"Hổ! Hổ!"

Về chuyến đi săn thế nào rồi, hỡi thợ săn dũng cảm?
Anh ơi, phiên gác lạnh lẽo và dằng dặc thâu đêm.
Thế còn con mồi nhà ngươi toan hạ sát?
Anh ơi, nó vẫn thong dong gặm cỏ giữa rừng thẳm.
Đâu rồi sức mạnh từng làm nên niềm kiêu hãnh của ngươi?
Anh ơi, sức lực đang rỉ dần theo dòng máu nơi hông và mạn sườn.
Đâu rồi những bước chân thoăn thoắt tựa gió ngàn?
Anh ơi, em đang lết về hang ổ-để chờ chết.

Bây giờ chúng ta đành quay lại ngọn nguồn câu chuyện. Khi Mowgli rời khỏi hang sói sau trận tử chiến với Bầy Sói tại Tảng đá Hội đồng, cậu rảo bước về vùng bình nguyên nơi dân làng sinh sống cày cấy. Nhưng cậu chẳng hề có ý định nán lại, bởi nơi này vẫn còn quá gần rừng thẳm, và cậu thừa biết mình vừa gieo thù chuốc oán với ít nhất một kẻ tử thù tại buổi Hội đồng. Cứ thế, cậu mải miết đi dọc theo con đường gồ ghề men theo thung lũng, chạy lóc cóc một nhịp đều đặn suốt ngót hai mươi dặm đường, cho tới khi bước vào một vùng quê hoàn toàn xa lạ. Thung lũng trải rộng ra thành một bình nguyên thênh thang lốm đốm những tảng đá khổng lồ, bị cày xẻ bởi những khe hẻm vực sâu hoắm. Ở một đầu là ngôi làng nhỏ bé, còn đầu kia thì rừng rậm sà hẳn xuống sát bãi chăn thả, đột ngột dừng lại như thể vừa bị một nhát cuốc phạt ngang. Khắp bình nguyên, gia súc và trâu bò đang thong dong gặm cỏ. Vừa thoáng thấy bóng Mowgli, đám mục đồng đã la hét inh ỏi rồi co giò bỏ chạy, trong khi lũ chó hoang lông vàng vện-vốn nhan nhản quanh các ngôi làng Ấn Độ-lại sủa nhặng xị cả lên. Mowgli bụng đói meo, vẫn phớt lờ rảo bước. Khi đến cổng làng, cậu bắt gặp một bụi gai lớn, vốn thường được kéo ra rào cổng mỗi độ chập choạng tối, nay đang bị hất gạt sang một bên.

"Hừm!" cậu thầm nghĩ, bởi trong những đêm lang thang kiếm ăn, cậu đã đụng độ không ít những hàng rào kiểu này. "Hóa ra con người ở đây cũng sợ Người Rừng." Cậu bèn ngồi bệt xuống cạnh cổng. Khi một người đàn ông lững thững bước ra, cậu liền đứng phắt dậy, há hốc miệng chỉ tay vào đó để ra hiệu xin ăn. Người đàn ông trợn tròn mắt nhìn chằm chằm, rồi cuống cuồng chạy ngược lên con đường duy nhất của làng. Gã gào toáng lên gọi thầy tu-một gã to béo, vận áo choàng trắng, trán điểm một vệt hoa văn đỏ vàng chói lọi1. Thầy tu tất tả bước ra cổng, kéo theo sau lưng là cả một đám đông chí ít cũng cả trăm người. Họ cứ thế nhìn chòng chọc, rầm rì bàn tán, rồi la hét và trỏ tay về phía Mowgli.

"Lũ Con Người này thật chẳng có chút phép tắc nào," Mowgli tự nhủ. "Chỉ có loài vượn xám mới cư xử lố bịch như chúng." Thế là cậu hất mái tóc dài ra sau, cau mày trừng mắt nhìn đám đông.

"Có gì đâu mà phải sợ hãi?" thầy tu cất lời. "Nhìn những vết sẹo chằng chịt trên tay chân nó kìa. Đó rành rành là vết sói cắn. Nó chỉ là một đứa trẻ người sói vừa chạy trốn khỏi rừng thiêng thôi."

Lẽ dĩ nhiên, trong những cuộc vật lộn đùa nghịch, lũ sói con vẫn thường lỡ tay cắn Mowgli mạnh hơn mức chúng định, để lại những vết sẹo trắng chạy dọc khắp tay chân cậu. Nhưng cậu sẽ là kẻ cuối cùng trên đời này chịu gọi đó là vết cắn, bởi hơn ai hết, cậu thừa hiểu một nhát cắn thực sự mang sức mạnh hủy diệt nhường nào.

"Trời ơi! Trời đất ơi!" hai ba người phụ nữ cùng đồng thanh thốt lên. "Bị sói cắn, đứa trẻ tội nghiệp! Thằng bé trông mới khôi ngô làm sao. Cặp mắt nó rực sáng như ngọn lửa đỏ. Tôi xin lấy danh dự ra mà thề, này Messua, nó trông hệt như đứa con trai tội nghiệp của chị từng bị hổ vồ mất vậy."

"Để tôi xem nào," một người phụ nữ với những chiếc vòng đồng trĩu nặng ở cổ tay và cổ chân lên tiếng. Bà đưa tay che nắng, nheo mắt nhìn Mowgli thật kỹ. "Thật sự là không phải. Nó gầy gò hơn nhiều, nhưng... nó có ánh nhìn y hệt con trai tôi."

Thầy tu vốn là kẻ láu cá, thừa biết Messua là vợ của người đàn ông giàu có nhất làng. Thế nên, ông ta khẽ ngước nhìn bầu trời chừng một phút rồi dõng dạc tuyên bố bằng giọng điệu trang nghiêm: "Những gì rừng thiêng đã tước đoạt, nay rừng thiêng đã ban trả. Hãy đưa cậu bé vào nhà chị đi, hỡi em gái ta, và đừng quên tạ ơn thầy tu đây, người mang nhãn quan thấu thị nhìn thấu cuộc đời của con người."

"Nhờ con Bò đã đổi lấy mạng ta," Mowgli lầm bầm, "tất cả những lời xì xầm bàn tán này giống hệt như một cuộc sát hạch khác của Bầy Sói! Thôi được, nếu ta đã là con người, ta đành phải hành xử như con người vậy."

Đám đông dạt sang hai bên khi người phụ nữ vẫy tay gọi Mowgli về túp lều của mình. Nơi đó có một chiếc giường sơn mài đỏ chót, một thùng đựng ngũ cốc bằng đất sét khổng lồ đắp nổi những hoa văn ngộ nghĩnh, nửa tá nồi đồng nấu ăn, một bức tượng thần đạo Hindu an tọa trong hốc tường nhỏ. Và trên vách tường treo một chiếc gương soi đúng nghĩa-thứ đồ xa xỉ người ta thường bán ở các hội chợ nông thôn.

Bà cho cậu uống một ngụm sữa lớn và lót dạ bằng ít bánh mì. Rồi bà nhẹ nhàng đặt tay lên đầu cậu, nhìn sâu vào đôi mắt cậu; bà ôm ấp niềm hy vọng mong manh rằng biết đâu đây chính là đứa con trai ruột thịt của bà vừa trở về từ khu rừng nơi hổ dữ đã cướp nó đi. Bà nghẹn ngào cất tiếng: "Nathoo, ôi Nathoo!" Mowgli tuyệt nhiên không biểu lộ chút phản ứng nào với cái tên ấy. "Con không nhớ cái ngày mẹ cho con đôi giày mới sao?" Bà khẽ chạm vào chân cậu, giờ đã chai sạn và cứng ngắc như sừng súc vật. "Không," bà ngậm ngùi nói, "những đôi chân này chưa bao giờ xỏ vào giày, nhưng con rất giống Nathoo của mẹ, và con sẽ là con trai của mẹ."

Mowgli cảm thấy vô cùng bứt rứt, bởi lẽ từ thuở lọt lòng, cậu chưa bao giờ phải sống dưới một mái nhà. Nhưng khi đảo mắt lên mái tranh, cậu nhận ra mình có thể xé toạc nó để trốn thoát bất cứ lúc nào nếu muốn, và cửa sổ thì chẳng hề có chốt khóa. "Làm con người thì có ích lợi gì," cuối cùng cậu đành tặc lưỡi, "nếu không thấu hiểu tiếng người? Bây giờ mình cũng ngớ ngẩn và câm lặng y như một con người lạc bước giữa bầy sói trong rừng sâu vậy. Mình phải học tiếng nói của chúng."

Chẳng phải tự nhiên mà cậu học được cách bắt chước tiếng rống thách thức của những con hươu đực trong rừng, hay tiếng ủn ỉn của lũ lợn rừng con khi còn chung sống với bầy sói. Nhờ vậy, ngay khi Messua vừa thốt ra một từ, Mowgli đã có thể nhại lại gần như hoàn hảo. Và trước khi bóng tối kịp buông xuống, cậu đã thuộc lòng tên của vô số món đồ trong túp lều.

Đến giờ đi ngủ, rắc rối mới thực sự bắt đầu. Mowgli nhất quyết không chịu chợp mắt dưới một thứ trông chẳng khác gì cái bẫy báo như cái túp lều này. Khi họ vừa cài then đóng cửa, cậu đã nhanh như chớp chui tọt qua cửa sổ. "Cứ để nó làm theo ý nó," chồng Messua thở dài khuyên can. "Nên nhớ rằng có lẽ từ trước đến nay nó chưa bao giờ ngủ trên giường. Nếu nó thật sự được đấng thiêng liêng gửi đến để thế chỗ con trai chúng ta, nó sẽ không bỏ chạy đâu."

Thế là, Mowgli khoan khoái vươn mình nằm ườn trên đám cỏ dài sạch sẽ nơi rìa cánh đồng. Nhưng trước khi cậu kịp nhắm mắt, một chiếc mũi xám mềm mại đã êm ái huých vào dưới cằm cậu.

"Phù!" Sói Xám anh khịt mũi (đây là con sói lớn nhất trong bầy con của Sói Mẹ). "Đây quả là một phần thưởng rẻ mạt cho việc bám theo em suốt hai mươi dặm đường dài. Em sực nức mùi khói củi và mùi gia súc-hoàn toàn rặc một mùi con người rồi. Dậy đi, em trai; anh mang tin tức đến đây."

{0119}

"Dậy đi, em trai; anh mang tin tức đến đây."

"Mọi người trong rừng vẫn bình an chứ?" Mowgli choàng tay ôm lấy Sói Xám anh, âu yếm hỏi.

"Tất cả đều ổn thỏa, ngoại trừ những con sói bị bỏng vì Bông Hoa Đỏ2. Bây giờ, nghe cho kỹ đây. Shere Khan đã bỏ đi săn ở một nơi rất xa cho đến khi bộ lông của hắn mọc lại, vì hắn đã bị sém lông vô cùng thê thảm. Khi trở lại, hắn thề độc rằng sẽ vùi xương em dưới đáy sông Waingunga."

"Chuyện đó có hai mặt của nó. Em cũng đã buông lời thề nguyện của riêng mình. Nhưng dù sao tin tức luôn là thứ đáng giá. Tối nay em rất mệt,-rất mệt mỏi với những thứ mới mẻ này, anh Sói Xám ạ,-nhưng hãy luôn mang tin tức đến cho em nhé."

"Em sẽ không quên rằng mình là một con sói chứ? Con người sẽ không làm em lãng quên cội nguồn chứ?" Sói Xám anh lo lắng gặng hỏi.

"Không bao giờ. Em sẽ luôn nhớ rằng em yêu anh và tất cả mọi người trong hang ổ của chúng ta. Nhưng em cũng sẽ mãi khắc cốt ghi tâm rằng em đã bị Bầy Sói xua đuổi."

"Và rằng em có thể sẽ bị một bầy khác xua đuổi lần nữa. Con người chỉ là con người, em trai ạ, và lời nói của chúng rỗng tuếch như tiếng ếch nhái kêu ộp oạp ngoài ao. Lần tới khi xuống đây, anh sẽ đợi em trong rặng tre ở rìa bãi chăn thả."

Suốt ba tháng sau đêm đó, Mowgli hầu như không bước chân ra khỏi cổng làng. Cậu quá bận rộn học hỏi những lề thói và phong tục của con người. Trước tiên, cậu phải làm quen với việc quấn một mảnh vải quanh người, thứ khiến cậu vô cùng bức bối. Tiếp đến là bài học về tiền bạc - một thứ cậu hoàn toàn mù tịt, và rồi cả chuyện cày cấy mà cậu chẳng thấy lấy một mảy may ích lợi. Chưa hết, lũ trẻ trong làng còn thường xuyên chọc tức cậu. May mắn thay, Luật Rừng đã rèn cho cậu sự điềm tĩnh. Ở chốn rừng sâu, cuộc sống và miếng ăn đều phụ thuộc vào một cái đầu lạnh. Mỗi khi lũ trẻ đem cậu ra trêu chọc vì không chịu tham gia các trò chơi, không biết thả diều, hay thậm chí chỉ vì cậu phát âm sai một từ nào đó, cơn giận trong cậu lại chực trào. Chỉ có ý nghĩ rằng việc tước đi sinh mạng của mấy đứa nhóc trần truồng là một hành động hèn hạ mới đủ sức ngăn cậu túm lấy chúng và bẻ gãy làm đôi.

Bản thân cậu chẳng hề mường tượng được sức mạnh phi thường của chính mình. Nếu ở trong rừng rậm, cậu tự thấy mình nhỏ bé và yếu ớt khi đứng cạnh muôn loài dã thú; thì tại ngôi làng này, người ta lại đồn thổi rằng cậu khỏe như một chú bò tót.

Mặt khác, Mowgli cũng chẳng mảy may để tâm đến ranh giới giai cấp giữa con người với con người. Một lần nọ, khi con lừa của gã thợ gốm trượt chân ngã xuống hố đất sét, Mowgli đã nắm lấy đuôi kéo tuột nó lên. Cậu còn tiện tay giúp xếp lại mấy cái chậu đất để họ chuẩn bị mang ra chợ Khanhiwara. Chuyện đó chẳng khác nào một cơn chấn động ở làng, bởi thợ gốm vốn thuộc tầng lớp thấp hèn3, và con lừa của gã thì còn bị xem nhẹ hơn cả thế. Khi thầy tu lên tiếng mắng mỏ, Mowgli liền dọa sẽ nhấc bổng ông ta đặt lên lưng lừa. Tức tối, thầy tu đi tìm chồng của Messua, khăng khăng bảo rằng tốt nhất nên bắt cậu đi làm việc ngay lập tức. Cùng lúc đó, trưởng làng cũng chỉ định Mowgli từ ngày mai phải gia nhập đội chăn trâu, lùa chúng ra đồng gặm cỏ. Khỏi phải nói, chẳng ai vui mừng trước quyết định này bằng Mowgli.

Đêm hôm đó, với tư cách là một người đã được phân công làm việc cho làng, cậu hãnh diện bước đến chỗ tụ tập quen thuộc trên nền gạch dưới gốc cây sung cổ thụ. Nơi đây giống như một câu lạc bộ thu nhỏ, tụ họp những gương mặt cộm cán: trưởng làng, gác đêm, gã thợ cạo - những kẻ nắm rõ mọi ngóc ngách tin đồn trong làng. Nổi bật nhất là lão Buldeo, tay thợ săn luôn khư khư khẩu súng hỏa mai Tower4 trên tay. Bọn họ quây quần và rít thuốc liên hồi. Trên những cành cây cao, bầy khỉ ngồi đu đưa trò chuyện. Phía dưới nền gạch có một cái lỗ nhỏ của con rắn hổ mang thần thánh, đêm nào cũng được cúng một đĩa sữa tươi5. Các cụ già râm ran kể chuyện, thỉnh thoảng lại hít một hơi dài từ chiếc điếu cày (huqas)6 cỡ bự cho đến tận khuya.

Họ thêu dệt nên bao truyền thuyết về thần linh, con người và cả ma quỷ. Nhưng hấp dẫn hơn cả phải là những câu chuyện của lão Buldeo về tập tính của lũ dã thú trong rừng. Lão kể hăng say đến mức đám trẻ con ngồi ngoài rìa vòng tròn phải trố cả mắt, há hốc miệng ra mà nghe. Phân nửa những câu chuyện ấy xoay quanh các loài động vật, bởi khu rừng rậm vốn luôn sừng sững ngay trước cổng làng. Hươu nai và lợn rừng thi nhau kéo đến đào bới mùa màng. Thậm chí thỉnh thoảng, vào lúc chạng vạng, một con hổ khát máu lại ngang nhiên tha đi một người đàn ông ngay trong tầm mắt của đám lính gác cổng.

{5152}

Câu lạc bộ của làng

Riêng Mowgli, kẻ vốn hiểu rõ mọi ngóc ngách của rừng thẳm hơn bất cứ ai, đã phải lấy tay che mặt để giấu đi nụ cười mỉm. Trong khi lão Buldeo oai vệ vắt ngang khẩu súng hỏa mai trên đùi, huyên thuyên hết câu chuyện ly kỳ này đến truyền thuyết hoang đường khác, đôi vai của Mowgli cứ thế rung lên từng chặp vì cố nín cười.

Lúc này, Buldeo đang say sưa giải thích lý do tại sao con hổ vồ mất con trai của Messua thực chất là một con hổ ma. Lão quả quyết rằng thân xác nó đã bị ám bởi linh hồn của một gã cho vay nặng lãi độc ác, vừa qua đời vài năm trước.

"Và ta biết mười mươi điều này là sự thật," lão nhấn giọng, "bởi vì Purun Dass luôn bước đi khập khiễng sau khi ăn một đòn chí mạng trong vụ bạo loạn đốt sổ nợ. Trùng hợp thay, con hổ ta đang nói đến cũng thọt một chân, cứ nhìn những dấu chân không đều nhau của nó thì rõ!"

"Đúng, đúng thế, chắc chắn là vậy rồi," mấy lão già râu xám gật gù đồng tình.

{0125}

"Tất cả những câu chuyện này chỉ là những mạng nhện và những lời nói mớ sao?" Mowgli nói.

"Vậy ra tất cả những câu chuyện này chỉ là ba mớ mạng nhện và vài lời nói mớ thôi sao?" Mowgli lên tiếng. "Con hổ đó đi khập khiễng vì nó đã bị què bẩm sinh, chuyện đó thì ai cũng biết cả. Còn cái trò lảm nhảm về linh hồn của gã cho vay nặng lãi trú ngụ trong cơ thể một con thú vốn dĩ còn chẳng có nổi chút lòng can đảm của loài chó hoang, đúng là lời trẻ con."

Buldeo sững sờ cứng họng trong giây lát, còn trưởng làng thì cứ trân trân nhìn cậu chằm chằm.

"Ô hô! Hóa ra là thằng nhãi rừng xanh đấy à?" Buldeo cất giọng mỉa mai. "Nếu thằng nhãi đã lanh lợi đến thế, tốt hơn hết hãy lột bộ da của nó mang đến Khanhiwara, vì Chính phủ đang treo thưởng tới một trăm rupee7 cho cái mạng của nó đấy. Hoặc tốt hơn nữa, lo mà ngậm miệng lại khi những người lớn tuổi đang nói chuyện."

Mowgli đứng phắt dậy chuẩn bị rời đi. "Cả buổi tối ta đã nằm đây vểnh tai nghe," cậu ngoái đầu lại nói lớn, "và ngoại trừ một hoặc hai chi tiết cỏn con, lão Buldeo chưa hề hé răng nửa lời đúng sự thật về khu rừng nằm ngay trước cửa nhà lão. Vậy thì cớ làm sao ta phải tin vào mấy câu chuyện quỷ ma, thần thánh hay yêu tinh mà lão khoác lác rằng lão đã tận mắt thấy?"

"Đã đến lúc thằng bé đó nên bị tống đi chăn gia súc rồi đấy," trưởng làng cau mày gắt gỏng, trong khi Buldeo cứ phì phò khịt mũi, giận sôi máu trước sự xấc xược của Mowgli.

Theo phong tục của hầu hết các ngôi làng ở Ấn Độ, cứ mỗi buổi tinh mơ, người ta lại giao phó bầy gia súc và đàn trâu mộng cho vài cậu bé lùa ra đồng cỏ gặm non, rồi lại lững thững lùa về khi hoàng hôn buông xuống. Thật kỳ lạ khi những con vật khổng lồ, dư sức giẫm nát một gã da trắng vạm vỡ, lại ngoan ngoãn cúi đầu để những đứa trẻ xấp xỉ ngang mũi chúng quát tháo, thúc gậy hay tùy ý bắt nạt. Chừng nào bọn trẻ còn quẩn quanh bên đàn gia súc, chúng sẽ luôn được che chở an toàn, bởi đến cả loài hổ hung hãn nhất cũng chẳng dại dột chọc vào một bầy trâu mộng. Thế nhưng, chỉ cần bọn trẻ tách đoàn đi hái hoa hay mải mê đuổi bắt một con thằn lằn, án mạng có thể chực chờ cướp chúng đi bất cứ lúc nào. Mowgli ngạo nghễ vắt vẻo trên lưng Rama - con bò đực thủ lĩnh to lớn nhất, thong dong rẽ lối qua những con đường làng hẹp vào lúc bình minh. Đằng sau cậu, bầy trâu màu xanh xám với những cặp sừng dài uốn ngược đầy uy dũng và đôi mắt vằn lên vẻ hoang dại, lầm lỳ bước ra khỏi chuồng. Chúng ngoan ngoãn bám gót Mowgli như một đạo quân tuân lệnh tướng. Và dĩ nhiên, cậu cũng không quên thị uy để lũ nhóc đi cùng hiểu rõ ai mới thực sự là kẻ nắm quyền thống soái. Mowgli quất vút thanh tre dài, nhẵn thín vào hông bầy trâu để ra hiệu, dõng dạc sai Kamya - một cậu bé trong nhóm - hãy tự lo liệu đàn bò của mình, còn cậu thì tiếp tục song hành cùng bầy trâu mộng, cẩn trọng giữ mình không tách rời khỏi sự bảo vệ của hàng sừng giáo mác.

Đồng cỏ ở Ấn Độ hoang vu mọc đầy đá tảng cùng những bụi gai góc sần sùi, điểm xuyết bằng những búi cỏ lơ thơ và vô số khe suối cạn - nơi những bầy gia súc khổng lồ có thể tản mát và dễ dàng chìm lấp vào cảnh vật. Bọn trâu mộng vốn luôn chuộng nấn ná quanh những vũng nước đục ngầu hay các bãi sình lầy, nơi chúng lười biếng thả mình lăn lộn hoặc nằm phơi sương hóng nắng trong lớp bùn ấm sực ròng rã suốt nhiều giờ đồng hồ. Mowgli ung dung lùa cả bầy tiến về phía rìa đồng bằng, nơi dòng sông Waingunga hiền hòa uốn mình thoát khỏi thâm u rừng thẳm. Đoạn, cậu thoăn thoắt tuột khỏi cổ Rama, chạy men theo lối mòn đến một khóm tre rậm rạp và bắt gặp Sói Xám anh ở đó. "Chà," Sói Xám anh cất lời, "anh đã túc trực ở đây ròng rã bao ngày rồi. Việc chăn dắt bầy gia súc này rốt cuộc là có ý đồ gì thế?"

"Đó là một mệnh lệnh," Mowgli đáp lời. "Em tạm thời phải sắm vai một gã chăn bò cho làng trong một khoảng thời gian. Có động tĩnh gì của Shere Khan chưa anh?"

"Hắn đã mò lại vùng này, và ẩn mình rình rập đợi em ròng rã suốt một thời gian dài. Hiện giờ thì hắn lại rời đi mất rồi, bởi con mồi quanh đây đang ngày một khan hiếm. Nhưng thâm tâm hắn vẫn luôn nung nấu ý định lấy mạng em."

"Tốt lắm," Mowgli gật gù. "Chừng nào hắn chưa xuất hiện, anh hoặc một trong bốn anh em hãy cứ ngự trên phiến đá đằng kia nhé, cốt để em có thể nhìn thấy tín hiệu mỗi khi rời khỏi làng. Bất cứ khi nào hắn lảng vảng quay lại, hãy nấp ở khe núi cạnh gốc cây dhâk giữa đồng bằng để chờ em. Chúng ta không dại gì tự dâng mình nộp mạng cho hàm răng của Shere Khan."

Dặn dò xong, Mowgli chọn cho mình một tán cây rợp bóng, ngả lưng đánh một giấc ngon lành mặc cho bầy trâu mộng nhẩn nha gặm cỏ xung quanh. Chăn gia súc ở xứ Ấn này quả thực là một trong những thứ việc nhàn hạ và lười biếng bậc nhất thế gian. Đàn vật nuôi cứ lững thững tiến bước, chậm rãi nhai lại, mỏi thì ngả lưng nghỉ ngơi, rồi lại lóc cóc di chuyển, đến mức chúng lười nhác chẳng buồn cất một tiếng rống. Lũ gia súc chỉ đôi lúc càu nhàu vài tiếng khô khốc, riêng bọn trâu mộng thì cấm có hé răng lấy một lời. Chúng cứ im ỉm lần lượt trầm mình xuống vũng lầy, dầm mình trong lớp bùn đặc quánh đến mức chỉ thò mỗi phần mũi cùng đôi mắt xanh biếc mở trừng trừng vô hồn trên mặt nước. Cứ thế, chúng nằm im lìm bất động hệt như những khúc gỗ chết. Mặt trời thiêu đốt khiến vạn vật ảo ảnh như đang nhảy múa trên những phiến đá nung. Lũ trẻ chăn bò đôi khi nghe thấy một tràng huýt sáo lanh lảnh vút lên từ một con diều hâu (chưa bao giờ nhiều hơn một con) mờ ảo tít tắp lưng chừng trời. Chúng thừa hiểu quy luật nghiệt ngã của vùng đất này: nếu một đứa trẻ hoặc một con bò gục ngã, con diều hâu ấy sẽ lao vút xuống như mũi tên. Tiếp đó, con diều hâu thứ hai cách đó hàng dặm sẽ tinh mắt bắt được tín hiệu mà nương gió bay theo, rồi con thứ ba, thứ tư nối tiếp nhau. Và gần như ngay trước khi cái chết kịp hoàn tất nghi thức cuối cùng, hàng chục bóng đen đói khát đã từ cõi hư vô tụ hội lại, đặc nghẹt cả góc trời. Sau đó, bọn trẻ cứ ngủ thiếp đi, rồi lại bừng tỉnh, dở dở dang dang lặp lại vòng tuần hoàn lười nhác. Chúng đan những chiếc rổ tẻ nhạt bằng cỏ khô để nhốt châu chấu; hoặc tóm lấy hai con bọ ngựa để ép chúng xâu xé lẫn nhau; hoặc cặm cụi xâu chuỗi vòng lóng lánh từ những hạt dẻ rừng đỏ đen. Có khi chúng lại ngẩn ngơ vắt vẻo xem thằn lằn phơi bụng trên tảng đá, hay say sưa dán mắt vào một con rắn đang mải mê săn ếch mấp mé vũng bùn. Rồi chúng lẩm nhẩm hát những trường ca dông dài bất tận, buông lơi những âm điệu luyến láy ma mị của dân bản xứ khi bài hát tàn hơi. Mỗi một ngày trôi qua với chúng dường như còn lê thê hơn cả một đời người. Lắm lúc, bọn trẻ đắp nên những lâu đài đất, nặn lấy hình nộm người, ngựa và trâu mộng từ bùn lầy. Chúng cắm những thân sậy khô vào tay đám lính bùn, vờ như mình là những đấng minh quân đang điều binh khiển tướng, hoặc sắm vai những vị thần linh uy quyền đang thụ hưởng lễ bái. Khi bóng tối chực chờ buông xuống, bọn trẻ mới cất tiếng gọi đàn. Bầy trâu mộng nặng nề trồi lên khỏi lớp bùn keo sệt, tạo ra những âm thanh bóp nghẹt ục ục vang lên liên tiếp tựa như những loạt súng giòn giã. Sau cùng, tất cả lầm lũi nối đuôi nhau rẽ qua thảm đồng bằng xám xịt, tìm về nơi những đốm lửa làng quê đang le lói vẫy gọi.

Ngày nối ngày, Mowgli lùa bầy trâu mộng ra vũng bùn quen thuộc. Và cũng ngày nối ngày, cậu luôn dõi thấy bóng dáng vững chãi của Sói Xám anh in hằn trên thảm cỏ, cách xa một dặm rưỡi bên kia đồng bằng (một dấu hiệu bình an cho thấy Shere Khan vẫn chưa mò về). Giữa dòng thời gian uể oải ấy, cậu lại thả mình trên thảm cỏ non, vểnh tai lắng nghe mọi thanh âm nhịp đập của sự sống xung quanh, mơ màng hồi tưởng về những tháng ngày tự do tung hoành giữa chốn rừng sâu. Chắc hẳn, nếu con ác thú Shere Khan vô tình khập khiễng lê cái chân què quặt dạo bước qua những vạt rừng dọc bờ Waingunga, thì đôi tai nhạy bén của Mowgli đã tóm gọn được âm thanh thô lậu ấy giữa bầu không khí tĩnh mịch, miên man của những buổi sớm mai.

{0130}

Thế rồi một ngày kia, bóng dáng Sói Xám anh đã bặt tăm khỏi trạm gác tín hiệu. Mowgli khẽ mỉm cười, điềm nhiên lùa đàn trâu tiến thẳng về phía khe núi rợp bóng cây dhâk8, nơi những chùm hoa đỏ pha vàng đang rực rỡ bung nở. Ngay tại đó, Sói Xám anh đã chực sẵn, từng sợi lông xám tro trên lưng tủa ra dựng ngược đầy căng thẳng.

"Hắn đã nấp kín hơi lặng tiếng ròng rã suốt một tháng trời cốt để làm em lơi lỏng cảnh giác. Đêm qua, hắn cùng với Tabaqui đã vượt qua những rặng núi sừng sững, sục sôi nóng lòng lần theo dấu vết của em," Sói thở hổn hển nhả từng chữ.

Mowgli khẽ chau mày. "Em chẳng sợ gì gã Shere Khan đó, nhưng con Tabaqui thì quả thật quá sức xảo quyệt."

"Đừng lo," Sói Xám anh khẽ liếm mép tặc lưỡi. "Anh đã chạm mặt Tabaqui ngay lúc rạng đông. Giờ này chắc hẳn hắn đang bận khoe khoang cái sự khôn ranh vặt vãnh của mình dưới suối vàng cho mấy con diều hâu nghe rồi, nhưng trước khi bị anh bẻ gãy sống lưng, hắn đã kịp phun ra sạch sành sanh mọi thứ. Kế hoạch của Shere Khan là phục kích em ngay tại cổng làng đêm nay-mục tiêu duy nhất chỉ có em và không một ai khác. Hiện giờ, con ác thú đó đang ngả mình say giấc trong lòng khe núi khô hạn, nơi dòng Waingunga đã cạn trơ đáy."

"Vậy hôm nay hắn đã nhét gì vào bụng chưa, hay vẫn đang cất bước đi săn với cái dạ dày trống rỗng?" Mowgli dò hỏi gắt gao, bởi câu trả lời mang tính quyết định đến mạng sống của cậu lúc này.

"Hắn đã xé xác một con lợn rừng ngay lúc chạng vạng hừng đông,-và cũng nốc đẫy nước rồi. Em thừa biết mà, gã Shere Khan đó nào có chịu nhịn đói bao giờ, dẫu cho cơn khát máu trả thù có sục sôi đến đâu đi chăng nữa."

"Ôi! Gã ngốc, đồ ngốc nghếch! Hắn hành xử chẳng khác nào một con gấu con khờ khạo! Đã đánh chén no nê lại nốc đẫy nước, vậy mà hắn ngây thơ ảo tưởng rằng em sẽ kiên nhẫn đợi đến lúc hắn mở mắt tỉnh giấc ư! Bây giờ thì hắn đang nằm ườn ở góc nào? Giá như có mười người chúng ta ở đây, hẳn chúng ta đã có thể xông lên đè bẹp hắn ngay khi hắn còn đang say giấc. Lũ trâu mộng này sẽ không dễ gì phát động tấn công trừ phi chúng đánh hơi được mùi con cọp, mà ngặt nỗi em lại chẳng thông thuộc ngôn ngữ của chúng. Liệu chúng ta có thể vòng ra phía sau lưng để mượn sức gió lùa mùi của hắn về phía đàn trâu được không?"

"Hắn đã chịu khó bơi một chặng rất xa dọc theo dòng Waingunga hòng triệt tiêu con đường thả mùi ấy rồi," Sói Xám anh đáp.

"Em biết tỏng cái mánh này là do Tabaqui bày biện ra mà. Một mình bộ óc nông cạn của hắn thì đào đâu ra kế hoạch đó." Mowgli đứng ngậm ngón tay, cau mày suy tính. "Khe núi lớn Waingunga ư. Nó mở toang ra đồng bằng cách chỗ này chưa tới nửa dặm. Em có thể lùa bầy trâu mộng đánh một vòng qua bìa rừng, vòng lên tận đỉnh khe núi rồi giội thẳng xuống như thác lũ-nhưng ngặt nỗi, hắn sẽ dễ dàng lẩn trốn ra ngả dưới chân núi. Chúng ta phải khóa chặt lối thoát ấy. Sói Xám anh, anh có thể giúp em xẻ đàn trâu ra làm hai được không?"

"Chỉ mình anh thì e là không kham nổi-nhưng anh có dẫn theo một trợ thủ vô cùng thông thái." Sói Xám anh nói đoạn, phóng vụt đi rồi lặn mất tăm vào một miệng hố sâu. Chốc lát sau, một cái đầu khổng lồ xám bạc ngóc lên, một gương mặt quen thuộc mà Mowgli đã khắc sâu trong tâm trí, và bầu không khí oi bức bỗng chốc bị xé toạc bởi âm thanh thê lương và rợn ngợp nhất chốn rừng xanh-tiếng tru gọi đàn của loài sói mỗi độ xuất binh săn mồi, vang vọng ngay giữa ban ngày.

"Bác Akela! Bác Akela ơi!" Mowgli reo lên, vỗ tay mừng rỡ. "Cháu biết ngay là bác sẽ chẳng bao giờ quên cháu mà. Chúng ta có một việc hệ trọng cần phải làm ngay. Bác Akela, xin bác hãy xẻ đàn trâu ra làm hai nửa. Hãy dồn những con bò cái cùng bầy bê con trụ lại với nhau, còn đám bò đực và trâu cày thì gom riêng về một mối."

Nhận lệnh, hai con sói thoăn thoắt phi nước đại, cắt những đường đan chéo xé toạc đội hình bầy trâu. Đám gia súc nặng nề khịt mũi thị uy, hất ngược cặp sừng sắc nhọn lên trời, bắt đầu tách làm đôi. Ở mạn bên này, những con trâu cái dang rộng thân mình bảo vệ đám bê con nằm lọt thỏm ở giữa. Chúng trừng trừng vằn lên đôi mắt máu, móng guốc liên tục cào xới tung đất đá. Chỉ cần một bóng sói sẩy chân đứng sững lại, lập tức chúng sẽ lao đến như bão lốc, giẫm đạp kẻ thù thành đống thịt băm. Ở mạn bên kia, đám bò đực trưởng thành lẫn những con bò tơ hung hãn khịt mũi và dậm chân ầm ĩ. Ấy vậy mà, dẫu khoác lên mình vẻ ngoài bệ vệ và hung tợn hơn, cánh bò đực lại ít mang đến mối đe dọa thực sự, bởi chúng chẳng mang bản năng của kẻ bảo vệ bầy con. Quả thật, ngay cả sáu gã chăn bò thạo việc nhất tụm lại cũng chẳng tài nào tách đàn trâu mộng gọn ghẽ, điêu luyện đến nhường này.

"Giờ thì lệnh gì tiếp đây!" Akela vừa hổn hển lấy hơi vừa gắt. "Chúng đang vùng vẫy tìm cách nhập lại làm một kìa."

Mowgli thoăn thoắt đu mình trượt lên lưng Rama. "Bác Akela, hãy ép bầy bò đực rẽ sang bên trái. Sói Xám anh, khi chúng em vừa rời khỏi điểm này, anh lập tức cầm chân bầy trâu cái gom về một mối, rồi lùa tất cả dồn thẳng vào lối đi dưới chân khe núi nhé."

"Lùa cự ly bao xa?" Sói Xám anh vừa đớp vội ngụm không khí vừa thở dốc gạn hỏi.

"Cứ lùa cho đến khi hai bên vách đá dựng đứng vượt quá tầm bật nhảy của Shere Khan!" Mowgli gào lớn. "Giữ rịt chúng ở vị trí đó cho đến khi đội của em từ đỉnh tràn xuống." Tiếng sủa vang dội đầy uy lực của Akela lập tức ép lũ bò đực tản ra. Cùng lúc, Sói Xám anh chồm lên trấn giữ ngay trước mũi bầy trâu cái. Đám trâu điên cuồng lao sầm sập về phía con sói mồi. Nó điệu nghệ phóng vụt ngay sát trước hàng sừng giáo mác, dẫn dụ bầy thú cuồng nộ lao thẳng đến chân khe núi. Phía bên kia, Akela cũng thoăn thoắt lùa bầy bò đực rẽ ngoặt tít tắp sang cánh trái.

"Xuất sắc! Chèn thêm một đợt tấn công nữa là đội hình chúng sẽ bắt đầu ổn định thôi. Cẩn trọng nhé, ngay lúc này-bác phải thật cẩn trọng đấy, bác Akela. Cắn trượt một nhát thôi là lũ bò đực điên cuồng sẽ húc tung bác lên trời. Hujah! Cái trò lùa bầy này xem ra còn rồ dại hơn cả mấy cuộc đi săn hươu đen nữa. Bác có tưởng tượng nổi đám vật kềnh càng này lại có thể di chuyển với tốc độ sấm sét thế không?" Mowgli hét gọi vang rừng.

"Ta đã-đã từng đi săn lũ này dạo trước rồi," Akela thở phì phò trong màn bụi mịt mù. "Cháu bảo ta có nên lùa tuột chúng vào trong rừng thẳm luôn không?"

"Đúng thế! Bẻ lái đi. Ngoặt hướng thật gấp vào! Rama đang phát điên lên rồi. Ôi, giá như lúc này cháu có thể làm cho nó hiểu cháu đang cần gì ở nó thì tốt biết mấy."

Đàn bò đực vội vã bẻ lái đổi hướng, lần này chúng quặt sang cánh phải, hầm hập lao rầm rập xuyên thủng những lùm cây bụi rậm rạp. Cùng lúc ấy, đám trẻ chăn bò từ khoảng cách nửa dặm ngỡ ngàng chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng. Bọn chúng vắt chân lên cổ bôn tẩu về làng nhanh nhất có thể, vừa chạy vừa la ó thất thanh hô hoán rằng bầy trâu mộng đã hóa điên và bỏ chạy tán loạn.

Kế hoạch của Mowgli thật ra vô cùng đơn giản. Cậu chỉ định đi một vòng lớn ngược lên lưng chừng dốc thẳng tới đầu khe núi, rồi lùa bầy trâu mộng ào ạt lao xuống, kẹp chặt gã Shere Khan vào giữa hai gọng kìm của lũ bò đực và bò cái. Cậu thừa biết một khi đã ních đầy bụng thịt và nước, Shere Khan chẳng còn sức đâu mà kháng cự, càng không thể leo ngược lên vách núi dựng đứng. Lúc này, Mowgli cất giọng trầm êm dỗ dành bầy trâu, trong khi Akela lùi tuốt lại phía sau, thi thoảng mới khẽ gầm gừ vài tiếng để hối thúc nhóm chốt đuôi. Đó là một vòng cung dài, rất dài, bởi họ không muốn mạo hiểm đến quá gần và làm kinh động Shere Khan. Cuối cùng, Mowgli cũng tập hợp xong bầy trâu vẫn còn đang ngơ ngác ngay trên thảm cỏ dốc đứng chĩa thẳng xuống lòng khe núi. Từ độ cao ấy, phóng tầm mắt xuyên qua những tán cây, người ta có thể bao quát toàn bộ vùng đồng bằng trải rộng bên dưới. Thế nhưng, mục tiêu duy nhất trong mắt Mowgli lúc này chỉ là những vách đá chẻ dọc của khe núi. Cậu nhếch mép hài lòng, bởi chúng gần như dốc đứng tắp lự, vách đá trơn tuột chỉ điểm xuyết vài sợi dây leo rủ rượi, tuyệt nhiên không chừa lại một kẽ hở nào cho con hổ bấu víu thoát thân.

"Cho chúng nghỉ một lát, bác Akela," cậu lên tiếng, khẽ giơ tay làm hiệu. "Lũ trâu vẫn chưa đánh hơi thấy mùi gã đâu. Cứ để chúng lấy hơi đi đã. Cháu phải đánh tiếng cho Shere Khan biết ai đang tới rước gã mới được. Bọn mình đã nhốt gã vào rọ rồi."

Cậu khum hai bàn tay quanh miệng rồi cất tiếng hú vang vọng xuống lòng khe-âm thanh âm u hệt như vọng vào một đường hầm sâu hun hút-dội ầm ập từ vách đá này sang vách đá khác.

Một lúc lâu sau, vọng lại từ dưới sâu là tiếng gầm gừ ngái ngủ, uể oải đầy lười biếng của một con hổ vừa đánh chén no nê.

"Kẻ nào gọi?" Shere Khan gầm lên hạch sách. Ngay tức khắc, một con công mang bộ lông rực rỡ vụt bay lên khỏi miệng khe, ré lên đầy hoảng loạn.

"Ta, Mowgli đây! Đồ trộm cắp gia súc, đến lúc mi phải trình diện ở Tảng đá Hội đồng rồi! Tràn xuống-lùa chúng xuống đi, bác Akela! Lao xuống, Rama, xuống đi!"

Bầy trâu khựng lại trong tích tắc nơi mép dốc, nhưng ngay khi Akela cất lên tiếng tru săn mồi lảnh lót ngân dài, chúng tức tốc nối đuôi nhau ầm ầm lao thẳng xuống. Cảnh tượng hệt như những con tàu khổng lồ vượt thác dữ, hất tung đất đá mịt mù tứ phía. Một khi dòng thác thịt xương ấy đã trào tuôn, tuyệt đối không có cơ hội nào để phanh lại. Thậm chí trước khi kịp đặt móng xuống đáy khe, Rama đã đánh hơi thấy mùi Shere Khan và rống lên điên cuồng.

{5171}

Shere Khan trong rừng thẳm.

"Ha! Ha!" Mowgli ngồi trên lưng Rama gào lên. "Phen này thì mi biết tay!" Dòng thác đen ngòm cuồn cuộn những cặp sừng nhọn hoắt, những cái mõm sùi bọt mép và hàng loạt đôi mắt đỏ ngầu trừng trừng sục sôi lao dốc như cơn lũ quét cuộn đá tảng. Vài con trâu yếu ớt bị chèn ép hất tung sang hai bên, cà mình vào vách đá làm đứt phăng lớp dây leo rủ. Chúng thừa hiểu nhiệm vụ của mình-đó là sức mạnh càn quét kinh hoàng của bầy trâu mộng mà chưa từng có con hổ nào dám ảo tưởng có thể chống đỡ nổi. Shere Khan nghe tiếng sấm rền của móng guốc, vội vàng lồm cồm bò dậy rồi ục ịch tháo chạy xuống sâu lòng khe. Hắn láo liên đảo mắt tìm đường lẩn trốn, nhưng vách núi đôi bên dựng đứng lạnh lùng, khiến hắn đành tuyệt vọng cắm đầu chạy thục mạng. Cơ thể nặng nề vì nhồi nhét đầy thịt và nước, hắn sẵn sàng làm mọi thứ hèn nhát nhất miễn là không phải nghênh chiến. Bầy trâu lội ào qua vũng nước hắn vừa ngâm mình, rống lên hung hãn đến mức cả hẻm núi hẹp như muốn vỡ tung. Mowgli chợt nghe thấy tiếng rống đáp trả từ phía chân khe, và thấy Shere Khan hốt hoảng quay ngoắt lại. Con hổ xảo quyệt hiểu rằng nếu bị dồn vào bước đường cùng, đối mặt với lũ bò đực bao giờ cũng dễ thở hơn là đụng độ đám bò cái đang phát điên bảo vệ bê con. Thế rồi, Rama trượt chân loạng choạng, dẫm phịch lên một khối gì đó mềm nhũn. Với bầy trâu đực bám gót sát sao, nó húc sầm vào bầy trâu cái đi ngược lại. Lực va đập kinh khủng đến mức những con trâu yếu thế bị hất bổng lên không trung. Cú va chạm rầm rĩ xô đẩy cả hai bầy trâu bung ra bãi đồng bằng rộng, điên cuồng cào đất, húc nhau và khịt mũi đầy bạo lực. Mowgli nhanh nhẹn chớp lấy thời cơ, vọt khỏi lưng Rama, liên tục vung gậy quất vụt sang trái, sang phải.

"Nhanh lên, bác Akela! Tách chúng ra! Phân tán ngay, kẻo chúng lại húc nhau bẹp ruột bây giờ! Lùa chúng tản ra đi, bác! Hai, Rama! Hai, hai, hai! Các con ngoan của ta. Nhẹ nhàng thôi, dịu lại nào! Xong xuôi cả rồi."

Akela cùng Sói Xám anh xông xáo chạy tới chạy lui, cắn nhẹ vào chân đàn trâu để lùa chúng. Dù lũ trâu đang hăng máu xoay vòng định húc ngược lên khe núi một lần nữa, Mowgli vẫn khéo léo bẻ lái ép Rama chuyển hướng, kéo theo cả đàn rầm rập tiến về phía những vũng bùn lầy râm mát.

Shere Khan chẳng cần bị giẫm đạp thêm một cú nào nữa. Hắn đã chết nhe răng, và lũ diều hâu đánh hơi thấy tử khí đang lũ lượt bay đến rỉa xác hắn.

"Các anh em ạ, quả là một cái chết hèn mọn như loài chó," Mowgli mỉm cười nói, tay miết dọc vỏ con dao cậu luôn đeo trên cổ từ ngày về sống với loài người. "Hắn đâu bao giờ dám sòng phẳng nghênh chiến. Bộ da của hắn mà vắt trên Tảng đá Hội đồng thì oai vệ phải biết. Nào, chúng ta phải đẩy nhanh tay lên thôi."

Một đứa trẻ lớn lên trong làng mạc con người có lẽ chẳng bao giờ dám mơ đến chuyện một mình lột da con hổ dài tới mười foot. Nhưng Mowgli thì khác. Cậu rành rẽ hơn bất cứ ai cách một bộ lông thú dính bám vào da thịt và thủ thuật để lột sạch nó ra sao. Dù vậy, đó vẫn là một công việc cực nhọc phi thường. Mowgli liên tục rạch, xé, và lầm bầm càu nhàu suốt một giờ đồng hồ, trong khi mấy anh em sói thè lưỡi thở hổn hển, thỉnh thoảng mới tiến đến phụ kéo theo lệnh của cậu. Lát sau, một bàn tay nặng trịch bất ngờ đặt vỗ lên vai cậu. Ngẩng lên nhìn, cậu thấy Buldeo đang hằm hằm đứng đó, tay lăm lăm khẩu súng hỏa mai Tower. Chẳng là đám trẻ chăn cừu đã chạy về báo mộng cho cả làng vụ bầy trâu nổi điên, khiến Buldeo tức lộn ruột mò ra tận đây, nhăm nhe trừng trị Mowgli vì tội chăn dắt bất cẩn. Vừa thoáng thấy bóng dáng con người, bầy sói đã tinh ranh lủi nhanh khỏi tầm mắt.

"Trò rồ dại gì đây?" Buldeo gắt lên đầy thị uy. "Tưởng rằng thằng nhãi mi có thể tự tay lột da một con hổ sao! Bầy trâu đã chà đạp nó ở chỗ nào? Chà, lại đúng là Con Hổ Què nữa chứ, mà cái đầu của nó trị giá tới một trăm rupee lận đấy. Thôi được rồi, thôi được rồi, ta sẽ xí xóa vụ mi làm bầy trâu chạy tán loạn. Và nếu mang bộ da này đến Khanhiwara lĩnh thưởng, có khi ta sẽ cho mi một rupee cũng nên." Lão hý hoáy lục lọi dải thắt lưng tìm viên đá lửa, rồi lom khom cúi xuống định thui nhẵn đám râu của Shere Khan. Theo thói thường, các tay thợ săn bản xứ hay thui râu hổ cốt để bóng ma của chúng không đeo bám ám ảnh mình.

"Hừm!" Mowgli tự lẩm bẩm khi ráng lột ngược lớp da ở chi trước. "Vậy ra lão sẽ đem tấm da này đến Khanhiwara lĩnh thưởng, và rồi có thể ném cho ta một rupee còm? Nhưng giờ, theo ý ta thì ta cần tấm da này cho riêng ta cơ. Này! Lão già, mang lửa tránh ra chỗ khác!"

"Mi dám xấc xược buông giọng đó với thợ săn trưởng của làng hả? Phút ăn may của mi và sự điên khùng của đám trâu mới giúp mi vớ được cái xác này thôi. Con hổ vừa ních đầy một bụng, nếu không giờ này nó đã vọt đi xa hai mươi dặm rồi. Lột một tấm da cho tử tế mi cũng chẳng biết cách, đồ ranh con cái bang! Vậy mà mi dám cấm đích thân ta, Buldeo đây, thui râu của nó ư? Mowgli, ta sẽ không cho mi nửa đồng anna9 nào từ khoản tiền thưởng đâu, đổi lại ta sẽ tẩn cho mi một trận nhừ tử. Xéo ngay khỏi cái xác!"

"Bởi mạng sống con Bò thiêng đã chuộc ta," Mowgli cáu kỉnh nói, tay vẫn mải miết rạch sâu vào phần vai hổ, "lẽ nào ta phải đứng phí cả buổi trưa để đôi co cãi vã với một con vượn già khú đế sao? Đây, bác Akela, gã này làm ta chướng mắt quá."

Buldeo, kẻ vừa mới khom người chồm lên đầu Shere Khan, bỗng chốc thấy mình bị quật ngã sóng soài trên bãi cỏ, bên trên là một con sói xám khổng lồ gầm gừ đè chặt xuống. Trong khi đó, Mowgli thản nhiên tiếp tục lột da con thú, cứ như thể cậu đang đơn độc một mình giữa toàn cõi Ấn Độ vắng lặng.

"Phả-ải," cậu rít lên qua kẽ răng. "Lão nói hoàn toàn đúng, Buldeo. Lão sẽ không bao giờ cho ta dù chỉ một đồng anna trong số tiền thưởng ấy. Giữa con hổ què này và ta tồn tại một mối thâm thù-một cuộc chiến đã mốc meo từ lâu lắm rồi, và-ta đã giành chiến thắng."

Nói cho công bằng với Buldeo, nếu lão trẻ lại độ mười tuổi, lão sẵn sàng liều mạng sòng phẳng với Akela nếu vô tình chạm trán con sói này giữa rừng sâu. Nhưng một con ác lang lại nhất mực tuân phục lệnh của thằng ranh con-kẻ dám mang mối thù ngang trái với cả loài hổ ăn thịt người-thì đây rõ ràng không phải loại súc sinh bình thường. "Là yêu thuật, loại hắc ám tà môn nhất!" Buldeo thầm nghĩ, lòng hoang mang tự hỏi liệu tấm bùa hộ mệnh trên cổ có đủ linh thiêng để cứu vớt đời lão hay không. Lão nằm bẹp dúm, im thin thít như xác chết, phấp phỏng đếm từng phút chờ xem đến khi nào thằng nhãi Mowgli kia hóa thành một con hổ vằn.

{0141}

Buldeo nằm bẹp dúm, im thin thít như xác chết, phấp phỏng đếm từng phút chờ xem đến khi nào thằng nhãi Mowgli kia hóa thành một con hổ.

"Maharaj! Đại Vương10," mãi một lúc sau, lão mới thều thào bằng cái giọng khàn đặc, đầy kinh hãi.

"Chuyện gì?" Mowgli hờ hững đáp, khẽ rúc rích cười thầm mà chẳng buồn ngoái đầu lại.

"Ta chỉ là một ông lão khốn khổ. Ta đâu có biết ngài không đơn thuần là một gã chăn bò. Ngài cho phép ta đứng lên và rời khỏi đây được không, hay đầy tớ của ngài định xé xác ta thành muôn mảnh?"

"Đi đi, và sự bình an sẽ đi cùng lão. Chỉ là, lần sau đừng dại gì mà chõ mũi vào con mồi của ta nữa. Thả lão đi, bác Akela."

Buldeo lê bước khập khiễng, đôn đáo tháo chạy về làng nhanh nhất có thể. Lão liên tục ngoái đầu dáo dác nhìn lại, chỉ sợ Mowgli sẽ thình lình biến thành một thứ dị hợm khủng khiếp nào đó. Vừa về đến làng, lão đã bù lu bù loa thêu dệt nên một câu chuyện rùng rợn về ma thuật, bùa ngải và phù thủy, khiến vị thầy tu cũng phải sa sầm nét mặt trầm ngâm.

Mowgli mải miết tiếp tục công việc lột xác con thú. Thế nhưng phải đến tận lúc bóng tối nhá nhem buông xuống, cậu cùng anh em bầy sói mới bóc tách được trọn vẹn tấm da sặc sỡ tuyệt đẹp ra khỏi thân xác vĩ đại kia.

{5179}

Sự trở về của bầy trâu.

"Bây giờ chúng ta phải đem giấu thứ này đi, và lùa bầy trâu về nhà thôi! Giúp cháu dồn chúng về nào, bác Akela."

Bầy trâu lững thững tụ về trong màn sương chạng vạng. Khi vừa đến gần làng, Mowgli chợt thấy ánh đèn leo lét; vẳng bên tai là tiếng tù và vỏ ốc cùng tiếng chuông đền thờ thi nhau ngân vang rền rĩ. Dường như phân nửa dân làng đang túc trực ở cổng để chờ cậu. "Hẳn là vì ta đã hạ sát Shere Khan," cậu tự nhủ thầm. Thế nhưng, một trận mưa đá bất thần rào rào trút xuống, rít lên rát sạt quanh tai cậu. Đám dân làng thi nhau gào thét: "Đồ phù thủy! Đồ quỷ dữ! Hiện thân của ác quỷ rừng xanh! Đi đi! Cút ngay khỏi đây, nếu không thầy tu sẽ bắt mày biến lại thành sói đấy. Bắn đi, Buldeo, bắn ngay đi!"

Khẩu súng hỏa mai Tower cũ kỹ nổ đánh đoàng một tiếng đanh gọn, kéo theo tiếng rống thảm thiết của một con nghé vừa trúng đạn.

"Lại là yêu thuật kìa!" đám dân làng la ó. "Nó còn biết đỡ cả đạn nữa. Buldeo, đó là con trâu của ông đấy nhé."

"Chuyện này là sao đây?" Mowgli đầy bối rối lên tiếng, giữa lúc gạch đá từ đâu bay tới tấp ngày một dồn dập.

"Những người anh em này của cháu, xem ra cũng chẳng khác Bầy Sói là bao," Akela điềm nhiên ngồi xuống và nhận xét. "Bác trộm nghĩ, nếu những viên đạn kia có chút ý nghĩa nào, thì hẳn là họ muốn tống cổ cháu đi."

"Sói! Sói con! Đi đi!" gã thầy tu thét lên, tay vung vẩy một nhánh cây tulsi thiêng liêng11.

"Lại giở trò nữa sao? Lần trước là vì ta là con người. Lần này lại vì ta là con sói. Chúng ta đi thôi, bác Akela."

Một người phụ nữ - chính là Messua - băng qua bầy trâu chạy ào tới, nức nở khóc: "Ôi, con trai tôi, con trai tôi! Họ bảo con là một tên phù thủy có thể tùy ý biến thành dã thú. Mẹ không tin đâu, nhưng hãy mau đi đi, nếu không họ sẽ giết con mất. Lão Buldeo một mực nói con là phù thủy, nhưng mẹ thừa biết con chỉ đang trả thù cho cái chết của Nathoo."

"Quay lại, Messua!" đám đông gào lên. "Quay lại ngay, nếu không chúng tôi sẽ ném đá bà đấy."

Mowgli bật cười một tiếng ngắn ngủi và chua chát, bởi một hòn đá vừa bay sượt trúng miệng cậu. "Bà chạy về đi, Messua. Đây cũng chỉ là một trong những câu chuyện hoang đường mà họ thường kháo nhau dưới gốc cây lớn lúc chạng vạng mà thôi. Ít ra tôi cũng đã trả lại mạng cho con trai bà. Tạm biệt bà; và hãy chạy cho nhanh lên, bởi tôi sẽ lùa bầy trâu vào nhanh hơn cả những viên gạch vỡ của họ đấy. Tôi không phải là phù thủy đâu, Messua. Tạm biệt!"

"Nào, một lần nữa, bác Akela," cậu hô lớn. "Lùa bầy trâu vào trong."

Bầy trâu vốn dĩ đang hừng hực nóng lòng muốn quay về làng. Chẳng đợi Akela phải cất tiếng sủa, chúng đã lao thẳng qua cổng như một cơn lốc dữ dội, dạt đám đông văng sang hai bên trái phải.

"Đếm cho kỹ vào nhé!" Mowgli khinh bỉnh thét lên. "Biết đâu ta lại ăn trộm một con trong số đó. Đếm cho thật kỹ, bởi ta sẽ chẳng thèm chăn gia súc cho các người nữa đâu. Tạm biệt các người, hỡi những đứa con của loài người, và hãy nhớ mà cảm tạ Messua vì ta đã không dẫn bầy sói của ta vào săn lùng các người khắp mọi nẻo đường."

Cậu quay gót bước đi cùng Sói Cô Độc. Ngước nhìn những vì sao lấp lánh trên cao, lòng cậu bỗng trào dâng niềm hạnh phúc. "Cháu sẽ không bao giờ phải ngủ trong những cái bẫy nữa đâu, bác Akela. Chúng ta hãy lấy bộ da của Shere Khan và rời khỏi đây thôi. Không, chúng ta sẽ không làm hại ngôi làng, vì Messua đã đối xử quá đỗi tốt với cháu."

{0146}

Khi mặt trời vươn lên từ phía đồng bằng, dân làng bàng hoàng nhìn thấy Mowgli đang chạy bước nhỏ lướt qua, với hai con sói theo sát gót.

Khi ánh trăng mọc lên trải khắp đồng bằng một màu trắng sữa, những người dân làng kinh hãi tột độ khi thấy Mowgli - đầu đội một bọc lớn, gót theo hai con sói - đang chạy những bước đều đặn theo điệu bộ của loài sói, cái điệu chạy như thể nuốt chửng những chặng đường dài tựa ngọn lửa cháy lan. Thế rồi, họ điên cuồng gõ chuông đền và thổi tù và ầm ĩ hơn bao giờ hết. Và Messua khóc nức nở, trong khi lão Buldeo vẫn cố sức thêu dệt thêm thắt cho câu chuyện về chuyến phiêu lưu trong rừng của mình, mãi cho đến khi lão kết thúc bằng lời khẳng định chắc nịch rằng con sói Akela đã đứng bằng hai chân sau và nói tiếng người.

Mặt trăng vừa lặn cũng là lúc Mowgli và hai con sói đặt chân đến ngọn đồi của Tảng đá Hội đồng, rồi họ dừng bước trước hang của Sói Mẹ.

"Bầy Người đã đuổi con đi rồi, Mẹ ơi," Mowgli cất tiếng gọi lớn, "nhưng con đã mang bộ da của Shere Khan về để giữ trọn lời hứa."

Sói Mẹ chậm rãi bước ra khỏi hang, theo sau là bầy sói con. Đôi mắt bà rực sáng khi nhìn thấy tấm da hổ.

"Mẹ đã nói với hắn vào cái ngày hôm đó, khi hắn chui cả đầu và vai vào trong cái hang này để săn lùng mạng sống của con, Ếch Con ạ - mẹ đã nói với hắn rằng kẻ đi săn cuối cùng sẽ trở thành kẻ bị săn. Con làm tốt lắm."

"Em trai, em làm tốt lắm," một giọng nói trầm ấm cất lên từ trong bụi rậm. "Bọn ta đã rất đỗi cô đơn giữa rừng thẳm khi vắng bóng em," dứt lời, Bagheera phóng đến cọ mình bên đôi chân trần của Mowgli. Họ cùng nhau trèo lên Tảng đá Hội đồng. Mowgli trải rộng bộ da lên tảng đá phẳng, nơi Akela vẫn thường ngự trị, ghim chặt nó xuống bằng bốn mảnh tre. Rồi Akela nằm đè lên trên, cất lên tiếng tru trầm hùng thuở xưa để triệu tập Hội đồng: "Nhìn kìa-nhìn cho kỹ, Hỡi Bầy Sói," hệt như cách ông đã từng gọi bầy khi Mowgli lần đầu tiên được đưa đến đây.

{0149}

Họ cùng nhau trèo lên Tảng đá Hội đồng, và Mowgli trải bộ da lên tảng đá phẳng.

Kể từ ngày Akela bị phế truất, Bầy Sói như rắn mất đầu, chúng cứ tự do đi săn và cấu xé lẫn nhau theo ý thích ngang tàng. Thế nhưng, chúng vẫn đáp lại tiếng gọi quen thuộc ngày nào; có con bước đi khập khiễng vì dính bẫy gãy chân, con thì lê lết vì vết đạn sượt, vài con mình mẩy ghẻ lở do phải cắn răng ăn thức ăn ôi thiu, và biết bao con khác đã vĩnh viễn không còn dấu vết. Dẫu vậy, tất cả những con còn sống sót đều lần mò đến Tảng đá Hội đồng. Tại đó, chúng nhìn thấy tấm da vằn vện của Shere Khan trải dài trên tảng đá, với những cái móng vuốt khổng lồ đu đưa ở tận cùng những chiếc chân trống rỗng. Chính ngay khoảnh khắc ấy, từ sâu thẳm trong cổ họng Mowgli trào dâng một khúc ca bất tận, và cậu thét vang bài hát, nhảy múa điên cuồng trên bộ da kêu lạo xạo, chân dậm nhịp mạnh bạo cho đến khi kiệt sức không còn hơi thở, trong khi Sói Xám anh và Akela ngân dài những tiếng tru bi tráng đan xen giữa các câu hát.

"Nhìn cho kỹ, Hỡi Bầy Sói. Ta đã giữ trọn lời hứa chưa?" Mowgli cất lời. Bầy sói nhất loạt hú vang "Rồi!", và một con sói già mình mẩy tả tơi nghẹn ngào tru lên:

"Xin hãy lãnh đạo chúng tôi thêm một lần nữa, Ôi Akela. Hãy dẫn dắt chúng tôi một lần nữa, hỡi Người, vì chúng tôi đã quá chán ngấy cái tình cảnh vô luật pháp này rồi, và chúng tôi khát khao được trở lại làm Bầy Tự do một lần nữa."

"Không," Bagheera gầm gừ, "điều đó không thể xảy ra đâu. Khi cái bụng các ngươi được ăn no, sự điên rồ có thể sẽ lại ập đến làm mờ mắt các ngươi. Không phải vô cớ mà các ngươi được mệnh danh là Bầy Tự do. Các ngươi đã đấu tranh vì sự tự do, và giờ nó là của các ngươi. Hãy cứ nhấm nháp nó đi, Hỡi Bầy Sói."

"Bầy Người và Bầy Sói đều đã xua đuổi ta," Mowgli nói. "Bây giờ ta sẽ tự đi săn một mình giữa rừng sâu."

"Và chúng tôi sẽ đi săn cùng em," bốn con sói con đồng thanh đáp.

Kể từ ngày hôm đó, Mowgli ra đi và song hành săn bắn cùng bốn con sói con giữa chốn rừng thiêng. Tuy nhiên, cậu không phải chịu cảnh đơn độc mãi, bởi lẽ, nhiều năm sau đó, cậu đã trưởng thành thành một người đàn ông thực thụ và lập gia đình.

Nhưng đó lại là một câu chuyện dành cho những người lớn.



  1. Đề cập đến dấu tilak (hoặc bindi), một biểu tượng linh thiêng trong văn hóa Hindu thường được vẽ trên trán bằng bột màu để thể hiện sự sùng đạo hoặc đại diện cho 'con mắt thứ ba' mang ý nghĩa tâm linh. 

  2. Cách gọi hình tượng của các loài thú trong rừng để chỉ ngọn lửa của loài người. Lửa có màu đỏ, bập bùng như một bông hoa nở rộ và là thứ sức mạnh duy nhất khiến mọi loài dã thú phải khiếp sợ. 

  3. Phản ánh chế độ đẳng cấp (Caste system) phân hóa sâu sắc trong xã hội Ấn Độ. Nghề thợ gốm (Kumhar) thường bị xếp vào các tầng lớp dưới cùng, phải chịu nhiều sự phân biệt đối xử và có địa vị thấp kém trong cộng đồng. 

  4. Tower Musket là loại súng nạp đạn từ nòng phổ biến thời Đế quốc Anh, được dán tem 'Tower' chỉ xuất xứ từ kho vũ khí Tower of London. Cuối thế kỷ 19, đây là loại vũ khí đã lỗi thời với quân đội nhưng vẫn được dân bản xứ Ấn Độ sử dụng rộng rãi. 

  5. Tục lệ thờ cúng rắn hổ mang (Naga) là một tín ngưỡng dân gian rất phổ biến trong văn hóa Hindu. Rắn được tôn kính như một sinh vật linh thiêng mang sức mạnh thần thánh, và người dân thường dâng sữa tươi để cầu xin sự che chở, bình an. 

  6. Hookah (hay huqqa) là loại bình hút thuốc truyền thống của Nam Á và Trung Đông. Khói thuốc được lọc qua một bầu nước trước khi hút, thường dùng để hút thuốc lá ướp hương liệu. 

  7. Rupee là đơn vị tiền tệ chính thức của Ấn Độ. Dưới thời cai trị của Anh vào thế kỷ 19, một trăm rupee là một khoản tiền thưởng khổng lồ, đủ làm đổi đời những người dân bản xứ. 

  8. Cây dhâk (Butea monosperma), còn được mệnh danh là 'Ngọn lửa của Rừng', là một loài cây bản địa ở Ấn Độ. Khi nở hoa, cả cây rực lên một màu đỏ cam rực rỡ như ngọn lửa bùng cháy, một hình ảnh vô cùng đặc trưng của thiên nhiên Ấn Độ. 

  9. Anna là một đơn vị tiền tệ nhỏ lẻ cũ của Ấn Độ, giá trị bằng 1/16 của một rupee. Nửa đồng anna là một khoản tiền lẻ vô cùng nhỏ bé, chi tiết này càng nhấn mạnh sự keo kiệt và coi thường của nhân vật. 

  10. Maharaj (hay Maharaja) là một tước hiệu cao quý bắt nguồn từ tiếng Phạn, mang nghĩa là 'Đại vương' hoặc 'Đấng thống trị'. Việc lão Buldeo dùng từ này để xưng hô cho thấy lão đang khiếp sợ tột độ, coi đối phương như một thế lực siêu nhiên. 

  11. Tulsi (hương nhu tía) được xem là loài cây vô cùng thiêng liêng trong Ấn Độ giáo, tượng trưng cho sự thanh khiết. Nhánh cây này thường được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo hoặc để trừ tà, xua đuổi tà ma.