Phi. Vào thế kỷ 19, đặc điểm sinh lý của những tộc người này là một chủ đề rất thu hút các nhà nghiên cứu giải phẫu học người châu Âu.