CHƯƠNG 14. CON CHÓ SĂN CỦA DÒNG HỌ BASKERVILLE

Sherlock Holmes có một tật - nếu quả thực người ta có thể gọi đó là một cái tật - ấy là anh cực kỳ ghét phải chia sẻ trọn vẹn kế hoạch của mình cho bất cứ ai, cho đến tận giây phút cuối cùng khi mọi sự đã an bài. Một phần, hẳn nhiên, đến từ bản tính ưa làm chủ của anh, luôn muốn nắm quyền kiểm soát và khiến người khác phải ngỡ ngàng. Một phần khác lại xuất phát từ thói thận trọng nghề nghiệp, thôi thúc anh không bao giờ được phép đánh cược với bất kỳ rủi ro nào. Thế nhưng, hậu quả là những kẻ đóng vai đặc vụ hay trợ lý cho anh thường xuyên phải chịu đựng cảm giác bực bội khôn nguôi. Tôi đã nếm trải điều ấy không ít lần, nhưng chưa lần nào thấm thía bằng chuyến đi dài giữa đêm tối mịt mùng lần này. Thử thách cam go đang chờ ngay trước mắt; cuối cùng chúng tôi cũng sắp tung ra đòn quyết định, vậy mà Holmes vẫn chẳng buồn hé răng nửa lời. Tôi chỉ còn biết mò mẫm phỏng đoán xem bước kế tiếp của anh sẽ là gì. Thần kinh tôi căng lên từng hồi vì mong đợi, khi rốt cuộc cơn gió lạnh buốt tạt thẳng vào mặt và những khoảng không hun hút, tối tăm trống hoác ở hai bên con đường hẹp báo cho tôi hay rằng chúng tôi đã lại đặt chân lên vùng đầm lầy một lần nữa. Từng sải vó ngựa, từng vòng quay của bánh xe đều đang đưa chúng tôi đến gần hơn với cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất của cuộc đời mình.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị cản trở bởi sự hiện diện của gã đánh xe ngựa thuê, thế nên đành phải xoay quanh những chuyện vặt vãnh, trong khi thần kinh thì căng như dây đàn vì cảm xúc dồn nén và niềm chờ đợi. Với tôi, thật là một sự giải thoát, sau cái cảnh kìm nén gượng gạo ấy, khi cuối cùng chúng tôi đi lướt qua nhà Frankland và biết rằng mình đang tiến gần đến Trang viên, đến hiện trường của hành động. Chúng tôi không cho xe chạy thẳng tới cửa, mà xuống ở gần cổng của đại lộ. Tiền xe được thanh toán, người xà ích1 được lệnh quay ngay trở lại Coombe Tracey, còn chúng tôi bắt đầu cuốc bộ về phía Merripit House.

"Anh có mang vũ khí không, Lestrade?"

Viên thám tử nhỏ thó nở một nụ cười. "Chừng nào tôi còn mặc quần, thì tôi còn có túi quần sau, và chừng nào còn túi quần sau, thì trong đó thế nào cũng phải có thứ gì."

"Tốt lắm! Tôi với bạn tôi đây cũng đã chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống khẩn cấp rồi."

"Anh kín tiếng thật đấy, anh Holmes ạ. Vụ này rốt cuộc là trò gì vậy?"

"Một trò chơi chờ đợi2."

"Lạy Chúa, chỗ này trông chẳng vui vẻ tí nào nhỉ," viên thám tử buột miệng, kèm theo một cái rùng mình, mắt đảo quanh những sườn đồi ảm đạm và biển sương mù khổng lồ đang phủ kín Đầm lầy Grimpen. "Tôi thấy ánh đèn của một ngôi nhà ở đằng trước kia."

"Đó chính là Merripit House, cũng là điểm kết thúc hành trình của chúng ta. Tôi yêu cầu anh phải bước thật nhón gót và không được nói gì to hơn tiếng thì thầm."

Chúng tôi thận trọng men theo con đường mòn như thể đang tiến về phía ngôi nhà, nhưng Holmes bắt chúng tôi dừng lại khi còn cách đó khoảng hai trăm thước.

"Chỗ này ổn rồi," anh nói. "Mấy tảng đá bên phải này sẽ là bức bình phong tuyệt hảo."

"Vậy chúng ta sẽ đợi ở đây ư?"

"Đúng thế, chúng ta sẽ lập một ổ phục kích nho nhỏ tại chỗ này. Nấp vào cái hốc trũng này đi, Lestrade. Watson này, anh đã vào trong ngôi nhà đó rồi phải không? Anh mô tả cho tôi vị trí các căn phòng được chứ? Mấy ô cửa sổ có chấn song ở đầu này là gì vậy?"

"Tôi đoán đó là cửa sổ nhà bếp."

"Còn ô cửa sổ đang sáng rực ở đằng kia?"

"Đích thị là phòng ăn."

"Rèm cửa đang được kéo lên. Anh là người thông thạo địa hình nhất ở đây. Hãy lặng lẽ bò tới trước và xem bọn họ đang làm gì - nhưng, vì Chúa, đừng để họ phát hiện ra mình đang bị theo dõi!"

Tôi nhón chân men theo lối mòn, rồi cúi rạp người nấp sau bức tường thấp bao quanh khu vườn cây ăn quả cằn cỗi. Bám theo bóng tối của bức tường, tôi tìm đến được một vị trí mà từ đó có thể nhìn xuyên qua ô cửa sổ không buông rèm.

Trong phòng chỉ có hai người đàn ông: Ngài Henry và Stapleton. Họ ngồi nghiêng mặt về phía tôi, mỗi người một bên chiếc bàn tròn. Cả hai đều đang nhả khói xì gà, trước mặt bày sẵn cà phê và rượu vang. Stapleton nói chuyện hết sức sôi nổi, nhưng vị nam tước thì trông nhợt nhạt và lơ đãng. Có lẽ ý nghĩ về chuyến đi bộ đơn độc xuyên qua khu đầm lầy chết chóc đang đè nặng lên tâm trí ngài.

Đang lúc tôi dõi theo, Stapleton đứng dậy rời khỏi phòng, trong khi ngài Henry lại rót đầy ly và ngả người ra lưng ghế, thong thả nhả từng làn khói xì gà. Tôi nghe thấy tiếng cánh cửa cọt kẹt mở ra, rồi tiếng bước chân giòn tan lạo xạo trên sỏi. Những bước chân ấy men theo lối mòn ở phía bên kia bức tường, ngay chỗ tôi đang thu mình nấp. Tôi hé mắt nhìn qua bức tường, thấy gã nhà tự nhiên học dừng lại trước cửa một nhà phụ ở góc vườn. Một chiếc chìa khóa xoay trong ổ, và khi hắn bước vào, một thứ tiếng sột soạt kỳ quái vọng ra từ bên trong. Hắn chỉ ở trong đó chừng một phút, rồi tôi lại nghe tiếng chìa khóa xoay thêm lần nữa, và hắn sải bước ngang qua chỗ tôi để quay lại ngôi nhà. Tôi trông thấy hắn nhập hội trở lại với vị khách của mình, rồi tôi lặng lẽ bò về chỗ những người đồng hành đang chờ sẵn để thuật lại những gì vừa chứng kiến.

"Anh nói là không thấy bà ấy đâu à, Watson?" Holmes hỏi sau khi tôi đã báo cáo xong.

"Không có."

"Thế thì bà ấy có thể ở đâu được nhỉ, trong khi chẳng có ánh đèn nào ở bất kỳ phòng nào khác ngoài bếp?"

"Tôi không sao nghĩ ra nổi."

Tôi đã kể rằng có một màn sương trắng đục, dày đặc đang bao phủ khắp khu Đầm lầy Grimpen rộng lớn. Nó chầm chậm trôi về phía chúng tôi, cuộn lên thành một bức tường ở phía ấy - thấp, nhưng dày và rõ rành rành. Ánh trăng rọi xuống, biến nó thành một cánh đồng băng khổng lồ lấp lánh, với đỉnh những ngọn đồi xa xa nhô lên trông như những tảng đá nổi trên bề mặt. Holmes hướng mặt về phía ấy, miệng lẩm bẩm vẻ sốt ruột khi dõi theo từng bước dịch chuyển chậm rãi của làn sương.

"Nó đang tiến về phía chúng ta đấy, Watson."

"Có nghiêm trọng lắm không?"

"Nghiêm trọng vô cùng - đó chính là thứ duy nhất trên đời có thể làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Ông ta không thể nán lại lâu hơn được nữa. Bây giờ đã là mười giờ đêm rồi. Thành công của chúng ta, thậm chí cả tính mạng của ngài ấy, rất có thể phụ thuộc vào việc ngài ấy phải bước ra ngoài trước khi sương mù nuốt trọn con đường."

Bầu trời đêm trên đầu chúng tôi trong vắt và lộng lẫy. Những vì sao tỏa ra thứ ánh sáng lạnh lẽo nhưng rực rỡ, trong khi vầng trăng khuyết nhuộm lên toàn bộ khung cảnh trong một làn ánh sáng dịu dàng, mơ hồ. Trước mặt chúng tôi, khu nhà tối đen với phần mái hình răng cưa và những ống khói lởm chởm hằn hình rõ nét trên nền trời lấp lánh ánh bạc. Những vệt sáng vàng ấm rực từ các khung cửa sổ tầng dưới chiếu dài xuyên qua khu vườn và lan ra tận đầm lầy. Một trong những ô cửa ấy bỗng dưng vụt tắt. Lũ người hầu đã rời khỏi bếp. Giờ đây chỉ còn lại độc một ngọn đèn trong phòng ăn, nơi hai con người - gã chủ nhà mang lòng dạ hiểm độc muốn giết người và vị khách không hề hay biết gì - vẫn còn đang trò chuyện bên những điếu xì gà.

Mỗi phút trôi qua, lớp sương mù trắng xóa như bông ấy lại mỗi lúc một tiến gần hơn về phía ngôi nhà. Những dải sương mỏng manh đầu tiên đã bắt đầu cuộn lướt qua ô cửa sổ sáng rực ánh đèn vàng đang mở toang. Bức tường xa hơn của khu vườn giờ đã khuất hẳn, và những cái cây như đang vươn mình lên từ một vòng xoáy hơi nước trắng mờ. Trong lúc chúng tôi quan sát, những vòng hoa sương mù đã bò quanh cả hai góc nhà, chậm rãi cuộn lại thành một dải đặc quánh - và trên mặt dải sương ấy, tầng trên cùng mái nhà lững lờ trôi như một con tàu kỳ lạ trên biển sương mờ ảo. Holmes đập mạnh tay xuống tảng đá trước mặt, giận dữ dậm chân vì mất kiên nhẫn.

"Nếu mười lăm phút nữa mà ngài ấy chưa ra ngoài, thì con đường sẽ bị che khuất mất. Nửa giờ nữa thôi, chúng ta sẽ chẳng thể nhìn thấy bàn tay mình ngay trước mắt."

"Chúng ta có nên lùi xa hơn, lên chỗ đất cao hơn không?"

"Có, tôi nghĩ thế sẽ tốt hơn."

Thế là khi dải sương tràn tới, chúng tôi lùi dần trước nó cho đến khi cách ngôi nhà nửa dặm. Cả một biển sương trắng xóa đặc quánh, với mép trên nhuốm bạc dưới ánh trăng, vẫn đang chầm chậm và không gì ngăn cản nổi, quét tới từng đợt.

"Chúng ta đang đi quá xa rồi," Holmes nói. "Không thể mạo hiểm để ngài ấy bị sương mù đuổi kịp trước khi đến được chỗ chúng ta. Bằng mọi giá chúng ta phải bám trụ ở đây." Anh quỳ gối xuống và áp tai vào mặt đất. "Tạ ơn Chúa, tôi nghĩ tôi nghe thấy tiếng ngài ấy đang đến."

Tiếng bước chân dồn dập chợt phá vỡ sự tĩnh lặng của khu đầm lầy. Thu mình giữa những tảng đá, chúng tôi chăm chú dán mắt vào dải sương mù viền bạc ngay trước mặt. Tiếng bước chân mỗi lúc một lớn, rồi xuyên qua màn sương - như thể bước qua một bức màn - người đàn ông mà chúng tôi đang chờ đợi đã xuất hiện. Ngài ngạc nhiên đảo mắt nhìn quanh khi bước ra khỏi màn sương, tiến vào màn đêm đầy sao quang đãng. Rồi ngài bước nhanh dọc theo con đường, đi sát qua chỗ chúng tôi đang nằm, và tiếp tục leo lên con dốc dài phía sau lưng. Suốt quãng đường đi, ngài liên tục ngoái nhìn qua vai, như một kẻ đang thấp thỏm bất an.

"Suỵt!" Holmes kêu lên. Tôi nghe thấy tiếng lách cách sắc gọn của một khẩu súng lục đang được lên nòng. "Cẩn thận! Nó đang đến!"

Một tiếng lộp bộp khe khẽ, giòn giã liên tục vang lên từ đâu đó giữa lòng dải sương mù đang bò tới. Đám mây sương chỉ còn cách chỗ chúng tôi chừng năm mươi thước, và cả ba chúng tôi đều trừng trừng nhìn vào trung tâm của nó, không biết điều kinh hoàng gì sắp sửa lao ra. Tôi đang ở ngay sát cạnh Holmes, và trong một khoảnh khắc tôi liếc nhìn khuôn mặt anh. Nó nhợt nhạt nhưng tràn đầy hân hoan, đôi mắt anh sáng lấp lánh dưới ánh trăng. Nhưng rồi đột nhiên, đôi mắt ấy trợn ngược về phía trước với một cái nhìn chằm chằm cứng đờ - và đôi môi anh hé mở vì kinh ngạc. Cùng lúc đó, Lestrade hét lên một tiếng thất thanh vì khiếp sợ rồi úp sấp mặt xuống đất. Tôi bật dậy, bàn tay cứng đờ chộp lấy khẩu súng lục. Tâm trí tôi tê liệt trước cái hình thù kinh khủng vừa lao thẳng vào chúng tôi từ trong bóng tối của màn sương.

Đó là một con chó săn. Một con chó săn khổng lồ đen như than - nhưng không phải loại chó săn mà mắt người trần từng nhìn thấy. Lửa phụt ra từ cái miệng đang há ngoác của nó. Đôi mắt nó rực lên một thứ ánh sáng âm ỉ. Mõm, lông bờm và yếm thịt của nó đều bị bao trùm bởi những ngọn lửa bập bùng. Chưa bao giờ - ngay cả trong giấc mơ hoang tưởng nhất của một bộ não điên loạn - người ta có thể hình dung ra một thứ gì đó hung tợn hơn, kinh hoàng hơn, địa ngục hơn cái hình bóng đen ngòm và khuôn mặt man rợ vừa lao vào chúng tôi từ bức tường sương mù ấy.

Với những cú nhảy dài, sinh vật khổng lồ đen đúa đó lao dọc theo con đường mòn, bám sát gót chân người bạn của chúng tôi. Chúng tôi đã bị bóng ma ấy làm cho tê liệt đến mức để nó lướt qua trước khi kịp trấn tĩnh trở lại. Rồi Holmes và tôi cùng nổ súng - và con quái vật tru lên một tiếng gào thét ghê rợn, báo hiệu ít nhất một viên đạn đã găm trúng nó. Thế nhưng nó không dừng lại. Nó tiếp tục chồm tới phía trước.

Ở tít phía xa trên con đường, chúng tôi thấy ngài Henry đang ngoái nhìn lại. Khuôn mặt ngài trắng bệch dưới ánh trăng, hai tay giơ lên trời vì kinh hoàng, trừng mắt bất lực nhìn sinh vật đáng sợ đang săn đuổi mình. Nhưng tiếng thét đau đớn từ con chó săn đã thổi bay mọi nỗi sợ hãi trong chúng tôi. Nếu nó có thể bị thương, thì nó là loài phàm trần. Và nếu chúng tôi có thể làm nó bị thương, thì chúng tôi có thể giết nó.

Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn ông nào chạy như cách Holmes chạy trong đêm hôm đó. Tôi vốn được đánh giá là chạy nhanh, nhưng anh đã bỏ xa tôi nhiều như cách tôi bỏ xa viên thám tử chuyên nghiệp nhỏ bé kia. Phía trước mặt, trong lúc chúng tôi lao như bay trên con đường mòn, tiếng hét này đến tiếng hét khác của ngài Henry, rồi tiếng gầm rống trầm đục của con chó săn cứ liên tiếp dội tới. Tôi vừa kịp lao đến để nhìn thấy con thú chồm lên nạn nhân của mình, vật ngã ngài xuống đất và ngoạm lấy cổ họng ngài. Nhưng ngay giây tiếp theo, Holmes đã trút toàn bộ năm viên đạn từ khẩu súng lục ổ quay của mình vào sườn con quái vật. Với một tiếng tru cuối cùng đầy đau đớn và một cú đớp dữ tợn vào không khí, nó ngã lăn ngửa ra, bốn chân cào cấu điên cuồng - rồi rơi phịch xuống, nằm nghiêng, bất động.

Tôi cúi xuống, thở hổn hển, và dí súng vào cái đầu gớm ghiếc vẫn còn lấp lánh đó. Nhưng việc bóp cò giờ đây đã trở nên vô ích. Con chó săn khổng lồ đã chết hẳn.

Ngài Henry nằm bất tỉnh ngay tại chỗ ngài đã ngã xuống. Chúng tôi xé toạc cổ áo ngài, và Holmes thốt lên một lời tạ ơn khi chúng tôi thấy rằng không hề có dấu vết của bất kỳ vết thương nào - cuộc giải cứu đã kịp thời. Ngay lúc đó, mí mắt của người bạn chúng tôi khẽ rung, và ngài đã yếu ớt nỗ lực cử động. Lestrade nhét bình rượu brandy3 của mình vào giữa hai hàm răng vị nam tước. Hai con mắt sợ hãi của ngài ngước lên nhìn chúng tôi.

"Lạy Chúa!" ngài thì thào. "Đó là cái gì vậy? Nhân danh Chúa, đó là cái gì vậy?"

"Dù nó là cái gì thì nó cũng đã chết rồi," Holmes nói. "Chúng tôi đã loại bỏ hồn ma của gia tộc này - một lần và mãi mãi."

Chỉ xét riêng về kích thước và sức mạnh, sinh vật đang nằm duỗi dài trước mặt chúng tôi thật khủng khiếp. Nó không phải giống chó đánh hơi thuần chủng, cũng không phải giống chó ngao thuần chủng. Nó dường như là sự kết hợp của cả hai - hốc hác, man rợ và to bằng một con sư tử cái nhỏ. Ngay cả lúc này, trong sự tĩnh lặng của cái chết, bộ hàm khổng lồ của nó vẫn như đang nhỏ giọt một ngọn lửa hơi xanh, và đôi mắt nhỏ xíu, sâu hoắm, độc ác của nó vẫn bị bao quanh bởi lửa. Tôi đặt tay lên cái mõm đang phát sáng - và khi tôi rụt tay lại, những ngón tay của chính tôi cũng tỏa khói và lập lòe trong bóng tối.

"Phốt-pho4," tôi nói.

"Một sự pha chế hết sức xảo quyệt," Holmes nói, cúi xuống hít ngửi con vật đã chết. "Không hề có mùi gì có thể cản trở khả năng đánh hơi của nó. Chúng tôi nợ ngài một lời xin lỗi chân thành, ngài Henry, vì đã để ngài phải chịu đựng nỗi kinh hoàng này. Tôi đã chuẩn bị tinh thần để đối phó với một con chó săn - nhưng không phải là một sinh vật như thế này. Và sương mù đã khiến chúng tôi có quá ít thời gian để nghênh đón nó."

"Các ngài đã cứu mạng tôi."

"Nhưng trước hết là đã đặt nó vào vòng nguy hiểm. Ngài có đủ sức để đứng lên không?"

"Cho tôi thêm một ngụm rượu brandy đó nữa, rồi tôi sẽ sẵn sàng cho mọi chuyện. Thế đấy! Bây giờ, nếu các ngài giúp tôi đứng dậy. Ông định sẽ làm gì tiếp theo?"

"Để ngài lại đây. Đêm nay ngài không phù hợp cho những cuộc phiêu lưu tiếp theo đâu. Nếu ngài chịu khó đợi, một trong hai chúng tôi sẽ đưa ngài quay lại Trang viên."

Ngài cố lảo đảo đứng dậy, nhưng vẫn còn nhợt nhạt như thây ma và toàn thân run rẩy. Chúng tôi đỡ ngài đến một tảng đá, nơi ngài ngồi run, gục mặt vào hai bàn tay.

"Bây giờ chúng tôi phải để ngài lại đây," Holmes nói. "Phần còn lại của công việc phải được hoàn thành, và mỗi khoảnh khắc đều rất quan trọng. Chúng tôi đã có vụ án của mình - và bây giờ chúng tôi chỉ cần gã đàn ông đó thôi."

"Cơ may tìm thấy hắn ở trong ngôi nhà chỉ là một phần ngàn," anh tiếp tục trong lúc chúng tôi nhanh chóng quay trở lại con đường mòn. "Những tiếng súng đó hẳn đã báo cho hắn biết trò chơi đã kết thúc."

"Chúng ta ở cách khá xa, và sương mù có thể đã làm nghẹt tiếng súng."

"Hắn đi theo con chó săn để gọi nó lại - anh có thể chắc chắn điều đó. Không, không, lúc này hắn đã đi mất rồi! Nhưng chúng ta sẽ lục soát ngôi nhà và đảm bảo chắc chắn."

Cánh cửa trước bỏ ngỏ, chúng tôi liền xông thẳng vào trong và lao hết phòng này sang phòng khác, khiến lão người hầu lẩm cẩm đứng sững kinh ngạc nơi hành lang. Ngoài phòng ăn, cả ngôi nhà chìm trong bóng tối. Holmes cầm ngọn đèn tiến lên, lùng sục từng ngóc ngách, chẳng bỏ sót một xó xỉnh nào. Nhưng bóng dáng kẻ chúng tôi đang truy đuổi thì tuyệt nhiên không thấy. Duy chỉ trên tầng hai, một cánh cửa phòng ngủ đã bị khóa chặt.

"Có người trong này," Lestrade kêu lên. "Tôi nghe tiếng động. Mở cửa ra ngay!"

Từ bên trong vọng ra một tiếng rên yếu ớt và tiếng sột soạt. Holmes giậm thẳng gót giày vào ngay phía trên ổ khóa - cánh cửa bật tung. Súng lăm lăm trong tay, cả ba chúng tôi tràn vào phòng.

Thế nhưng, thứ chúng tôi nhìn thấy không hề là gã ác ôn tuyệt vọng và hung hãn như chúng tôi hằng hình dung. Trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng kỳ quái và bất ngờ đến nỗi ai nấy đứng chết trân, trợn mắt kinh hoàng.

Căn phòng đã bị biến thành một bảo tàng thu nhỏ. Dọc theo các bức tường, hàng dãy tủ kính chất đầy những bộ sưu tập bướm và bướm đêm5 - cái thú tiêu khiển mà gã đàn ông phức tạp và nguy hiểm này đã dày công vun đắp. Ngay chính giữa phòng, một cây cột chống thẳng đứng đã được kê vào từ lúc nào để đỡ lấy thanh xà gồ mục ruỗng bắc ngang mái nhà. Và bị trói chặt vào cây cột ấy - là một bóng người. Những tấm ga trải giường quấn chặt và bịt kín thân hình ấy đến mức, trong khoảnh khắc, chẳng ai phân định nổi đó là đàn ông hay đàn bà. Một chiếc khăn tắm thắt ngang cổ, buộc túm về phía sau cây cột. Một chiếc khăn khác che kín nửa dưới gương mặt. Và phía trên lớp vải bịt kín ấy - hai con mắt thẫm màu, đong đầy đau đớn, tủi nhục và một nỗi sợ hãi như van nài - đang trân trối nhìn lại chúng tôi.

Chỉ trong một phút, chúng tôi đã giật phăng chiếc khăn bịt miệng, tháo tung hết thảy dây trói. Bà Stapleton đổ gục xuống sàn ngay trước chân chúng tôi. Khi mái đầu xinh đẹp của bà ngoẹo xuống ngực, tôi nhìn thấy một vết hằn đỏ rợn, in rõ hình roi da vắt ngang qua cổ bà.

"Tên khốn kiếp!" Holmes gầm lên. "Lestrade, chai rượu brandy của anh đâu! Đỡ bà ấy ngồi vào ghế! Bà ấy đã ngất đi vì bị hành hạ và kiệt sức."

Bà từ từ mở mắt.

"Ngài ấy có an toàn không?" bà hỏi. "Ngài ấy đã trốn thoát chưa?"

"Hắn không thể thoát khỏi tay chúng tôi đâu, thưa bà."

"Không, không, tôi không hỏi về chồng tôi. Tôi hỏi ngài Henry. Ngài ấy có an toàn không?"

"Có."

"Còn con chó săn?"

"Nó đã chết rồi."

Bà buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm.

"Tạ ơn Chúa! Tạ ơn Chúa! Ôi, cái tên ác ôn ấy! Hãy nhìn xem hắn đã đối xử với tôi ra sao!" Bà rút mạnh hai tay ra khỏi ống tay áo, để lộ những vết bầm tím dày đặc khiến chúng tôi kinh hoàng. "Nhưng những thứ này chẳng là gì cả - không là gì hết! Tâm trí và linh hồn tôi mới là thứ hắn đã giày vò và vấy bẩn. Tôi có thể chịu đựng tất cả - sự ngược đãi, nỗi cô độc, một cuộc đời đầy dối trá - tất cả, miễn là tôi còn bám víu được vào hy vọng rằng mình có được tình yêu của hắn. Nhưng giờ đây tôi biết rằng ngay cả chuyện ấy, tôi cũng đã bị hắn lừa gạt và biến thành một công cụ." Nói đến đây, bà vỡ òa trong tiếng nấc đau đớn.

"Bà không còn thiện cảm gì với hắn nữa, thưa bà," Holmes nói. "Vậy thì hãy chỉ cho chúng tôi nơi có thể tìm thấy hắn. Nếu bà từng giúp hắn làm điều ác, thì lúc này hãy ra tay giúp chúng tôi, và coi đó là cách để chuộc lại lỗi lầm."

"Chỉ có một nơi duy nhất hắn có thể trốn tới," bà đáp. "Có một khu mỏ thiếc cũ, nằm trên một hòn đảo giữa lòng đầm lầy. Chính ở đó hắn đã nhốt con chó săn, và cũng chính ở đó, hắn đã chuẩn bị sẵn một nơi trú ẩn. Đó là chỗ hắn sẽ chạy đến."

Bên ngoài, dải sương mù phủ lên khung cửa sổ dày như một tấm len trắng. Holmes đưa ngọn đèn lại gần.

"Hãy nhìn kìa," anh nói. "Đêm nay, không ai có thể tìm thấy lối vào Đầm lầy Grimpen."

Bà bật cười, vỗ tay. Mắt và răng bà ánh lên một niềm vui hung tợn.

"Hắn thì tìm được lối vào đấy, nhưng sẽ chẳng bao giờ tìm được đường ra!" bà kêu lên. "Làm sao hắn có thể nhìn thấy những cây gậy chỉ đường trong đêm nay? Chính tôi và hắn đã cùng nhau cắm chúng, để đánh dấu con đường băng qua đầm lầy. Ôi, giá mà hôm nay tôi đã nhổ sạch chúng đi! Nếu thế thì các ngài đã nắm chắc mạng sống của hắn trong tay rồi!"

Rõ ràng là mọi cuộc truy đuổi vào lúc này đều vô ích, cho tới khi sương mù tan đi. Chúng tôi bèn để Lestrade ở lại canh giữ ngôi nhà, còn Holmes, tôi và ngài nam tước cùng nhau quay về Trang viên Baskerville. Câu chuyện về gia đình Stapleton giờ đây không thể giấu ngài Henry thêm được nữa. Thế nhưng, ngài đã dũng cảm đón nhận cú sốc khi biết được sự thật về người phụ nữ mà ngài từng đem lòng yêu thương. Chỉ có điều, những biến cố kinh hoàng trong đêm đã khiến thần kinh ngài kiệt quệ. Trước khi trời sáng, ngài nằm mê sảng trong cơn sốt cao, dưới sự chăm sóc của Bác sĩ Mortimer. Cả hai người họ đã định trước sẽ cùng nhau đi du lịch vòng quanh thế giới - một hành trình dài trước khi ngài Henry có thể trở lại thành một con người cường tráng, khỏe mạnh như ngài từng là, trước khi trở thành chủ nhân của vùng đất chết chóc ấy.

Và giờ đây, tôi xin đi nhanh đến hồi kết của câu chuyện kỳ lạ này - câu chuyện mà tôi đã cố gắng để người đọc cùng tôi chia sẻ những nỗi kinh hoàng đen tối và những suy đoán mơ hồ đã phủ bóng lên cuộc sống của chúng tôi suốt một thời gian dài, để rồi khép lại bằng một bi kịch như thế. Vào buổi sáng sau cái chết của con chó săn, sương mù đã tan hẳn. Bà Stapleton dẫn đường cho chúng tôi đến vị trí mà bà cùng mọi người đã phát hiện ra một lối mòn xuyên qua bãi lầy. Khi nhìn thấy vẻ háo hức và niềm vui sướng tột độ mà bà dùng để đưa chúng tôi men theo con đường chạy trốn của chồng mình, chúng tôi mới thực sự thấu hiểu nỗi kinh hoàng mà người phụ nữ này đã phải chịu đựng trong suốt cuộc đời bà. Chúng tôi để bà đứng lại trên doi đất bùn cứng và hẹp - mảnh đất vuốt thon dần rồi chìm hẳn vào khu bãi lầy mênh mông. Từ cuối doi đất ấy, những chiếc cọc nhỏ được cắm rải rác chỉ ra con đường ngoằn ngoèo, luồn lách từ bụi lau này sang bụi lau khác, len lỏi giữa những hố sâu đóng váng xanh rì và những vũng lầy hôi thối luôn sẵn sàng nuốt chửng bất kỳ kẻ lạ mặt nào. Sậy mọc um tùm, những loài thủy sinh trơn tuột và tươi tốt không ngừng phả vào mặt chúng tôi một mùi thối rữa ngọt lợ cùng một luồng chướng khí nặng nề đến ngạt thở. Chỉ một bước sẩy chân thôi, và đã hơn một lần chúng tôi ngập sâu đến tận đùi trong thứ đầm lầy đen ngòm, rung bần bật dưới sức nặng của cơ thể. Nó rùng mình lan thành những làn sóng gợn nhẹ quanh chân chúng tôi trong phạm vi vài thước. Lực bám dai dẳng của bùn kéo giật gót giày chúng tôi mỗi bước đi, và mỗi lần lún xuống, tôi lại có cảm giác như thể một bàn tay hiểm độc nào đó đang cố tình dìm chúng tôi xuống vực sâu ghê tởm kia - cái nanh vuốt của nó thật tàn nhẫn, thật đầy chủ đích khi níu giữ lấy chúng tôi.

Chỉ một lần duy nhất, chúng tôi nhìn thấy dấu vết cho thấy có ai đó đã từng đi qua con đường hiểm nghèo này trước chúng tôi. Từ giữa một bụi cỏ bông đang nâng đỡ nó vươn lên khỏi đống bùn lầy, một vật gì đó đen ngòm đang nhô ra. Holmes bước khỏi lối mòn và lún sâu đến ngang eo khi cố tóm lấy vật ấy. Nếu chúng tôi không có mặt ở đó để kéo anh ra, anh sẽ chẳng bao giờ còn có thể đặt chân lên vùng đất cứng được nữa. Anh giơ cao vật đó lên không trung - một chiếc ủng đen cũ kỹ, trên mặt da còn hằn dòng chữ "Meyers, Toronto6".

"Nó xứng đáng có một lần tắm bùn đấy," anh nói. "Đây chính là chiếc ủng mất tích của người bạn chúng ta, ngài Henry."

"Bị Stapleton ném đi trong lúc bỏ trốn."

"Chính xác. Hắn đã giữ nó trong tay sau khi dùng nó để kích con chó săn theo dấu vết. Khi biết rằng trò chơi đã kết thúc, hắn bỏ trốn, và vẫn còn cầm chặt chiếc ủng ấy. Hắn đã ném nó đi tại chính điểm này trên đường tháo chạy. Ít nhất chúng ta cũng biết được rằng hắn đã đến được đây an toàn."

Nhưng hơn thế nữa, chúng tôi không bao giờ được định mệnh cho biết thêm điều gì - dẫu vẫn còn biết bao điều mà chúng tôi có thể phỏng đoán. Chẳng còn cơ hội nào để tìm thấy những dấu chân trên bãi lầy, bởi lớp bùn dâng lên đã nhanh chóng lấp kín tất cả. Thế nhưng, khi cuối cùng cũng chạm được đến vùng đất cứng hơn ở phía bên kia vũng sình lầy, tất cả chúng tôi đều háo hức cúi xuống tìm kiếm. Không một dấu vết nhỏ nhất nào lọt vào mắt chúng tôi cả. Nếu đất mẹ biết kể một câu chuyện chân thật, thì Stapleton chưa bao giờ đến được hòn đảo trú ẩn mà hắn đã vật lộn băng qua sương mù để tìm đến trong cái đêm cuối cùng ấy. Đâu đó trong lòng khu Đầm lầy Grimpen rộng lớn, sâu dưới lớp bùn thối rữa của bãi sình lầy khổng lồ đã hút hắn vào, gã đàn ông lạnh lùng và tàn nhẫn ấy đã bị chôn vùi vĩnh viễn.

Chúng tôi tìm thấy rất nhiều dấu vết của hắn trên hòn đảo bị bao quanh bởi đầm lầy - nơi hắn từng giấu kín đồng minh man rợ của mình. Một chiếc bánh đà khổng lồ và một hầm lò chất đầy rác rưởi đã lấp gần nửa lòng hầm - đó chính là những gì còn sót lại của một khu mỏ bỏ hoang. Bên cạnh là những tàn tích đổ nát của những căn lều từng thuộc về những người thợ mỏ, không còn nghi ngờ gì nữa, họ đã bị mùi hôi thối bốc lên từ đầm lầy xung quanh xua đuổi từ lâu. Trong một căn lều, một chiếc cọc buộc xích cùng vô số mảnh xương vụn bị gặm nham nhở cho thấy nơi con vật đã bị xích nhốt. Một bộ xương với mớ tóc nâu rối bù còn dính trên đó nằm lăn lóc giữa đống đổ nát.

"Một con chó!" Holmes thốt lên. "Lạy Chúa, một con chó spaniel lông xoăn. Tội nghiệp Mortimer, ông ấy sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy thú cưng của mình nữa. Nào, tôi không biết liệu nơi này còn cất giấu bí mật gì mà chúng ta chưa khám phá ra hay không. Hắn có thể giấu được con chó săn, nhưng hắn không thể giấu được tiếng tru của nó - và chính từ đây đã phát ra những tiếng kêu mà ngay cả vào ban ngày cũng chẳng mấy dễ chịu khi nghe thấy. Trong tình thế khẩn cấp, hắn có thể nhốt con chó săn trong nhà phụ ở Merripit, nhưng điều đó luôn tiềm ẩn rủi ro. Chỉ đến ngày quyết định - cái ngày mà hắn coi là sự kết thúc cho mọi nỗ lực của mình - hắn mới dám làm điều ấy. Thứ hồ dán trong hộp thiếc này chắc chắn chính là hỗn hợp phát sáng đã được bôi lên mình con sinh vật kia. Đương nhiên, ý tưởng ấy được gợi lên từ truyền thuyết về con chó săn địa ngục của dòng họ Baskerville, và từ chính khát khao của hắn muốn hù dọa Ngài Charles già nua đến chết. Thảo nào gã tù nhân khốn khổ kia đã bỏ chạy và la hét thất thanh - cũng y như người bạn của chúng ta đã làm, và như chính chúng ta cũng có thể đã làm, khi nhìn thấy một sinh vật như thế đang chồm tới trong bóng tối của khu đầm lầy, ngay trên con đường trước mặt mình. Một thủ đoạn hết sức xảo quyệt. Bởi vì, ngoài việc có thể dồn nạn nhân đến chỗ chết vì cơn đau tim, thì có người nông dân nào lại dám liều mạng tiến lại gần để tìm hiểu kỹ lưỡng về một sinh vật như thế, nếu chẳng may hắn bắt gặp nó trên khu đầm lầy - như biết bao người đã từng thấy? Tôi đã nói điều này ở London rồi, Watson ạ, và giờ tôi xin nhắc lại lần nữa: chưa bao giờ chúng ta hỗ trợ truy lùng một kẻ nguy hiểm hơn cái kẻ đang nằm ở đằng kia" - anh vung cánh tay dài của mình về phía khoảng không rộng lớn lốm đốm những vệt xanh của khu sình lầy. Nó trải dài mãi cho đến khi hòa lẫn vào những sườn dốc màu nâu đỏ của vùng đầm lầy.



  1. Từ gốc Hán-Việt dùng để chỉ người đánh xe ngựa chở khách, tương đương với từ "coachman" hoặc "cab driver" trong tiếng Anh thời kỳ Victoria. 

  2. Dịch từ thành ngữ tiếng Anh "a waiting game", chỉ một chiến thuật mà trong đó người ta trì hoãn hành động, kiên nhẫn chờ xem đối phương sẽ làm gì hoặc đợi thời cơ thuận lợi nhất mới ra tay. 

  3. Một loại rượu mạnh. Vào thời Victoria, rượu brandy thường được đựng trong các bình tông kim loại nhỏ (flask) mang theo bên người như một loại thuốc sơ cứu khẩn cấp để giúp người bị sốc, ngất xỉu hoặc lạnh cóng hồi tỉnh và làm ấm cơ thể. 

  4. Một nguyên tố hóa học có khả năng phát quang. Vào thế kỷ 19, đặc tính phát sáng tà mị của phốt-pho thường được sử dụng hoặc nhắc đến để tạo ra các hiệu ứng ma quái, rùng rợn, dù trên thực tế nó là chất rất độc hại. 

  5. Sưu tầm và nghiên cứu tiêu bản côn trùng (đặc biệt là các loài bướm) là một thú vui khoa học tự nhiên rất thịnh hành trong giới tri thức và thượng lưu Anh quốc thời Victoria. 

  6. Tên một thành phố lớn ở Canada.