Lukannon

Đây là khúc ca vĩ đại của đại dương sâu thẳm mà mọi con hải cẩu St. Paul1 đều hát vang khi bơi về bãi biển quê hương vào những ngày hè. Khúc ca ấy tựa như một bản quốc ca bi tráng của loài hải cẩu.

Ta gặp lại anh em vào buổi sáng (và, ôi, ta nay đã già!)
Nơi sóng ngầm mùa hè cuộn trào gầm gào xô đập bờ đá nhô;
Ta nghe anh em cất cao dàn đồng ca át cả tiếng gầm của sóng đổ-
Bãi biển Lukannon2-âm vang hùng tráng của hai triệu giọng ca.

Khúc ca về những chốn nghỉ ngơi êm đềm bên đầm nước mặn,
Khúc ca về những đạo quân thở phì phò lê mình qua đụn cát,
Khúc ca về những vũ điệu nửa đêm khuấy động đại dương rực sáng-
Bãi biển Lukannon-trước khi bọn săn hải cẩu kéo đến!

Ta gặp lại anh em vào buổi sáng (ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại anh em nữa đâu!);
Anh em đến và đi thành những đạo quân làm đen kịt cả dải bờ.
Và trên vùng khơi xa lốm đốm bọt trắng tít tắp nơi giọng hát vươn tới
Chúng ta cất tiếng chào những toán cập bờ và hát đưa anh em lên bãi vắng.

Bãi biển Lukannon-những rặng lúa mì mùa đông mọc thật cao-
Những mảng địa y nhăn nheo rỉ nước, và sương mù biển cả ướt đẫm vạn vật!
Những thềm đá sân chơi của chúng ta, thảy đều sáng bóng, nhẵn nhụi và hao mòn!
Bãi biển Lukannon-ngôi nhà ruột thịt nơi chúng ta sinh ra!

Ta gặp lại anh em vào buổi sáng, một đám quân rã rời, tan tác.
Bọn chúng bắn chúng ta dưới nước và nện gậy vào chúng ta trên bờ;
Bọn chúng lùa chúng ta đến Nhà Muối3 như những bầy cừu ngốc nghếch, ngoan ngoãn,
Và chúng ta vẫn hát về Lukannon-thuở trước khi bọn săn kéo đến.

Hãy liệng xuống, liệng xuống phương nam; ôi, ngươi hãy bay đi, Gooverooska4!
Và hãy kể cho các ngài Deep-Sea Viceroys5 nghe câu chuyện về nỗi thống khổ bủa vây;
Trước khi, trống rỗng như quả trứng cá mập bị giông bão quăng quật lên bờ,
Bãi biển Lukannon sẽ chẳng bao giờ còn biết đến những người con của mình nữa!

{0195}



  1. St. Paul là một hòn đảo thuộc quần đảo Pribilof ở vùng biển Bering (Alaska), từng là nơi sinh sản đông đúc của loài hải cẩu lông phương bắc. 

  2. Một bãi biển nổi tiếng trên đảo St. Paul, từng là nơi tập trung hàng triệu con hải cẩu về sinh sản trước khi nạn săn bắt công nghiệp diễn ra. 

  3. Cơ sở chế biến trên đảo, nơi những người thợ săn lột da và ướp muối da hải cẩu để bảo quản trước khi vận chuyển đem bán. 

  4. Tên gọi theo tiếng Nga của loài mòng biển xira chân đen (Kittiwake), thường sinh sống quanh các vách đá ở vùng biển phương bắc. 

  5. Dịch sát nghĩa là 'Các Phó vương Biển sâu', ngầm chỉ những sinh vật biển cổ đại, khổng lồ đóng vai trò như các vị thần hay chúa tể cai quản đại dương.