Bầy Tôi Của Nữ Hoàng
Dù tính bằng Phân số hay Tam suất giản đơn,
Cách của Tweedle-dum chẳng giống Tweedle-dee1.
Dù vặn, dù xoay, dù bện tết đến rã rời,
Thì kiểu Pilly Winky cũng đâu thể giống Winkie Pop!
Trời đã trút mưa tầm tã ròng rã suốt một tháng trời - những màn mưa xối xả giăng kín một doanh trại khổng lồ. Ở đó, ba mươi ngàn con người cùng hàng ngàn con lạc đà, voi, ngựa, bò kéo và la đang tụ họp tại vùng đất mang tên Rawal Pindi2, chờ đợi đợt duyệt binh của Phó vương Ấn Độ3. Ngài đang thiết triều đón tiếp Tiểu vương Afghanistan4 - một vị chúa tể hoang dã đến từ một vương quốc cằn cỗi và xa xôi tít tắp. Vị Tiểu vương ấy mang theo đội cận vệ gồm tám trăm chiến binh và chiến mã. Trong đời, lũ ngựa ấy chưa từng thấy một nếp lều trại hay một đầu máy xe lửa nào. Cả người lẫn ngựa đều hoang dại, mang theo hơi thở của vùng thâm sơn cùng cốc nào đó tít tận Trung Á. Đêm nào cũng vậy, một bầy ngựa hoang lại vùng vằng giật đứt dây buộc gót, lồng lên chạy tán loạn khắp nơi. Chúng sải vó đạp tung lớp bùn lầy nhão nhoét trong bóng đêm mù mịt. Hoặc cũng có khi, đám lạc đà sổng chuồng, hoảng hốt chạy rông rồi vấp ngã uỵch lên những sợi dây thừng căng lều. Bạn thử tưởng tượng xem, giữa lúc đang cố chợp mắt mà gặp cảnh tượng ấy thì "dễ chịu" đến mức nào! Lều của tôi vốn nằm cách xa khu vực buộc lạc đà, nên tôi cứ đinh ninh rằng chỗ mình đã an toàn. Nhưng một đêm nọ, có gã đàn ông thò đầu vào lều tôi, hổn hển hét lớn: "Ra ngoài, mau lên! Chúng đang tới! Lều của tôi tiêu tùng rồi!"
Tôi thừa biết "chúng" là ai. Chẳng chần chừ, tôi vội xỏ giày, khoác tấm áo chống nước và lao nhanh ra ngoài đống bùn đang lép nhép dưới chân. Vixen Nhỏ, cô chó sục cáo của tôi, cuống cuồng chạy tọt ra lối bên kia. Tiếp đó là những tiếng gầm gừ, tiếng càu nhàu và những âm thanh ùng ục vang lên. Ngay trước mắt tôi, túp lều rùng mình sập xuống, chiếc cột chống gãy gập, rồi cả tấm bạt bắt đầu nhảy múa điên cuồng như một bóng ma. Một con lạc đà to xác đã đâm sầm vào đó. Dù đang ướt sũng và bực dọc đến mấy, tôi cũng không thể nhịn cười trước cảnh tượng tức cười ấy. Không dám chôn chân ở đó, tôi tiếp tục cắm cúi lội đi, bởi tôi chẳng rõ có bao nhiêu con lạc đà đang sổng ra ngoài. Chẳng mấy chốc, doanh trại đã khuất lấp sau màn đêm, chỉ còn lại mình tôi lội bì bõm qua đống bùn lầy lội.

Một con lạc đà đã đâm sầm vào lều của tôi.
Cuối cùng, tôi vấp phải phần đuôi của một khẩu pháo. Nhờ cú vấp ấy, tôi mới biết mình đang lang thang quanh quẩn khu pháo binh, nơi những cỗ đại bác được xếp lại gọn gàng vào ban đêm. Vì không muốn lội lõm bõm thêm nữa trong màn mưa bụi mịt mù, tôi trùm áo chống nước lên họng một khẩu pháo. Gom hai ba thanh thông nòng tìm thấy quanh đó, tôi dựng vội một mái che lụp xụp. Xong xuôi, tôi ngả lưng dọc theo phần đuôi của một cỗ pháo khác, miên man tự hỏi không biết cô chó Vixen đã dạt về phương nào, và bản thân mình đang mắc kẹt ở cái chốn quái quỷ nào đây.
Ngay lúc thiu thiu chuẩn bị chìm vào giấc ngủ, tôi chợt nghe thấy tiếng yên cương leng keng cùng một tiếng càu nhàu bực dọc. Rồi một con la lững thững đi ngang qua, vừa đi vừa lắc lắc đôi tai ướt sũng nước mưa. Nó chắc chắn thuộc về một khẩu đội pháo tháo lắp, bởi tôi có thể nghe rõ tiếng lạch cạch va đập của dây đai, vòng khuyên, dây xích và vô số những đồ nghề khác treo trên tấm lót yên của nó. Pháo tháo lắp vốn là những khẩu pháo nhỏ xíu, đúc thành hai mảnh riêng biệt, chỉ khi nào lâm trận mới được ráp lại với nhau. Người ta thường thồ chúng lên núi, luồn lách qua bất cứ khe vách nào mà một con la có thể đặt móng tới. Trong những trận chiến ở vùng núi đá hiểm trở, chúng là thứ vũ khí cực kỳ đắc lực.
Lẽo đẽo theo sau con la là một con lạc đà. Đôi bàn chân to lớn, mềm xèo của nó cứ dẫm xuống lớp bùn tạo ra những tiếng lép nhép, trơn trượt. Cái cổ dài ngoẵng của nó thì không ngừng lắc lư tới lui, y hệt một mụ gà mái đi lạc đường. May mắn thay, tôi am hiểu kha khá thứ ngôn ngữ của loài vật - tất nhiên không phải thứ tiếng gầm gừ chốn hoang dã, mà là tiếng nói của những con vật quanh quẩn trong doanh trại. Tôi từng học mót từ những người dân bản địa, đủ để hiểu được chúng đang rầm rì điều gì.
Chắc hẳn đó chính là con lạc đà đã ngã ụp vào lều của tôi. Bởi vừa đi, nó vừa mếu máo gọi con la: "Tôi phải làm gì đây thưa ngài? Tôi phải đi đâu bây giờ? Tôi đã đánh nhau với một thứ màu trắng cứ vẫy vẫy liên hồi, rồi nó cầm một cái gậy đập thẳng vào cổ tôi." (Thứ đó chính là cái cột lều gãy của tôi đấy, và tôi cảm thấy hả dạ vô cùng khi nghe nó kể lể như vậy.) "Chúng ta có nên chạy tiếp không?"
"Ồ, thì ra là ngươi," con la hừ giọng, "chính ngươi và đám bạn của ngươi đã làm loạn cả trại lên sao? Được rồi. Sáng mai ngươi sẽ bị quất một trận đòn nhừ tử vì chuyện này. Nhưng giờ ta cũng có thể cho ngươi nếm thử một chút khai vị trước."
Tôi nghe thấy tiếng yên cương va vào nhau leng keng. Con la thoắt lùi lại, rồi tung hai cú đá trời giáng thẳng vào mạn sườn con lạc đà, vang lên bồm bộp như tiếng gõ trống. "Lần sau," nó gằn giọng, "ngươi sẽ phải biết điều hơn, đừng có chạy rông xuyên qua một khẩu đội la vào giữa đêm hôm khuya khoắt rồi la hét ỏm tỏi Trộm và hỏa hoạn!. Ngồi xuống, và giữ cho cái cổ ngớ ngẩn của ngươi yên lặng đi."
Con lạc đà lóng ngóng gập người lại theo cái kiểu khúm núm đặc trưng của loài nó. Trông nó gập lại chẳng khác nào một cái thước xếp, rồi ngoan ngoãn ngồi xuống thút thít. Đột nhiên, có một nhịp móng guốc nện đều đặn vang lên trong bóng tối. Một con ngựa kỵ binh vạm vỡ phi nước kiệu trờ tới, dáng vẻ uy nghi, vững vàng y như đang trên sân duyệt binh. Nó nhẹ nhàng nhảy vọt qua một cái đuôi pháo, rồi đáp chân xuống ngay sát bên cạnh con la.
"Thật đáng hổ thẹn," nó nói, khịt khịt mũi vẻ bất bình. "Bọn lạc đà đó lại làm ầm ĩ băng qua hàng ngũ của chúng ta - đây là lần thứ ba trong tuần này rồi đấy. Một con ngựa chiến làm sao giữ vững được phong độ nếu chẳng bao giờ được ngủ tròn giấc cơ chứ. Ai ở đây vậy?"
"Tôi là con la thồ phần đuôi pháo của khẩu số hai, thuộc Khẩu đội Pháo tháo lắp số 1," con la đáp lời, "và kẻ kia chính là một trong những 'người bạn' lạc đà của anh đấy. Hắn cũng vừa phá bĩnh giấc ngủ của tôi. Thế còn anh là ai?"
"Số Mười lăm, Đội E, Trung đoàn Thương kỵ binh thứ 9 - ngựa chiến của Dick Cunliffe. Tránh đường qua một chút nào."
"Ồ, xin lỗi nhé," con la nói. "Trời tối mù mịt quá nên tôi không nhìn rõ. Bọn lạc đà này mới thật đáng ghét làm sao! Tôi đã phải rời khỏi hàng ngũ của mình để tìm chút bình yên ở chốn này đấy."
"Thưa ngài," con lạc đà khúm núm run rẩy lên tiếng, "chúng tôi đã gặp phải ác mộng trong đêm, và chúng tôi rất sợ hãi. Tôi chỉ là một con lạc đà chở hàng của Trung đoàn Bộ binh Bản địa số 39, và tôi không dũng cảm như ngài, thưa ngài."
"Thế sao ngươi không ở yên đó mà chở hàng cho Trung đoàn Bộ binh Bản địa số 39, thay vì chạy rông tán loạn khắp doanh trại thế hả?" con la vặn vẹo.
"Đó là những giấc mơ vô cùng tồi tệ," con lạc đà tiếp tục than vãn. "Tôi ngàn lần xin lỗi. Lắng nghe kìa! Cái gì thế? Chúng ta có nên chạy tiếp không?"
"Ngồi im," con la quát, "nếu không ngươi sẽ tự làm gãy đôi chân dài ngoẵng như que củi của mình giữa đám pháo cối này mất." Nó vểnh một bên tai lên rồi dỏng tai nghe ngóng. "Bò!" nó phán. "Bò kéo pháo. Có lời ta đây, ngươi và đám bạn ngươi đã đánh thức cả cái trại này dậy một cách cực kỳ triệt để rồi đấy. Phải chọc rất đau mới có thể dựng được một con bò kéo pháo dậy khỏi giấc ngủ."
Tôi nghe vẳng lại tiếng xích sắt lê xé rách mặt đất, và một ách kéo gồm những con bò trắng to lớn, lầm lì, lũ bò chuyên gồng mình kéo những khẩu pháo công thành nặng nề khi bọn voi không chịu tiến gần hơn đến trận địa, đang chen chúc lê bước tới. Và gần như đang giẫm lên sợi xích ấy, một con la pháo binh khác hớt hải chạy theo, hoảng loạn gọi với "Billy."
"Đó là một lính mới của chúng ta đấy," con la già nói với con ngựa kỵ binh. "Nó đang réo gọi tôi. Này, nhóc con, nín rống đi! Bóng tối chưa từng làm hại ai đâu."
Bọn bò kéo pháo nặng nề nằm phịch xuống sát bên nhau và bắt đầu nhai lại, nhưng con la tơ run rẩy nép chặt vào Billy.
"Những thứ đó!" nó thảng thốt. "Đáng sợ và kinh khủng lắm, anh Billy! Chúng lù lù xông vào hàng ngũ của chúng ta khi tất cả đang ngủ. Anh nghĩ chúng có giết chúng ta không?"
"Ta đang rất muốn tặng cho nhóc một cú đá thượng hạng đây," Billy gắt gỏng. "Thật là một suy nghĩ tồi tệ cho một con la cao mười bốn hand5 đã qua huấn luyện như nhóc, lại làm mất mặt khẩu đội trước quý ngài đây!"
"Bình tĩnh, bình tĩnh nào!" con ngựa kỵ binh ôn tồn. "Hãy nhớ rằng chúng luôn hoảng loạn như vậy khi mới vào nghề. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con người-khi ấy ở Úc và tôi mới ba tuổi-tôi đã cắm đầu chạy thục mạng suốt nửa ngày. Và nếu tôi mà thấy một con lạc đà, có lẽ giờ tôi vẫn còn đang chạy."
Gần như toàn bộ ngựa phục vụ kỵ binh Anh đều được đưa từ Úc đến Ấn Độ, và do chính tay các binh lính tự thuần hóa.
"Đúng là thế," Billy gật gù. "Đừng run nữa, nhóc. Lần đầu tiên bọn họ tròng lên lưng ta bộ yên cương đầy đủ với lỉnh kỉnh mớ dây xích, ta đã đứng chồm lên bằng hai chân trước và đá văng mọi thứ tung tóe. Lúc đó ta chưa học được kỹ thuật đá thực sự, nhưng cả khẩu đội đều phải thừa nhận họ chưa từng chứng kiến cảnh tượng nào hoang dại như vậy."
"Nhưng đây không phải là yên cương hay mấy thứ leng keng," con la tơ vẫn rền rĩ. "Anh biết là giờ em không ngại thứ đó nữa mà, anh Billy. Đó là Những Thứ lêu khêu như cái cây, chúng cứ đổ ập lên ập xuống giữa đội hình rồi sùi bọt mép; rồi dây cương của em bị đứt phựt, em không tìm thấy người đánh xe của mình, em cũng chẳng thấy anh đâu, anh Billy, thế là em đành cắm đầu chạy theo-theo các quý ngài đây."
"Hừm!" Billy khịt mũi. "Ngay khi ta nghe thấy lũ lạc đà sổng chuồng, ta đã tự mình rời đi cho rảnh nợ. Khi một khẩu đội-một con la pháo binh tháo lắp lại phải hạ mình gọi lũ bò kéo pháo là quý ngài, thì hẳn là nó đã hoảng loạn đến mất trí rồi. Này, các anh ở dưới đất kia là ai vậy?"
Bọn bò kéo pháo chậm rãi đảo thức ăn trong miệng, lừng chừng đáp lời bằng chất giọng đồng thanh đều đều: "Ách thứ bảy của khẩu pháo số một thuộc Khẩu đội Pháo lớn. Chúng tôi đang ngủ ngon thì lũ lạc đà ập tới. Nhưng khi bị giẫm đạp, chúng tôi đành phải đứng dậy và bỏ đi. Nằm im lấm lem dưới bùn thì thà chịu khó dời ổ rơm ngon giấc còn hơn. Chúng tôi đã bảo với người bạn của anh ở đây rằng chẳng có gì phải sợ cả, nhưng cậu ta biết quá nhiều nên lại đa nghi. Wah!"
Nói rồi, chúng lại tiếp tục nhai trệu trạo.
"Đó là hậu quả của nỗi sợ hãi," Billy mỉa mai. "Nhóc sẽ bị lũ bò kéo pháo cười nhạo vào mũi đấy. Ta hy vọng nhóc thích điều đó, nhóc con."
Hai hàm răng của con la tơ đập vào nhau bôm bốp, và tôi loáng thoáng nghe nó lẩm bẩm gì đó về việc chẳng hề nể sợ bất cứ con bò già phục phịch nào trên đời. Nhưng bầy bò chỉ lách cách cụng sừng vào nhau rồi tiếp tục nhai, phớt lờ mọi thứ.

"Bất cứ ai cũng có thể được tha thứ nếu trót hoảng sợ trong đêm," con ngựa kỵ binh nói
"Nào, đừng có tức tối sau khi chính mình đã trót tỏ ra sợ hãi. Đó là thứ hèn nhát tồi tệ nhất," con ngựa kỵ binh khuyên nhủ. "Bất cứ ai cũng có thể được tha thứ nếu trót hoảng sợ trong đêm, tôi cho là thế, nhất là khi họ phải đối mặt với những sự lạ lùng mà họ không hiểu. Bọn tôi đã từng phá tung cọc buộc ngựa hết lần này đến lần khác, cả bốn trăm năm mươi con ngựa chúng tôi, chỉ vì một lính mới rảnh rỗi kể chuyện về loài rắn roi ở quê nhà miền Úc, rốt cuộc chúng tôi hoảng sợ tột độ trước chính những đoạn dây cương bị đứt của mình."
"Thế thì trong trại chẳng sao cả," Billy điềm nhiên. "Bản thân ta cũng không chê bai trò chạy tán loạn, coi như một thú vui thi thoảng, nhất là khi ta chưa được thả ra ngoài rong ruổi vài ngày. Nhưng anh sẽ làm gì khi đang phục vụ tại ngũ?"
"Ồ, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác," con ngựa kỵ binh quả quyết. "Lúc đó Dick Cunliffe đang chễm chệ trên lưng tôi, anh ấy ép chặt hai đầu gối vào mạn sườn, và tất cả những gì tôi phải làm là chú tâm xem mình đang đặt móng gót ở đâu, giữ vững tư thế hai chân sau, và phải thật thấu hiểu lệnh cương."
"Hiểu lệnh cương là gì vậy?" con la tơ tò mò hỏi.
"Nhân danh loài bạch đàn xanh6 của vùng đất hoang dã," ngựa kỵ binh khịt mũi khinh khỉnh, "có phải nhóc định nói rằng nhóc không hề được dạy hiểu lệnh cương trong công việc của mình không? Nhóc làm sao có thể xoay xở được chuyện gì, trừ khi nhóc có thể quay ngoắt lại ngay lập tức khi cảm nhận được dây cương vắt chéo trên cổ? Đó là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết đối với người của nhóc, và tất nhiên cũng là sinh tử của chính nhóc. Phải biết thu mình hai chân sau lại ngay khoảnh khắc nhóc cảm nhận được dây cương trên cổ. Nếu không có đủ không gian để xoay người, hãy chồm lên một chút và làm trụ xoay bằng hai chân sau. Đó chính là hiểu lệnh cương."
"Chúng tôi không được huấn luyện theo kiểu đó," la Billy cứng nhắc đáp. "Chúng tôi được dạy phải răm rắp vâng lời người dẫn đầu: bước đi khi anh ta bảo đi, và khựng lại khi anh ta ra lệnh dừng. Tôi cho rằng nó cũng dẫn đến cùng một kết quả. Còn bây giờ, với tất cả những trò màu mè và chồm lên chồm xuống này, chắc chắn là rất có hại cho kheo chân của anh, anh sẽ làm gì đây?"
"Còn tùy," con ngựa kỵ binh tự hào nói. "Thường thì tôi phải phi thẳng vào giữa một đám người đầy lông lá đang la hét kích động với những con dao lăm lăm-những con dao dài sáng loáng, còn sắc bén hơn cả dao của thợ đóng móng-và tôi phải cực kỳ cẩn thận để chiếc ủng của Dick chỉ sượt qua chiếc ủng của người bên cạnh mà không nghiền nát nó. Tôi có thể quan sát thấy ngọn giáo của Dick vung vẩy bên phải mắt phải của mình, và tôi biết mình đang an toàn. Tôi sẽ chẳng màng đến kẻ nào hay con ngựa nào dám to gan ngáng đường Dick và tôi khi chúng tôi đang lao đi vun vút."
"Thế những con dao không làm đau sao?" con la tơ ngây ngô hỏi.
"Chà, tôi đã từng hứng trọn một nhát chém ngang ngực một lần, nhưng đó không phải lỗi của Dick-"
"Đời nào em lại rảnh rỗi đi quan tâm đó là lỗi của ai, miễn là nó làm em đau đớn!" con la tơ phản bác.
"Nhóc phải quan tâm chứ," ngựa kỵ binh nói nghiêm túc. "Nếu nhóc không tin tưởng chủ của mình, nhóc thà bỏ chạy ngay lập tức còn hơn. Đó là điều mà một số con ngựa của chúng ta vẫn thường làm, và ta không hề trách cứ chúng. Như ta đã nói, đó không phải lỗi của Dick. Gã đàn ông đó đang nằm sóng soài trên mặt đất, và ta vươn người sải bước để không giẫm lên gã, thế là gã hiểm độc vung dao chém ngược lên người ta. Lần tới nếu phải đi ngang qua một kẻ đang nằm, ta thề sẽ giẫm lên hắn-thật thô bạo."

Người đàn ông đó đang nằm sóng soài trên mặt đất, và tôi vươn người sải bước để không giẫm lên gã, thế là gã hiểm độc vung dao chém ngược lên người tôi.
"Hừm!" Billy tặc lưỡi. "Nghe thật xuẩn ngốc. Đao kiếm lúc nào cũng là những thứ dơ bẩn. Việc đúng đắn và chuẩn mực cần làm là leo lên một ngọn núi với một cái yên thăng bằng tuyệt hảo, bám chặt bằng cả bốn chân và đôi tai của anh nữa, rồi trườn, bò và luồn lách cho đến khi anh trồi lên hàng trăm feet cao hơn bất cứ sinh linh nào khác, đứng cheo leo trên một gờ đá nơi chỉ vừa đủ không gian cho bộ móng guốc của anh. Sau đó anh chỉ việc đứng yên và nín thở-đừng bao giờ yêu cầu một người giữ đầu nhóc nhé, nhóc con-giữ im lặng tuyệt đối trong khi các khẩu pháo đang được lách cách lắp ráp, và sau đó anh khoan khoái ngắm nhìn những quả đạn pháo đỏ rực như hoa anh túc nhỏ xíu rơi lộp bộp xuống những ngọn cây tít tắp dưới kia."
"Anh không bao giờ trượt chân sao?" con ngựa kỵ binh kinh ngạc hỏi.
"Họ kháo nhau rằng một khi con la đã trượt chân, anh có thể chẻ đôi tai của một con gà mái," Billy đắc ý. "Thỉnh thoảng có lẽ một cái yên đóng ẩu sẽ làm một con la sẩy chân, nhưng điều đó là vô cùng hiếm hoi. Tôi ước gì tôi có thể khoe với anh công việc của chúng tôi. Nó thật ngoạn mục. Chà, tôi đã mất tới ba năm để hiểu rốt cuộc bọn lính đang nhắm tới điều gì. Khoa học của trò này là không bao giờ phô mình trên nền trời, bởi vì, nếu ló mặt ra, anh có thể lĩnh trọn đạn. Nhớ lấy điều đó, nhóc con. Luôn giấu mình thu mình khuất lấp càng nhiều càng tốt, ngay cả khi anh phải đi vòng một dặm lệch ra ngoài lộ trình. Tôi thường dẫn đầu khẩu đội khi đến lượt diễn trò leo trèo đó."
"Bị nã đạn mà không có cơ hội đâm sầm vào những kẻ đang xả súng sao!" con ngựa kỵ binh đăm chiêu suy nghĩ. "Tôi không thể chịu được sự bức bối đó. Tôi sẽ muốn cuồng nộ xông lên-sát cánh cùng Dick."
"Ồ, không, anh sẽ không muốn phí sức đâu. Anh thừa biết rằng ngay khi các khẩu pháo yên vị vào vị trí, chúng sẽ lãnh trọn vẹn mọi phần việc xông lên ầm ĩ đó. Điều đó thật đậm chất khoa học và gãy gọn. Còn dùng dao ư-gớm ghiếc quá!"
Con lạc đà chở hàng nãy giờ vẫn đung đưa cái đầu tới lui, nóng lòng muốn chêm vào một câu. Sau đó tôi nghe thấy nó lên tiếng, hắng giọng một cách đầy bồn chồn:
"Tôi-tôi-tôi cũng đã từng tham chiến một chút, nhưng không phải theo cái kiểu leo trèo điệu nghệ hay kiểu phi nước đại đó."
"Chắc chắn là không rồi. Bây giờ ngươi mới mở lời," Billy nói, "ngươi trông không giống như sinh ra để leo trèo hay chạy nhảy-cho lắm. Chà, vậy nó như thế nào, lão Kiện Cỏ khô?"
"Cách chuẩn xác nhất," con lạc đà thẽ thọt, "Tất cả chúng tôi đều ngồi rạp xuống-"
"Ôi, dây ức và yên cương của tôi!" con ngựa kỵ binh thầm thì. "Ngồi rạp xuống!"
"Chúng tôi ngồi rạp xuống-cả một trăm người chúng tôi," con lạc đà đều đều tiếp tục, "quây thành một hình vuông rộng lớn, và những người lính khệ nệ chất đồ đạc và yên ngựa của chúng tôi bao quanh bên ngoài hình vuông đó. Rồi họ thi nhau bắn qua lưng chúng tôi, những người lính ấy, nã đạn chát chúa ở mọi phía của hình vuông."
"Loại người nào lại làm thế? Bất kỳ ai đi ngang qua cũng được sao?" con ngựa kỵ binh chất vấn. "Họ cũng dạy chúng tôi trong trường cưỡi ngựa cách nằm rạp xuống và để chủ của mình xả đạn qua người, nhưng Dick Cunliffe là người duy nhất tôi đủ tin tưởng để cho phép làm điều đó. Tiếng súng làm ngứa ngáy vòng đai bụng của tôi, và hơn nữa, tôi chẳng thể quan sát thấy gì với cái đầu đang úp sấp xuống đất."
"Quan trọng gì việc ai xả súng qua ngài?" con lạc đà cam chịu. "Có vô vàn người và nhan nhản lạc đà khác ở gần đó, quyện trong khói bụi mù mịt. Lúc đó tôi không hề sợ hãi. Tôi chỉ thản nhiên ngồi im và chờ đợi."
"Vậy mà," Billy chế giễu, "ngươi lại hoảng loạn mơ những giấc mơ tồi tệ và quậy tung cả trại vào ban đêm. Chà, chà! Trước khi tôi chịu nằm xuống, chưa nói đến việc ngồi ngoan ngoãn, và để một gã con người xả đạn qua người tôi, gót chân tôi và sọ gã sẽ phải nói chuyện phải quấy với nhau một chầu. Anh đã bao giờ nghe thấy điều gì thảm hại như thế chưa?"
Một sự im lặng dằng dặc bao trùm, và sau đó một trong những con bò kéo pháo nặng nề ngẩng cái đầu to tướng của mình lên rồi chậm rãi cất lời, "Điều này quả thực vô cùng phù phiếm. Chỉ có một cách duy nhất để chiến đấu thôi."
"Ồ, cứ nói đi," Billy nhếch mép. "Xin đừng để ý đến ta. Ta đồ rằng các anh chiến đấu bằng cách đứng chổng ngược trên đuôi của mình à?"
"Chỉ một cách duy nhất," hai con bò lầm rầm cùng đồng thanh. (Chúng hẳn phải là một cặp sinh đôi.) "Đó là cách này. Cột chặt cả hai mươi ách của chúng tôi vào khẩu pháo khổng lồ ngay khi Hai Đuôi rống lên." ("Hai Đuôi" là tiếng lóng trong trại dùng để ám chỉ loài voi.)
"Hai Đuôi rống lên để làm gì?" con la tơ thắc mắc.
"Để biểu thị anh ta sẽ không nhích thêm một bước nào gần hơn đến đám khói mịt mù ở phía bên kia. Hai Đuôi là một kẻ cực kỳ hèn nhát. Sau đó tất cả chúng tôi cùng đồng lòng kéo khẩu pháo lớn-Heya-Hullah! Heeyah! Hullah! Chúng tôi không thoăn thoắt leo trèo như lũ mèo cũng chẳng chạy lăng xăng như bầy bê. Chúng tôi trầm mặc đi ngang qua vùng đồng bằng bằng phẳng, trọn vẹn hai mươi ách chúng tôi, cho đến khi chúng tôi được tháo ách một lần nữa. Và chúng tôi ung dung gặm cỏ trong khi những khẩu pháo lớn ầm ĩ trò chuyện qua đồng bằng với một thị trấn có những bức tường bùn, rồi những mảng tường đổ sập, và bụi tung mù mịt như thể có hàng ngàn đàn gia súc đang lũ lượt dậm chân trên đường về nhà."
"Ồ! Và các anh nhởn nhơ chọn thời điểm đó để gặm cỏ sao?" con la tơ sửng sốt.
"Thời điểm đó hay bất kỳ khoảnh khắc nào khác. Ăn uống luôn là đặc ân. Chúng tôi điềm nhiên nhai cỏ cho đến khi bị cột lại vào ách và kéo khẩu pháo trở lại chỗ Hai Đuôi đang rụt rè chực chờ nó. Thỉnh thoảng có những khẩu pháo lớn trong thành phố hung hăng đáp trả lại, và một số chúng tôi vong mạng, và sau đó lại có thêm cơ man cỏ để gặm cho những kẻ còn lại. Đó là Số phận. Tuy nhiên, Hai Đuôi vẫn là một kẻ hèn nhát thảm hại. Đó mới là cách chiến đấu chân chính. Chúng tôi là anh em đến từ Hapur. Cha chúng tôi là một con bò thần vĩ đại của thần Shiva7. Chúng tôi đã nói xong."
"Chà, tôi chắc chắn đã vỡ vạc được vài điều tối nay," con ngựa kỵ binh châm biếm. "Các quý ngài thuộc khẩu đội pháo tháo lắp có cảm thấy thi vị khi ăn uống lúc đang bị nã pháo lớn, và Hai Đuôi thì lấp ló ở phía sau các anh không?"
"Cũng nực cười y như việc chúng tôi cảm thấy thích thú ngồi rạp xuống và để lũ con người nằm ườn trên lưng mình, hay đâm đầu điên cuồng vào những kẻ lăm lăm cầm dao vậy. Tôi chưa bao giờ nghe thấy những thứ rác rưởi đến thế. Một gờ núi hiểm trở, một tải trọng cân bằng tinh tế, một người đánh xe mà anh có thể phó thác để mặc anh tự biên tự diễn chọn đường đi, và tôi chính là con la đắc lực của anh. Nhưng-những thứ phù phiếm khác-miễn đi!" Billy gắt lên, dậm mạnh một chân.
"Tất nhiên," con ngựa kỵ binh khích tướng, "không ai được sinh ra giống nhau, và tôi hoàn toàn có thể cảm thông rằng dòng dõi của anh, về phía cha anh, sẽ không tài nào hiểu thấu được rất nhiều lề thói cao quý."
"Đừng có bươi móc đến gia đình tôi về phía cha tôi," Billy tức giận gầm gừ, vì mọi con la đều căm ghét tột độ khi bị mỉa mai rằng cha mình là một con lừa. "Cha tôi là một quý tộc dòng dõi phương Nam, và ông ấy có thể dễ dàng kéo ngã, cắn xé và đá tan nát mọi con ngựa ngáng đường mà ông ấy tình cờ chạm trán. Hãy khắc cốt ghi tâm điều đó, đồ ngựa hoang dã màu nâu thô kệch!"
Brumby có nghĩa là thứ ngựa hoang dã tạp nham không lai tạo. Hãy thử mường tượng cảm giác của con ngựa kiêu hãnh Sunol nếu một con ngựa kéo xe điện tầm thường dám gọi nó là "con ngựa què," và bạn sẽ thấu hiểu con ngựa Úc này đang sục sôi thế nào. Tôi thấy lòng trắng mắt nó long lên sòng sọc đầy uất hận trong bóng tối.
"Nghe đây, đồ con hoang của một con lừa đực Malaga8 nhập khẩu," nó nghiến răng trèo trẹo, "tôi muốn anh khắc sâu rằng tôi có họ hàng bên đằng ngoại với danh mã Carbine9, nhà vô địch lừng lẫy tại Cúp Melbourne10. Và ở nơi tôi xuất thân, chúng tôi không quen bị chà đạp bởi bất cứ con la mồm két ngoan cố nào trong một khẩu đội súng vặt vãnh bắn hạt đậu. Anh đã sẵn sàng chưa?"
"Đứng bằng hai chân sau lên đây!" Billy rít lên thách thức. Cả hai chồm lên lăm le đối mặt với nhau. Và ngay khi tôi đang nín thở mong đợi một trận chiến đẫm máu dữ dội, thì một giọng nói ùng ục, ầm ầm trầm đục cất lên từ trong bóng tối mịt mùng ở phía bên phải-"Các cậu, các cậu đang hục hặc đánh nhau vì chuyện gì ở đó vậy? Nghe lời ta, trật tự đi."
Cả hai con thú đều thả phịch người xuống với một tiếng khịt mũi chán ghét, bởi lẽ cả ngựa kỵ binh lẫn la già đều chẳng thể nào chịu nổi chất giọng quang quác của loài voi.
"Đó là gã Hai Đuôi!" ngựa kỵ binh lên tiếng. "Tôi chẳng ưa gì anh ta. Mỗi đầu lủng lẳng một cái đuôi, rành rành là không công bằng!"
"Tôi cũng thấy thế," Billy đồng tình, nhích lại gần ngựa kỵ binh cho có bạn. "Chúng ta vốn dĩ rất giống nhau ở một vài điểm."
"Tôi đồ rằng chúng ta được thừa hưởng những nét ấy từ các bà mẹ thân sinh," ngựa kỵ binh đáp. "Đôi co làm gì cho nhọc xác. Này! Hai Đuôi, anh đã bị cột lại chưa đấy?"
"Rồi," Hai Đuôi đáp lời, kèm theo một tràng cười râm ran vang lên qua chiếc vòi. "Ta đã bị buộc lại nghỉ ngơi qua đêm rồi. Ta nghe cả đấy, những gì các cậu đang xì xầm. Nhưng đừng sợ. Ta sẽ không vác thân sang bên đó đâu."
Cặp bò và con lạc đà lầm bầm, tiếng được tiếng mất: "Sợ Hai Đuôi cơ đấy-thật nực cười!" Thế rồi cặp bò tiếp lời: "Chúng tôi rất tiếc vì anh đã nghe thấy, nhưng quả tình là vậy đấy. Này Hai Đuôi, tại sao anh lại khiếp vía những khẩu pháo khi chúng khạc lửa kia chứ?"
"Chà," Hai Đuôi khẽ xoa hai chân sau vào nhau, điệu bộ hệt như một cậu nam sinh đang e thẹn đọc thơ, "Ta thực tình không rõ các người có hiểu được hay không."
"Chúng tôi không hiểu, nhưng chúng tôi vẫn phải nai lưng kéo những khẩu đại pháo đó đấy thôi," đôi bò rống lên.
"Ta biết chứ, và ta còn biết các người dũng cảm hơn rất nhiều so với những gì các người tự tưởng tượng về bản thân. Nhưng với ta thì lại khác. Hôm nọ, đội trưởng khẩu đội đã mắng ta là một 'Sự Lỗi Thời Da Dày'."
"Tôi đoán đó lại là một chiến thuật chiến đấu khác chăng?" Billy hỏi, tinh thần dần lấy lại vẻ điềm tĩnh.
"Lẽ dĩ nhiên là cậu chẳng thể thấu điều đó mang ý nghĩa gì, nhưng ta thì biết rõ tường tận. Điều đó ám chỉ sự dở dở ương ương, và đó cũng chính là tình cảnh trớ trêu của ta hiện tại. Ta có thể mường tượng rõ mồn một trong tâm trí mình điều kinh hoàng nào sẽ giáng xuống khi một quả đạn pháo nổ tung, còn các người, bọn bò kia, thì vĩnh viễn chẳng thể nhìn ra."
"Tôi có thể," ngựa kỵ binh dõng dạc nói. "Ít ra là một chút. Tôi luôn cố gạt nó ra khỏi tâm trí."
"Ta có thể nhìn xa hơn cậu, và ta đã ngẫm nghĩ về nó. Ta thừa biết rằng mình mang một thân hình đồ sộ cần được săn sóc, và ta cũng biết tỏng chẳng ai biết cách chữa trị cho ta một khi ta đổ bệnh. Tất thảy những gì họ có thể làm chỉ là trừ vào lương của người quản tượng cho đến khi ta hồi phục, thế mà ta lại chẳng thể đặt niềm tin vào tên quản tượng của mình."
"À!" ngựa kỵ binh thốt lên. "Hóa ra là vậy. Tôi thì hoàn toàn tin tưởng nơi Dick."
"Cậu có thể chất cả một trung đoàn những gã trai như Dick lên lưng ta, điều đó cũng chẳng mảy may khiến ta thấy khá khẩm hơn. Ta chỉ biết đủ nhiều để cảm thấy bất an, nhưng lại chẳng đủ lì lợm để nhắm mắt làm ngơ mà tiến lên phía trước."
"Chúng tôi chẳng hiểu gì sất," đôi bò ngơ ngác nói.
"Ta biết các người không hiểu mà. Ta có nói chuyện với các người đâu. Các người làm sao biết máu là gì."
"Chúng tôi biết chứ," đôi bò cãi lại. "Đó là thứ chất lỏng màu đỏ ối tứa xuống mặt đất và bốc mùi tanh tưởi."
Ngựa kỵ binh chồm lên, tung một cú đá hậu rồi khịt mũi giận dữ.
"Đừng nhắc tới nó nữa," nó bực dọc gắt. "Ngay lúc này đây tôi đã ngửi thấy mùi máu rồi, chỉ vừa thoáng nghĩ đến thôi đấy. Nó thôi thúc tôi bỏ chạy - mỗi khi không có Dick ở trên lưng."
"Nhưng thứ đó đâu có ở đây," con lạc đà và cặp bò đồng thanh thắc mắc. "Tại sao các anh lại ngớ ngẩn đến vậy?"
"Đó là một thứ dơ bẩn," Billy nhăn nhó nói. "Tôi chẳng muốn bỏ chạy đâu, nhưng tôi thực lòng không muốn nhắc tới nó."
"Đấy, thấy chưa!" Hai Đuôi lên tiếng, phe phẩy cái đuôi ra chiều giải thích.
"Chắc chắn rồi. Quả thực, chúng tôi đã ở đây suốt cả đêm," đôi bò nói.
Hai Đuôi giậm mạnh bàn chân xuống đất, khiến chiếc vòng sắt réo lên leng keng. "Ồ, ta không nói chuyện với các người. Các người chẳng thể nào nhìn thấu những gì ẩn sâu trong tâm trí mình."
"Không. Chúng tôi nhìn đời qua bốn con mắt của chúng tôi," đôi bò đủng đỉnh nói. "Chúng tôi chỉ hướng thẳng ánh nhìn về phía trước."
"Giả như ta có thể làm được như vậy và tâm trí không gợn suy nghĩ nào khác, thì các người đã chẳng cần phải kéo mấy khẩu pháo khổng lồ kia đâu. Giá mà ta được như anh đội trưởng của mình - anh ấy có thể nhìn thấu mọi hiểm nguy sắp ập đến ngay trong đầu trước cả khi súng nổ, anh ấy cũng run lẩy bẩy, nhưng trí khôn của anh ấy đã ngăn anh ấy bỏ chạy - giá mà ta được như anh ấy, ta đã tự mình kéo pháo rồi. Nhưng nếu ta đủ thông tuệ đến mức ấy, ta đã chẳng bao giờ phải chôn chân ở đây. Ta sẽ đường hoàng làm một vị chúa tể chốn rừng thẳm như thuở nào, say giấc nồng nửa ngày trời và đầm mình tắm táp bất cứ khi nào ta muốn. Đã ngót một tháng ròng ta chưa được tắm gội tử tế."
"Nghe xuôi tai đấy," Billy mỉa mai. "Nhưng vẽ vời dông dài cho cái sự hèn nhát cũng chẳng làm nó trở nên tốt đẹp hơn được chút nào đâu."
"Suỵt!" ngựa kỵ binh huých nhẹ. "Tôi nghĩ tôi hiểu Hai Đuôi đang ám chỉ điều gì."
"Cậu sẽ thấm thía điều đó trong chớp mắt thôi," Hai Đuôi gắt lên đầy bực dọc. "Nào, giờ thì cậu hãy giải thích cho ta nghe tại sao cậu lại chán ghét thứ này!"
Dứt lời, nó cất tiếng rống lên điên cuồng với âm lượng đinh tai nhức óc nhất.
"Dừng lại ngay!" Billy và ngựa kỵ binh đồng thanh hét lên, và tôi có thể nghe rõ mồn một tiếng chúng giậm chân và run rẩy bần bật. Tiếng rống của một con voi bao giờ cũng mang đến nỗi khiếp đảm rợn người, nhất là giữa màn đêm đen kịt.
"Ta sẽ không dừng lại," Hai Đuôi đe dọa. "Cậu giải thích giùm ta xem nào? Hhrrmph! Rrrt! Rrrmph! Rrrhha!" Rồi nó bỗng im bặt, và tôi chợt nghe thấy một tiếng sủa thút thít nhỏ bé vang lên trong bóng đêm, tôi biết ngay Vixen cuối cùng đã tìm ra mình. Nó cũng hiểu tường tận hệt như tôi rằng, nếu trên thế gian này có một thứ khiến loài voi phải sợ xanh mắt mèo hơn bất cứ thứ gì khác, thì đó đích thị là một con chó nhép hay sủa. Thế nên, nó đã ngưng bặt tiếng rống hòng bắt nạt Hai Đuôi ngay tại chỗ bị cột dây, và sủa ăng ẳng gâu gâu quanh đôi bàn chân hộ pháp của gã khổng lồ. Hai Đuôi lúng túng đi tới đi lui, miệng rít lên từng hồi. "Đi đi, chó nhỏ!" anh ta năn nỉ. "Đừng có ngửi mắt cá chân của ta nữa, không khéo ta đá cho một cú đấy. Chó ngoan - chó nhỏ ngoan nào! Về nhà đi, đồ oắt con hay sủa ầm ĩ kia! Ôi trời đất ơi, tại sao lại chẳng có ai mang nó đi chỗ khác vậy? Nó sẽ ngoạm ta một nhát mất thôi."
"Có vẻ như," Billy quay sang nói với ngựa kỵ binh, "anh bạn Hai Đuôi của chúng ta sợ bóng sợ gió hầu hết mọi thứ trên đời. Giờ mà, hễ mỗi lần tung cước đá văng một con chó qua bãi duyệt binh tôi lại được một bữa no nê, thì chắc mẩm giờ này tôi cũng mập mạp suýt soát Hai Đuôi rồi."
Tôi cất tiếng huýt sáo, và Vixen ba chân bốn cẳng chạy ào lại chỗ tôi, lấm lem bùn đất từ đầu chí cuối. Nó liếm láp lên mũi tôi, tíu tít kể lể một câu chuyện dài ngoẵng về hành trình đánh hơi lùng sục tôi khắp cả doanh trại. Tôi chưa từng hé răng cho nó biết rằng mình am hiểu ngôn ngữ của muôn loài, nếu không nó sẽ tự cho mình cái quyền làm đủ mọi trò quấy phá quá trớn. Do đó, tôi giấu nhẹm nó vào ngực áo khoác của mình, trong khi Hai Đuôi thì cứ bồn chồn đi lại, giậm chân phành phạch và lầm bầm tự trách.
"Thật kỳ quái! Quá sức kỳ quái!" nó càm ràm. "Thứ nỗi sợ này dường như đã ăn sâu vào máu mủ của gia tộc ta. Giờ thì con vật nhỏ thó gớm ghiếc ấy biến đi đằng nào rồi?"
Tôi có thể nghe thấy tiếng chiếc vòi của nó đang khua khoắng quờ quạng khắp xung quanh.
"Tất thảy chúng ta dường như đều bị ảnh hưởng bởi những nỗi sợ khác nhau," nó tiếp lời, kèm theo một tiếng xì mũi. "Bây giờ, ta tin chắc rằng các cậu đã bị đánh động kinh hồn khi nghe ta rống lên."
"Không hẳn là báo động," ngựa kỵ binh đính chính, "nhưng nó khiến tôi có cảm giác y hệt như bị một bầy ong bắp cày chích ngay vào chỗ đáng nhẽ phải đặt yên cương. Đừng có dở trò đó ra một lần nữa đấy."
"Ta thì khiếp vía một con chó nhép, còn con lạc đà ở đây thì lại bị những cơn ác mộng tồi tệ trong đêm hù dọa cho hồn bay phách lạc."
"Chao ôi, thật may mắn làm sao khi không phải tất cả chúng ta đều xông pha trận mạc theo cùng một chiến thuật," ngựa kỵ binh thở phào nói.
"Điều em muốn biết," con la tơ, kẻ đã nín thinh quan sát suốt một đỗi dài, rụt rè lên tiếng - "điều em thực lòng muốn biết là tại sao chúng ta lại cứ phải lao vào vòng chiến."
"Bởi vì chúng ta được lệnh phải làm vậy," ngựa kỵ binh dõng dạc đáp, đi kèm với một cái khịt mũi đầy vẻ coi thường.
"Mệnh lệnh," la già Billy cất giọng, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập bôm bốp.
"Hukm hai!" (Đó là mệnh lệnh!), con lạc đà thốt lên với một tiếng ùng ục trong cổ họng, và Hai Đuôi cùng cặp bò cũng đồng thanh lặp lại, "Hukm hai!"
"Vâng, nhưng ai là người ban ra những mệnh lệnh ấy?" gã la tân binh vẫn tò mò gặng hỏi.
"Là người dẫn bước phía trước đầu nhóc - Hoặc kẻ ngồi chễm chệ trên lưng nhóc - Hoặc kẻ đang giữ chặt sợi dây xỏ mũi - Hoặc kẻ vặn xoắn đuôi nhóc," Billy, ngựa kỵ binh, con lạc đà và cặp bò lần lượt giải thích.
"Nhưng ai ra lệnh cho họ kia chứ?"
"Giờ thì nhóc muốn tọc mạch quá nhiều rồi đấy, nhóc con," Billy quở trách, "và đó cũng chính là con đường ngắn nhất để rước lấy một cú đá trời giáng. Tất cả những gì nhóc phải khắc cốt ghi tâm là răm rắp tuân lệnh người dẫn dắt và đừng có mở miệng chất vấn bất cứ điều gì."
"Anh ấy nói hoàn toàn chí lý," Hai Đuôi phụ họa. "Ta thì không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn phục tùng, bởi bản tính ta dở dở ương ương. Nhưng Billy đã nói đúng đấy. Hãy ngoan ngoãn vâng lời người sát cánh bên cậu, người ban ra mệnh lệnh, bằng không cậu sẽ trở thành vật cản đường cho toàn bộ khẩu đội, đó là chưa kể đến việc bị nếm mùi một trận đòn nhừ tử."
Cặp bò kéo pháo lục đục đứng dậy rục rịch rời đi. "Trời sắp rạng sáng rồi," chúng cất giọng ề à. "Chúng tôi sẽ quay trở lại hàng ngũ của mình. Quả thật chúng tôi chỉ biết nhìn đời bằng đôi mắt phàm trần này, và trí óc của chúng tôi cũng chẳng lấy gì làm sáng láng. Nhưng mặc lòng, đêm nay chúng tôi là những kẻ duy nhất chẳng mảy may biết sợ hãi là gì. Chúc ngủ ngon, những con người dũng cảm."
Chẳng có tiếng đáp lời, ngựa kỵ binh bèn chuyển hướng câu chuyện: "Thế con chó nhỏ nhép ấy lủi đi đâu rồi nhỉ? Sự hiện diện của một con chó đồng nghĩa với việc có một bóng người lẩn khuất đâu đây."
"Tao đang ở ngay đây," Vixen sủa ăng ẳng, "nằm thu lu dưới đuôi pháo cùng chủ của tao. Đồ lạc đà to xác, hậu đậu kia, chính mày đã đạp sập lều của chúng tao. Chủ của tao đang hầm hầm tức giận đấy."
"Phù!" cặp bò thở hắt ra. "Anh ta ắt hẳn phải là một người da trắng!"
"Đương nhiên anh ấy là người da trắng," Vixen vênh váo nói. "Tụi mày tưởng tao lại được chăm bẵm bởi một gã đánh bò da đen bẩn thỉu nào sao?"
"Huah! Ouach! Ugh!" cặp bò hoảng hốt kêu lên. "Chúng ta chuồn lẹ thôi."
Chúng thục mạng lao lên phía trước giữa vũng bùn lầy, và thế quái nào lại đẩy cái ách húc thẳng vào cột của một chiếc xe chở đạn, khiến cả cỗ xe bị kẹt cứng ngắc.
"Giờ thì các anh gây chuyện động trời rồi đấy," Billy điềm nhiên bình phẩm. "Đừng có vùng vẫy vô ích nữa. Các anh đã bị kẹt cứng ở đó cho tới tận hừng đông rồi. Rốt cục thì có chuyện quái quỷ gì vậy?"
Cặp bò phát ra những tiếng khịt mũi xì xì kéo dài đặc trưng của giống bò Ấn Độ, rồi bắt đầu xô đẩy, chen lấn, vặn vẹo thân hình, giậm chân bình bịch, trượt lên trượt xuống và suýt chút nữa thì ngã nhào xuống đống bùn nhão nhoét, miệng không ngừng càu nhàu một cách hung hãn.
"Các anh sẽ tự làm gãy cổ mình trong vòng một phút nữa thôi," ngựa kỵ binh cảnh báo. "Rốt cuộc thì có vấn đề gì với những người đàn ông da trắng chứ? Tôi vẫn sống chung chạ với họ cơ mà."
"Họ - ăn thịt - chúng tôi! Kéo!" con bò gần đó rống lên kinh hãi. Chiếc ách gãy đánh rắc một tiếng giòn tan, và chúng cùng nhau nặng nề lê bước chuồn thẳng.
Trước đây tôi chưa từng mường tượng ra nổi lý do vì đâu đám gia súc Ấn Độ lại sợ hãi người Anh đến nhường ấy. Hóa ra là bởi chúng ta ăn thịt bò - một thứ đồ ăn mà chẳng một gã đánh xe bò nào dám động đến một miếng - và lẽ tất dĩ ngẫu là bọn gia súc chẳng hề ưng bụng điều đó chút nào.
"Nguyện cho tôi bị quất roi bằng chính sợi dây xích lót yên của mình đi! Có ai ngờ được hai tảng thịt hộ pháp như thế lại mất trí đến mức độ này chứ?" Billy thốt lên ngán ngẩm.
"Bận tâm làm gì. Tôi sẽ dạo qua xem xét con người này một chút. Tôi rành quá mà, hầu hết những người đàn ông da trắng đều cất giấu đồ ngon trong túi áo," ngựa kỵ binh hào hứng nói.
"Nếu vậy thì tôi sẽ để anh lại một mình. Tôi không dám chắc là mình quá đỗi mến mộ họ. Hơn nữa, những gã da trắng vô gia cư ngủ lang bạt ngoài trời thường rất hay táy máy tay chân, mà tôi thì đang phải cõng cả đống tài sản của Chính phủ trên lưng. Lên đường nào, nhóc con, chúng ta sẽ quay trở lại hàng ngũ của mình thôi. Chúc ngủ ngon nhé, nước Úc! Ta đoán chừng sẽ chạm trán anh trong buổi duyệt binh ngày mai. Chúc ngủ ngon, lão Kiện Cỏ khô! - cố gắng kiềm chế cảm xúc của ngươi nhé, nghe chưa? Chúc ngủ ngon, Hai Đuôi! Nếu ngày mai cậu có sải bước ngang qua chỗ bọn tôi trên bãi tập, cấm có rống lên đấy. Nó sẽ phá nát đội hình của bọn tôi mất."
Con la già Billy lê những bước chân rời đi với dáng điệu tập tễnh mà nghênh ngang phách lối của một cựu binh dạn dày sương gió, trong lúc cái đầu của con ngựa kỵ binh thì rúc sâu vào ngực tôi ngoan ngoãn ăn bánh quy, còn Vixen, một con chó nhép tự phụ đến vô phương cứu chữa, thì lại đang huyênh hoang bốc phét với nó về hàng tá con ngựa mà nó và tôi đã từng cất công nuôi dưỡng.
"Ngày mai tao sẽ chễm chệ tới bãi duyệt binh trên chiếc xe kéo của tao," nó hếch mõm nói. "Còn mày sẽ đứng xó nào?"
"Bên mạn trái của đội hình thứ hai. Ta sẽ là kẻ bắt nhịp thời gian cho toàn bộ đội kỵ binh của mình, thưa cô nương bé nhỏ," nó điềm đạm đáp lời đầy vẻ lịch thiệp. "Bây giờ ta phải quay trở lại với Dick thôi. Đuôi của ta đã bê bết bùn đất rồi, và anh ấy sẽ phải vã mồ hôi hột suốt hai giờ đồng hồ để chải chuốt tươm tất cho ta trước buổi duyệt binh."
Cuộc duyệt binh vĩ đại quy tụ ba mươi ngàn nhân lực diễn ra vào chiều hôm đó. Vixen và tôi chiếm được một vị trí tuyệt đẹp, ngay sát cạnh Phó vương và Tiểu vương Afghanistan. Ngài Tiểu vương đội chiếc mũ len astrakhan đen, cao lớn, điểm xuyết bằng một ngôi sao kim cương khổng lồ lấp lánh chói lòa ở chính giữa. Nửa đầu cuộc duyệt binh diễn ra dưới ánh nắng rực rỡ. Các trung đoàn rầm rập đi qua như những lớp sóng cuộn trào của vô vàn đôi chân bước đều tăm tắp. Những cỗ pháo binh dàn thành hàng thẳng tắp, kéo dài đến mức khiến mắt chúng tôi như hoa cả lên. Tiếp đó là sự xuất hiện của đội kỵ binh. Họ phi nước kiệu tuyệt đẹp trong âm hưởng rộn rã của bản nhạc "Bonnie Dundee11". Chó sục Vixen ngồi ngoan trên xe kéo chó, đôi tai vểnh lên đầy thích thú. Đội hình thứ hai của Trung đoàn Thương kỵ binh vút qua. Kìa! Con ngựa kỵ binh tối qua! Chiếc đuôi nó bóng mượt như tơ dệt, đầu hơi thu lại ép vào ngực, một tai vểnh về phía trước, tai kia cụp ra sau. Nó đang tự tin bắt nhịp cho toàn bộ đội hình của mình, những đôi chân lướt đi nhịp nhàng, uyển chuyển tựa như đang đắm chìm trong một điệu valse. Rồi đến lượt những cỗ pháo khổng lồ rầm rập tiến qua. Tôi thấy Hai Đuôi sát cánh cùng hai con voi khác, chung sức kéo một khẩu pháo công thành nặng tới bốn mươi pound12. Theo ngay phía sau là hai mươi ách bò cần mẫn bước đi. Ở cặp thứ bảy có mang một chiếc ách mới tinh; trông chúng bước đi có phần cứng nhắc và mệt mỏi ra mặt. Khép lại đội hình là những bệ pháo cơ động tháo lắp được. Lão la Billy mang dáng vẻ uy nghi, kiêu hãnh hệt như thể bản thân lão đang đứng ra chỉ huy cả một đội quân hùng hậu. Bộ yên cương trên lưng lão được bôi dầu và đánh bóng đến mức lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời. Tôi sung sướng reo hò cổ vũ ầm ĩ cho một mình la Billy, thế nhưng lão chẳng thèm liếc ngang liếc dọc lấy một lần, cứ oai vệ bước thẳng.
Trời lại bắt đầu đổ mưa rả rích. Trong chốc lát, cảnh vật mờ mịt đến mức khó lòng quan sát rõ các binh lính đang thao diễn những gì. Họ đã nhanh chóng dàn thành một vòng bán nguyệt khổng lồ vắt ngang qua vùng đồng bằng, rồi dần dần tản ra, trải dài thành một đội hình hàng ngang. Trận tuyến hàng ngang ấy cứ giãn rộng, giãn rộng mãi cho đến khi đạt độ dài ba phần tư dặm, trải từ cánh này sang tận cánh kia - sừng sững như một bức tường thành vững chắc, dệt nên từ những con người, những bầy ngựa chiến và cả những cỗ pháo binh uy dũng. Đoạn, toàn bộ bức tường ấy tiến thẳng về phía Phó vương cùng Tiểu vương. Khi đội hình đến gần hơn, mặt đất dưới chân chúng tôi bỗng rung chuyển dữ dội, chấn động hệt như boong của một chiếc tàu hơi nước đang tăng tốc gầm rú chạy hết công suất.
Trừ phi bạn đích thân có mặt tại đó, bằng không, bạn sẽ chẳng thể nào mường tượng nổi thứ uy vũ kinh hồn bạt vía mà bước tiến rập ràng của cả một đạo quân giáng xuống tâm lý khán giả, dẫu họ biết tỏng đây chỉ là một buổi lễ duyệt binh. Tôi lén quan sát Tiểu vương. Cho tới phút chốc ấy, ngài vẫn chưa hề để lộ nửa điểm kinh ngạc hay bất kỳ xúc cảm nào khác. Thế nhưng bây giờ, đôi mắt ngài dần trợn tròn, ngày một mở to thảng thốt. Ngài giật nảy mình nhặt lấy sợi dây cương trên cổ ngựa, hốt hoảng ngoái đầu nhìn lại phía sau. Trong tích tắc ấy, dường như ngài đã toan rút tuốt thanh gươm vung lên, chém một đường máu mở lối thoát thân xuyên qua những người đàn ông và phụ nữ gốc Anh đang ngồi yên vị trong các cỗ xe ngựa phía sau lưng. May thay, bước tiến công ấy bỗng đột ngột dừng sững lại. Mặt đất im lìm. Toàn bộ đội hình đồng loạt vung tay chào nghiêm trang, và cả ba mươi ban nhạc quân đội nhất tề trỗi lên những khúc quân hành hùng tráng. Đó cũng là lúc buổi duyệt binh vĩ đại khép lại. Các trung đoàn lại nhịp nhàng diễu hành trở về doanh trại dưới màn mưa giăng lối, trong khi một ban nhạc bộ binh cất cao khúc hát-
Đoàn thú tiến vào từng đôi một, Hurrah! Đoàn thú tiến vào từng đôi một, Từ voi đến những chú la kéo pháo, Tất thảy đều bước lên con Tàu Để tránh khỏi màn mưa tuôn xối xả!
Sau đó, tôi tình cờ nghe được tiếng của một vị tù trưởng người Trung Á già cỗi. Ông ta để mái tóc dài đã điểm bạc, là người cùng tháp tùng ngài Tiểu vương đến đây, đang lên tiếng dò hỏi một viên sĩ quan bản địa.
"Ngài nói tôi nghe xem," ngài tù trưởng lên tiếng, "bằng cách thức diệu kỳ nào mà người ta lại có thể làm nên được cái điều tuyệt vời đến thế?"
Viên sĩ quan dõng dạc đáp lời: "Một khi mệnh lệnh được ban ra, bọn họ nhất nhất tuân theo."
"Nhưng lẽ nào những con thú kia lại khôn ngoan tinh tường được như con người sao?" vị tù trưởng ngỡ ngàng gặng hỏi.
"Chúng phục tùng, hoàn toàn giống như con người vậy. Bất kể là la, ngựa, voi hay bò, chúng đều răm rắp nghe lệnh người nài của mình; người nài lại tuân lệnh của viên thượng sĩ; thượng sĩ phục tùng trung úy; trung úy tuân lệnh đại úy; đại úy vâng lệnh thiếu tá; thiếu tá báo cáo với đại tá; đại tá chịu sự chỉ huy của lữ đoàn trưởng nắm giữ ba trung đoàn; lữ đoàn trưởng phải tuân lệnh vị tướng quân; và tướng quân lại tuân theo lệnh của ngài Phó vương, người vốn là bầy tôi trung thành của Nữ hoàng. Cứ theo lề lối kỷ luật ấy mà mọi việc được thực thi."
"Ước gì ở xứ Afghanistan của chúng tôi cũng quy củ được như vậy!" vị tù trưởng cảm thán, "Bởi ở nơi đó, chúng tôi chỉ hành sự tuân theo ý chí của cá nhân mình mà thôi."
"Và cũng chính vì lẽ đó," viên sĩ quan bản địa chậm rãi đáp lời, tay tiện xoắn vuốt hàng ria mép đầy vẻ tự hào, "ngài Tiểu vương của các vị, người mà các vị chẳng màng vâng lệnh, nay phải cất công đến tận đây để lắng nghe và tiếp nhận những mệnh lệnh từ ngài Phó vương của chúng tôi."
-
Tweedle-dum và Tweedle-dee là hai nhân vật sinh đôi trong thơ ca đồng dao Anh và tác phẩm 'Alice lạc vào xứ sở trong gương'. Ở đây dùng để chỉ hai thứ tưởng chừng giống nhau nhưng thực chất lại khác biệt về bản chất hoặc cách vận hành. ↩
-
Một thành phố quan trọng (hiện thuộc Pakistan), thời đó là trung tâm quân sự lớn của quân đội Anh quốc tại biên giới Tây Bắc Ấn Độ. ↩
-
Chức quan cao cấp nhất đại diện cho Hoàng gia Anh để cai trị Ấn Độ thời kỳ nước này còn là thuộc địa của Đế quốc Anh. ↩
-
Quân vương (Emir) của Afghanistan, quốc gia vùng Trung Á nằm giữa lãnh thổ cai trị của Anh ở Ấn Độ và đế quốc Nga. Sự kiện trong truyện lấy cảm hứng từ cuộc gặp gỡ ngoại giao lịch sử năm 1885. ↩
-
'Hand' (bàn tay) là đơn vị đo lường chiều cao truyền thống dành cho ngựa và la. Một hand bằng khoảng 10,16 cm. Mười bốn hand tương đương khoảng 1,42 mét tính từ chân đến u vai. ↩
-
Giống cây đặc trưng của nước Úc (Eucalyptus). Chú ngựa kỵ binh thề nhân danh loài cây này để nhấn mạnh nguồn gốc quê hương hoang dã của mình tại Úc. ↩
-
Một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Vật cưỡi của ngài là con bò thần thiêng liêng tên là Nandi. Cặp bò kéo pháo trong truyện tự hào cho rằng mình là con cháu của bò thần Nandi. ↩
-
Malaga là một tỉnh ở Tây Ban Nha, nổi tiếng với giống lừa Andalusian kích thước khổng lồ và vô cùng khỏe mạnh, thường được nhập khẩu sang Anh hoặc các thuộc địa để lai tạo ra những con la chiến sức vóc lớn. ↩
-
Tên một con ngựa đua huyền thoại của New Zealand và Úc cuối thế kỷ 19, được coi là một trong những con ngựa vĩ đại nhất lịch sử đua ngựa. ↩
-
Giải đua ngựa thường niên uy tín và danh giá nhất nước Úc, được mệnh danh là 'cuộc đua làm cả quốc gia phải ngừng lại'. ↩
-
Một bài hát dân ca và khúc hành quân nổi tiếng của Scotland, thường được các trung đoàn kỵ binh Anh tấu lên khi cưỡi ngựa diễu hành. ↩
-
Cách gọi quân sự chỉ sức công phá và kích cỡ đạn. 'Pháo bốn mươi pound' nghĩa là loại đại bác bắn ra những viên đạn nặng khoảng 40 pound (khoảng 18 kg), bản thân khẩu pháo lớn và nặng hơn thế rất nhiều nên mới cần voi để kéo. ↩
Her Majesty’s Servants
You can work it out by Fractions or by simple Rule of Three,
But the way of Tweedle-dum is not the way of Tweedle-dee.
You can twist it, you can turn it, you can plait it till you drop,
But the way of Pilly Winky’s not the way of Winkie Pop!
It had been raining heavily for one whole month-raining on a camp of thirty thousand men and thousands of camels, elephants, horses, bullocks, and mules all gathered together at a place called Rawal Pindi, to be reviewed by the Viceroy of India. He was receiving a visit from the Amir of Afghanistan-a wild king of a very wild country. The Amir had brought with him for a bodyguard eight hundred men and horses who had never seen a camp or a locomotive before in their lives-savage men and savage horses from somewhere at the back of Central Asia. Every night a mob of these horses would be sure to break their heel ropes and stampede up and down the camp through the mud in the dark, or the camels would break loose and run about and fall over the ropes of the tents, and you can imagine how pleasant that was for men trying to go to sleep. My tent lay far away from the camel lines, and I thought it was safe. But one night a man popped his head in and shouted, “Get out, quick! They’re coming! My tent’s gone!”
I knew who “they” were, so I put on my boots and waterproof and scuttled out into the slush. Little Vixen, my fox terrier, went out through the other side; and then there was a roaring and a grunting and bubbling, and I saw the tent cave in, as the pole snapped, and begin to dance about like a mad ghost. A camel had blundered into it, and wet and angry as I was, I could not help laughing. Then I ran on, because I did not know how many camels might have got loose, and before long I was out of sight of the camp, plowing my way through the mud.

A camel had blundered into my tent.
At last I fell over the tail-end of a gun, and by that knew I was somewhere near the artillery lines where the cannon were stacked at night. As I did not want to plowter about any more in the drizzle and the dark, I put my waterproof over the muzzle of one gun, and made a sort of wigwam with two or three rammers that I found, and lay along the tail of another gun, wondering where Vixen had got to, and where I might be.
Just as I was getting ready to go to sleep I heard a jingle of harness and a grunt, and a mule passed me shaking his wet ears. He belonged to a screw-gun battery, for I could hear the rattle of the straps and rings and chains and things on his saddle pad. The screw-guns are tiny little cannon made in two pieces, that are screwed together when the time comes to use them. They are taken up mountains, anywhere that a mule can find a road, and they are very useful for fighting in rocky country.
Behind the mule there was a camel, with his big soft feet squelching and slipping in the mud, and his neck bobbing to and fro like a strayed hen’s. Luckily, I knew enough of beast language-not wild-beast language, but camp-beast language, of course-from the natives to know what he was saying.
He must have been the one that flopped into my tent, for he called to the mule, “What shall I do? Where shall I go? I have fought with a white thing that waved, and it took a stick and hit me on the neck.” (That was my broken tent pole, and I was very glad to know it.) “Shall we run on?”
“Oh, it was you,” said the mule, “you and your friends, that have been disturbing the camp? All right. You’ll be beaten for this in the morning. But I may as well give you something on account now.”
I heard the harness jingle as the mule backed and caught the camel two kicks in the ribs that rang like a drum. “Another time,” he said, “you’ll know better than to run through a mule battery at night, shouting `Thieves and fire!’ Sit down, and keep your silly neck quiet.”
The camel doubled up camel-fashion, like a two-foot rule, and sat down whimpering. There was a regular beat of hoofs in the darkness, and a big troop-horse cantered up as steadily as though he were on parade, jumped a gun tail, and landed close to the mule.
“It’s disgraceful,” he said, blowing out his nostrils. “Those camels have racketed through our lines again-the third time this week. How’s a horse to keep his condition if he isn’t allowed to sleep. Who’s here?”
“I’m the breech-piece mule of number two gun of the First Screw Battery,” said the mule, “and the other’s one of your friends. He’s waked me up too. Who are you?”
“Number Fifteen, E troop, Ninth Lancers-Dick Cunliffe’s horse. Stand over a little, there.”
“Oh, beg your pardon,” said the mule. “It’s too dark to see much. Aren’t these camels too sickening for anything? I walked out of my lines to get a little peace and quiet here.”
“My lords,” said the camel humbly, “we dreamed bad dreams in the night, and we were very much afraid. I am only a baggage camel of the 39th Native Infantry, and I am not as brave as you are, my lords.”
“Then why didn’t you stay and carry baggage for the 39th Native Infantry, instead of running all round the camp?” said the mule.
“They were such very bad dreams,” said the camel. “I am sorry. Listen! What is that? Shall we run on again?”
“Sit down,” said the mule, “or you’ll snap your long stick-legs between the guns.” He cocked one ear and listened. “Bullocks!” he said. “Gun bullocks. On my word, you and your friends have waked the camp very thoroughly. It takes a good deal of prodding to put up a gun-bullock.”
I heard a chain dragging along the ground, and a yoke of the great sulky white bullocks that drag the heavy siege guns when the elephants won’t go any nearer to the firing, came shouldering along together. And almost stepping on the chain was another battery mule, calling wildly for “Billy.”
“That’s one of our recruits,” said the old mule to the troop horse. “He’s calling for me. Here, youngster, stop squealing. The dark never hurt anybody yet.”
The gun-bullocks lay down together and began chewing the cud, but the young mule huddled close to Billy.
“Things!” he said. “Fearful and horrible, Billy! They came into our lines while we were asleep. D’you think they’ll kill us?”
“I’ve a very great mind to give you a number-one kicking,” said Billy. “The idea of a fourteen-hand mule with your training disgracing the battery before this gentleman!”
“Gently, gently!” said the troop-horse. “Remember they are always like this to begin with. The first time I ever saw a man (it was in Australia when I was a three-year-old) I ran for half a day, and if I’d seen a camel, I should have been running still.”
Nearly all our horses for the English cavalry are brought to India from Australia, and are broken in by the troopers themselves.
“True enough,” said Billy. “Stop shaking, youngster. The first time they put the full harness with all its chains on my back I stood on my forelegs and kicked every bit of it off. I hadn’t learned the real science of kicking then, but the battery said they had never seen anything like it.”
“But this wasn’t harness or anything that jingled,” said the young mule. “You know I don’t mind that now, Billy. It was Things like trees, and they fell up and down the lines and bubbled; and my head-rope broke, and I couldn’t find my driver, and I couldn’t find you, Billy, so I ran off with-with these gentlemen.”
“H’m!” said Billy. “As soon as I heard the camels were loose I came away on my own account. When a battery-a screw-gun mule calls gun-bullocks gentlemen, he must be very badly shaken up. Who are you fellows on the ground there?”
The gun bullocks rolled their cuds, and answered both together: “The seventh yoke of the first gun of the Big Gun Battery. We were asleep when the camels came, but when we were trampled on we got up and walked away. It is better to lie quiet in the mud than to be disturbed on good bedding. We told your friend here that there was nothing to be afraid of, but he knew so much that he thought otherwise. Wah!”
They went on chewing.
“That comes of being afraid,” said Billy. “You get laughed at by gun-bullocks. I hope you like it, young un.”
The young mule’s teeth snapped, and I heard him say something about not being afraid of any beefy old bullock in the world. But the bullocks only clicked their horns together and went on chewing.

“Anybody can be forgiven for being scared in the night,” said the troop-horse
“Now, don’t be angry after you’ve been afraid. That’s the worst kind of cowardice,” said the troop-horse. “Anybody can be forgiven for being scared in the night, I think, if they see things they don’t understand. We’ve broken out of our pickets, again and again, four hundred and fifty of us, just because a new recruit got to telling tales of whip snakes at home in Australia till we were scared to death of the loose ends of our head-ropes.”
“That’s all very well in camp,” said Billy. “I’m not above stampeding myself, for the fun of the thing, when I haven’t been out for a day or two. But what do you do on active service?”
“Oh, that’s quite another set of new shoes,” said the troop horse. “Dick Cunliffe’s on my back then, and drives his knees into me, and all I have to do is to watch where I am putting my feet, and to keep my hind legs well under me, and be bridle-wise.”
“What’s bridle-wise?” said the young mule.
“By the Blue Gums of the Back Blocks,” snorted the troop-horse, “do you mean to say that you aren’t taught to be bridle-wise in your business? How can you do anything, unless you can spin round at once when the rein is pressed on your neck? It means life or death to your man, and of course that’s life and death to you. Get round with your hind legs under you the instant you feel the rein on your neck. If you haven’t room to swing round, rear up a little and come round on your hind legs. That’s being bridle-wise.”
“We aren’t taught that way,” said Billy the mule stiffly. “We’re taught to obey the man at our head: step off when he says so, and step in when he says so. I suppose it comes to the same thing. Now, with all this fine fancy business and rearing, which must be very bad for your hocks, what do you do?”
“That depends,” said the troop-horse. “Generally I have to go in among a lot of yelling, hairy men with knives-long shiny knives, worse than the farrier’s knives-and I have to take care that Dick’s boot is just touching the next man’s boot without crushing it. I can see Dick’s lance to the right of my right eye, and I know I’m safe. I shouldn’t care to be the man or horse that stood up to Dick and me when we’re in a hurry.”
“Don’t the knives hurt?” said the young mule.
“Well, I got one cut across the chest once, but that wasn’t Dick’s fault-”
“A lot I should have cared whose fault it was, if it hurt!” said the young mule.
“You must,” said the troop horse. “If you don’t trust your man, you may as well run away at once. That’s what some of our horses do, and I don’t blame them. As I was saying, it wasn’t Dick’s fault. The man was lying on the ground, and I stretched myself not to tread on him, and he slashed up at me. Next time I have to go over a man lying down I shall step on him-hard.”

The man was lying on the ground, and I stretched myself not to tread on him, and he slashed up at me.
“H’m!” said Billy. “It sounds very foolish. Knives are dirty things at any time. The proper thing to do is to climb up a mountain with a well-balanced saddle, hang on by all four feet and your ears too, and creep and crawl and wriggle along, till you come out hundreds of feet above anyone else on a ledge where there’s just room enough for your hoofs. Then you stand still and keep quiet-never ask a man to hold your head, young un-keep quiet while the guns are being put together, and then you watch the little poppy shells drop down into the tree-tops ever so far below.”
“Don’t you ever trip?” said the troop-horse.
“They say that when a mule trips you can split a hen’s ear,” said Billy. “Now and again perhaps a badly packed saddle will upset a mule, but it’s very seldom. I wish I could show you our business. It’s beautiful. Why, it took me three years to find out what the men were driving at. The science of the thing is never to show up against the sky line, because, if you do, you may get fired at. Remember that, young un. Always keep hidden as much as possible, even if you have to go a mile out of your way. I lead the battery when it comes to that sort of climbing.”
“Fired at without the chance of running into the people who are firing!” said the troop-horse, thinking hard. “I couldn’t stand that. I should want to charge-with Dick.”
“Oh, no, you wouldn’t. You know that as soon as the guns are in position they’ll do all the charging. That’s scientific and neat. But knives-pah!”
The baggage-camel had been bobbing his head to and fro for some time past, anxious to get a word in edgewise. Then I heard him say, as he cleared his throat, nervously:
“I-I-I have fought a little, but not in that climbing way or that running way.”
“No. Now you mention it,” said Billy, “you don’t look as though you were made for climbing or running-much. Well, how was it, old Hay-bales?”
“The proper way,” said the camel. “We all sat down-”
“Oh, my crupper and breastplate!” said the troop-horse under his breath. “Sat down!”
“We sat down-a hundred of us,” the camel went on, “in a big square, and the men piled our packs and saddles, outside the square, and they fired over our backs, the men did, on all sides of the square.”
“What sort of men? Any men that came along?” said the troop-horse. “They teach us in riding school to lie down and let our masters fire across us, but Dick Cunliffe is the only man I’d trust to do that. It tickles my girths, and, besides, I can’t see with my head on the ground.”
“What does it matter who fires across you?” said the camel. “There are plenty of men and plenty of other camels close by, and a great many clouds of smoke. I am not frightened then. I sit still and wait.”
“And yet,” said Billy, “you dream bad dreams and upset the camp at night. Well, well! Before I’d lie down, not to speak of sitting down, and let a man fire across me, my heels and his head would have something to say to each other. Did you ever hear anything so awful as that?”
There was a long silence, and then one of the gun bullocks lifted up his big head and said, “This is very foolish indeed. There is only one way of fighting.”
“Oh, go on,” said Billy. “Please don’t mind me. I suppose you fellows fight standing on your tails?”
“Only one way,” said the two together. (They must have been twins.) “This is that way. To put all twenty yoke of us to the big gun as soon as Two Tails trumpets.” (“Two Tails” is camp slang for the elephant.)
“What does Two Tails trumpet for?” said the young mule.
“To show that he is not going any nearer to the smoke on the other side. Two Tails is a great coward. Then we tug the big gun all together-Heya-Hullah! Heeyah! Hullah! We do not climb like cats nor run like calves. We go across the level plain, twenty yoke of us, till we are unyoked again, and we graze while the big guns talk across the plain to some town with mud walls, and pieces of the wall fall out, and the dust goes up as though many cattle were coming home.”
“Oh! And you choose that time for grazing?” said the young mule.
“That time or any other. Eating is always good. We eat till we are yoked up again and tug the gun back to where Two Tails is waiting for it. Sometimes there are big guns in the city that speak back, and some of us are killed, and then there is all the more grazing for those that are left. This is Fate. None the less, Two Tails is a great coward. That is the proper way to fight. We are brothers from Hapur. Our father was a sacred bull of Shiva. We have spoken.”
“Well, I’ve certainly learned something tonight,” said the troop-horse. “Do you gentlemen of the screw-gun battery feel inclined to eat when you are being fired at with big guns, and Two Tails is behind you?”
“About as much as we feel inclined to sit down and let men sprawl all over us, or run into people with knives. I never heard such stuff. A mountain ledge, a well-balanced load, a driver you can trust to let you pick your own way, and I’m your mule. But-the other things-no!” said Billy, with a stamp of his foot.
“Of course,” said the troop horse, “everyone is not made in the same way, and I can quite see that your family, on your father’s side, would fail to understand a great many things.”
“Never you mind my family on my father’s side,” said Billy angrily, for every mule hates to be reminded that his father was a donkey. “My father was a Southern gentleman, and he could pull down and bite and kick into rags every horse he came across. Remember that, you big brown Brumby!”
Brumby means wild horse without any breeding. Imagine the feelings of Sunol if a car-horse called her a “skate,” and you can imagine how the Australian horse felt. I saw the white of his eye glitter in the dark.
“See here, you son of an imported Malaga jackass,” he said between his teeth, “I’d have you know that I’m related on my mother’s side to Carbine, winner of the Melbourne Cup, and where I come from we aren’t accustomed to being ridden over roughshod by any parrot-mouthed, pig-headed mule in a pop-gun pea-shooter battery. Are you ready?”
“On your hind legs!” squealed Billy. They both reared up facing each other, and I was expecting a furious fight, when a gurgly, rumbly voice, called out of the darkness to the right-“Children, what are you fighting about there? Be quiet.”
Both beasts dropped down with a snort of disgust, for neither horse nor mule can bear to listen to an elephant’s voice.
“It’s Two Tails!” said the troop-horse. “I can’t stand him. A tail at each end isn’t fair!”
“My feelings exactly,” said Billy, crowding into the troop-horse for company. “We’re very alike in some things.”
“I suppose we’ve inherited them from our mothers,” said the troop horse. “It’s not worth quarreling about. Hi! Two Tails, are you tied up?”
“Yes,” said Two Tails, with a laugh all up his trunk. “I’m picketed for the night. I’ve heard what you fellows have been saying. But don’t be afraid. I’m not coming over.”
The bullocks and the camel said, half aloud, “Afraid of Two Tails-what nonsense!” And the bullocks went on, “We are sorry that you heard, but it is true. Two Tails, why are you afraid of the guns when they fire?”
“Well,” said Two Tails, rubbing one hind leg against the other, exactly like a little boy saying a poem, “I don’t quite know whether you’d understand.”
“We don’t, but we have to pull the guns,” said the bullocks.
“I know it, and I know you are a good deal braver than you think you are. But it’s different with me. My battery captain called me a Pachydermatous Anachronism the other day.”
“That’s another way of fighting, I suppose?” said Billy, who was recovering his spirits.
“You don’t know what that means, of course, but I do. It means betwixt and between, and that is just where I am. I can see inside my head what will happen when a shell bursts, and you bullocks can’t.”
“I can,” said the troop-horse. “At least a little bit. I try not to think about it.”
“I can see more than you, and I do think about it. I know there’s a great deal of me to take care of, and I know that nobody knows how to cure me when I’m sick. All they can do is to stop my driver’s pay till I get well, and I can’t trust my driver.”
“Ah!” said the troop horse. “That explains it. I can trust Dick.”
“You could put a whole regiment of Dicks on my back without making me feel any better. I know just enough to be uncomfortable, and not enough to go on in spite of it.”
“We do not understand,” said the bullocks.
“I know you don’t. I’m not talking to you. You don’t know what blood is.”
“We do,” said the bullocks. “It is red stuff that soaks into the ground and smells.”
The troop-horse gave a kick and a bound and a snort.
“Don’t talk of it,” he said. “I can smell it now, just thinking of it. It makes me want to run-when I haven’t Dick on my back.”
“But it is not here,” said the camel and the bullocks. “Why are you so stupid?”
“It’s vile stuff,” said Billy. “I don’t want to run, but I don’t want to talk about it.”
“There you are!” said Two Tails, waving his tail to explain.
“Surely. Yes, we have been here all night,” said the bullocks.
Two Tails stamped his foot till the iron ring on it jingled. “Oh, I’m not talking to you. You can’t see inside your heads.”
“No. We see out of our four eyes,” said the bullocks. “We see straight in front of us.”
“If I could do that and nothing else, you wouldn’t be needed to pull the big guns at all. If I was like my captain-he can see things inside his head before the firing begins, and he shakes all over, but he knows too much to run away-if I was like him I could pull the guns. But if I were as wise as all that I should never be here. I should be a king in the forest, as I used to be, sleeping half the day and bathing when I liked. I haven’t had a good bath for a month.”
“That’s all very fine,” said Billy. “But giving a thing a long name doesn’t make it any better.”
“H’sh!” said the troop horse. “I think I understand what Two Tails means.”
“You’ll understand better in a minute,” said Two Tails angrily. “Now you just explain to me why you don’t like this!”
He began trumpeting furiously at the top of his trumpet.
“Stop that!” said Billy and the troop horse together, and I could hear them stamp and shiver. An elephant’s trumpeting is always nasty, especially on a dark night.
“I shan’t stop,” said Two Tails. “Won’t you explain that, please? Hhrrmph! Rrrt! Rrrmph! Rrrhha!” Then he stopped suddenly, and I heard a little whimper in the dark, and knew that Vixen had found me at last. She knew as well as I did that if there is one thing in the world the elephant is more afraid of than another it is a little barking dog. So she stopped to bully Two Tails in his pickets, and yapped round his big feet. Two Tails shuffled and squeaked. “Go away, little dog!” he said. “Don’t snuff at my ankles, or I’ll kick at you. Good little dog-nice little doggie, then! Go home, you yelping little beast! Oh, why doesn’t someone take her away? She’ll bite me in a minute.”
“Seems to me,” said Billy to the troop horse, “that our friend Two Tails is afraid of most things. Now, if I had a full meal for every dog I’ve kicked across the parade-ground I should be as fat as Two Tails nearly.”
I whistled, and Vixen ran up to me, muddy all over, and licked my nose, and told me a long tale about hunting for me all through the camp. I never let her know that I understood beast talk, or she would have taken all sorts of liberties. So I buttoned her into the breast of my overcoat, and Two Tails shuffled and stamped and growled to himself.
“Extraordinary! Most extraordinary!” he said. “It runs in our family. Now, where has that nasty little beast gone to?”
I heard him feeling about with his trunk.
“We all seem to be affected in various ways,” he went on, blowing his nose. “Now, you gentlemen were alarmed, I believe, when I trumpeted.”
“Not alarmed, exactly,” said the troop-horse, “but it made me feel as though I had hornets where my saddle ought to be. Don’t begin again.”
“I’m frightened of a little dog, and the camel here is frightened by bad dreams in the night.”
“It is very lucky for us that we haven’t all got to fight in the same way,” said the troop-horse.
“What I want to know,” said the young mule, who had been quiet for a long time-“what I want to know is, why we have to fight at all.”
“Because we’re told to,” said the troop-horse, with a snort of contempt.
“Orders,” said Billy the mule, and his teeth snapped.
“Hukm hai!” (It is an order!), said the camel with a gurgle, and Two Tails and the bullocks repeated, “Hukm hai!”
“Yes, but who gives the orders?” said the recruit-mule.
“The man who walks at your head-Or sits on your back-Or holds the nose rope-Or twists your tail,” said Billy and the troop-horse and the camel and the bullocks one after the other.
“But who gives them the orders?”
“Now you want to know too much, young un,” said Billy, “and that is one way of getting kicked. All you have to do is to obey the man at your head and ask no questions.”
“He’s quite right,” said Two Tails. “I can’t always obey, because I’m betwixt and between. But Billy’s right. Obey the man next to you who gives the order, or you’ll stop all the battery, besides getting a thrashing.”
The gun-bullocks got up to go. “Morning is coming,” they said. “We will go back to our lines. It is true that we only see out of our eyes, and we are not very clever. But still, we are the only people to-night who have not been afraid. Good-night, you brave people.”
Nobody answered, and the troop-horse said, to change the conversation, “Where’s that little dog? A dog means a man somewhere about.”
“Here I am,” yapped Vixen, “under the gun tail with my man. You big, blundering beast of a camel you, you upset our tent. My man’s very angry.”
“Phew!” said the bullocks. “He must be white!”
“Of course he is,” said Vixen. “Do you suppose I’m looked after by a black bullock-driver?”
“Huah! Ouach! Ugh!” said the bullocks. “Let us get away quickly.”
They plunged forward in the mud, and managed somehow to run their yoke on the pole of an ammunition wagon, where it jammed.
“Now you have done it,” said Billy calmly. “Don’t struggle. You’re hung up till daylight. What on earth’s the matter?”
The bullocks went off into the long hissing snorts that Indian cattle give, and pushed and crowded and slued and stamped and slipped and nearly fell down in the mud, grunting savagely.
“You’ll break your necks in a minute,” said the troop-horse. “What’s the matter with white men? I live with ’em.”
“They-eat-us! Pull!” said the near bullock. The yoke snapped with a twang, and they lumbered off together.
I never knew before what made Indian cattle so scared of Englishmen. We eat beef-a thing that no cattle-driver touches-and of course the cattle do not like it.
“May I be flogged with my own pad-chains! Who’d have thought of two big lumps like those losing their heads?” said Billy.
“Never mind. I’m going to look at this man. Most of the white men, I know, have things in their pockets,” said the troop-horse.
“I’ll leave you, then. I can’t say I’m over-fond of ’em myself. Besides, white men who haven’t a place to sleep in are more than likely to be thieves, and I’ve a good deal of Government property on my back. Come along, young un, and we’ll go back to our lines. Good-night, Australia! See you on parade to-morrow, I suppose. Good-night, old Hay-bale!-try to control your feelings, won’t you? Good-night, Two Tails! If you pass us on the ground tomorrow, don’t trumpet. It spoils our formation.”
Billy the Mule stumped off with the swaggering limp of an old campaigner, as the troop-horse’s head came nuzzling into my breast, and I gave him biscuits, while Vixen, who is a most conceited little dog, told him fibs about the scores of horses that she and I kept.
“I’m coming to the parade to-morrow in my dog-cart,” she said. “Where will you be?”
“On the left hand of the second squadron. I set the time for all my troop, little lady,” he said politely. “Now I must go back to Dick. My tail’s all muddy, and he’ll have two hours’ hard work dressing me for parade.”
The big parade of all the thirty thousand men was held that afternoon, and Vixen and I had a good place close to the Viceroy and the Amir of Afghanistan, with high, big black hat of astrakhan wool and the great diamond star in the center. The first part of the review was all sunshine, and the regiments went by in wave upon wave of legs all moving together, and guns all in a line, till our eyes grew dizzy. Then the cavalry came up, to the beautiful cavalry canter of “Bonnie Dundee,” and Vixen cocked her ear where she sat on the dog-cart. The second squadron of the Lancers shot by, and there was the troop-horse, with his tail like spun silk, his head pulled into his breast, one ear forward and one back, setting the time for all his squadron, his legs going as smoothly as waltz music. Then the big guns came by, and I saw Two Tails and two other elephants harnessed in line to a forty-pounder siege gun, while twenty yoke of oxen walked behind. The seventh pair had a new yoke, and they looked rather stiff and tired. Last came the screw guns, and Billy the mule carried himself as though he commanded all the troops, and his harness was oiled and polished till it winked. I gave a cheer all by myself for Billy the mule, but he never looked right or left.
The rain began to fall again, and for a while it was too misty to see what the troops were doing. They had made a big half circle across the plain, and were spreading out into a line. That line grew and grew and grew till it was three-quarters of a mile long from wing to wing-one solid wall of men, horses, and guns. Then it came on straight toward the Viceroy and the Amir, and as it got nearer the ground began to shake, like the deck of a steamer when the engines are going fast.
Unless you have been there you cannot imagine what a frightening effect this steady come-down of troops has on the spectators, even when they know it is only a review. I looked at the Amir. Up till then he had not shown the shadow of a sign of astonishment or anything else. But now his eyes began to get bigger and bigger, and he picked up the reins on his horse’s neck and looked behind him. For a minute it seemed as though he were going to draw his sword and slash his way out through the English men and women in the carriages at the back. Then the advance stopped dead, the ground stood still, the whole line saluted, and thirty bands began to play all together. That was the end of the review, and the regiments went off to their camps in the rain, and an infantry band struck up with-
The animals went in two by two,
Hurrah!
The animals went in two by two,
The elephant and the battery mul’,
and they all got into the Ark
For to get out of the rain!
Then I heard an old grizzled, long-haired Central Asian chief, who had come down with the Amir, asking questions of a native officer.
“Now,” said he, “in what manner was this wonderful thing done?”
And the officer answered, “An order was given, and they obeyed.”
“But are the beasts as wise as the men?” said the chief.
“They obey, as the men do. Mule, horse, elephant, or bullock, he obeys his driver, and the driver his sergeant, and the sergeant his lieutenant, and the lieutenant his captain, and the captain his major, and the major his colonel, and the colonel his brigadier commanding three regiments, and the brigadier the general, who obeys the Viceroy, who is the servant of the Empress. Thus it is done.”
“Would it were so in Afghanistan!” said the chief, “for there we obey only our own wills.”
“And for that reason,” said the native officer, twirling his mustache, “your Amir whom you do not obey must come here and take orders from our Viceroy.”