CHƯƠNG 4. NGÀI HENRY BASKERVILLE

Bữa sáng của chúng tôi đã được dọn dẹp từ sớm. Holmes khoác áo choàng tắm, kiên nhẫn chờ đợi cuộc hẹn đã định. Vị khách hàng đến thật đúng hẹn - đồng hồ vừa điểm mười giờ thì bác sĩ Mortimer được mời lên, theo sau là vị nam tước trẻ tuổi. Người thứ hai là một quý ông nhỏ nhắn, lanh lợi, đôi mắt đen láy, trạc ba mươi tuổi. Thân hình ngài rắn rỏi, cặp lông mày đen rậm cùng khuôn mặt cương nghị toát lên vẻ hiếu chiến. Ngài mặc một bộ đồ vải tuýt nhuốm sắc đỏ nhạt, mang dáng dấp dạn dày sương gió của một kẻ quen sống ngoài trời. Thế nhưng, trong ánh mắt kiên định và phong thái điềm tĩnh, tự tin kia, vẫn toát lên khí chất của một bậc quý ông đích thực.

"Đây là Ngài Henry Baskerville," bác sĩ Mortimer giới thiệu.

"À, vâng," vị nam tước lên tiếng. "Và chuyện lạ là, thưa ông Sherlock Holmes, nếu người bạn đồng hành của tôi đây không đề nghị đến gặp ông sáng nay, thì chính tôi cũng sẽ tìm đến. Tôi biết ông là bậc thầy trong việc giải quyết những rắc rối nho nhỏ, và sáng nay tôi vừa vớ phải một rắc rối khiến tôi phải đau đầu hơn mức mình có thể xoay xở."

"Mời Ngài ngồi, Ngài Henry. Có phải ý Ngài là chính Ngài đã gặp đôi ba chuyện kỳ lạ kể từ lúc đặt chân đến London?"

"Chẳng có gì ghê gớm lắm đâu, ông Holmes ạ. Hẳn chỉ là một trò đùa thôi. Chính là bức thư này - nếu có thể gọi đây là một bức thư - vừa đến tay tôi sáng nay."

Ngài đặt một phong bì lên bàn. Tất cả chúng tôi cùng cúi xuống xem xét. Đó là phong bì loại thường, màu xam xám. Địa chỉ đề "Ngài Henry Baskerville, Khách sạn Northumberland" được viết bằng những nét chữ thô kệch; dấu bưu điện đóng ở Charing Cross1, và ngày gửi là tối hôm trước.

"Ai biết Ngài sẽ đến Khách sạn Northumberland?" Holmes hỏi, hướng cặp mắt sắc sảo về phía vị khách.

"Không ai biết được cả. Chúng tôi chỉ mới quyết định sau khi tôi gặp bác sĩ Mortimer."

"Nhưng hẳn bác sĩ Mortimer đã trú tại đó rồi chứ?"

"Không, tôi ở nhà một người bạn," vị bác sĩ đáp.

"Chúng tôi không để lộ bất cứ dấu hiệu nào cho thấy mình định đến khách sạn đó."

"Hừm! Có vẻ như ai đó đang theo dõi nhất cử nhất động của ngài rất sát sao." Holmes rút từ trong phong bì ra một nửa tờ giấy foolscap2 được gấp làm tư. Anh mở nó ra và trải phẳng trên mặt bàn. Chạy ngang giữa trang giấy là một câu duy nhất được ghép lại từ những con chữ in sẵn cắt ra dán vào. Dòng chữ ấy viết rằng:

Nếu ngài coi trọng cuộc sống hoặc lý trí của mình thì hãy tránh xa khỏi vùng đầm lầy.

Chỉ duy nhất hai chữ "vùng đầm lầy" là được viết tay bằng mực.

"Nào," Ngài Henry Baskerville lên tiếng, "có lẽ ông sẽ cho tôi hay, ông Holmes, rốt cuộc chuyện quái quỷ gì đang diễn ra đây, và kẻ nào lại quan tâm đến chuyện của tôi đến mức này vậy?"

"Ông nghĩ sao về việc này, bác sĩ Mortimer? Dù sao đi nữa, hẳn ông cũng phải thừa nhận rằng chẳng có gì là siêu nhiên ở đây chứ?"

"Không, thưa ngài, nhưng rất có khả năng bức thư đến từ một kẻ tin chắc rằng chuyện này mang bản chất siêu nhiên."

"Chuyện gì cơ?" Ngài Henry gắt giọng. "Có vẻ như tất cả các ông ở đây đều biết rõ về chuyện của tôi hơn cả chính tôi vậy."

"Ngài sẽ được chia sẻ mọi điều chúng tôi biết trước khi rời khỏi căn phòng này, Ngài Henry. Tôi xin hứa với ngài điều đó," Sherlock Holmes đáp. "Còn lúc này, với sự cho phép của ngài, chúng ta hãy tập trung vào tài liệu hết sức thú vị này - thứ chắc chắn đã được cắt dán và gửi đi từ tối hôm qua. Watson này, anh có tờ Times3 hôm qua không?"

"Nó ở trong góc kia."

"Làm ơn đưa cho tôi - trang trong ấy, trang có các bài xã luận." Anh lướt nhanh mắt qua tờ báo, đảo lên đảo xuống từng cột chữ. "Bài xã luận về thương mại tự do này quả là tuyệt tác. Cho phép tôi trích đọc cho ngài nghe một đoạn nhé.

‘Ngài có thể bị dụ dỗ mà tưởng tượng rằng ngành nghề kinh doanh riêng của mình hay nền công nghiệp của mình sẽ được khuyến khích bởi một mức thuế bảo hộ, nhưng lý trí cho thấy rằng về lâu về dài, những chính sách như vậy chắc chắn sẽ giữ của cải tránh xa khỏi đất nước, làm suy giảm giá trị hàng nhập khẩu của chúng ta và hạ thấp đời sống chung trên hòn đảo này.’

"Anh thấy thế nào, Watson?" Holmes reo lên đầy phấn khích, xoa hai tay vào nhau vẻ khoan khoái. "Anh không nghĩ đó là một quan điểm đáng khâm phục sao?"

Bác sĩ Mortimer nhìn Holmes với ánh mắt tò mò đầy tính chuyên môn, còn Ngài Henry Baskerville thì quay đôi mắt đen đầy hoang mang về phía tôi.

"Tôi chẳng rành lắm về thuế quan và mấy thứ tương tự," ngài nói, "nhưng hình như chúng ta đã hơi lạc đề so với mảnh giấy nhắn kia rồi."

"Trái lại, tôi cho rằng chúng ta đang lần theo dấu vết rất chính xác đấy, Ngài Henry. Anh Watson đây hiểu rõ phương pháp của tôi hơn ngài, nhưng tôi e rằng ngay cả anh ấy cũng chưa nắm bắt được hết ý nghĩa của câu văn này."

"Không, tôi thú thực là chẳng thấy mối liên hệ nào cả."

"Ấy vậy mà, Watson thân mến, mối liên hệ ấy lại vô cùng chặt chẽ - chặt chẽ đến mức câu này được trích xuất trực tiếp từ câu kia. ‘Ngài,’ ‘của mình,’ ‘của mình,’ ‘cuộc sống,’ ‘lý trí,’ ‘coi trọng,’ ‘tránh xa,’ ‘khỏi.’ Đến đây anh đã thấy những từ này được lấy từ đâu ra chưa?"

"Trời đất ơi, ông nói đúng! Quả thật là quá thông minh!" Ngài Henry thốt lên.

"Nếu còn bất kỳ nghi ngờ nào, thì sự thật rằng hai chữ ‘tránh xa’ và ‘khỏi’ được cắt dính liền thành một mảnh đã giải quyết nốt rồi."

"Ồ, giờ thì - đúng là như vậy!"

"Quả thực, ông Holmes, điều này vượt xa mọi điều tôi có thể tưởng tượng nổi," bác sĩ Mortimer thốt lên, sững sờ nhìn bạn tôi. "Việc ai đó nói rằng mấy chữ này được lấy từ một tờ báo thì tôi còn hiểu được; nhưng việc ông chỉ đích danh đó là tờ nào, và còn nói thêm rằng chúng đến từ một bài xã luận, thì thực sự là một trong những điều phi thường nhất tôi từng được chứng kiến. Ông đã làm thế nào vậy?"

"Tôi đoán, thưa bác sĩ, ông có thể phân biệt được hộp sọ của một người da đen với hộp sọ của một người Eskimo chứ?"

"Hẳn nhiên rồi."

"Nhưng bằng cách nào?"

"Bởi vì đó là lĩnh vực tôi đặc biệt yêu thích. Những điểm khác biệt rất rõ ràng. Cung mày, góc mặt, độ cong của xương hàm trên, rồi-"

"Thì đây cũng là lĩnh vực tôi đặc biệt yêu thích, và những điểm khác biệt cũng rõ ràng không kém. Trong mắt tôi, sự khác biệt giữa phông chữ bourgeois có chèn chì4 của một bài báo trên tờ Times với nét in cẩu thả của một tờ báo chiều giá nửa xu, cũng lớn lao như sự khác biệt giữa người da đen và người Eskimo trong mắt ông vậy. Nhận diện kiểu chữ là một trong những nhánh kiến thức cơ bản nhất đối với một chuyên gia đặc biệt về tội phạm, mặc dù tôi phải thú nhận rằng có lần, khi còn rất trẻ, tôi đã từng nhầm tờ Leeds Mercury với tờ Western Morning News. Nhưng bài xã luận của tờ Times thì hoàn toàn không thể lẫn vào đâu được, và những từ này không thể đến từ bất cứ nguồn nào khác. Vì sự việc diễn ra vào ngày hôm qua, nên khả năng rất cao là chúng ta sẽ tìm thấy những từ này trong số báo ngày hôm qua."

"Vậy theo những gì tôi hiểu được từ ông, ông Holmes," Ngài Henry Baskerville nói, "ai đó đã cắt thông điệp này ra bằng một cây kéo-"

"Kéo cắt móng tay," Holmes đáp. "Ngài có thể thấy đó là một cây kéo có lưỡi rất ngắn, bởi kẻ cắt đã phải nhấp kéo hai lần trên cụm từ ‘tránh xa’."

"Đúng là như vậy. Vậy là có kẻ đã cắt thông điệp này bằng một cây kéo lưỡi ngắn, rồi dán nó bằng hồ-"

"Keo dán," Holmes nói.

"Bằng keo dán lên giấy. Nhưng tôi muốn biết tại sao chữ ‘vùng đầm lầy’ lại phải viết tay?"

"Bởi vì hắn không thể tìm thấy từ đó trên mặt báo. Những từ khác đều rất thông dụng và có thể tìm thấy ở bất kỳ số báo nào, nhưng ‘vùng đầm lầy’ thì ít phổ biến hơn nhiều."

"Ồ, tất nhiên rồi, thế là rõ. Ông có đọc được điều gì khác từ thông điệp này không, ông Holmes?"

"Còn một vài dấu hiệu nữa, dù kẻ soạn thư đã hết sức cẩn thận xóa bỏ mọi manh mối. Địa chỉ, như ngài thấy đấy, được viết bằng những nét chữ thô kệch. Nhưng tờ Times là một tờ báo hiếm khi rơi vào tay ai ngoài những người có học thức. Do đó, ta có thể suy luận rằng bức thư này được soạn bởi một kẻ có học, hắn cố tình giả làm một kẻ vô học; và việc hắn nỗ lực che giấu nét chữ cho thấy rằng ngài có thể đã biết, hoặc sẽ biết nét chữ ấy. Ngoài ra, ngài hãy để ý rằng các con chữ không được dán thành một đường thẳng tắp, mà một số từ nhô cao hơn hẳn những từ còn lại. Chữ ‘cuộc sống,’ chẳng hạn, nằm chệch hẳn khỏi vị trí thích hợp của nó. Điều đó có thể là dấu hiệu của sự bất cẩn, nhưng cũng có thể là dấu hiệu của sự bối rối và vội vã. Nhìn chung, tôi nghiêng về giả thuyết thứ hai, bởi sự việc này rõ ràng là nghiêm trọng, và khó có chuyện kẻ soạn một bức thư như vậy lại bất cẩn. Nếu hắn đang vội, thì điều đó đặt ra một câu hỏi thú vị: tại sao hắn lại phải vội? Bởi bất kỳ bức thư nào gửi đi trước sáng sớm cũng sẽ đến tay Ngài Henry trước khi ngài rời khách sạn. Phải chăng kẻ soạn thư sợ bị gián đoạn - và bị gián đoạn bởi ai?"

"Đến đây là chúng ta bắt đầu bước vào vùng suy đoán rồi," bác sĩ Mortimer nhận xét.

"Nói đúng hơn, là vùng mà ở đó chúng ta cân nhắc các khả năng và chọn ra khả năng có xác suất cao nhất. Đó chính là cách vận dụng trí tưởng tượng một cách khoa học, nhưng chúng tôi luôn có những cơ sở vật chất nhất định để bắt đầu suy luận. Và giờ đây, ông hẳn sẽ gọi điều tôi sắp nói là suy đoán, nhưng tôi gần như chắc chắn rằng địa chỉ này đã được viết trong một khách sạn."

"Làm thế quái nào ông có thể nói như vậy?"

"Nếu ông xem xét kỹ lưỡng, ông sẽ thấy rằng cả bút lẫn mực đều gây rắc rối cho người viết. Ngòi bút đã bắn mực hai lần chỉ trong một từ, và cạn mực đến ba lần trong một địa chỉ ngắn, chứng tỏ trong lọ mực chỉ còn rất ít. Ấy vậy mà, một cây bút riêng hay một lọ mực cá nhân hiếm khi bị để trong tình trạng tồi tệ như vậy, và sự kết hợp của cả hai thì lại càng hiếm hơn. Nhưng ông biết bút và mực ở khách sạn rồi đấy - ở đó hiếm khi có được thứ gì khá hơn. Quả thực, tôi gần như không chút do dự mà khẳng định rằng, nếu chúng ta lục tung các sọt rác của những khách sạn quanh khu Charing Cross cho đến khi tìm thấy phần còn lại của bài xã luận tờ Times bị cắt xén, thì chúng ta có thể tóm ngay được kẻ đã gửi thông điệp kỳ lạ này. Ô kìa! Ô kìa! Cái gì đây?"

Anh chăm chú xem xét tờ giấy foolscap nơi những dòng chữ được dán lên, đưa nó cách mắt chỉ chừng một hoặc hai inch.

"Sao vậy?"

"Không có gì," anh đáp, rồi ném nó xuống. "Chỉ là một nửa tờ giấy trắng, thậm chí không có hình mờ. Tôi nghĩ chúng ta đã vắt được gần như tất cả những gì có thể từ bức thư kỳ lạ này rồi. Và giờ thì, Ngài Henry, có điều gì thú vị khác xảy đến với ngài kể từ khi ngài đến London không?"

"Ồ không, ông Holmes. Tôi nghĩ là không."

"Ngài không để ý thấy ai theo dõi hay canh chừng ngài sao?"

"Nghe cứ như tôi vừa bước chân vào một cuốn tiểu thuyết rẻ tiền vậy," vị khách của chúng tôi đáp. "Tại sao quái quỷ gì lại có người theo dõi hay canh chừng tôi cơ chứ?"

"Chúng ta sẽ bàn đến chuyện đó sau. Ngài không còn điều gì khác muốn báo cho chúng tôi trước khi chúng ta đi sâu vào vấn đề này sao?"

"Chà, điều đó còn tùy vào những gì ông cho là đáng để báo cáo."

"Tôi cho rằng bất cứ điều gì khác thường, nằm ngoài thói quen sinh hoạt hàng ngày, đều rất đáng để báo cáo."

Ngài Henry mỉm cười. "Tôi chưa hiểu nhiều về cuộc sống ở Anh, vì tôi đã dành gần như toàn bộ thời gian của mình ở Mỹ và Canada. Nhưng tôi hy vọng rằng việc bị mất một chiếc giày không phải là một phần trong thói quen sinh hoạt bình thường ở đây."

"Ngài đã làm mất một chiếc giày sao?"

"Thưa ngài thân mến," bác sĩ Mortimer kêu lên, "nó chỉ bị để nhầm chỗ thôi. Ngài sẽ tìm thấy nó khi quay về khách sạn. Làm phiền ông Holmes bằng những chuyện vụn vặt như thế này thì có ích gì chứ?"

"Nhưng chính ông ấy đã hỏi tôi về bất cứ điều gì khác thường cơ mà."

"Chính xác," Holmes nói, "dù sự việc có vẻ ngớ ngẩn đến đâu đi chăng nữa. Ngài nói ngài đã làm mất một chiếc giày?"

"Chà, phải nói là để nhầm chỗ thì đúng hơn. Tối qua tôi đặt cả đôi ngoài cửa phòng, thế mà sáng nay chỉ còn lại một chiếc. Tôi chẳng thể hiểu nổi cái gã đánh giày ấy. Tệ hại nhất là tôi mới mua đôi giày đó tối qua ở phố Strand, và còn chưa kịp xỏ chân vào nữa."

"Nếu ngài chưa hề đi chúng, tại sao ngài lại để chúng ra ngoài để đánh bóng?"

"Đó là đôi giày màu nâu nhạt, chưa từng được đánh véc-ni bao giờ. Vì thế tôi mới để ra ngoài."

"Vậy tôi hiểu rằng, vừa mới đặt chân đến London hôm qua, ngài đã ra phố ngay và mua một đôi giày?"

"Tôi đã đi mua sắm kha khá thứ. Bác sĩ Mortimer đây đã tháp tùng tôi. Ông thấy đấy, nếu tôi sắp trở thành một điền chủ dưới ấy, thì tôi phải ăn mặc cho ra dáng, và có lẽ hồi ở miền Tây tôi đã hơi xuề xòa trong cách ăn mặc. Trong số những món đồ khác, tôi đã mua đôi giày nâu này - trả sáu đô la - thế mà bị lấy cắp mất một chiếc trước cả khi tôi kịp xỏ chân vào."

"Có vẻ như đó là một món đặc biệt vô giá trị để lấy cắp," Sherlock Holmes nhận định. "Tôi thú nhận rằng mình cũng đồng quan điểm với bác sĩ Mortimer, rằng chiếc giày bị mất sẽ sớm được tìm thấy thôi."

"Và giờ đây, thưa các quý ông," vị nam tước nói với giọng quả quyết, "có vẻ như tôi đã kể khá đủ những điều ít ỏi mình biết rồi. Đã đến lúc ông thực hiện lời hứa và kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện về mục đích chúng ta đang cùng hướng tới."

"Yêu cầu của ngài hoàn toàn chính đáng," Holmes đáp. "Bác sĩ Mortimer, tôi nghĩ tốt nhất là ông hãy thuật lại câu chuyện của mình, y như cách ông đã kể cho chúng tôi nghe trước đây."

Được khích lệ như vậy, người bạn khoa học của chúng tôi lôi giấy tờ trong túi ra và trình bày toàn bộ sự việc, hệt như ông đã làm vào buổi sáng hôm trước. Ngài Henry Baskerville lắng nghe với sự chú tâm sâu sắc nhất, thỉnh thoảng lại buột miệng thốt lên đầy kinh ngạc.

"Chà, xem ra tôi đã được thừa hưởng một gia tài đi kèm với một lời nguyền ghê gớm," ngài nói khi câu chuyện dài kết thúc. "Lẽ dĩ nhiên, tôi đã nghe kể về con chó săn từ hồi còn nằm nôi. Đó là câu chuyện cửa miệng của cả gia tộc, dù trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ phải nghiêm túc tin vào nó. Nhưng về cái chết của bác tôi - chà, mọi thứ dường như đang quay cuồng trong đầu tôi, và tôi vẫn chưa thể hiểu cho thấu đáo được. Các ông xem ra vẫn chưa hoàn toàn quyết định được liệu đây là vụ việc dành cho cảnh sát, hay cho một vị mục sư."

"Hoàn toàn chính xác."

"Và giờ đây lại thêm chuyện bức thư gửi cho tôi ở khách sạn. Tôi cho rằng nó cũng nằm trong một phần của chuỗi sự kiện này."

"Điều này dường như cho thấy có kẻ nào đó biết nhiều hơn chúng ta về những gì đang diễn ra trên vùng đầm lầy," bác sĩ Mortimer nói.

"Và cũng cho thấy," Holmes bổ sung, "rằng kẻ đó không hẳn mang ác ý với ngài, bởi hắn đã cảnh báo ngài về mối nguy hiểm."

"Hoặc cũng có thể, vì mục đích riêng của mình, hắn muốn dọa cho tôi bỏ chạy."

"Chà, tất nhiên, điều đó cũng có thể xảy ra. Tôi rất biết ơn ông, bác sĩ Mortimer, vì đã giới thiệu cho tôi một vấn đề mở ra vài ba khả năng hết sức thú vị. Nhưng điểm mấu chốt thực tiễn mà hiện giờ chúng ta cần quyết định, Ngài Henry ạ, chính là: liệu ngài có nên đến Trang viên Baskerville hay không?"

"Tại sao tôi lại không nên đến?"

"Dường như đang có nguy hiểm."

"Ý ông là nguy hiểm từ con ác quỷ của gia tộc này, hay nguy hiểm từ con người?"

"Chà, đó chính là điều chúng ta phải tìm ra."

"Dù là gì đi chăng nữa, câu trả lời của tôi vẫn không thay đổi. Chẳng có ác quỷ nào dưới địa ngục, ông Holmes ạ, và cũng chẳng có con người nào trên mặt đất này có thể ngăn cản tôi trở về ngôi nhà của tổ tiên mình. Ông có thể coi đây là câu trả lời cuối cùng của tôi." Đôi lông mày đen của ngài nhíu chặt lại, và khuôn mặt ngài bừng lên một màu đỏ thẫm khi ngài nói. Rõ ràng, dòng máu nóng của gia tộc Baskerville vẫn chưa hề tắt lịm ở người đại diện cuối cùng này. "Trong lúc này," ngài nói tiếp, "tôi hầu như chưa có đủ thời gian để suy ngẫm về tất cả những gì các ông vừa kể. Đối với một con người, thật là cả một gánh nặng khi phải thấu hiểu và quyết định ngay trong một buổi nói chuyện duy nhất. Tôi muốn có một giờ yên tĩnh ở một mình để đưa ra quyết định. Này nhé, ông Holmes, bây giờ là mười một rưỡi, và tôi sẽ quay về khách sạn ngay đây. Giả sử ông và bạn ông, bác sĩ Watson, ghé qua dùng bữa trưa với chúng tôi lúc hai giờ. Khi ấy, tôi sẽ có thể cho ông biết rõ ràng hơn về cách mà sự việc này tác động đến tôi."

"Như vậy có tiện cho anh không, Watson?"

"Hoàn toàn tiện."

"Vậy xin ngài cứ chờ chúng tôi. Tôi có nên gọi một chiếc xe ngựa giúp ngài không?"

"Tôi thích đi bộ hơn, vì chuyện này làm tôi khá bối rối."

"Tôi rất sẵn lòng đi dạo cùng ngài," người bạn đồng hành của ngài lên tiếng.

"Vậy chúng ta sẽ gặp lại nhau lúc hai giờ. Tạm biệt, và chúc một buổi sáng tốt lành!"

Chúng tôi nghe tiếng bước chân khách bước xuống cầu thang, rồi tiếng cánh cửa trước đóng sầm lại. Trong nháy mắt, Holmes đã lột xác từ một kẻ mơ màng uể oải thành một con người hành động.

"Mũ và giày, Watson, nhanh lên! Không được phí một giây nào!" Anh lao vào phòng mình trong bộ áo choàng tắm và chỉ vài giây sau đã quay trở ra, khoác vội chiếc áo măng tô. Chúng tôi cùng nhau hối hả xuống cầu thang rồi ùa ra phố. Bác sĩ Mortimer và Baskerville vẫn còn hiện rõ trước mắt, cách chúng tôi chừng hai trăm thước về hướng phố Oxford.

"Tôi có nên chạy lên gọi họ lại không?"

"Tuyệt đối không, Watson thân mến. Tôi hoàn toàn mãn nguyện với sự đồng hành của anh, miễn là anh có thể chịu đựng nổi tôi. Mấy người bạn của chúng ta thật khôn ngoan, vì quả thực đây là một buổi sáng tuyệt đẹp để tản bộ."

Anh sải bước nhanh hơn cho đến khi khoảng cách giữa đôi bên chỉ còn một nửa. Rồi, vẫn giữ một khoảng trống chừng trăm thước phía sau, chúng tôi lần theo họ vào phố Oxford và men xuống phố Regent. Có một lần hai người bạn của chúng tôi dừng lại, chăm chú nhìn vào một tủ kính cửa hàng, và Holmes cũng làm y hệt. Một lát sau, anh khẽ bật ra một tiếng xuýt xoa hài lòng, và lần theo ánh mắt hau háu của anh, tôi trông thấy một chiếc xe ngựa hai bánh5 có một người đàn ông ngồi bên trong vừa dừng ở phía bên kia đường, giờ đang từ từ lăn bánh về phía trước.

"Tên của chúng ta kia rồi, Watson! Đi nào! Ít nhất ta cũng sẽ nhìn rõ mặt hắn, dù có chẳng làm được gì hơn."

Ngay khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra một bộ râu đen rậm rạp và một đôi mắt sắc lẹm quay ngoắt lại nhìn chúng tôi qua ô cửa sổ bên hông chiếc xe ngựa. Tức thì, nắp sập trên nóc xe bật mở, một tiếng quát vọng lên chỗ người đánh xe, và cỗ xe lao đi như điên cuồng dọc phố Regent. Holmes sốt sắng đảo mắt tìm một chiếc xe khác, nhưng chẳng có chiếc trống nào trong tầm mắt. Anh liền lao vào cuộc truy đuổi cuồng nhiệt giữa dòng xe cộ ngược xuôi, song khoảng cách ban đầu đã quá lớn, và chiếc xe ngựa nhanh chóng mất hút.

"Đấy!" Holmes cay đắng thốt lên, thở hổn hển và mặt tái đi vì bực dọc khi bước ra khỏi dòng xe cộ. "Đã bao giờ có sự xui xẻo và cả sự xử lý tồi tệ đến thế này chưa? Watson, Watson, nếu anh là người trung thực, anh cũng sẽ ghi lại chuyện này làm đối trọng với những thành công của tôi!"

"Kẻ đó là ai?"

"Tôi không hề có một manh mối nào."

"Một kẻ bám đuôi?"

"Chà, qua những gì chúng ta đã nghe, rõ ràng Baskerville đã bị ai đó theo sát gót kể từ khi ngài đặt chân đến thị trấn. Làm sao người ta có thể biết nhanh đến vậy rằng Khách sạn Northumberland là nơi ngài chọn lưu trú? Nếu chúng đã theo dõi ngài ngày đầu tiên, tôi suy luận rằng chúng cũng sẽ theo dõi ngài ngày thứ hai. Có lẽ anh đã để ý thấy tôi đã hai lần thong thả bước ra cửa sổ trong lúc bác sĩ Mortimer đang đọc bản truyền thuyết của ông ấy."

"Vâng, tôi nhớ."

"Tôi đang lùng sục những kẻ lảng vảng trên phố, nhưng chẳng thấy ai. Chúng ta đang đương đầu với một kẻ thông minh, Watson ạ. Vụ này có gốc rễ rất sâu, và dù cuối cùng tôi vẫn chưa thể xác quyết được liệu thế lực đang tiếp cận chúng ta là thiện hay ác, tôi vẫn luôn ý thức được sức mạnh và mưu đồ của chúng. Khi mấy người bạn của chúng ta rời đi, tôi lập tức bám theo, hy vọng đánh dấu được cái bóng vô hình vẫn đeo đuổi họ. Nhưng hắn ta ranh mãnh đến mức không tin tưởng vào việc đi bộ - hắn đã lợi dụng một chiếc xe ngựa, nhờ đó có thể lởn vởn phía sau hoặc phóng vụt qua mặt họ mà chẳng bị ai chú ý. Cách làm ấy còn có thêm một lợi thế: nếu họ bắt xe ngựa, hắn đã sẵn sàng bám theo ngay. Tuy nhiên, phương pháp này cũng lộ ra một nhược điểm rõ ràng."

"Nó đặt hắn vào tay gã đánh xe."

"Chính xác."

"Tiếc thật, chúng ta đã không kịp lấy biển số!"

"Watson thân mến, dù tôi có vụng về như đã thể hiện, chắc anh không thực sự tưởng rằng tôi lại bỏ qua việc chép biển số đấy chứ? Số 2704 chính là kẻ của chúng ta. Nhưng lúc này điều đó cũng chẳng giúp ích gì."

"Tôi không hiểu làm sao anh có thể làm được hơn thế."

"Khi phát hiện ra chiếc xe ngựa, lẽ ra tôi phải lập tức quay ngoắt người và bước theo hướng ngược lại. Rồi sau đó thong thả thuê một chiếc xe thứ hai mà bám theo chiếc thứ nhất ở một khoảng cách an toàn. Hoặc, hay hơn nữa, tôi nên đi thẳng đến Khách sạn Northumberland và đợi sẵn ở đó. Khi gã vô danh của chúng ta theo chân Baskerville về đến nhà, chúng ta đã có thể lấy chính trò của hắn mà chơi lại hắn, và xem hắn đi đâu. Nhưng sự thật là, vì một chút nôn nóng thiếu thận trọng - thứ đã bị đối thủ của chúng ta khai thác với sự nhạy bén và tốc độ phi thường - chúng ta đã tự phơi bày mình và đánh mất con mồi."

Suốt cuộc đối thoại này, chúng tôi vẫn thong dong tản bộ dọc phố Regent, còn bác sĩ Mortimer và người bạn đồng hành của ông đã khuất dạng từ lâu.

"Chẳng còn lý do gì để tiếp tục đeo bám họ nữa," Holmes nói. "Cái bóng đã biến mất và sẽ không quay lại. Chúng ta phải xem trong tay mình còn những quân bài nào, và quyết định cách đánh chúng. Anh có dám thề rằng mình đã nhìn rõ khuôn mặt gã đàn ông trong xe không?"

"Tôi chỉ có thể thề về bộ râu thôi."

"Tôi cũng vậy - và từ đó tôi suy ra rằng rất có thể đó là râu giả. Một kẻ thông minh đang thi hành một nhiệm vụ tế nhị như thế chẳng có lý do gì để nuôi râu, trừ phi là để che giấu đường nét khuôn mặt. Vào đây nào, Watson!"

Anh rẽ vào một trong những văn phòng chuyển phát tin nhắn của quận6. Người quản lý ở đó niềm nở chào đón anh.

"À, Wilson, tôi thấy anh vẫn chưa quên vụ việc nhỏ mà tôi đã có may mắn giúp được anh nhỉ?"

"Không thưa ngài, tôi thực sự chưa quên. Ngài đã cứu vãn danh dự của tôi, và có lẽ cả mạng sống của tôi nữa."

"Anh bạn thân mến, anh nói quá lời rồi. Tôi nhớ mang máng, Wilson ạ, rằng trong số những cậu bé của anh có một cậu nhóc tên Cartwright từng thể hiện chút năng khiếu trong công việc điều tra."

"Vâng thưa ngài, cậu ấy vẫn đang làm ở chỗ chúng tôi."

"Anh có thể gọi cậu ấy ra đây được không? - cảm ơn anh! À, và tôi sẽ rất cảm kích nếu anh đổi giúp tôi tờ năm bảng7 này."

Một cậu bé mười bốn tuổi với gương mặt sáng sủa, lanh lợi bước ra theo tiếng gọi của người quản lý. Cậu đứng đó, ngước nhìn vị thám tử lừng danh với ánh mắt đầy kính trọng.

"Đưa cho tôi cuốn Danh bạ Khách sạn nào," Holmes nói. "Cảm ơn cậu. Nào, Cartwright, ở đây có tên của hai mươi ba khách sạn, tất cả đều nằm trong khu vực lân cận Charing Cross. Cậu thấy rõ chưa?"

"Vâng, thưa ngài."

"Cậu sẽ lần lượt ghé qua từng nơi."

"Vâng, thưa ngài."

"Ở mỗi nơi, việc đầu tiên cậu làm là đưa cho người khuân vác đứng ngoài cửa một đồng shilling8. Đây là hai mươi ba shilling dành cho việc đó."

"Vâng, thưa ngài."

"Cậu sẽ nói với ông ta rằng cậu muốn xem đống giấy lộn của ngày hôm qua. Cậu sẽ bảo rằng có một bức điện tín quan trọng đã bị thất lạc và cậu đang cố tìm lại nó. Cậu hiểu rồi chứ?"

"Vâng, thưa ngài."

"Nhưng thứ cậu thực sự cần tìm lại chính là trang giữa của tờ Times - một trang báo bị cắt xé nham nhở với những lỗ thủng trên đó. Đây là một bản sao của tờ Times. Chính là trang này đây. Cậu dễ dàng nhận ra nó chứ?"

"Vâng, thưa ngài."

"Ở mỗi khách sạn, người khuân vác ngoài cửa sẽ nhờ gọi người gác cửa ở sảnh ra. Cậu cũng sẽ đưa cho người này một đồng shilling. Đây là hai mươi ba shilling nữa. Rồi cậu sẽ biết được rằng, trong khoảng hai mươi trên tổng số hai mươi ba trường hợp, đống giấy lộn của ngày hôm trước đã bị đem đốt hoặc bị dọn đi mất. Còn lại ba trường hợp, họ sẽ cho cậu xem một chồng giấy, và cậu sẽ lần tìm trang báo này của tờ Times trong đống đó. Khả năng tìm thấy là cực kỳ mong manh. Còn đây là mười shilling dự phòng cho những tình huống khẩn cấp. Hãy gửi cho tôi một bản báo cáo bằng điện tín về phố Baker trước buổi tối. Còn bây giờ, Watson, việc duy nhất còn lại của chúng ta là dùng điện tín để truy ra danh tính của người đánh xe ngựa mang biển số 2704. Sau đó, ta sẽ ghé qua một trong những phòng tranh trên phố Bond, giết thời gian cho đến giờ hẹn ở khách sạn."



  1. Một khu vực trung tâm và điểm giao thông quan trọng tại London, nơi có nhà ga lớn và bưu điện trung tâm, thường được coi là tâm điểm của thành phố. 

  2. Một khổ giấy truyền thống của Anh (khoảng 216 × 343 mm), lớn hơn khổ A4 một chút, thường dùng cho văn bản hành chính hoặc sổ sách thời xưa. 

  3. The Times là một nhật báo uy tín và lâu đời bậc nhất của Anh. Thời bấy giờ, nó được xem là tờ báo chuẩn mực dành cho tầng lớp tri thức, quý tộc và thượng lưu. 

  4. Thuật ngữ ngành in ấn: 'bourgeois' là cỡ chữ khoảng 9 point, còn 'chèn chì' (leaded) nghĩa là có các thanh chì mỏng lót giữa các dòng để tạo khoảng cách, giúp văn bản in trên báo Times trông thoáng và sang trọng hơn báo rẻ tiền. 

  5. Loại xe ngựa do một con ngựa kéo (tiếng Anh: hansom cab), phương tiện di chuyển công cộng phổ biến nhất ở London thế kỷ 19, đặc trưng bởi chỗ ngồi của người xà ích được thiết kế nhô cao ở phía sau. 

  6. Vào thế kỷ 19, khi điện thoại chưa phổ biến, London có các dịch vụ (District Messenger Service) thuê các cậu bé chạy việc để mang thư từ, bưu kiện hoặc tin nhắn khẩn cấp đi khắp thành phố. 

  7. Năm bảng Anh (five pounds) là một mệnh giá tiền rất lớn vào cuối thế kỷ 19, vì vậy Holmes cần phải đổi ra tiền lẻ để có những đồng shilling trả công lặt vặt. 

  8. Một đơn vị tiền tệ cũ của Anh (1 bảng = 20 shilling, 1 shilling = 12 xu). Một shilling là khoản tiền boa khá hào phóng thời bấy giờ, đủ để mua được một bữa ăn tương đối cho người lao động.