CHƯƠNG 6. TRANG VIÊN BASKERVILLE

Ngài Henry Baskerville và bác sĩ Mortimer đã sẵn sàng đúng như ngày đã hẹn, và chúng tôi khởi hành đi Devonshire theo đúng kế hoạch. Sherlock Holmes cùng tôi ra tận ga, trao cho tôi những lời căn dặn cuối cùng.

"Tôi sẽ không gieo định kiến cho anh bằng những giả thuyết hay nghi ngờ đâu, Watson ạ," anh nói. "Tôi chỉ muốn anh tường thuật lại sự việc cho tôi càng đầy đủ càng tốt, còn phần suy luận cứ để tôi lo."

"Những sự việc thế nào cơ?" tôi hỏi.

"Bất cứ điều gì có vẻ liên quan đến vụ án, dù chỉ là gián tiếp thôi. Và đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa chàng Baskerville trẻ tuổi với những người hàng xóm, hoặc bất kỳ chi tiết mới nào về cái chết của Ngài Charles. Mấy ngày qua tôi có tự mình tiến hành vài cuộc điều tra, nhưng kết quả, e rằng chẳng đi đến đâu. Chỉ có một điều duy nhất xem ra khá chắc chắn - ông James Desmond, người thừa kế tiếp theo, là một quý ông lớn tuổi tính tình hiền lành, nên vụ quấy rối này không thể nào xuất phát từ ông ta. Tôi thực sự nghĩ ta có thể gạch tên ông ta hoàn toàn khỏi danh sách. Giờ chỉ còn những người sẽ thực sự sinh sống quanh Ngài Henry trên vùng đầm lầy mà thôi."

"Thế có nên tống khứ ngay vợ chồng nhà Barrymore đi từ đầu không?" tôi đề nghị.

"Tuyệt đối không. Anh không thể mắc sai lầm nào lớn hơn thế được. Nếu họ vô tội, đó sẽ là một sự bất công tàn nhẫn. Còn nếu họ có tội, ta sẽ đánh mất mọi cơ hội vạch trần. Không, không, ta cứ giữ họ trong danh sách tình nghi. Tiếp đến, có một người coi ngựa ở Trang viên, nếu tôi nhớ không lầm. Có hai nông dân sống trên đầm lầy. Còn anh bạn bác sĩ Mortimer của ta, người mà tôi tin là hoàn toàn trung thực, và vợ của ông - một người mà ta chẳng biết tí gì. Lại có nhà tự nhiên học Stapleton cùng cô em gái, nghe đồn là một thiếu nữ rất hấp dẫn. Rồi ông Frankland ở Trang viên Lafter, cũng là một nhân tố bí ẩn. Và thêm vài người hàng xóm khác nữa. Đây mới chính là những con người mà anh phải đặc biệt để mắt tới."

"Tôi sẽ cố hết sức," tôi đáp.

"Anh có mang theo vũ khí chứ?"

"Có, tôi thấy nên mang theo thì hơn."

"Chắc chắn rồi. Giữ khẩu súng lục trong tầm tay bất kể ngày đêm, và đừng bao giờ lơ là cảnh giác."

Những người bạn của chúng tôi đã đặt sẵn một toa hạng nhất và đang đợi trên sân ga.

"Không, chúng tôi chẳng có tin tức gì mới," bác sĩ Mortimer đáp lại câu hỏi của bạn tôi. "Tôi xin thề một điều: suốt hai ngày qua, không một ai bám đuôi chúng tôi. Chúng tôi chưa từng ra ngoài mà không cảnh giác cao độ, và không kẻ nào có thể lọt qua mắt chúng tôi được."

"Tôi đoán hai vị luôn đi cùng nhau?" Holmes hỏi.

"Trừ chiều hôm qua. Mỗi lần lên thành phố, tôi thường dành trọn một ngày để giải trí, nên tôi đã ghé Bảo tàng của Trường Cao đẳng Bác sĩ Phẫu thuật1."

"Còn tôi thì ra công viên ngắm người qua lại," Ngài Henry nói. "Nhưng cả hai chúng tôi đều chẳng gặp rắc rối gì."

"Dù sao thì làm thế cũng thật liều lĩnh," Holmes nói, lắc đầu với vẻ mặt hết sức nghiêm trọng. "Tôi xin ngài, Ngài Henry, đừng bao giờ đi một mình nữa. Một tai họa lớn sẽ ập xuống đầu ngài nếu ngài còn làm vậy. Ngài đã tìm thấy chiếc giày còn lại chưa?"

"Chưa, thưa ông. Nó mất hẳn rồi."

"Thật sao. Điều này rất thú vị. Thôi, tạm biệt," anh nói thêm khi đoàn tàu bắt đầu lướt nhẹ dọc sân ga. "Ngài Henry, hãy nhớ kỹ một câu trong truyền thuyết cổ quái mà bác sĩ Mortimer đã đọc cho ta nghe: tránh xa đầm lầy vào những giờ phút tối tăm, khi thế lực hắc ám đang trỗi dậy."

Khi tàu đã đi xa một quãng, tôi ngoái lại nhìn. Dáng người cao gầy, nghiêm nghị của Holmes vẫn đứng bất động trên sân ga, ánh mắt đăm đăm dõi theo chúng tôi.

Chuyến đi trôi qua vừa nhanh vừa thú vị. Tôi dành thời gian ấy để làm quen thêm với hai người bạn đồng hành và chơi đùa với chú chó săn nhỏ của bác sĩ Mortimer. Chỉ sau vài giờ, vùng đất màu nâu đã chuyển sang sắc đỏ ửng. Những tòa nhà gạch dần nhường chỗ cho đá granite. Những con bò đỏ gặm cỏ trong các cánh đồng có rào giậu kỹ lưỡng, nơi cỏ xanh mướt và thảm thực vật xum xuê báo hiệu một vùng khí hậu tuy ẩm ướt nhưng trù phú hơn hẳn. Chàng Baskerville trẻ tuổi háo hức dán mắt ra ngoài cửa sổ và reo lên đầy thích thú mỗi khi nhận ra những khung cảnh quen thuộc của xứ Devon.

"Tôi đã đi qua nửa vòng trái đất kể từ ngày rời xa nơi này, thưa bác sĩ Watson," ngài nói. "Vậy mà chưa từng thấy chốn nào sánh được."

"Tôi chưa gặp một người Devonshire nào mà không hết lời ca ngợi quê hương mình," tôi nhận xét.

"Điều đó tùy thuộc vào dòng máu trong mỗi con người cũng nhiều như vào chính vùng đất vậy," bác sĩ Mortimer nói. "Chỉ cần liếc qua người bạn đây thôi, ta đã thấy ngay hình dáng đầu tròn trịa đặc trưng của người Celt, mang trong mình lòng nhiệt huyết và sự gắn bó sâu sắc của dòng giống Celt2. Còn Ngài Charles quá cố - hình dáng đầu của ngài lại thuộc một kiểu rất hiếm, nửa mang đặc tính Gaelic3, nửa kia của người Ivernian4. Nhưng có phải lần cuối ngài trông thấy Trang viên Baskerville là khi ngài còn rất trẻ không?"

"Lúc cha tôi qua đời, tôi mới chỉ là một thiếu niên, và thực ra tôi chưa từng thấy Trang viên bao giờ. Cha tôi sống trong một ngôi nhà tranh nhỏ bên Bờ biển phía Nam. Ngay sau đó tôi đã sang Mỹ ở với một người bạn. Nói thật nhé, đối với tôi mọi thứ ở đây cũng mới mẻ chẳng khác gì bác sĩ Watson, và tôi đang nóng lòng muốn thấy vùng đầm lầy hơn bao giờ hết."

"Vậy sao? Thế thì mong ước của ngài đã thành hiện thực rồi. Đầm lầy kia kìa," bác sĩ Mortimer nói, chỉ tay ra ngoài cửa sổ.

Phía bên trên những ô vuông xanh rì của các cánh đồng và đường cong thoai thoải của một cánh rừng thấp, một ngọn đồi xám xịt, u buồn hiện ra ở tận đằng xa. Đỉnh đồi lởm chởm kỳ dị, mờ ảo xa xăm, trông hệt như một cảnh tượng hư ảo trong cơn mơ. Ngài Baskerville ngồi lặng hồi lâu, đôi mắt dán chặt vào quang cảnh ấy. Và qua nét mặt háo hức của ngài, tôi đọc được vùng đất này có ý nghĩa to lớn nhường nào - đây là cái nhìn đầu tiên về nơi chốn kỳ lạ mà những người cùng dòng máu với ngài đã cai quản suốt bao thế hệ, để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm. Ngài ngồi đó, trong bộ vest vải tweed5, giọng nói pha âm sắc Mỹ, trong một góc toa tàu hỏa đời thường. Thế nhưng nhìn vào gương mặt ngăm đen, đầy biểu cảm ấy, tôi càng cảm nhận rõ hơn bao giờ hết: ngài đích thực là hậu duệ của một dòng dõi mang dòng máu cao quý, nhiệt huyết và uy quyền. Nơi hàng chân mày rậm, cánh mũi nhạy bén và đôi mắt to màu hạt dẻ ấy toát lên niềm kiêu hãnh, lòng dũng cảm và sức mạnh. Nếu trên vùng đầm lầy cấm kỵ kia thực sự có một thử thách cam go và hiểm nguy đang chờ đợi, thì ít ra đây cũng là một người đồng hành mà tôi sẵn lòng cùng sẻ chia mạo hiểm, với niềm tin chắc chắn rằng ngài sẽ dũng cảm sát cánh bên tôi đến cùng.

Đoàn tàu dừng lại ở một ga xép nhỏ ven đường, tất cả chúng tôi cùng bước xuống. Bên ngoài, phía sau hàng rào trắng thấp lè tè, một cỗ xe ngựa bốn bánh do hai con tuấn mã lực lưỡng kéo đã chờ sẵn. Sự xuất hiện của chúng tôi rõ ràng là một sự kiện lớn lao, vì cả trưởng ga lẫn đám người khuân vác đều xúm lại, tất bật mang hành lý ra ngoài. Đó là một miền quê ngọt ngào, giản dị đến nao lòng. Thế nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy bên cổng ga, hai người đàn ông mang dáng vẻ quân nhân, khoác trên mình bộ đồng phục sẫm màu, đứng tựa tay vào những khẩu súng trường ngắn. Họ đưa đôi mắt sắc lạnh liếc nhìn chúng tôi mỗi khi chúng tôi đi ngang qua. Người xà ích, một gã nhỏ nhắn gân guốc với khuôn mặt góc cạnh, cất lời chào Ngài Henry Baskerville. Chỉ vài phút sau, cỗ xe đã lao vút đi trên con đường lớn trắng xóa đầy bụi đá. Những cánh đồng cỏ thoai thoải vươn cao ở cả hai bên đường, những ngôi nhà mái chữ A cổ kính lấp ló giữa những tán lá xanh dày đặc. Nhưng đằng sau khung cảnh nông thôn thanh bình và chan hòa ánh nắng kia, vẫn luôn sừng sững hiện ra, hắt một bóng đen kịt lên nền trời chiều, đường cong u buồn và trải dài bất tận của vùng đầm lầy - bị cắt xẻ bởi những ngọn đồi lởm chởm, mang đầy vẻ hung hiểm.

Cỗ xe ngựa rẽ ngoặt vào một con đường phụ. Chúng tôi bắt đầu vòng lên cao qua những lối mòn sâu hút được mài nhẵn bởi vô số bánh xe suốt bao thế kỷ. Hai bên là những bờ đất cao, trĩu nặng lớp rêu phong ẩm ướt và những tàu dương xỉ gạc nai mọng nước. Những cây dương xỉ diều hâu ngả màu đồng và những bụi mâm xôi lốm đốm sáng rực lên dưới tia nắng cuối cùng của buổi chiều tà. Tiếp tục leo cao hơn nữa, chúng tôi băng qua một cây cầu granite hẹp, rồi men dọc theo một dòng suối ồn ào đang ào ạt tuôn chảy, sủi bọt trắng xóa và gầm gào giữa những tảng đá xám. Con đường và dòng suối cùng quấn quýt uốn lượn xuyên qua một thung lũng ken dày những cây sồi bụi và linh sam. Cứ mỗi khúc cua, Ngài Baskerville lại thốt lên kinh ngạc, đôi mắt ngài háo hức đảo quanh và liên tiếp cất lên vô số câu hỏi. Trong mắt ngài, tất thảy mọi thứ đều tuyệt đẹp. Nhưng với tôi, vùng nông thôn này lại phảng phất một nỗi buồn man mác, hằn sâu dấu ấn của những ngày cuối năm. Những chiếc lá vàng trải thảm trên lối đi, rồi khẽ bay là tả xuống trên đầu chúng tôi mỗi khi cỗ xe lướt qua. Tiếng lạch cạch của bánh xe như lịm dần đi khi chúng tôi lăn bánh qua những lớp lá mục nát - với riêng tôi, đó giống như những món quà buồn thảm mà Thiên nhiên thảy ra trước cỗ xe của vị thừa kế dòng họ Baskerville đang trên đường trở về.

“Ồ!” bác sĩ Mortimer đột ngột kêu lên. “Chuyện gì thế này?”

Một triền dốc đứng, phủ đầy cây thạch nam - một nhánh rẽ nhô ra từ vùng đầm lầy - hiện ra sừng sững ngay trước mặt chúng tôi. Trên đỉnh dốc, cứng cáp và rõ nét như một pho tượng kỵ sĩ trên bệ, là một người lính cưỡi ngựa. Đen đúa và nghiêm nghị, khẩu súng trường lăm lăm trên cánh tay, anh ta đang quan sát con đường chúng tôi vừa đi qua.

“Chuyện gì vậy, Perkins?” bác sĩ Mortimer hỏi.

Người xà ích hơi xoay người lại trên ghế. “Có một tên tù vượt ngục từ Princetown, thưa ngài. Hắn đã sổng ra ngoài được ba hôm nay rồi, và lính gác đang canh mọi ngả đường, mọi nhà ga, vậy mà vẫn chưa thấy tăm hơi hắn đâu. Bà con nông dân quanh đây chẳng ai ưa nổi chuyện này, thưa ngài, đó là sự thật.”

“Chà, tôi nghe nói họ sẽ được thưởng năm bảng Anh nếu cung cấp được tin tức về hắn.”

“Vâng, thưa ngài, nhưng cơ hội kiếm được năm bảng thì chẳng thấm vào đâu so với nguy cơ bị cắt cổ. Ngài thấy đấy, hắn đâu có giống bất kỳ tên tù nhân bình thường nào. Hắn là cái loại sẵn sàng làm bất cứ điều gì.”

“Vậy hắn là ai?”

“Selden - tên sát nhân ở Notting Hill.”

Tôi nhớ rất rõ vụ án ấy, bởi đó chính là vụ án mà Holmes đã đặc biệt quan tâm do tính chất tàn bạo khủng khiếp của tội ác, và sự dã man tột cùng hằn in trong mọi hành vi của kẻ sát nhân. Bản án tử hình của hắn được giảm xuống chỉ vì người ta còn đôi chút nghi ngại về sự tỉnh táo hoàn toàn của hắn - hành vi của hắn quá đỗi tàn độc đến mức khó tin đó là một kẻ bình thường. Cỗ xe ngựa của chúng tôi đã lên tới đỉnh dốc. Và thế là trước mắt chúng tôi, cả một khoảng không gian bao la của vùng đầm lầy bỗng mở ra, lốm đốm những ụ đá hình tháp và những mỏm đá gồ ghề lởm chởm. Một cơn gió lạnh buốt từ đầm lầy lùa xuống khiến tất cả chúng tôi đều run lên. Đâu đó ngoài kia, trên vùng đồng bằng hoang vu tịch mịch ấy, tên ác quỷ đang lẩn trốn, co ro trong một cái hang như một con thú hoang, trái tim hắn chất chứa đầy hận thù chống lại toàn bộ loài người đã ruồng bỏ hắn. Chỉ cần bấy nhiêu thôi cũng đủ để làm trọn vẹn thêm nỗi ám ảnh rùng rợn của vùng đất hoang cằn cỗi, của cơn gió buốt thấu xương và bầu trời tối sầm ảm đạm. Ngay cả Ngài Baskerville cũng trở nên trầm ngâm, và khẽ kéo chiếc áo khoác của mình siết lại gần hơn.

Chúng tôi đã bỏ lại vùng đất trù phú phía sau và thấp dần bên dưới. Giờ đây, khi ngoái đầu nhìn lại, những tia nắng xiên khoai của hoàng hôn nhuộm những dòng suối thành từng sợi chỉ vàng lấp lánh, rồi rọi sáng cả vùng đất đỏ tươi vừa được cày xới cùng dải rừng rậm bạt ngàn trải dài hun hút. Thế nhưng con đường phía trước mặt chúng tôi lại mỗi lúc một hoang vu và ảm đạm hơn, len lỏi qua những sườn dốc khổng lồ mang sắc nâu đỏ pha lẫn màu ô liu, lởm chởm những tảng đá tảng khổng lồ nằm rải rác khắp nơi. Thỉnh thoảng, chúng tôi lướt ngang qua một túp lều tranh trên đầm lầy - tường đá, mái đá, không một dây leo nào chịu phá vỡ những đường nét thô cứng và cằn cỗi của nó. Rồi đột ngột, chúng tôi nhìn xuống một vùng trũng tựa hình lòng chảo, lác đác những cây sồi và linh sam còi cọc, thân cành cong queo vặn vẹo dưới cơn cuồng nộ của bão tố qua hàng bao năm tháng. Phía trên những ngọn cây ấy, hai tòa tháp cao vút và mảnh khảnh nhô lên sừng sững. Người xà ích giơ roi chỉ về hướng đó.

"Trang viên Baskerville đấy," anh ta nói.

Vị chủ nhân của nó bật dậy, đôi má ửng hồng và cặp mắt rực sáng, chăm chú nhìn về phía trước. Chỉ vài phút sau, chúng tôi đã dừng lại trước cổng chính - một mê cung những hoa văn chạm trổ bằng sắt uốn lượn đầy kỳ ảo, hai bên là những cây cột đá bị thời gian và thời tiết bào mòn đến lốm đốm địa y, và trên đỉnh mỗi cột là hình đầu lợn rừng - huy hiệu của dòng họ Baskerville. Gian nhà phụ của người giữ cổng chỉ còn là một đống tàn tích bằng đá granite đen, với những thanh rui mái trơ xương trần trụi; nhưng đối diện với nó, một tòa nhà mới đang mọc lên, xây dựng mới được một nửa - thành quả đầu tiên từ số vàng Nam Phi mà Ngài Charles để lại.

Qua khỏi cổng, chúng tôi tiến vào đại lộ. Tiếng bánh xe lại một lần nữa êm ru lăn trên thảm lá rụng, và những thân cây cổ thụ vươn những cành nhánh đan vào nhau tạo thành một đường hầm u ám ngay trên đầu chúng tôi. Ngài Baskerville rùng mình khi ngước mắt nhìn theo lối đi dài hun hút và tối tăm, nơi tận cùng, ngôi nhà thấp thoáng hiện lên tựa một bóng ma lẩn khuất.

"Có phải là ở đây không?" Ngài cất tiếng hỏi, giọng trầm hẳn đi.

"Không, không, lối đi thủy tùng nằm ở phía bên kia cơ ạ."

Vị thừa kế trẻ tuổi đảo mắt nhìn quanh, nét mặt phủ đầy bóng tối u ám.

"Chẳng trách chú tôi lại luôn cảm thấy như thể tai họa sắp ập xuống đầu mình ở một nơi thế này," Ngài nói. "Cũng đủ khiến bất cứ ai phải rợn tóc gáy. Nhưng tôi sẽ cho lắp một hàng đèn điện suốt dọc con đường này trong vòng sáu tháng tới, và các vị sẽ không còn nhận ra nó nữa đâu - bóng đèn Swan và Edison6 công suất hàng ngàn ngọn nến sẽ rực sáng ngay trước cửa sảnh chính."

Đại lộ đột nhiên mở ra một thảm cỏ rộng mênh mông, và ngôi nhà hiện ra ngay trước mặt chúng tôi. Trong ánh sáng nhập nhoạng của buổi chạng vạng, tôi có thể nhận ra phần trung tâm là một khối nhà đồ sộ với mái hiên nhô ra phía trước. Toàn bộ mặt tiền bị phủ kín bởi một lớp thường xuân dày đặc, chỉ trừ đây đó vài mảng trơ trụi nơi có một ô cửa sổ hay một tấm huy hiệu xuyên thủng tấm màn đen kịt ấy. Từ khối nhà trung tâm này, hai tòa tháp đôi cổ kính vươn lên, có lỗ châu mai7 và được trổ chi chít những lỗ bắn cung. Bên phải và bên trái các tháp nhỏ ấy là những chái nhà hiện đại hơn, xây bằng đá granite đen. Một thứ ánh sáng mờ đục hắt ra qua những ô cửa sổ có chấn song nặng nề, và từ những ống khói cao vút nhô lên từ mái nhà dốc đứng, góc cạnh, một cột khói đen duy nhất đang lặng lẽ bay lên.

"Chào mừng Ngài Henry! Chào mừng Ngài đến với Trang viên Baskerville!"

Một người đàn ông cao lớn bước ra từ trong bóng tối của mái hiên, tiến đến mở cửa xe cho chúng tôi. Phía sau ông, trong nền ánh sáng vàng vọt hắt ra từ đại sảnh, in hình bóng dáng một người phụ nữ. Bà bước ra và phụ người đàn ông khiêng những chiếc túi của chúng tôi xuống.

"Ngài không phiền nếu tôi lái xe về thẳng nhà chứ, thưa Ngài Henry?" Bác sĩ Mortimer lên tiếng. "Vợ tôi đang đợi."

"Chắc chắn Ngài sẽ ở lại dùng bữa tối chứ?"

"Không, tôi phải đi rồi. Chắc hẳn đang có ít việc chờ tôi ở nhà. Tôi rất muốn nán lại để dẫn Ngài tham quan một vòng quanh ngôi nhà, nhưng ông Barrymore sẽ là người hướng dẫn tốt hơn tôi nhiều. Tạm biệt, và xin đừng ngần ngại cho gọi tôi bất kể ngày đêm, nếu tôi có thể giúp được gì."

Tiếng bánh xe lăn khuất dần cuối con đường rải sỏi dẫn vào dinh thự. Ngài Henry và tôi bước qua đại sảnh, cánh cửa sau lưng đóng sầm lại nặng nề. Chúng tôi đứng giữa một căn phòng tuyệt đẹp - rộng thênh thang, trần cao vời vợi, được nâng đỡ bởi những thanh xà gồ khổng lồ bằng gỗ sồi đã nhuốm màu đen kịt của thời gian. Trong lò sưởi cổ kính đồ sộ, phía sau những giá đỡ bằng sắt cao vút, mấy khúc củi đang nổ lách tách, ngọn lửa bập bùng reo vui. Ngài Henry và tôi cùng xòe tay về phía lò sưởi, hơi ấm xua đi cái tê cóng sau chặng đường dài. Rồi chúng tôi đưa mắt nhìn quanh - những ô cửa sổ cao, mảnh mai ghép bằng kính màu cổ kính; những tấm ốp tường gỗ sồi chạm trổ; những chiếc đầu hươu đực treo cao; những tấm huy hiệu dòng tộc in trên tường. Tất cả đều mờ ảo và u ám dưới thứ ánh sáng dịu nhẹ rọi xuống từ chiếc đèn chùm giữa trần.

"Đúng y như tôi hình dung," Ngài Henry cất tiếng. "Đây chẳng phải là bức tranh hoàn hảo về một ngôi nhà cổ của dòng họ hay sao? Thật trang nghiêm khi nghĩ rằng đây chính là đại sảnh mà tổ tiên tôi đã sống suốt năm trăm năm qua."

Tôi thấy khuôn mặt ngăm đen của ngài bừng sáng lên một niềm hào hứng trẻ thơ khi ngài đảo mắt nhìn khắp xung quanh. Ánh lửa chiếu thẳng vào chỗ ngài đứng, nhưng những chiếc bóng dài lại hắt lên tường và treo lơ lửng như một tấm màn đen phía trên đầu ngài. Barrymore đã quay trở lại sau khi mang hành lý của chúng tôi lên phòng. Ông ta đứng trước mặt chúng tôi với phong thái chừng mực của một người quản gia được đào tạo bài bản. Đó là một người đàn ông có vẻ ngoài đáng chú ý - cao lớn, đẹp trai, với bộ râu đen được tỉa vuông vức và những đường nét thanh tú trên khuôn mặt nhợt nhạt.

"Ngài có muốn dùng bữa tối ngay không, thưa ngài?"

"Bữa tối đã sẵn sàng chưa?"

"Chỉ vài phút nữa thôi, thưa ngài. Ngài sẽ thấy nước nóng đã được chuẩn bị sẵn trong phòng mình. Vợ tôi và tôi sẽ rất vui lòng được ở lại phục vụ ngài, Ngài Henry, cho đến khi ngài đưa ra những sắp xếp mới. Nhưng hẳn ngài cũng hiểu rằng với hoàn cảnh thay đổi, ngôi nhà này sẽ cần một đội ngũ nhân viên đông đảo hơn."

"Hoàn cảnh thay đổi là thế nào?"

"Ý tôi chỉ là, thưa ngài, Ngài Charles sống một cuộc đời rất khép kín. Chúng tôi đủ sức chăm lo cho mọi nhu cầu của ngài ấy. Còn ngài, theo lẽ tự nhiên, sẽ muốn có nhiều người bầu bạn hơn. Và như vậy thì ngài sẽ cần có những thay đổi về gia nhân."

"Ý ông là ông và vợ ông muốn xin nghỉ việc sao?"

"Chỉ khi nào thuận tiện cho ngài thôi, thưa ngài."

"Nhưng gia đình ông đã phục vụ dòng họ chúng tôi suốt bao nhiêu thế hệ rồi, phải không? Tôi sẽ rất lấy làm tiếc nếu khởi đầu cuộc sống ở đây bằng việc cắt đứt một mối quan hệ gắn bó lâu đời của gia tộc."

Tôi dường như nhận thấy đôi nét xúc động thoáng hiện trên khuôn mặt trắng bệch của người quản gia.

"Tôi cũng cảm thấy như vậy, thưa ngài. Vợ tôi cũng thế. Nhưng nói thật lòng, thưa ngài, cả hai chúng tôi đều hết mực gắn bó với Ngài Charles. Cái chết của ngài ấy đã giáng cho chúng tôi một cú sốc quá lớn, khiến cho khung cảnh ở nơi đây trở nên vô cùng đau buồn đối với chúng tôi. Tôi e rằng chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn có thể thanh thản trong tâm trí tại Trang viên Baskerville này được nữa."

"Nhưng ông định sẽ làm gì?"

"Tôi không nghi ngờ gì, thưa ngài, rằng chúng tôi sẽ thành công trong việc tự mình gây dựng một cơ sở kinh doanh nào đó. Lòng hào phóng của Ngài Charles đã để lại cho chúng tôi phương tiện để làm điều ấy. Và bây giờ, thưa ngài, có lẽ tôi nên dẫn ngài lên phòng của ngài thì hơn."

Một hành lang vuông vức có lan can chạy vòng quanh phần trên của đại sảnh cổ kính, nối liền với một cầu thang đôi. Từ vị trí trung tâm này, hai dãy hành lang dài tỏa ra, chạy suốt chiều dài của tòa nhà. Tất cả các phòng ngủ đều mở ra từ những hành lang ấy. Phòng của tôi nằm cùng dãy với phòng Ngài Baskerville, gần như ngay sát bên cạnh. Những căn phòng này có vẻ hiện đại hơn nhiều so với phần trung tâm của ngôi nhà. Giấy dán tường sáng màu và vô số ngọn nến đã phần nào xua tan cái ấn tượng u ám mà sự xuất hiện của chúng tôi đã in hằn trong tâm trí tôi.

Nhưng phòng ăn - căn phòng nối thẳng với đại sảnh - lại là một nơi chìm ngập trong bóng tối và u ám. Một căn phòng dài hun hút, có một bậc thềm ngăn cách khu vực bục cao - nơi các thành viên trong gia đình ngồi - với phần thấp hơn dành cho những người phụ thuộc. Ở một đầu phòng, ban công của người hát rong8 nhìn thẳng xuống bàn ăn. Những thanh xà nhà đen kịt vắt ngang phía trên đầu chúng tôi, và phía trên nữa là trần nhà nhuốm màu khói ám. Nếu căn phòng được thắp sáng bởi những hàng đuốc rực lửa, cùng với màu sắc lộng lẫy và sự huyên náo thô lỗ của một bữa tiệc thời xưa, thì có lẽ bầu không khí đã được làm dịu đi đôi chút. Nhưng giờ đây, chỉ có hai quý ông mặc đồ đen ngồi trong vòng sáng nhỏ nhoi rọi xuống từ ngọn đèn mờ. Giọng nói của người ta bỗng trở nên tĩnh lặng, và tâm hồn người ta cũng chùng xuống theo. Một hàng dài những bức chân dung mờ ảo của các bậc tổ tiên - trong đủ mọi loại trang phục, từ chàng hiệp sĩ thời Nữ hoàng Elizabeth9 cho đến gã công tử thời Nhiếp chính10 - nhìn chằm chằm xuống chúng tôi, khiến chúng tôi e dè trước sự hiện diện tĩnh lặng của họ. Chúng tôi ít trò chuyện. Riêng tôi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi bữa ăn kết thúc và chúng tôi có thể lui về phòng chơi bida hiện đại để hút một điếu thuốc.

"Thú thật mà nói, đây không phải là một nơi vui vẻ gì cho lắm," Ngài Henry nhận xét. "Tôi đoán là người ta có thể quen dần với nó. Nhưng lúc này đây, tôi cảm thấy hơi lạc lõng. Tôi không ngạc nhiên chút nào khi chú tôi lại luôn nơm nớp lo sợ, nếu ngài ấy sống thui thủi một mình trong ngôi nhà như thế này. Tuy nhiên, nếu bác sĩ thấy phù hợp, chúng ta sẽ đi nghỉ sớm tối nay. Có lẽ mọi chuyện sẽ tươi sáng hơn vào sáng mai."

Trước khi lên giường, tôi kéo rèm sang một bên và nhìn ra ngoài cửa sổ. Khung cửa mở ra khoảng bãi cỏ trải rộng ngay trước lối vào chính của dinh thự. Xa hơn nữa, hai lùm cây đang rên rỉ và đung đưa trong cơn gió mỗi lúc một mạnh thêm. Một nửa vầng trăng lấp ló qua những khe hở của những đám mây đang trôi dạt. Trong thứ ánh sáng lạnh lẽo ấy, tôi nhìn thấy bên ngoài những tán cây là một dải đá lởm chởm, vỡ vụn, và đường cong thấp trải dài của vùng đầm lầy u buồn. Tôi khép rèm lại, cảm thấy rằng ấn tượng cuối cùng của mình quả thật hoàn toàn phù hợp với tất cả những gì đã diễn ra trước đó.

Thế nhưng, đó vẫn chưa hoàn toàn là điều cuối cùng. Tôi thấy mình mệt mỏi nhưng lại tỉnh táo lạ thường. Tôi thao thức, trằn trọc, tìm kiếm một giấc ngủ không chịu ghé thăm. Xa xa, một chiếc đồng hồ điểm chuông báo hiệu từng khắc giờ trôi qua. Nhưng ngoài âm thanh ấy ra, một sự im lặng chết chóc bao trùm lên khắp ngôi nhà cổ. Và rồi đột nhiên, ngay giữa đêm khuya thanh vắng, một âm thanh lọt vào tai tôi - rõ ràng, vang vọng, không thể nhầm lẫn được. Đó là tiếng nức nở của một người phụ nữ. Tiếng thở hổn hển, nghẹn ngào của một con người đang bị giằng xé bởi nỗi đau buồn không sao kìm nén nổi. Tôi ngồi bật dậy trên giường, chăm chú lắng nghe. Âm thanh ấy không thể ở xa được, và chắc chắn là phát ra từ bên trong ngôi nhà. Suốt nửa giờ đồng hồ, tôi chờ đợi với mọi dây thần kinh căng ra cảnh giác. Nhưng không còn một âm thanh nào khác vọng lại, ngoại trừ tiếng đồng hồ điểm chuông và tiếng xào xạc của cây thường xuân bò trên tường.



  1. Chỉ Đại học Phẫu thuật Hoàng gia Anh (Royal College of Surgeons), nơi có bảo tàng y học danh tiếng trưng bày các tiêu bản giải phẫu quý hiếm, rất thu hút các bác sĩ thế kỷ 19. 

  2. Người Celt là một nhóm các bộ lạc Ấn-Âu từng sống rải rác khắp châu Âu thời cổ đại. Theo niềm tin y học thế kỷ 19, họ mang bản tính nhiệt huyết, dũng cảm và gắn bó sâu sắc với quê hương. 

  3. Gaelic là nhóm ngôn ngữ và dân tộc thiểu số có nguồn gốc Celtic tại Scotland và Ireland. Bác sĩ Mortimer dùng nhân tướng học (một ngành khoa học giả thế kỷ 19) để đoán tính cách qua hộp sọ. 

  4. Ivernian là tên gọi một nhóm dân cư cổ đại tại Ireland. Vào thời của Sherlock Holmes, nhiều người tin rằng hình dáng hộp sọ thể hiện nguồn gốc chủng tộc và bản chất con người. 

  5. Một loại vải len thô dệt thủ công rất được giới quý tộc Anh ưa chuộng khi đi săn hoặc hoạt động ngoài trời nhờ khả năng giữ ấm và chống thấm nước nhẹ. 

  6. Joseph Swan (người Anh) và Thomas Edison (người Mỹ) là hai nhà phát minh ra bóng đèn sợi đốt vào cuối thế kỷ 19. Việc nhắc đến họ cho thấy Ngài Henry muốn mang công nghệ hiện đại nhất về vùng quê hẻo lánh. 

  7. Khe hở hẹp trên tường thành hoặc tháp canh thời Trung cổ, dùng để quan sát hoặc bắn tên, xả súng ra ngoài mà người phòng thủ bên trong không bị trúng đạn. 

  8. Nguyên gốc là 'minstrel gallery', một ban công hẹp được xây trên cao trong đại sảnh của các lâu đài cổ, là chỗ dành riêng cho nhạc công biểu diễn giải trí cho giới quý tộc đang dùng bữa bên dưới. 

  9. Kỷ nguyên Elizabeth (1558-1603) là thời kỳ hoàng kim của lịch sử Anh, đánh dấu bằng sự hưng thịnh của nghệ thuật, văn học và phong cách ăn mặc quý tộc uy nghi. 

  10. Thời kỳ Nhiếp chính (Regency era, 1811-1820) ở Anh nổi tiếng với văn hóa xa hoa, đề cao sự thanh lịch, thời trang cầu kỳ và lối sống hào nhoáng của giới thượng lưu.