CHƯƠNG 9. ÁNH SÁNG TRÊN ĐẦM LẦY [BÁO CÁO THỨ HAI CỦA BÁC SĨ WATSON]

Trang viên Baskerville, ngày 15 tháng 10.

HOLMES THÂN MẾN,

Nếu như những ngày đầu nhận nhiệm vụ, tôi buộc lòng phải để anh chịu cảnh thiếu thốn tin tức, thì hẳn giờ đây anh phải công nhận rằng tôi đang bù đắp lại khoảng trống ấy một cách xứng đáng. Các sự kiện lúc này đang ập đến dồn dập. Ở báo cáo trước, tôi đã dừng lại ở một chi tiết nổi bật - cảnh Barrymore đứng bên khung cửa sổ - và lúc này trong tay tôi đã có cả một xấp hồ sơ, mà nếu không nhầm to, chắc chắn sẽ khiến anh vô cùng kinh ngạc. Mọi chuyện đã rẽ sang một hướng mà tôi không sao lường trước được. Trong vòng bốn mươi tám giờ qua, ở vài khía cạnh, chúng trở nên sáng tỏ hơn hẳn; nhưng ở những khía cạnh khác, chúng lại càng thêm rối rắm. Thôi thì tôi sẽ thuật lại tất cả, và anh hãy tự mình phán xét.

Trước bữa sáng của ngày hôm sau cuộc mạo hiểm nhỏ ấy, tôi men dọc hành lang để xem xét lại căn phòng mà Barrymore đã đứng trong đêm trước. Chiếc cửa sổ hướng Tây - nơi ông ta dán mắt nhìn ra - tôi nhận thấy, sở hữu một đặc điểm khác biệt hẳn so với mọi ô cửa khác trong tòa nhà: tầm nhìn từ đó vươn thẳng ra đầm lầy một cách gần gũi nhất. Một khe hở giữa hai gốc cây cho phép người đứng ở vị trí này phóng tầm mắt trực diện xuống vùng lầy, trong khi tất cả những cửa sổ còn lại chỉ hé lộ một góc mờ xa vời vợi. Suy ra, Barrymore - bởi chỉ có đúng ô cửa này phục vụ được ý đồ của mình - hẳn đã đứng đó để dõi tìm một thứ gì, hoặc một kẻ nào, ngoài đầm lầy. Đêm đó trời tối mịt mùng, thành thử tôi khó lòng hình dung nổi ông ta kỳ vọng nhìn thấy gì. Tôi từng thoáng nghĩ đến khả năng có một mối tình vụng trộm nào đó đang diễn ra. Điều ấy sẽ cắt nghĩa được những cử chỉ lén lút của ông ta, lẫn vẻ bất an canh cánh nơi người vợ. Gã đàn ông này có ngoại hình khá bắt mắt, rất dễ khiến trái tim một cô thôn nữ phải xao xuyến, nên giả thuyết này xem ra cũng có phần cơ sở. Tiếng cánh cửa mở ra mà tôi nghe thấy sau khi về phòng rất có thể đồng nghĩa với việc ông ta đã lẻn ra ngoài để đến một cuộc hẹn hò bí mật. Sáng hôm ấy, tôi đã tự suy luận như vậy, và tôi kể lại cho anh hướng nghi ngờ của mình, dẫu rằng về sau kết quả cho thấy chúng hoàn toàn vô căn cứ.

Nhưng dù lời giải thích thực sự cho những hành động của Barrymore là gì đi nữa, tôi cảm thấy trách nhiệm phải giấu kín sự việc trong lúc chưa thể làm sáng tỏ thật là quá sức chịu đựng của mình. Sau bữa sáng, tôi đã có một cuộc trò chuyện với ngài nam tước trong phòng làm việc của ngài, và tôi kể lại tất cả những gì tôi đã chứng kiến. Ngài ấy tỏ ra ít kinh ngạc hơn tôi tưởng.

“Tôi biết Barrymore vẫn thường đi lại ban đêm, và tôi đã định nói chuyện với ông ta về việc đó rồi,” ngài nói. “Đã hai ba lần tôi nghe tiếng bước chân ông ta ở hành lang, đi qua đi lại, đúng vào cái giờ mà anh vừa nhắc.”

“Vậy có lẽ đêm nào ông ta cũng tìm đến cái cửa sổ đặc biệt ấy,” tôi gợi ý.

“Cũng có thể lắm. Nếu vậy, chúng ta sẽ bám theo ông ta và xem thử ông ta đang mưu tính chuyện gì. Tôi cứ tự hỏi, bạn anh, Holmes, sẽ làm gì nếu anh ấy có mặt ở đây.”

“Tôi tin chắc anh ấy sẽ làm đúng như điều ngài vừa đề xuất,” tôi đáp. “Anh ấy sẽ theo dõi Barrymore và xem ông ta làm gì.”

“Thế thì chúng ta sẽ cùng làm chuyện đó.”

“Nhưng chắc chắn ông ta sẽ nghe thấy chúng ta.”

“Ông ta hơi nặng tai một chút, và dù sao thì chúng ta cũng phải liều thôi. Đêm nay, ta sẽ thức trong phòng tôi và chờ y đi ngang qua.” Ngài Henry xoa hai tay đầy phấn khích, và trông ngài rõ ràng háo hức chào đón cuộc phiêu lưu này như một niềm khuây khỏa giữa cuộc sống khá tĩnh mịch của mình nơi vùng đầm lầy.

Ngài nam tước đã liên lạc với vị kiến trúc sư từng phác thảo bản vẽ cho Ngài Charles, cùng với một nhà thầu từ London, vậy nên chúng ta có thể kỳ vọng những đổi thay to lớn sẽ sớm khởi động tại nơi đây. Thợ trang trí và thợ cung ứng đồ nội thất từ Plymouth cũng đã có mặt, và rõ ràng người bạn của chúng ta nuôi những ý tưởng lớn lao, quyết không tiếc công sức hay tiền bạc để phục hồi vẻ tráng lệ của dòng họ. Khi tòa nhà được tân trang và bày biện đồ đạc đâu vào đấy, tất cả những gì ngài ấy còn thiếu sẽ chỉ là một người vợ để khiến mọi thứ trở nên hoàn hảo. Nói nhỏ giữa đôi ta thôi nhé, có những dấu hiệu khá rõ ràng cho thấy điều này sẽ không thiếu - miễn là quý cô ưng thuận. Bởi hiếm khi tôi thấy một người đàn ông nào si mê một phụ nữ đến thế, như cách ngài ấy dành tình cảm cho người hàng xóm xinh đẹp của chúng ta, cô Stapleton. Vậy mà, trớ trêu thay, con đường tình yêu đích thực lại không hề suôn sẻ như người ta vẫn hằng mong đợi trong hoàn cảnh ấy. Ngay hôm nay thôi, mặt hồ phẳng lặng của nó đã bị khuấy động bởi một gợn sóng vô cùng bất ngờ, khiến cho người bạn của chúng ta rơi vào trạng thái bối rối và bực bội tột cùng.

Sau cuộc trò chuyện tôi vừa thuật lại về Barrymore, Ngài Henry đội mũ và chuẩn bị ra ngoài. Như một lẽ tất nhiên, tôi cũng làm y như vậy.

"Cái gì, anh cũng đi sao, Watson?" Ngài hỏi, nhìn tôi đầy tò mò.

"Điều đó còn tùy vào việc ngài có định ra đầm lầy hay không," tôi đáp.

"Đúng thế, tôi sẽ ra đó."

"Vậy thì ngài đã biết chỉ thị của tôi là gì rồi. Tôi xin lỗi vì có vẻ đường đột, nhưng chính ngài đã nghe Holmes tha thiết dặn dò thế nào rồi - rằng tôi không được rời xa ngài, và nhất là ngài tuyệt đối không được ra đầm lầy một mình."

Ngài Henry đặt tay lên vai tôi, nở một nụ cười thân thiện.

"Anh bạn thân mến ạ," ngài nói, "Holmes, dù có khôn ngoan đến mấy, cũng không thể lường trước được những chuyện đã xảy ra kể từ khi tôi đặt chân đến vùng đầm lầy này. Anh hiểu ý tôi chứ? Tôi tin chắc anh là người cuối cùng trên đời muốn trở thành kẻ phá đám. Tôi phải ra ngoài một mình."

Tôi bị đẩy vào một tình thế vô cùng khó xử. Tôi bối rối chẳng biết phải nói gì hay làm gì. Và trước khi tôi kịp đưa ra quyết định, ngài ấy đã nhặt cây gậy lên rồi sải bước đi mất.

Nhưng khi ngẫm lại sự việc, lương tâm tôi cắn rứt cay đắng vì đã vin vào bất kỳ lý do gì để ngài ấy khuất khỏi tầm mắt mình. Tôi hình dung ra cảm giác của mình sẽ thế nào nếu phải quay về gặp Holmes và thú nhận rằng một tai họa nào đó đã ập đến chỉ vì tôi coi thường chỉ thị của anh. Tôi cam đoan với anh, mặt tôi đỏ bừng lên ngay khi nghĩ đến điều đó. Có lẽ vẫn chưa quá muộn để đuổi theo ngài ấy. Thế là tôi lập tức lên đường, thẳng hướng Merripit House.

Tôi rảo bước vội vã trên đường, nhanh hết mức có thể, nhưng chẳng thấy bóng dáng Ngài Henry đâu cả, cho đến khi tôi tới ngã rẽ nơi lối mòn dẫn ra đầm lầy. Ở đó, vì sợ mình đã đi nhầm hướng, tôi trèo lên một ngọn đồi để có tầm nhìn bao quát - chính là ngọn đồi bị khoét thành cái mỏ đá tối tăm kia. Từ trên đó, tôi lập tức nhìn thấy ngài. Ngài đang ở trên lối mòn đầm lầy, cách chừng một phần tư dặm, và bên cạnh ngài là một quý cô, không thể ai khác ngoài cô Stapleton. Rõ ràng giữa họ đã có sự ngầm hiểu và họ đã hẹn gặp nhau. Họ thong thả dạo bước, đắm chìm trong một cuộc trò chuyện say sưa. Tôi thấy cô ấy khua tay với những cử chỉ nhỏ nhắn nhưng dứt khoát, dường như cô ấy rất nghiêm túc với những điều mình đang nói. Còn ngài thì chăm chú lắng nghe, một hai lần lắc đầu kịch liệt ra chiều không đồng tình.

Tôi đứng giữa những tảng đá quan sát họ, vô cùng băn khoăn không biết nên làm gì tiếp theo. Đi theo họ rồi xen ngang vào cuộc trò chuyện riêng tư của họ thì quả là một hành động đường đột. Nhưng bổn phận rành rành của tôi là không một giây phút nào được để ngài ấy khuất khỏi tầm mắt. Đóng vai kẻ rình rập bạn mình - quả thực là một nhiệm vụ đáng ghét. Dẫu sao, tôi không thấy có cách nào tốt hơn là quan sát ngài từ trên ngọn đồi, rồi sau đó xoa dịu lương tâm mình bằng cách thú thật với ngài tất cả những gì tôi đã làm. Đành rằng nếu có mối nguy hiểm bất ngờ nào đe dọa ngài, tôi đã ở quá xa để có thể giúp ích. Nhưng tôi tin chắc anh sẽ đồng ý với tôi rằng tình thế lúc đó quả thực tế nhị, và tôi không thể làm gì hơn.

Người bạn Ngài Henry của chúng ta và quý cô kia đã dừng lại trên lối mòn, đang say sưa trò chuyện, thì tôi chợt nhận ra mình không phải là nhân chứng duy nhất cho cuộc gặp gỡ của họ. Một dải màu xanh lá cây phất phơ trong gió lọt vào mắt tôi, và nhìn kỹ hơn, tôi thấy nó được cắm trên một cây gậy do một người đàn ông mang theo, đang di chuyển giữa vùng đất lởm chởm đá. Ấy là Stapleton với chiếc vợt bắt bướm của ông ta. Ông ta ở gần cặp đôi ấy hơn tôi rất nhiều, và dường như đang tiến thẳng về phía họ.

Vào khoảnh khắc đó, Ngài Henry đột nhiên kéo cô Stapleton về phía mình. Cánh tay ngài quàng qua người cô, nhưng tôi có cảm giác cô ấy đang cố lùi ra, mặt quay đi chỗ khác. Ngài cúi đầu sát vào đầu cô. Cô giơ một tay lên như để phản đối. Khoảnh khắc tiếp theo, tôi thấy họ vội vã buông nhau ra và quay ngoắt lại. Stapleton chính là nguyên nhân. Ông ta đang chạy thục mạng về phía họ, chiếc vợt nực cười lủng lẳng đằng sau. Ông ta huơ tay múa chân, gần như nhảy cẫng lên vì kích động ngay trước mặt đôi tình nhân. Tôi chẳng thể hình dung nổi cảnh tượng ấy có nghĩa lý gì. Nhưng xem ra Stapleton đang sỉ vả Ngài Henry, còn ngài thì cố đưa ra những lời giải thích, nhưng càng lúc càng nổi giận khi người kia nhất quyết không chấp nhận. Cô gái đứng bên cạnh trong im lặng đầy kiêu hãnh. Cuối cùng, Stapleton quay gót, vẫy tay gọi em gái một cách hách dịch. Cô gái liếc nhìn Ngài Henry đầy do dự, rồi bước theo anh trai. Những cử chỉ giận dữ của nhà tự nhiên học cho thấy cô gái cũng nằm trong cơn thịnh nộ của ông ta. Ngài nam tước đứng nhìn theo họ một phút, rồi thong thả bước ngược trở lại con đường mình đã đến, đầu cúi gằm - một hình ảnh thực sự của sự sầu não.

Tôi chẳng thể nào hiểu nổi tất cả những chuyện này có nghĩa là gì, nhưng tôi vô cùng xấu hổ vì đã chứng kiến một cảnh tượng riêng tư như vậy mà bạn tôi không hề hay biết. Thế là tôi chạy xuống đồi, gặp ngài nam tước ở dưới chân đồi. Mặt ngài đỏ bừng vì tức giận, đôi lông mày nhíu chặt, trông như một kẻ đang hoàn toàn bế tắc.

"Chào Watson! Anh từ đâu trên trời rơi xuống thế?" ngài hỏi. "Đừng nói với tôi là anh đã bất chấp mọi thứ mà bám theo tôi đấy nhé?"

Tôi bèn giải thích mọi chuyện với ngài: làm sao tôi thấy không thể ở lại phía sau, làm sao tôi đã bám theo ngài, và làm sao tôi đã chứng kiến tất cả những gì vừa xảy ra. Trong một thoáng, đôi mắt ngài rực lửa nhìn tôi, nhưng sự thẳng thắn của tôi đã dập tắt cơn giận của ngài. Cuối cùng, ngài phá lên cười - một nụ cười khá rầu rĩ.

"Anh hẳn đã nghĩ giữa chốn đồng hoang này là một nơi khá an toàn để một gã đàn ông có được chút riêng tư," ngài nói. "Nhưng, trời đất ơi, xem ra cả vùng này đã đổ ra xem tôi tán tỉnh - mà lại là một màn tán tỉnh quá đỗi tồi tệ! Anh đã đặt chỗ ngồi ở đâu thế?"

"Tôi ở trên ngọn đồi đằng kia."

"Hẳn là ở hàng ghế cuối cùng rồi, nhỉ? Còn anh trai cô ấy thì ngồi ngay hàng ghế đầu. Anh có thấy ông ta xông ra chỗ chúng tôi không?"

"Có, tôi có thấy."

"Ông ta có bao giờ khiến anh có cảm giác hắn ta bị điên không - cái gã anh trai của cô ấy ấy?"

"Tôi không thể nói là đã từng."

"Tôi dám chắc là chưa. Tôi vẫn luôn nghĩ hắn ta khá tỉnh táo cho đến tận hôm nay. Nhưng anh nghe tôi nói đây, Watson, hoặc là hắn, hoặc là tôi, đáng lẽ phải bị mặc áo nịt dành cho người điên1 rồi. Tóm lại, tôi bị làm sao cơ chứ? Anh đã sống gần tôi vài tuần nay rồi. Giờ thì nói thẳng cho tôi nghe! Có điều gì ngăn cản tôi trở thành một người chồng tốt cho người phụ nữ tôi yêu không?"

"Tôi nghĩ là không."

"Hắn ta không thể phản đối địa vị xã hội của tôi. Vậy chắc hẳn hắn có ác cảm với chính bản thân tôi. Hắn có điều gì chống lại tôi chứ? Tôi chưa từng làm hại một ai, đàn ông hay đàn bà, trong suốt cuộc đời mình. Vậy mà hắn thậm chí không cho phép tôi chạm vào đầu ngón tay cô ấy."

"Ông ta đã nói vậy sao?"

"Thế đấy, và còn hơn thế nữa. Tôi nói cho anh nghe, Watson, tôi mới chỉ quen cô ấy vài tuần, nhưng ngay từ đầu tôi đã cảm thấy cô ấy sinh ra là để dành cho tôi. Và cô ấy cũng vậy - cô ấy đã rất hạnh phúc khi ở bên tôi, tôi xin thề đấy. Ở trong đôi mắt người phụ nữ có một thứ ánh sáng còn nói lên nhiều điều hơn cả lời nói. Nhưng hắn ta chưa bao giờ để chúng tôi được ở bên nhau. Và chỉ đến hôm nay, lần đầu tiên tôi mới có cơ hội trò chuyện riêng với cô ấy được đôi lời. Cô ấy rất vui khi gặp tôi, nhưng khi gặp rồi thì tình yêu không phải là điều cô ấy muốn nhắc đến. Cô ấy cũng chẳng để cho tôi nói về nó nếu cô ấy có thể ngăn cản được. Cô ấy cứ nhắc đi nhắc lại rằng đây là một nơi nguy hiểm, và rằng cô ấy sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc cho đến khi tôi rời khỏi đây. Tôi bảo cô ấy rằng kể từ khi gặp cô, tôi không hề vội vàng muốn rời đi. Và nếu cô ấy thực sự muốn tôi đi, cách duy nhất để làm được điều đó là cô ấy phải thu xếp để đi cùng tôi. Nói đến đấy, tôi thẳng thắn ngỏ lời cầu hôn. Nhưng trước khi cô ấy kịp trả lời, cái gã anh trai cô ấy đã xộc tới, chạy về phía chúng tôi với khuôn mặt như một kẻ điên. Hắn tái nhợt vì giận dữ, đôi mắt nhạt màu rực lên ngọn lửa cuồng nộ. Tôi đang làm gì với quý cô đây? Sao tôi dám đưa ra những lời tán tỉnh khiến cô ấy khó chịu? Có phải vì tôi là nam tước nên tôi có thể muốn làm gì thì làm? Nếu hắn không phải là anh trai cô ấy, tôi đã biết cách đáp trả hắn tử tế hơn rồi. Thay vào đó, tôi nói với hắn rằng tình cảm của tôi dành cho em gái hắn chẳng có gì phải hổ thẹn, và tôi hy vọng cô ấy có thể ban cho tôi vinh dự được trở thành vợ tôi. Điều đó hình như chẳng làm tình hình khá hơn chút nào. Thế rồi chính tôi cũng mất bình tĩnh, và tôi đã đáp trả hắn nóng nảy hơn mức cần thiết, nhất là khi cô ấy đang đứng ngay đó. Kết cục là hắn bỏ đi cùng cô ấy, đúng như anh đã thấy. Và giờ tôi đứng đây, một gã đàn ông bối rối chẳng kém bất kỳ ai trên cõi đời này. Anh hãy nói cho tôi biết tất cả những chuyện này nghĩa là gì đi, Watson, và tôi sẽ mang ơn anh đến hết đời."

Tôi đã thử đưa ra một vài lời giải thích, nhưng quả thực, chính tôi cũng hoàn toàn bối rối. Tước hiệu, khối tài sản, tuổi tác, tính cách và ngoại hình của người bạn chúng ta - tất cả đều thuận lợi cho ngài ấy. Tôi chẳng biết có điều gì chống lại ngài, ngoại trừ cái số phận đen tối đang đeo bám dòng họ nhà ngài. Việc lời cầu hôn của ngài bị cự tuyệt một cách phũ phàng, bất chấp mong muốn của quý cô, và việc quý cô chấp nhận tình huống ấy mà không hề phản kháng - tất cả đều hết sức khó hiểu. Tuy nhiên, mọi phỏng đoán của chúng tôi đã được xoa dịu phần nào nhờ chuyến viếng thăm của chính Stapleton vào buổi chiều hôm đó. Ông ta đến để gửi lời xin lỗi vì sự thô lỗ của mình vào buổi sáng. Sau một cuộc trò chuyện riêng khá dài với Ngài Henry trong phòng làm việc, kết quả là mối rạn nứt đã hoàn toàn được hàn gắn. Và như một dấu hiệu cho điều đó, chúng tôi sẽ dùng bữa tối tại Merripit House vào thứ Sáu tuần tới.

"Tôi không nói là hắn ta không phải một kẻ điên," Ngài Henry nói. "Tôi không thể quên được ánh mắt của hắn khi hắn xông vào tôi sáng nay. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng chưa có người đàn ông nào đưa ra một lời xin lỗi chân thành hơn thế."

"Ông ta có đưa ra lời giải thích nào cho hành động của mình không?"

"Em gái hắn là tất cả trong cuộc đời hắn - hắn nói vậy. Điều đó cũng đủ tự nhiên thôi, và tôi mừng là hắn hiểu được giá trị của cô ấy. Họ luôn ở bên nhau. Theo lời hắn kể, hắn là một kẻ rất cô độc, chỉ có mình cô ấy làm bạn. Thế nên ý nghĩ mất cô ấy thực sự là một điều khủng khiếp đối với hắn. Hắn bảo hắn đã không nhận ra rằng tôi đang ngày càng gắn bó với cô ấy. Nhưng khi tận mắt chứng kiến điều đó là sự thật, và rằng cô ấy có thể bị mang đi mất khỏi hắn, điều đó đã giáng cho hắn một cú sốc lớn đến nỗi trong một lúc hắn không còn làm chủ được những gì mình nói hay làm. Hắn rất hối hận về tất cả những gì đã qua. Hắn nhận ra rằng thật ngu ngốc và ích kỷ khi nghĩ mình có thể giữ một người phụ nữ xinh đẹp như em gái hắn cho riêng mình suốt đời. Nếu cô ấy phải rời xa hắn, thà để cô ấy đến với một người láng giềng như tôi còn hơn là bất kỳ ai khác. Nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đó cũng là một đòn giáng mạnh với hắn, và hắn sẽ cần thời gian trước khi có thể chuẩn bị tinh thần để đối mặt với nó. Hắn sẽ rút lại mọi sự phản đối về phần mình, nếu tôi hứa trong vòng ba tháng sẽ để mọi chuyện lắng xuống, bằng lòng vun đắp tình bạn với quý cô trong khoảng thời gian đó mà không đòi hỏi tình yêu của cô ấy. Tôi đã hứa điều này. Thế là mọi chuyện được giải quyết."

Vậy là một trong những bí ẩn nhỏ của chúng ta đã được làm sáng tỏ. Thật cũng là một điều đáng kể khi chạm được tới đáy ở bất kỳ đâu trong cái đầm lầy mà chúng ta đang vùng vẫy này. Giờ thì chúng ta đã biết vì sao Stapleton lại nhìn với ánh mắt thiếu thiện cảm đối với người cầu hôn em gái mình - ngay cả khi người cầu hôn ấy lại hoàn hảo như Ngài Henry. Và bây giờ, tôi chuyển sang một manh mối khác mà tôi đã gỡ ra từ cuộn len rối rắm: bí ẩn về những tiếng nức nở trong đêm, về khuôn mặt đẫm lệ của bà Barrymore, về chuyến đi bí mật của người quản gia tới ô cửa sổ chớp hướng Tây. Hãy chúc mừng tôi đi, Holmes thân mến, và hãy nói với tôi rằng tôi đã không làm anh thất vọng trong vai trò một đặc vụ - rằng anh không hề hối tiếc vì sự tin tưởng anh đã trao cho tôi khi cử tôi xuống đây. Tất cả những chuyện này đã được làm sáng tỏ hoàn toàn chỉ sau công sức của một đêm.

Tôi đã nói "chỉ sau công sức của một đêm", nhưng kỳ thực phải mất đến hai đêm, bởi đêm đầu tiên chúng tôi hoàn toàn trắng tay. Tôi đã thức cùng Ngài Henry trong phòng của ngài đến gần ba giờ sáng, ấy vậy mà chẳng nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng đồng hồ điểm giờ nơi cầu thang. Đó là một canh thức dài lê thê buồn tẻ, và rồi kết thúc bằng cảnh mỗi người chúng tôi gục ngủ trên ghế của mình. May thay, chúng tôi không nản chí, và nhất quyết thử lại lần nữa. Đêm tiếp theo, chúng tôi vặn nhỏ đèn rồi ngồi hút thuốc, không để lọt ra một tiếng động dù là nhỏ nhất. Thật khó tin nổi thời gian bò qua chậm chạp đến nhường nào, nhưng chúng tôi đã chịu đựng được bằng cái thứ kiên nhẫn giống y như người thợ săn khi nằm rình bên cạnh chiếc bẫy mà anh ta hy vọng con mồi sẽ lảng vảng sập vào. Một giờ điểm, rồi hai giờ điểm, và chúng tôi gần như đã định từ bỏ lần thứ hai trong tuyệt vọng, thì bất thình lình cả hai cùng bật thẳng dậy trên ghế, mọi giác quan đang uể oải bỗng chốc lại sắc bén lạ thường. Chúng tôi đã nghe thấy tiếng cót két của một bước chân nơi hành lang.

Chúng tôi nghe tiếng bước chân ấy lướt qua đầy lén lút, rồi nhỏ dần và xa hẳn. Sau đó, ngài nam tước khẽ khàng mở cửa và cuộc truy đuổi bắt đầu. Kẻ của chúng tôi đã vòng qua phòng trưng bày tranh, tiến vào dãy hành lang chìm trong bóng tối mịt mùng. Chúng tôi nhón chân len lỏi cho đến khi bước sang khu nhà phía bên kia. Và rồi chúng tôi vừa kịp thoáng thấy bóng dáng một người đàn ông cao lớn, râu đen, hai vai chùng xuống, đang rón rén bước dọc hành lang. Ông ta đi qua chính cánh cửa như lần trước, và ánh nến đã viền lấy bóng ông ta trong màn đêm, hắt ra một tia sáng vàng duy nhất xuyên qua bóng tối dày đặc của dãy hành lang. Chúng tôi thận trọng lê từng bước về phía đó, dò dẫm từng tấm ván sàn trước khi dám dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên. Chúng tôi đã đề phòng bằng cách bỏ giày ống lại phía sau, thế nhưng, ngay cả như vậy, những tấm ván cũ kỹ vẫn kẽo kẹt và cong oằn dưới sức nặng của chúng tôi. Có những khoảnh khắc tưởng chừng như ông ta không thể không nghe thấy tiếng chúng tôi đang đến gần. Tuy nhiên, may mắn thay, ông ta hơi nặng tai, và lại đang hoàn toàn đắm chìm vào công việc của mình. Khi cuối cùng chúng tôi đến được cánh cửa và hé mắt nhìn trộm vào trong, chúng tôi thấy ông ta đang khom người bên khung cửa sổ, tay cầm nến, khuôn mặt trắng bệch và căng thẳng áp sát vào tấm kính, y hệt như những gì tôi đã chứng kiến hai đêm trước đó.

Chúng tôi chưa hề bàn trước kế hoạch hành động nào, nhưng ngài nam tước là mẫu người mà cách trực tiếp nhất bao giờ cũng là cách tự nhiên nhất. Ngài bước thẳng vào phòng, và ngay lúc ấy, Barrymore bật dậy khỏi cửa sổ, buông ra một tiếng rít the thé rồi đứng sững đó, nhợt nhạt và run rẩy, ngay trước mặt chúng tôi. Đôi mắt đen của ông ta trừng trừng nhìn ra từ chiếc mặt nạ trắng bệch của khuôn mặt, tràn ngập nỗi kinh hoàng lẫn sửng sốt khi hết liếc sang Ngài Henry lại liếc sang tôi.

"Ông đang làm gì ở đây vậy, Barrymore?"

"Chẳng có gì cả, thưa ngài." Nỗi bối rối của ông ta lớn đến nỗi suýt nữa không thốt nên lời, và những chiếc bóng nhảy múa loạn xạ trên tường theo từng cơn run rẩy của ngọn nến. "Đây là cửa sổ, thưa ngài. Tôi đi một vòng vào ban đêm để kiểm tra xem chúng đã được cài kỹ hay chưa."

"Ở tận tầng hai này ư?"

"Vâng, thưa ngài, tất cả các cửa sổ."

"Nghe này, Barrymore," Ngài Henry cất giọng nghiêm khắc, "chúng tôi đã nhất quyết phải moi ra sự thật từ ông, vậy nên ông khai ra sớm chừng nào thì đỡ phiền phức cho tất cả chừng ấy. Nào! Không được nói dối! Ông đang làm cái trò gì ở cái cửa sổ ấy?"

Ông ta nhìn chúng tôi bằng ánh mắt bất lực, rồi siết chặt hai bàn tay vào nhau như một kẻ đã rơi vào tuyệt vọng và đau khổ tột cùng.

"Tôi không làm gì hại ai cả, thưa ngài. Tôi chỉ đang cầm nến ra cửa sổ thôi mà."

"Và vì cớ gì ông lại cầm nến ra cửa sổ?"

"Xin đừng hỏi tôi nữa, Ngài Henry - làm ơn đừng hỏi! Tôi xin lấy danh dự mà bảo đảm với ngài, thưa ngài, rằng đó không phải là bí mật của riêng tôi, và tôi không thể nói ra được. Nếu điều này chỉ liên quan đến mình tôi, thì tôi đã chẳng phải tìm cách giấu ngài làm gì."

Một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu tôi, và tôi giật phắt lấy ngọn nến khỏi bàn tay run rẩy của người quản gia.

"Nhất định ông ta đã dùng nó như một tín hiệu," tôi nói. "Để xem có ai đáp lại không." Tôi cầm ngọn nến giống hệt như cách ông ta đã làm, và dán mắt nhìn ra ngoài màn đêm đen kịt. Tôi có thể lờ mờ nhận ra bờ cây đen ngòm cùng khoảng không sáng hơn của vùng đầm lầy, bởi mặt trăng lúc này đang nấp sau những đám mây. Và rồi tôi buột ra một tiếng kêu mừng rỡ, vì một đốm sáng vàng nhỏ xíu đã đột ngột xuyên thủng tấm màn đen, lấp lánh đều đặn ngay chính giữa ô vuông đen ngòm được viền bởi khung cửa sổ.

"Kia rồi!" tôi reo lên.

"Không, không, thưa ngài, chẳng có gì đâu - làm gì có gì đâu!" người quản gia vội chen vào; "Tôi xin cam đoan với ngài, thưa ngài -"

"Di chuyển ngọn nến qua lại trước cửa sổ đi, Watson!" ngài nam tước hô lớn. "Kìa, cái đốm sáng kia cũng chuyển động theo kìa! Nào, đồ khốn kiếp, ông còn dám chối rằng đó không phải là tín hiệu sao? Nào, nói mau! Đồng bọn của ông ngoài kia là kẻ nào, và cái âm mưu đang diễn ra đây là gì?"

Khuôn mặt ông ta bỗng dưng lộ ra vẻ thách thức đến cực độ. "Đó là chuyện của tôi, không phải chuyện của ngài. Tôi sẽ không nói."

"Vậy thì ông hãy nghỉ việc ngay lập tức."

"Rất tốt, thưa ngài. Nếu tôi phải ra đi thì tôi xin ra đi."

"Và ông sẽ ra đi trong tủi nhục. Lạy Chúa, đáng lẽ ông phải tự thấy xấu hổ về bản thân mình! Gia đình ông đã sống cùng gia đình tôi hơn một trăm năm dưới mái nhà này, vậy mà giờ đây tôi lại phát hiện ra ông đang nhúng tay vào một âm mưu đen tối nào đó chống lại tôi."

"Không, không, thưa ngài; không, đâu có chống lại ngài!" Đó là một giọng đàn bà, và bà Barrymore, mặt cắt không còn giọt máu, hoảng hốt còn hơn cả chồng mình, đang đứng ngay nơi ngưỡng cửa. Thân hình đồ sộ của bà trong chiếc khăn choàng và váy áo có lẽ đã trở nên nực cười, nếu không có cái vẻ căng thẳng khủng khiếp hằn trên nét mặt.

"Chúng ta phải đi thôi, Eliza. Mọi sự đến đây là chấm dứt. Bà đi thu xếp đồ đạc đi," người quản gia nói.

"Ôi, John, John, có phải em đã đẩy ông đến bước đường này không? Đó đều là việc của em, thưa Ngài Henry - tất cả đều do em. Ông ấy chẳng làm gì cả, ngoài việc chiều theo ý em và vì em đã nhờ cậy ông ấy."

"Vậy thì nói ra đi! Rốt cuộc chuyện này là thế nào?"

"Đứa em trai khốn khổ của em đang chết đói ngoài đầm lầy. Chúng em không thể để em ấy chết ngay trước cổng nhà mình được. Ngọn đèn là tín hiệu cho em ấy biết thức ăn đã được chuẩn bị sẵn sàng, còn ngọn đèn của em ấy ở ngoài kia là để chỉ chỗ đưa đồ đến."

"Vậy em trai bà là -"

"Gã tù vượt ngục, thưa ngài - Selden, kẻ sát nhân."

"Đúng là như vậy, thưa ngài," Barrymore lên tiếng. "Tôi đã nói với ngài rằng đó không phải bí mật của tôi và tôi không thể kể cho ngài. Nhưng giờ thì ngài đã rõ, và ngài sẽ thấy rằng nếu có bất kỳ âm mưu nào đi nữa, thì nó cũng chẳng nhằm vào ngài."

Thì ra đây chính là lời giải đáp cho những chuyến lén lút trong đêm và ánh sáng bên khung cửa sổ. Cả Ngài Henry lẫn tôi đều sững sờ nhìn người đàn bà với vẻ kinh ngạc. Lẽ nào người đàn bà trông đến nhàm chán và đáng kính này lại có chung dòng máu với một trong những tên tội phạm khét tiếng nhất nước?

"Vâng, thưa ngài, tên thời con gái của em là Selden, và hắn là em trai em. Chúng em đã quá nuông chiều hắn khi hắn còn là một đứa trẻ, lúc nào cũng để hắn muốn gì được nấy, cho đến khi hắn tưởng rằng thế giới này sinh ra là để phục vụ cho thú vui của hắn, và hắn muốn làm gì trên đời cũng được. Rồi khi lớn lên, hắn giao du với đám bạn bè xấu xa, và ma quỷ đã nhập vào hắn cho đến khi hắn bóp nát trái tim mẹ em và bôi tro trát trấu lên danh tiếng của gia đình. Từ tội này đến tội khác, hắn cứ thế lún sâu mãi, cho đến lúc chỉ còn lòng thương xót của Chúa mới cứu được hắn khỏi giá treo cổ; nhưng với em, thưa ngài, hắn vẫn mãi là đứa em trai tóc xoăn ngày nào mà em đã từng bế ẵm và chơi đùa như một người chị cả. Đó là lý do hắn vượt ngục, thưa ngài. Hắn biết em đang ở đây, và chúng em chẳng thể nào nỡ lòng từ chối giúp đỡ hắn. Khi hắn lết được đến đây vào một đêm nọ, mệt lử và đói khát, với lũ cai ngục bám sát gót chân, chúng em còn biết làm gì đây? Chúng em đã đưa hắn vào, cho hắn ăn và chăm sóc hắn. Rồi sau đó ngài trở về, thưa ngài, và em trai em nghĩ rằng trốn ngoài đầm lầy thì an toàn hơn bất cứ đâu, cho đến khi đợt truy lùng qua đi, thế là hắn lẩn trốn ngoài đó. Nhưng cứ cách một đêm, chúng em lại kiểm tra xem hắn có còn ở đó không bằng cách đặt một ngọn đèn bên khung cửa sổ, và nếu có tín hiệu trả lời, chồng em lại mang chút bánh mì với thịt ra cho hắn. Ngày nào chúng em cũng mong hắn đã bỏ đi rồi, nhưng chừng nào hắn còn ở đó, chúng em không thể bỏ mặc hắn. Đó là toàn bộ sự thật, em xin thề trên tư cách một người đàn bà Cơ Đốc lương thiện, và ngài sẽ thấy rằng nếu có lỗi lầm nào trong chuyện này, thì nó không nằm ở chồng em, mà là ở em, bởi vì ông ấy làm tất cả những điều này đều là vì em."

Những lời của người đàn bà tuôn ra với một niềm thành khẩn mãnh liệt mang theo sức thuyết phục riêng của nó.

"Điều này có đúng không, Barrymore?"

"Vâng, thưa Ngài Henry. Từng lời đều là sự thật."

"Thôi được, tôi không thể trách ông vì đã đứng về phía vợ mình. Hãy quên những gì tôi vừa nói đi. Hai người về phòng đi, sáng mai chúng ta sẽ bàn thêm về việc này."

Khi họ đã rời đi, chúng tôi lại quay ra nhìn qua khung cửa sổ. Ngài Henry đẩy tung nó ra, và cơn gió đêm lạnh buốt tạt thẳng vào mặt chúng tôi. Xa xa, trong bóng tối mịt mùng, đốm sáng vàng nhỏ bé vẫn le lói cháy.

"Tôi lấy làm lạ là hắn dám làm thế," Ngài Henry nhận xét.

"Có lẽ nó được đặt ở vị trí sao cho chỉ có thể nhìn thấy từ đây mà thôi."

"Rất có thể. Anh đoán nó cách đây bao xa?"

"Tôi nghĩ là ở quá phía Cleft Tor2."

"Nơi ấy cách đây không quá một hai dặm đâu."

"Chưa đến mức đó đâu."

"Ừ, cũng chẳng thể xa được nếu như Barrymore phải mang thức ăn ra tận đó. Và hắn ta - cái tên ác ôn ấy - đang ngồi chờ bên cạnh ngọn nến kia kìa. Trời ơi, Watson, tôi sẽ ra ngoài đó và tóm cổ hắn!"

Cùng một ý nghĩ ấy cũng đã vụt qua tâm trí tôi. Dẫu sao thì gia đình Barrymore cũng đâu có tự nguyện thổ lộ với chúng tôi. Bí mật của họ bị ép buộc phải phơi bày. Còn gã kia là mối nguy hiểm cho cộng đồng, một tên vô lại chẳng đáng được thương xót hay viện cớ gì. Chúng tôi chỉ đang làm tròn bổn phận của mình khi nắm lấy cơ hội này để tống hắn trở lại nơi hắn không thể hãm hại thêm ai. Với bản chất hung bạo và tàn ác của hắn, nếu chúng tôi khoanh tay đứng nhìn, ắt sẽ có những người khác phải trả giá. Ví như bất kỳ đêm nào, đôi vợ chồng Stapleton hàng xóm của chúng tôi cũng có thể trở thành nạn nhân của hắn, và có lẽ chính ý nghĩ này đã khiến Ngài Henry càng thêm quyết tâm cho chuyến thám hiểm.

"Tôi sẽ đi," tôi tuyên bố.

"Vậy thì lấy súng lục ra và xỏ giày ống vào. Chúng ta xuất phát càng sớm càng tốt, vì gã đó có thể dập tắt đèn rồi chuồn mất bất cứ lúc nào."

Trong vòng năm phút, chúng tôi đã ra khỏi cửa, bắt đầu chuyến thám hiểm trong đêm. Chúng tôi hối hả len qua những lùm cây rậm rạp, tối đen, giữa tiếng rên rỉ ảo não của cơn gió thu và tiếng lá khô xào xạc rơi. Không khí ban đêm nặng trĩu mùi ẩm mốc và mục rữa. Đôi lúc mặt trăng ló ra trong một thoáng chốc, nhưng mây đen vần vũ cuồn cuộn trên bầu trời, và khi chúng tôi vừa ra đến đầm lầy thì một cơn mưa bụi lất phất bắt đầu rơi. Phía trước, ánh đèn vẫn cháy đều đặn không chút lay động.

"Anh có mang theo vũ khí không?" tôi hỏi.

"Tôi có một cây roi săn."

"Chúng ta phải tiếp cận hắn thật nhanh. Nghe nói hắn là một kẻ liều lĩnh. Phải khiến hắn bất ngờ và buộc hắn đầu hàng trước khi kịp kháng cự."

"Này, Watson," ngài nam tước lên tiếng, "Holmes sẽ nói gì về chuyện này nhỉ? Về cái giờ phút tăm tối mà sức mạnh của cái ác được tôn vinh ấy?"

Như để đáp lời ngài, từ trong bóng tối mênh mông của đầm lầy bỗng vọng lên một tiếng hú kỳ quái - cái âm thanh mà tôi đã từng nghe thấy ở rìa Đại đầm lầy Grimpen. Nó rạch ngang cơn gió, xé toang sự tĩnh lặng của màn đêm: một tiếng gầm gừ dài, trầm đục, rồi vút lên thành tiếng tru the thé, và sau cùng là một hồi rên rỉ thê lương trước khi tắt hẳn. Âm thanh ấy vọng đi vọng lại hết lần này đến lần khác, khiến cả không gian run lên bần bật - chói tai, hoang dại và đầy đe dọa. Ngài nam tước túm chặt lấy tay áo tôi, khuôn mặt ngài trắng bệch lấp lóa trong bóng đêm.

"Lạy Chúa, tiếng gì thế, Watson?"

"Tôi không biết. Đó là một âm thanh thỉnh thoảng vẫn vang lên trên đầm lầy. Tôi đã nghe thấy một lần trước đây rồi."

Tiếng hú lịm dần rồi tắt hẳn, và một sự im lặng tuyệt đối lại bao trùm lên chúng tôi. Chúng tôi đứng căng tai lắng nghe, nhưng chẳng có gì xuất hiện cả.

"Watson," ngài nam tước cất tiếng, "đó là tiếng hú của một con chó săn."

Máu trong huyết quản tôi như đông cứng lại, bởi trong giọng nói của ngài có một sự ngập ngừng - cái ngập ngừng báo hiệu nỗi kinh hoàng đột ngột đã bóp nghẹt lấy trái tim ngài.

"Người ta gọi âm thanh ấy là gì?" ngài hỏi.

"Ai cơ ạ?"

"Những người dân quanh vùng."

"Ồ, họ là những người ít học. Ngài hà tất phải bận tâm họ gọi nó là gì?"

"Nói cho tôi biết đi, Watson. Họ nói gì về nó?"

Tôi ngập ngừng, nhưng không thể lảng tránh câu hỏi được nữa.

"Họ nói đó là tiếng hú của con chó săn nhà Baskerville."

Ngài khẽ rên lên và lặng đi trong giây lát.

"Đúng là một con chó săn," cuối cùng ngài nói, "nhưng hình như nó phát ra từ cách đây hàng dặm, ngoài kia kìa, tôi đoán thế."

"Rất khó xác định nó phát ra từ đâu."

"Tiếng hú vang lên rồi trầm xuống theo chiều gió. Có phải hướng ấy là hướng của Đại đầm lầy Grimpen không?"

"Đúng vậy, chính là hướng đó."

"Ừ, vậy là nó ở ngoài ấy. Nào, Watson, bản thân anh không nghĩ rằng đó là tiếng hú của một con chó săn sao? Tôi không phải là trẻ con. Anh đừng ngại nói ra sự thật."

"Lần trước khi tôi nghe thấy nó, Stapleton cũng có mặt ở đó. Ông ta bảo đó có thể là tiếng kêu gọi bầy của một loài chim lạ."

"Không, không, đó là chó săn. Lạy Chúa, liệu có chút sự thật nào trong tất cả những câu chuyện kia không? Có lẽ nào tôi thực sự đang gặp nguy hiểm bởi một thế lực đen tối như vậy? Anh không tin điều đó, phải không, Watson?"

"Không, thưa ngài, không."

"Vậy mà cười nhạo nó ở London là một chuyện, còn đứng đây giữa màn đêm hun hút của đầm lầy mà nghe thấy một tiếng hú như thế lại là chuyện khác. Còn chú tôi nữa! Ngay bên cạnh thi thể ngài có dấu chân của một con chó săn. Tất cả đều khớp với nhau. Tôi không cho rằng mình là kẻ hèn nhát, Watson, nhưng cái âm thanh ấy dường như làm đông cứng cả máu trong người tôi. Anh sờ tay tôi thử xem!"

Bàn tay ngài lạnh ngắt như một phiến đá cẩm thạch.

"Ngày mai ngài sẽ ổn thôi."

"Tôi không nghĩ mình có thể gạt được tiếng hú ấy ra khỏi đầu. Giờ anh khuyên chúng ta nên làm gì?"

"Chúng ta có nên quay về không?"

"Không, trời đất ơi! Chúng ta đã ra ngoài để tóm gã đó, và chúng ta sẽ làm bằng được. Chúng ta đang đuổi theo tên tù vượt ngục, và rất có thể, một con chó săn địa ngục đang đuổi theo chúng ta. Đi thôi! Chúng ta sẽ theo đuổi đến cùng, dù cho tất cả lũ quỷ dữ của địa ngục có được thả rông trên đầm lầy này!"

Chúng tôi dò dẫm bước chầm chậm trong bóng tối, những ngọn đồi hiểm trở sừng sững như những bóng ma khổng lồ vây quanh, và đốm sáng vàng vẫn cháy đều đặn ở phía trước. Chẳng có gì đánh lừa được thị giác con người bằng khoảng cách của một đốm sáng trong màn đêm đen như mực: có lúc ánh lửa lập lòe dường như nằm tít tận chân trời, có lúc lại như chỉ cách ta vài sải tay. Nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cũng xác định được nơi nó phát ra, và nhận ra rằng chúng tôi thực sự đã ở rất gần. Một ngọn nến lung linh được cắm vào kẽ nứt giữa những tảng đá, được che chắn cả hai bên để tránh gió, và cũng để khỏi bị ai nhìn thấy - ngoại trừ từ hướng Trang viên Baskerville. Một tảng đá hoa cương lớn che giấu sự tiếp cận của chúng tôi. Cúi mình nép sau tảng đá, chúng tôi dõi mắt nhìn về phía ánh sáng tín hiệu. Thật kỳ lạ làm sao khi thấy ngọn nến đơn độc ấy cháy lặng lẽ giữa chốn đầm lầy hoang vu, không một dấu hiệu nào của sự sống xung quanh - chỉ có ngọn lửa vàng dựng đứng và thứ ánh sáng hắt lên những phiến đá hai bên.

"Bây giờ chúng ta làm gì?" Ngài Henry thì thầm.

"Đợi ở đây. Hắn ắt phải ở gần ngọn đèn của mình. Để xem chúng ta có thể thoáng thấy hắn không."

Lời vừa dứt khỏi miệng tôi thì cả hai cùng nhìn thấy hắn. Phía trên những tảng đá, từ kẽ nứt nơi ngọn nến đang cháy, thò ra một khuôn mặt vàng vọt đầy hung ác - một khuôn mặt thú vật gớm ghiếc, hằn đầy những nếp nhăn và vết sẹo của những dục vọng đê hèn. Hôi hám vì bùn lầy bám đầy, với bộ râu tua tủa và mái tóc bù xù rủ xuống lòa xòa, gã trông không khác gì một trong những kẻ man rợ thời cổ đại từng trú ngụ trong các hang động trên sườn đồi. Ánh sáng từ bên dưới hắt ngược lên phản chiếu trong đôi mắt ti hí, xảo quyệt của hắn - đôi mắt đang đảo qua đảo lại dò xét bóng đêm hệt như một con thú ranh mãnh và hung tợn vừa nghe thấy tiếng bước chân của thợ săn.

Rõ ràng có điều gì đó đã khơi dậy mối nghi ngờ trong hắn. Có lẽ Barrymore đã có một ám hiệu bí mật nào đó mà chúng tôi đã bỏ qua không thực hiện, hoặc cũng có thể gã có lý do riêng để cảm thấy có điều chẳng lành. Nhưng tôi đọc thấy rõ nỗi sợ hãi hiện lên trên khuôn mặt độc ác đó. Bất cứ lúc nào, hắn cũng có thể dập tắt ngọn đèn và biến mất vào màn đêm. Vì vậy, tôi lập tức lao về phía trước, và Ngài Henry cũng làm theo. Cùng lúc ấy, tên tù thét lên một tiếng chửi thề về phía chúng tôi và ném một tảng đá vỡ tan tành vào phiến đá đang che chắn cho hai chúng tôi. Trong khoảnh khắc, tôi thoáng trông thấy bóng hình thấp bé, to ngang, vạm vỡ của hắn vụt bật dậy và quay lưng bỏ chạy. Ngay lúc đó, như một sự may mắn ngẫu nhiên, mặt trăng ló ra khỏi đám mây. Chúng tôi lao qua đỉnh đồi, và gã đàn ông của chúng tôi đang chạy với một tốc độ chóng mặt xuống sườn đồi phía bên kia, nhảy vọt qua những tảng đá trên đường chạy với sự nhanh nhẹn của một con sơn dương. Một phát súng may rủi từ khẩu súng lục của tôi có thể khiến hắn bị thương, nhưng tôi chỉ mang súng để tự vệ khi bị tấn công, chứ không phải để bắn vào lưng một kẻ không vũ khí đang bỏ chạy.

Cả hai chúng tôi đều là những người chạy nhanh và có thể lực khá tốt, nhưng chúng tôi sớm nhận ra rằng mình không có chút hy vọng nào đuổi kịp hắn. Dưới ánh trăng, chúng tôi còn thấy bóng hắn một lúc khá lâu, cho đến khi hắn chỉ còn là một chấm nhỏ đang di chuyển nhanh chóng giữa những tảng đá trên sườn một ngọn đồi xa xa. Chúng tôi chạy mãi, chạy mãi cho đến khi hoàn toàn kiệt sức, nhưng khoảng cách giữa chúng tôi và hắn cứ thế mỗi lúc một nới rộng thêm. Cuối cùng, chúng tôi đành dừng lại và ngồi phịch xuống hai tảng đá, thở hổn hển, nhìn theo bóng hắn khuất dần ở phía chân trời xa thẳm.

Và chính vào lúc ấy, một sự việc vô cùng kỳ lạ và bất ngờ đã xảy đến. Chúng tôi vừa đứng dậy khỏi những tảng đá, quay lưng trở về nhà, sau khi đã từ bỏ cuộc truy lùng vô vọng ấy. Mặt trăng đang chìm thấp dần ở phía bên phải, và đỉnh núi đá hoa cương lởm chởm nhô lên sừng sững, cắt ngang đường cong thấp hơn của chiếc đĩa bạc trên bầu trời. Và tại nơi ấy, in bóng đen kịt như một pho tượng bằng gỗ mun trên nền trời sáng rực, tôi trông thấy hình dáng một người đàn ông đứng trên đỉnh đồi. Xin anh đừng nghĩ đó là ảo giác, Holmes. Tôi xin cam đoan với anh rằng, suốt cả cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy bất cứ điều gì rõ ràng hơn thế. Theo như tôi ước lượng, đó là hình dáng của một người đàn ông cao lớn và gầy gò. Hắn đứng đó, hai chân hơi dạng ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi thấp, tựa hồ như đang trầm ngâm suy tưởng về cái vùng hoang vu mênh mông đầy than bùn và đá hoa cương đang trải rộng ra trước mặt. Hắn có thể chính là hiện thân của linh hồn nơi chốn khủng khiếp này. Đó không phải là tên tù vượt ngục. Người đàn ông này ở cách rất xa nơi kẻ kia đã biến mất. Vả lại, người ấy cao hơn gã kia rất nhiều. Tôi buột miệng kêu lên một tiếng đầy kinh ngạc và chỉ tay về phía hắn cho ngài nam tước thấy, nhưng ngay trong khoảnh khắc tôi quay người lại để nắm lấy cánh tay ngài, thì người đàn ông ấy đã biến mất. Chỏm đá hoa cương nhọn hoắt vẫn cắt ngang rìa dưới của vầng trăng, nhưng đỉnh chóp của nó không còn in dấu bất kỳ vết tích nào của cái bóng hình tĩnh lặng và bất động ấy nữa.

Tôi muốn tiến về hướng đó và lùng sục khắp ngọn đồi, nhưng nó nằm ở một khoảng cách khá xa. Thần kinh của ngài nam tước vẫn còn đang run lên bần bật vì tiếng hú ban nãy - cái âm thanh gợi nhắc lại câu chuyện đen tối của dòng họ ngài - và ngài chẳng còn chút tâm trí nào cho những cuộc phiêu lưu mới. Ngài đã không nhìn thấy người đàn ông đơn độc ấy trên đồi, và hẳn nhiên không thể cảm nhận được cơn chấn động mà sự hiện diện kỳ quái cùng tư thế đầy uy quyền của hắn đã gieo vào lòng tôi. "Hẳn là một người cai ngục," ngài nói. "Đầm lầy đã chật ních bọn họ kể từ khi gã kia vượt ngục." Chà, có lẽ lời giải thích của ngài là đúng, nhưng tôi vẫn muốn có thêm đôi chút bằng chứng cho điều đó. Hôm nay, chúng tôi định sẽ liên lạc với những người ở Princetown để báo cho họ biết nên tìm kiếm kẻ mất tích của mình ở đâu, nhưng thật đáng tiếc là chúng tôi đã không thực sự giành được vinh quang trong việc tự tay bắt hắn và giải hắn về làm tù nhân. Đó là tất cả những cuộc phiêu lưu của đêm qua, và anh phải thừa nhận, Holmes thân mến, rằng tôi đã làm khá tốt cho anh trong vấn đề báo cáo này. Phần lớn những gì tôi kể cho anh nghe có lẽ hoàn toàn chẳng liên quan gì, nhưng tôi vẫn cảm thấy tốt nhất là nên cung cấp cho anh tất thảy mọi sự kiện, và để anh tự mình chọn lọc ra những gì sẽ hữu ích nhất cho anh trong việc đi đến những kết luận của mình. Chắc chắn là chúng ta đang đạt được một vài tiến triển. Riêng về gia đình Barrymore, chúng ta đã tìm ra được động cơ cho những hành động của họ, và điều đó đã khiến tình hình trở nên sáng sủa hơn rất nhiều. Nhưng cánh đầm lầy, với tất thảy những bí ẩn và những cư dân kỳ lạ của nó, vẫn còn bí hiểm như thuở nào. Có lẽ trong bức thư tiếp theo, tôi sẽ có thể làm sáng tỏ thêm đôi chút về điều này. Tuyệt vời nhất sẽ là nếu anh có thể xuống đây với chúng tôi. Dù thế nào đi nữa, anh sẽ lại nhận được tin của tôi trong vòng vài ngày tới.



  1. Nguyên gốc tiếng Anh là 'straitjacket'. Đây là một loại áo đặc biệt có ống tay rất dài dùng để trói chéo tay bệnh nhân tâm thần ra sau lưng, ngăn họ tự gây thương tích. Ở đây mang ý nghĩa mỉa mai về cách hành xử bất thường. 

  2. Từ 'Tor' là phương ngữ vùng Tây Nam nước Anh dùng để chỉ những đỉnh đồi trọc có các khối đá hoa cương lớn lộ thiên, một địa hình rất đặc trưng của vùng đầm lầy hoang dã Dartmoor.