CHƯƠNG 15. NHÌN LẠI VỤ ÁN

Đêm cuối tháng Mười một, sương mù phủ dày đặc bên ngoài cửa sổ phố Baker, còn trong căn phòng khách, tôi và Holmes ngồi đối diện nhau bên bếp lửa đỏ rực. Kể từ sau cái kết thê thảm của chuyến đi Devonshire, anh đã dấn mình vào hai vụ án vô cùng hệ trọng. Vụ thứ nhất, anh lột trần trò bẩn thỉu của Đại tá Upwood trong vụ bê bối bài bạc lừng danh ở Câu lạc bộ Nonpareil1. Vụ thứ hai, anh cứu người phụ nữ bất hạnh - phu nhân Montpensier - khỏi lưỡi hái của bản án giết người đang treo lơ lửng trên đầu bà, vốn liên quan đến cái chết của cô con gái riêng, tiểu thư Carére. Trớ trêu thay, sáu tháng sau người ta lại tìm thấy cô gái ấy vẫn còn sống nhăn, và đã yên bề kết hôn tận New York xa xôi. Thành công liên tiếp trong những vụ án hóc búa và quan trọng khiến bạn tôi đang ở tâm trạng vô cùng phấn chấn. Nhờ thế, tôi mới có thể thuyết phục anh ngồi lại bàn luận về những chi tiết trong bí ẩn nhà Baskerville. Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi cơ hội này từ lâu, bởi tôi biết rõ anh không bao giờ để các vụ án đan xen vào nhau. Bộ óc logic và minh mẫn của anh sẽ không cho phép nó rời bỏ công việc trước mắt để lặn ngụp vào ký ức đã qua. Thế nhưng chiều nay, ngài Henry và bác sĩ Mortimer vừa ghé thăm chúng tôi - họ đang ở London để thu xếp cho một chuyến hải hành dài ngày, mong vực lại tinh thần suy sụp của ngài Henry. Vậy nên, chủ đề này tự nhiên được đưa ra bàn luận cũng là lẽ đương nhiên.

"Toàn bộ diễn biến sự việc," Holmes cất lời, "nếu nhìn từ góc độ của kẻ tự xưng là Stapleton, thì thực ra rất đơn giản và trực tiếp. Chỉ có chúng ta, những kẻ ban đầu chẳng có cách nào thấu được động cơ của hắn, lại chỉ biết được một phần sự thật, mới thấy mọi thứ dường như rối rắm vô cùng. Tôi may mắn có được lợi thế từ hai cuộc trò chuyện với bà Stapleton. Giờ đây vụ án đã sáng tỏ đến độ tôi không còn thấy điều gì là bí mật đối với chúng ta nữa. Anh sẽ tìm thấy đôi dòng ghi chép về vấn đề này dưới mục B trong danh mục hồ sơ được lập chỉ mục của tôi."

"Có lẽ anh có thể phác họa lại toàn bộ diễn biến từ trí nhớ cho tôi nghe được không?"

"Tất nhiên rồi, dù tôi không dám đảm bảo mình sẽ nhớ hết từng tình tiết. Sự tập trung tinh thần cao độ có một cách kỳ quặc là quét sạch những gì đã qua khỏi tâm trí. Một luật sư nắm rõ vụ án trong lòng bàn tay, có thể tranh biện sắc bén với chuyên gia trong chính lĩnh vực của ông ta, vậy mà chỉ một hai tuần sau phiên tòa, tất cả lại tan biến như chưa từng có. Mỗi vụ án của tôi cũng thế, vụ sau thế chỗ vụ trước, và chính nàng Carére đã làm nhạt nhòa ký ức của tôi về Dinh thự Baskerville. Ngày mai, rất có thể một vấn đề vụn vặt nào đó lại được đưa đến trước mặt tôi, và nó sẽ lại đẩy bật cô gái Pháp xinh đẹp cùng gã Upwood bỉ ổi ra khỏi tâm trí mà thôi. Dẫu sao, trong phạm vi vụ án con chó săn, tôi sẽ kể cho anh nghe diễn biến sát nhất có thể. Còn anh, hãy nhắc cho tôi những gì tôi lỡ quên.

"Những cuộc điều tra của tôi đã xác nhận không chút nghi ngờ rằng bức chân dung gia đình không hề nói dối, và gã này chính là dòng máu Baskerville. Hắn là con trai của Rodger Baskerville - em trai của ngài Charles, kẻ mang tiếng xấu xa đã trốn sang Nam Mỹ và được cho là đã chết ở đó mà không hề kết hôn. Nhưng sự thật, hắn ta đã cưới vợ và có một đứa con trai. Chính là gã này đây, mang trùng tên cha. Hắn lấy Beryl Garcia, một trong những mỹ nhân của Costa Rica. Sau khi biển thủ một khoản công quỹ kếch xù, hắn đổi sang họ Vandeleur rồi lẩn trốn sang Anh. Tại đây, hắn mở một trường học ở vùng đông Yorkshire. Cái lý do đưa đẩy hắn thử sức với lĩnh vực đặc thù này thật tình cờ: trên chuyến tàu vượt đại dương trở về, hắn làm quen với một gia sư trẻ mắc bệnh lao, và đã khéo léo lợi dụng năng lực của người này để biến công việc kinh doanh trở nên khởi sắc. Nhưng rồi gia sư Fraser đã qua đời vì căn bệnh nan y. Ngôi trường từ chỗ khởi đầu thuận lợi dần trượt dài: tai tiếng nối tiếp tai tiếng, rồi thành bê bối thực sự. Vợ chồng Vandeleur nhận thấy cần phải thay tên đổi họ một lần nữa, và cái tên Stapleton ra đời. Hắn mang theo số tài sản còn sót lại, cùng những kế hoạch tương lai và niềm đam mê nghiên cứu côn trùng học, thẳng tiến về miền nam nước Anh. Tôi đã tra cứu tại Bảo tàng Anh và được biết hắn quả thực là một chuyên gia có tiếng trong lĩnh vực này. Cái tên Vandeleur đã được gắn vĩnh viễn với một loài bướm đêm mà hắn là người đầu tiên mô tả từ thời còn ở Yorkshire.

"Giờ ta hãy bàn đến giai đoạn trong cuộc đời hắn - cái giai đoạn đã chứng tỏ sức hút mãnh liệt nhất đối với chúng ta. Gã này, rõ ràng là đã lần ra và phát hiện rằng chỉ còn đúng hai mạng người đứng chắn giữa hắn với cả một khối gia sản kếch xù. Khi mới đặt chân đến Devonshire, tôi tin rằng kế hoạch của hắn hãy còn rất mơ hồ, nhưng cái ý đồ đen tối đã lộ rõ ngay từ đầu qua cách hắn mang vợ theo bên mình và giới thiệu cô ấy là em gái. Việc dùng cô làm mồi nhử - cái ý tưởng ấy rõ ràng đã thành hình trong đầu hắn từ sớm, dẫu cho những chi tiết cụ thể của âm mưu thì có lẽ hắn còn chưa định đoạt được sẽ sắp đặt ra sao. Mục đích tối hậu của hắn là chiếm đoạt gia sản, và vì mục đích đó, hắn sẵn lòng vận dụng bất kỳ công cụ nào, đón nhận bất kỳ rủi ro nào. Bước đi đầu tiên: hắn lập tức tìm cách cư ngụ càng gần tòa dinh thự tổ tiên càng tốt. Bước đi thứ hai: hắn ra sức kết thân với ngài Charles Baskerville cùng toàn bộ những người láng giềng quanh vùng.

"Chính vị nam tước đã đích thân kể cho hắn nghe về con chó săn của dòng họ. Và như thế, ngài đã tự tay dọn đường cho cái chết của chính mình. Stapleton - tôi sẽ tiếp tục gọi hắn bằng cái tên ấy - biết rằng tim ông lão rất yếu và chỉ một cú sốc thôi cũng đủ giết chết ông. Hắn moi được điều đó từ bác sĩ Mortimer. Hắn cũng nghe nói rằng ngài Charles vốn cực kỳ mê tín và tin tuyệt đối vào cái truyền thuyết rùng rợn kia. Bộ óc xảo quyệt của hắn lập tức phóng ra một cách thức giết chết vị nam tước, mà hầu như không thể nào buộc tội được kẻ sát nhân thực sự.

"Một khi ý tưởng đã thành hình, hắn bắt tay vào thực hiện với một sự tinh vi đáng nể. Một kẻ mưu mô hạng thường ắt đã hài lòng với việc kiếm một con chó dữ. Nhưng nghĩ ra cách dùng thủ thuật nhân tạo để biến con vật thành hiện thân của quỷ dữ - đó quả là một nước cờ thiên tài của hắn. Con chó được hắn mua ở London, từ tiệm Ross và Mangles, những tay buôn trên đường Fulham. Nó là con to khỏe và hung hăng nhất mà họ có. Hắn đưa nó về bằng tuyến đường sắt Bắc Devon, rồi cuốc bộ một quãng dài băng qua đầm lầy, ngõ hầu đưa được nó về đến nhà mà không gây ra lấy một ánh mắt tò mò nào. Hắn đã sớm thuộc nằm lòng địa hình đầm lầy Grimpen trong những lần đi săn côn trùng trước đó, và nhờ vậy tìm được một nơi ẩn náu an toàn cho con thú. Hắn xích nó ở đấy và chờ đợi thời cơ.

"Nhưng thời cơ mãi chẳng chịu đến. Ông lão già yếu ấy không tài nào bị dụ ra khỏi khuôn viên dinh thự vào ban đêm. Hết lần này đến lần khác, Stapleton rình rập cùng con chó săn, nhưng đều vô ích. Chính trong những lần lùng sục trong vô vọng ấy mà một người nông dân đã nhìn thấy hắn, hay nói đúng hơn là đồng bọn của hắn, và truyền thuyết về con chó quỷ một lần nữa lại nhận được bằng chứng xác nhận mới. Hắn từng hy vọng vợ mình có thể dụ ngài Charles vào chỗ chết, nhưng ở điểm này, cô ấy lại tỏ ra cứng cỏi một cách bất ngờ. Cô nhất quyết không chịu lôi kéo ông lão vào một mối quan hệ tình cảm mà rồi sẽ đẩy ông vào tay kẻ thù. Những lời đe dọa, và thậm chí - tôi rất tiếc phải nói ra - cả những trận đòn roi, cũng không làm cô lay chuyển. Cô không muốn dính dáng gì đến chuyện này hết, và trong suốt một thời gian, Stapleton rơi vào thế bế tắc hoàn toàn.

"Rồi hắn tìm được lối thoát, nhờ cơ hội ngài Charles - người đã kết thân với hắn - giao cho hắn đứng ra làm người đại diện từ thiện trong trường hợp của cô gái bất hạnh Laura Lyons. Bằng cách tự xưng mình là người độc thân, hắn giành được toàn quyền chi phối cô, và hắn khiến cô hiểu rằng nếu cô chịu ly hôn chồng thì hắn sẽ cưới cô. Kế hoạch của hắn bỗng nhiên được đẩy nhanh đến chóng mặt khi hắn biết ngài Charles sắp sửa rời khỏi Dinh thự, làm theo lời khuyên của bác sĩ Mortimer - cái lời khuyên mà hắn giả vờ đồng tình. Hắn buộc phải hành động ngay, nếu không con mồi sẽ vuột khỏi tầm tay. Thế là hắn gây sức ép, buộc bà Lyons viết bức thư kia, van nài ông lão cho cô một cuộc gặp vào buổi tối trước ngày ông khởi hành đi London. Sau đó, bằng một lý lẽ bề ngoài nghe thật hợp lý, hắn tìm cách ngăn không cho cô đến điểm hẹn. Và như vậy, hắn đã có được cái cơ hội bấy lâu hằng mong đợi.

"Tối hôm ấy, lúc đánh xe từ Coombe Tracey quay về, hắn kịp tạt qua chỗ giấu con chó săn, bôi lên mình nó thứ sơn quái quỷ của hắn, rồi dong con thú vòng đến chiếc cổng - nơi hắn có đầy đủ lý do để chắc mẩm rằng ông lão sẽ đang đứng chờ. Bị chủ kích động, con chó phóng qua cánh cổng phụ và lao theo vị nam tước bất hạnh, kẻ đang hét lên kinh hoàng, chạy thục mạng dọc con đường rợp bóng thủy tùng. Trong cái đường hầm tăm tối ấy, hẳn đó là một cảnh tượng kinh hoàng tột độ: một sinh vật đen thui khổng lồ, với cái hàm rực lửa và đôi mắt sáng rực như than hồng, nhảy xổ vào con mồi. Ngài Charles ngã lăn ra chết ở cuối con đường - trái tim yếu ớt và nỗi kinh hoàng tột cùng đã cùng nhau cướp đi mạng sống của ngài. Con chó săn vẫn chạy trên mép cỏ, trong khi vị nam tước chạy trên đường mòn, bởi vậy chẳng để lại dấu vết nào khác ngoài dấu chân người. Khi thấy ông nằm bất động, con sinh vật có lẽ đã tiến lại gần đánh hơi, nhưng nhận ra ông đã chết nên quay lưng bỏ đi. Chính vào lúc ấy nó đã để lại dấu chân - cái dấu chân mà bác sĩ Mortimer đã thực sự trông thấy. Con chó săn sau đó bị gọi lại và vội vã bị đưa về hang ổ của nó ở đầm lầy Grimpen, để lại đằng sau một bí ẩn làm đau đầu các nhà chức trách, gieo rắc hoang mang khắp cả vùng, và cuối cùng đã lọt vào tầm ngắm của chúng ta.

"Đó là toàn bộ sự thật về cái chết của ngài Charles Baskerville. Anh có thể thấy sự xảo quyệt đến tột cùng của nó, bởi quả thực gần như không thể nào lập hồ sơ buộc tội kẻ giết người thực sự. Đồng phạm duy nhất của hắn là kẻ sẽ chẳng bao giờ tố cáo hắn, và chính cái bản chất kỳ quái, khó tin của thủ đoạn lại càng làm cho nó thêm phần hiệu nghiệm. Cả hai người phụ nữ có liên quan đến vụ án - bà Stapleton và bà Laura Lyons - mỗi người đều bị bỏ lại với một nỗi ngờ vực mạnh mẽ nhắm vào Stapleton. Bà Stapleton biết rõ hắn có âm mưu với ông lão, và cũng biết rõ về sự tồn tại của con chó săn. Bà Lyons thì không hay biết cả hai điều ấy, nhưng bà bị ám ảnh bởi cái chết đã xảy ra vào đúng thời điểm của một cuộc hẹn không hề bị hủy bỏ - một cuộc hẹn mà chỉ có một mình hắn biết. Thế nhưng, cả hai người đều nằm dưới sự chi phối của hắn, và hắn chẳng có gì phải sợ họ. Nửa đầu của nhiệm vụ đã được hoàn thành một cách mỹ mãn. Nhưng phần khó khăn hơn thì vẫn còn ở phía trước.

"Rất có thể Stapleton không hề hay biết về sự tồn tại của một người thừa kế ở tận Canada. Nhưng dù sao thì hắn cũng sẽ sớm biết được điều đó từ người bạn của mình - bác sĩ Mortimer. Chính ông này đã kể cho hắn nghe mọi chi tiết về sự xuất hiện của Henry Baskerville. Ý đồ đầu tiên của Stapleton là ra tay giết chết chàng trai trẻ người Canada này ngay tại London, không cần để anh ta đặt chân xuống Devonshire. Kể từ khi vợ hắn từ chối giúp hắn giăng bẫy ông lão, Stapleton không còn tin tưởng cô nữa. Hắn cũng chẳng dám để cô ra khỏi tầm mắt quá lâu, vì sợ sẽ đánh mất đi sức khống chế đối với cô. Chính vì lẽ đó mà hắn đưa vợ lên London cùng mình. Qua điều tra, tôi phát hiện ra rằng họ trọ tại Khách sạn tư nhân Mexborough trên phố Craven. Đây thực chất là một trong những địa điểm mà đặc vụ của tôi đã ghé thăm để tìm kiếm bằng chứng. Tại nơi này, hắn giam lỏng vợ trong phòng. Còn bản thân hắn thì cải trang với một bộ râu giả, theo dõi bác sĩ Mortimer tới tận phố Baker, rồi sau đó tới nhà ga và Khách sạn Northumberland. Vợ hắn có lờ mờ đoán ra được kế hoạch của chồng. Nhưng cô quá đỗi khiếp sợ hắn - một nỗi sợ bắt nguồn từ những trận ngược đãi tàn bạo - đến mức không dám viết thư để cảnh báo cho người đàn ông mà cô biết đang gặp nguy hiểm. Bởi nếu bức thư ấy rơi vào tay Stapleton, thì chính mạng sống của cô cũng khó mà giữ nổi. Cuối cùng, như chúng ta đã biết, cô chọn cách cắt rời từng chữ để ghép thành một thông điệp, rồi ghi địa chỉ bằng một nét chữ tay giả mạo. Bức thư ấy đã đến tay ngài nam tước, và mang đến cho ngài lời cảnh báo đầu tiên về mối hiểm họa đang rình rập.

"Đối với Stapleton, việc chiếm được một món đồ tùy thân của ngài Henry là vô cùng quan trọng. Bởi như vậy, phòng khi buộc phải sử dụng đến con chó săn, hắn sẽ luôn có phương tiện để cho nó đánh hơi. Với bản tính nhanh nhạy và táo tợn cố hữu, hắn lập tức bắt tay vào thực hiện ý đồ này. Và chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa, rằng tên đánh giày hay cô hầu phòng của khách sạn đã được hối lộ hậu hĩnh để tiếp tay cho hắn. Nhưng, thật trớ trêu thay, chiếc giày đầu tiên mà bọn chúng lấy được lại là một chiếc giày mới, và vì thế nó hoàn toàn vô dụng đối với mục đích của hắn. Hắn bèn trả lại chiếc giày mới và lấy đi một chiếc giày cũ khác. Chính sự kiện tưởng chừng vụn vặt này lại vô cùng đáng giá, vì nó đã thuyết phục tôi một cách chắc chắn rằng chúng ta đang đối phó với một con chó săn bằng xương bằng thịt. Bởi lẽ, không một giả thiết nào khác có thể cắt nghĩa được sự khao khát mãnh liệt muốn chiếm cho bằng được chiếc giày cũ, cùng với sự thờ ơ dửng dưng đối với chiếc giày mới của hắn. Một sự việc càng kỳ quặc và khó hiểu bao nhiêu, thì lại càng xứng đáng được xem xét thấu đáo bấy nhiêu. Và chính cái điểm tưởng chừng như sẽ khiến vụ án thêm phức tạp, thì lại là điểm có nhiều khả năng làm sáng tỏ nó nhất - miễn là ta biết cân nhắc kỹ lưỡng và xử lý một cách khoa học.

"Rồi tiếp đến, chúng ta có chuyến viếng thăm của những người bạn vào sáng hôm sau. Họ luôn bị Stapleton bám đuôi theo sát trong chiếc xe ngựa. Từ việc hắn biết rõ phòng của chúng ta, ngoại hình của tôi, cũng như cách hành xử của hắn nói chung, tôi có khuynh hướng cho rằng sự nghiệp phạm tội của Stapleton không chỉ giới hạn trong mỗi vụ Baskerville này. Một điều thật đáng chú ý: trong vòng ba năm trở lại đây, đã xảy ra bốn vụ trộm lớn ở miền tây, mà chưa một kẻ thủ ác nào bị bắt giữ. Vụ gần đây nhất xảy ra tại Tòa án Folkestone vào tháng Năm, nổi tiếng vì tên trộm đã bắn chết một cậu bé hầu phòng ngay tại chỗ, một cách máu lạnh, khi cậu bé tình cờ bắt gặp hắn đang hành sự trong bộ dạng đeo mặt nạ. Tôi không chút nghi ngờ gì về việc Stapleton đã dùng con đường trộm cướp này để bù đắp cho nguồn tài chính đang cạn kiệt của mình. Và trong suốt nhiều năm qua, hắn đã trở thành một kẻ táo tợn và cực kỳ nguy hiểm.

"Chúng ta từng được chứng kiến sự nhanh trí của hắn ngay trong buổi sáng hôm đó, khi hắn thành công trốn thoát khỏi tầm tay chúng ta. Và cả sự trơ tráo của hắn nữa, khi dám nhờ người đánh xe ngựa chuyển lại chính cái tên tôi. Kể từ giây phút ấy, hắn hiểu rằng tôi đã chính thức tiếp nhận vụ án ở London, và vì vậy hắn không còn bất cứ cơ hội nào để ra tay ở đây nữa. Hắn bèn rút lui về Dartmoor, và lặng lẽ chờ đợi sự xuất hiện của ngài nam tước."

"Khoan đã!" tôi lên tiếng. "Anh đã thuật lại diễn biến sự việc rất chính xác, nhưng vẫn còn một điểm anh chưa làm sáng tỏ. Con chó săn ở đâu trong suốt thời gian chủ nó lưu lại London?"

"Tôi đã lưu tâm đến vấn đề này và nó thực sự hệ trọng. Không còn gì phải bàn cãi, Stapleton có một kẻ tâm phúc, dù tôi chưa dám chắc hắn từng liều lĩnh chia sẻ toàn bộ kế hoạch với người này. Ở Nhà Merripit có một lão bộc tên là Anthony. Mối quan hệ giữa lão với gia đình Stapleton có thể truy ngược về rất nhiều năm, xa tới tận thời Stapleton còn làm thầy giáo, vì vậy lão hẳn phải biết chủ nhân và nữ chủ nhân của mình thực chất là vợ chồng. Con người này đã biến mất và trốn khỏi đất nước. Điều đáng chú ý là Anthony không phải một cái tên thông dụng ở Anh, trong khi Antonio lại cực kỳ phổ biến tại khắp các xứ nói tiếng Tây Ban Nha hay châu Mỹ gốc Tây Ban Nha. Lão ta, cũng giống như chính bà Stapleton, nói tiếng Anh khá tốt nhưng mang một giọng ngọng nghịu kỳ lạ. Chính mắt tôi đã trông thấy lão già này băng qua đầm lầy Grimpen theo đúng con đường Stapleton đã đánh dấu. Vì vậy, rất có thể trong những lúc chủ vắng nhà, chính lão là kẻ chăm sóc con chó săn, dù lão có lẽ chẳng bao giờ hay biết con thú ấy được dùng vào mục đích gì.

"Kế đó, vợ chồng Stapleton xuống Devonshire, và ngài Henry cùng anh cũng nhanh chóng theo gót họ. Giờ tôi xin nói đôi lời về vị trí của tôi vào thời điểm ấy. Có lẽ anh vẫn còn nhớ, lúc kiểm tra mảnh giấy dán những con chữ in sẵn, tôi đã xem xét hình mờ rất kỹ lưỡng. Khi đưa tờ giấy lên cách mắt vài inch, tôi thoáng nhận ra mùi nước hoa nhài trắng. Có đến bảy mươi lăm loại nước hoa mà một chuyên gia tội phạm học buộc phải phân biệt được, và trong kinh nghiệm của tôi, không ít vụ án xoay chuyển cục diện chỉ nhờ nhận ra chúng kịp thời. Mùi hương ấy gợi đến sự hiện diện của một người đàn bà, và suy nghĩ của tôi bắt đầu hướng về phía nhà Stapleton. Thế là tôi đã khẳng định được sự tồn tại của con chó săn, đồng thời đoán ra kẻ chủ mưu từ trước cả lúc chúng ta đặt chân đến miền tây.

"Kế sách của tôi là bám sát Stapleton. Tuy nhiên, rõ ràng tôi không thể làm điều đó nếu đi cùng anh, bởi hắn sẽ đề cao cảnh giác tột độ. Bởi vậy, tôi đã đánh lừa tất cả mọi người, kể cả anh, và bí mật lên đường trong khi lẽ ra tôi vẫn phải ở London. Những gian khổ tôi chịu đựng cũng chẳng ghê gớm như anh hình dung đâu, dù những chi tiết vặt vãnh kiểu ấy không bao giờ được phép cản trở công cuộc điều tra. Tôi chủ yếu trú tại Coombe Tracey, và chỉ lui tới túp lều trên đầm lầy khi cần kề cận hiện trường. Cartwright xuống cùng tôi, trong lớp cải trang thành một cậu bé nhà quê, thằng bé đã giúp tôi rất nhiều. Tôi trông cậy vào nó để có thức ăn và quần áo sạch sẽ. Trong lúc tôi theo dõi Stapleton, Cartwright thường xuyên bám theo anh, nhờ vậy tôi có thể nắm trong tay mọi mối dây.

"Tôi đã nói với anh rằng những báo cáo của anh đến tay tôi rất nhanh, được chuyển tiếp tức thì từ phố Baker xuống Coombe Tracey. Chúng giúp ích cho tôi vô cùng, đặc biệt là mẩu tiểu sử vô tình chân thực về Stapleton. Nhờ đó tôi đã xác định được danh tính của gã đàn ông và người đàn bà ấy, rồi cuối cùng biết rõ mình đang đứng ở đâu. Vụ án trở nên khá rắc rối vì vụ tên tù vượt ngục và mối liên hệ giữa hắn với gia đình Barrymore. Anh cũng đã làm sáng tỏ khúc mắc này một cách hết sức hiệu quả, dù tôi cũng đã đi đến những kết luận tương tự từ quan sát của riêng mình.

"Vào thời điểm anh phát hiện ra tôi trên đầm lầy, tôi đã thấu suốt toàn bộ sự việc, nhưng vẫn chưa có đủ chứng cứ để đưa ra trước tòa. Ngay cả âm mưu Stapleton nhắm vào ngài Henry trong đêm hôm ấy, với kết cục là cái chết của gã tù nhân bất hạnh, cũng chẳng giúp chúng ta thêm được bao nhiêu trong việc buộc tội giết người đối với hắn. Dường như chẳng còn cách nào khác ngoài việc bắt quả tang hắn tại trận, và muốn vậy, chúng ta buộc phải dùng ngài Henry làm mồi nhử - đơn độc và bề ngoài như không một ai bảo vệ. Chúng ta đã làm đúng như thế, và đánh đổi bằng một cú sốc nặng nề giáng xuống thân chủ, chúng ta đã kết thúc vụ án một cách thành công và đẩy Stapleton vào chỗ diệt vong. Việc ngài Henry phải đương đầu với hiểm nguy ấy, tôi buộc lòng thú nhận, là một khiếm khuyết đáng trách trong cách tôi điều hành vụ án này. Nhưng chúng ta không tài nào lường trước được cái cảnh tượng kinh hoàng và tê liệt mà con quái thú phô bày, cũng chẳng thể đoán được lớp sương mù đã giúp nó áp sát chúng ta ở một cự ly quá ngắn đến vậy. Chúng ta đã đạt được mục đích với một cái giá mà cả vị bác sĩ chuyên khoa lẫn bác sĩ Mortimer đều cam đoan với tôi rằng chỉ là tạm thời. Một chuyến đi xa sẽ giúp người bạn của chúng ta không chỉ phục hồi hệ thần kinh đang suy sụp, mà còn chữa lành cả những vết thương trong tâm hồn. Tình yêu của ngài dành cho người đàn bà ấy thật sâu đậm và chân thành, và với ngài, điều đau buồn nhất trong toàn bộ câu chuyện tăm tối này chính là việc ngài đã bị nàng lừa dối.

"Giờ đây chỉ còn việc làm rõ vai trò của người đàn bà ấy trong toàn bộ sự việc. Không còn nghi ngờ gì nữa, Stapleton đã chi phối nàng bằng một thứ ảnh hưởng ghê gớm - có thể là tình yêu, có thể là nỗi sợ hãi, hoặc rất có thể là cả hai, bởi chúng tuyệt nhiên không phải những cảm xúc loại trừ lẫn nhau. Dù là gì thì sự chi phối ấy cũng cực kỳ hiệu nghiệm. Theo lệnh hắn, nàng sẵn sàng đóng giả làm em gái hắn, dù hắn đã chạm đến ranh giới cuối cùng của quyền lực khi tìm cách ép nàng trực tiếp trở thành kẻ tòng phạm trong tội giết người. Nàng sẵn lòng cảnh báo ngài Henry trong chừng mực có thể mà không làm liên lụy đến chồng, và hết lần này đến lần khác nàng đã cố gắng làm điều đó. Bản thân Stapleton dường như cũng mang máu ghen tuông. Khi thấy vị nam tước tán tỉnh vợ mình, dù đó là một phần trong chính kế hoạch của hắn, hắn vẫn không sao kìm nén được cơn thịnh nộ, để lộ ra cái tâm hồn nóng nảy mà vẻ ngoài điềm đạm bấy lâu đã che giấu quá tài tình. Bằng cách khuyến khích mối thân tình ấy, hắn đã bảo đảm rằng ngài Henry sẽ thường xuyên ghé thăm Nhà Merripit và sớm muộn gì hắn cũng sẽ có được cơ hội mình hằng mong đợi. Thế nhưng, vào chính ngày xảy ra cơn khủng hoảng, vợ hắn đột ngột quay lưng lại. Nàng đã biết đôi chút về cái chết của tên tù nhân, và nàng biết rằng con chó săn đang bị nhốt trong nhà phụ vào buổi tối ngài Henry đến dùng bữa. Nàng buộc tội chồng về tội ác hắn sắp sửa gây ra, và một trận cãi vã dữ dội bùng nổ. Trong cơn cuồng nộ, lần đầu tiên hắn để nàng thấy rằng nàng có một tình địch ngay trong trái tim hắn. Lòng chung thủy của nàng lập tức biến thành thù hận cay đắng, và hắn hiểu rằng nàng sẽ phản bội hắn. Thế là hắn trói nàng lại, không cho nàng cơ hội cảnh báo ngài Henry. Hẳn hắn hy vọng rằng khi cả vùng quy cái chết của vị nam tước cho lời nguyền gia tộc - điều mà chắc chắn họ sẽ làm - hắn có thể thuyết phục vợ chấp nhận sự đã rồi và im lặng mãi mãi về những gì nàng biết. Trong chuyện này, theo tôi, dù sao thì hắn cũng đã tính toán sai lầm. Và ngay cả nếu chúng ta không có mặt ở đó, số phận hắn e cũng chẳng thoát khỏi một kết cục bi thảm. Một người đàn bà mang trong mình dòng máu Tây Ban Nha không dễ dàng bỏ qua một tổn thương như vậy. Và giờ đây, Watson thân mến, chẳng cần phải xem lại ghi chép gì nữa, tôi không thể kể cho anh nghe chi tiết hơn về vụ án kỳ lạ này. Tôi không thấy còn điều gì trọng yếu nào chưa được giải thích nữa."

"Hắn không thể trông mong dọa ngài Henry chết khiếp như cách đã làm với ông bác già bằng con chó săn ma quỷ của mình."

"Con thú vốn hung dữ lại còn bị bỏ đói đến kiệt quệ. Ngay cả khi sự xuất hiện của nó không đủ khiến nạn nhân sợ hãi đến chết, thì ít ra nó cũng làm tê liệt mọi ý chí phản kháng."

"Không còn nghi ngờ gì nữa. Giờ chỉ vướng lại một khó khăn cuối cùng. Nếu quả thực Stapleton được hưởng quyền thừa kế, thì làm sao hắn có thể giải thích nổi chuyện một kẻ thừa kế như hắn lại lén lút sống dưới một cái tên giả ngay sát bên cạnh khối gia sản ấy? Làm thế nào hắn đòi lại được tài sản mà không khơi dậy những ngờ vực và một cuộc điều tra?"

"Đó quả là một trở ngại đáng gờm, và tôi e rằng anh đã kỳ vọng hơi nhiều khi mong tôi giải đáp thấu đáo chuyện ấy. Quá khứ và hiện tại thuộc phạm vi điều tra của tôi, nhưng một kẻ sẽ hành xử ra sao trong tương lai lại là một câu hỏi không dễ trả lời chút nào. Bà Stapleton đã không ít lần nghe chồng mình bàn luận về vấn đề này. Có ba lối thoát khả dĩ. Hắn có thể đòi quyền thừa kế từ Nam Mỹ, thiết lập danh tính của mình trước chính quyền Anh tại đó và nhờ vậy đoạt lấy gia tài mà chẳng cần phải đặt chân trở lại nước Anh; hoặc hắn có thể cải trang kín đáo trong khoảng thời gian ngắn ngủi cần có mặt ở London; hoặc cũng có thể hắn sẽ trao cho một kẻ đồng lõa đầy đủ bằng chứng và giấy tờ, để kẻ ấy đứng ra làm người thừa kế danh nghĩa, đổi lại hắn sẽ giữ một phần thu nhập. Xét từ những gì chúng ta đã biết về hắn, tôi không hề nghi ngờ rằng hắn sẽ tìm ra cách vượt qua trở ngại này. Còn bây giờ, Watson thân mến ạ, chúng ta đã trải qua mấy tuần lao lực miệt mài rồi, và tôi nghĩ, trong một buổi tối thế này, ta có thể hướng tâm trí mình sang những điều dễ chịu hơn. Tôi đã đặt được một lô ghế riêng xem vở Les Huguenots2. Anh đã từng nghe anh em nhà De Reszkes3 hát chưa? Vậy phiền anh sửa soạn trong vòng nửa giờ nữa nhé, dọc đường chúng ta sẽ ghé Marcini's dùng chút bữa tối."

HẾT


  1. "Nonpareil" là một từ gốc Pháp mang ý nghĩa "vô song" hay "không ai sánh bằng". Các câu lạc bộ quý ông (gentlemen's club) ở London thời kỳ Victoria là những địa điểm khép kín sang trọng, nơi nam giới thuộc giới thượng lưu thường xuyên lui tới để giao lưu, bàn chuyện chính trị và giải trí, trong đó đánh bạc là một hoạt động rất phổ biến. 

  2. Một vở opera quy mô lớn của nhà soạn nhạc Giacomo Meyerbeer, ra mắt năm 1836. Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc chiến tranh tôn giáo khốc liệt ở Pháp vào thế kỷ 16 và là một trong những vở diễn được tầng lớp trí thức và quý tộc London cuối thế kỷ 19 vô cùng ưa chuộng. 

  3. Chỉ Jean và Édouard de Reszke, hai anh em ca sĩ opera huyền thoại người Ba Lan. Vào thời điểm câu chuyện diễn ra, họ là những ngôi sao có sức hút lớn nhất tại nhà hát hoàng gia Covent Garden (London), thường xuyên biểu diễn và nhận được sự hâm mộ cuồng nhiệt từ giới thượng lưu Anh.