“Rikki-Tikki-Tavi”

Tại miệng hang nơi nó lách vào
Mắt Đỏ gọi Da Nhăn xôn xao.
Nghe Mắt Đỏ bé nhỏ buông lời:
“Nag, lên đây cùng tử thần rong chơi!”

Mắt chằm chằm, đầu sát kề đầu,
(Giữ nhịp đi, Nag.)
Cuộc chiến tàn khi một kẻ vùi sâu;
(Theo ý mày, Nag.)
Vòng nối vòng, xoắn cuộn đổi ngôi-
(Chạy trốn đi, Nag.)
Ha! Tử thần mang bành trượt mất rồi!
(Khốn nạn thân mày, Nag!)

Đây là câu chuyện kể về cuộc đại chiến mà Rikki-tikki-tavi đã đơn thương độc mã xông pha qua những phòng tắm của căn nhà gỗ lớn tại khu đồn trú Segowlee1. Dù chú chim chích chòe Darzee2 đã ra tay tương trợ, và gã chuột xạ Chuchundra - kẻ nhút nhát chỉ dám men theo chân tường chứ chẳng bao giờ dám bò ra giữa nhà - đã cho cậu lời khuyên, nhưng chính Rikki-tikki mới là chiến binh thực thụ của trận chiến này.

Cậu chàng là loài chồn mang vóc dáng với bộ lông và chiếc đuôi hao hao một chú mèo con, nhưng từ hình dáng cái đầu cho đến những thói quen thì lại hệt như chồn tuyết. Đôi mắt và chóp mũi cứ luôn động đậy của cậu mang một sắc hồng ửng. Cậu có thể tự gãi ngứa ở bất cứ đâu trên cơ thể bằng bất kỳ chân nào, dù trước hay sau, theo ý thích. Cậu chàng có thể xù lông đuôi lên đến mức trông như chiếc cọ rửa chai, và tiếng thét xung trận mỗi khi lao vút qua những đám cỏ cao rậm rạp luôn vang lên: “Rikk-tikk-tikki-tikki-tchk!”

Một ngày nọ, cơn lũ lớn giữa mùa hè bất thần ập tới, cuốn phăng cậu khỏi cái hang nơi gia đình đang sinh sống. Cậu bị dòng nước xiết lôi đi, vừa giãy giụa tuyệt vọng vừa kêu lộc cộc dọc theo con mương ven đường. Cố hết sức bình sinh, cậu bám chặt lấy một túm cỏ nhỏ nổi lềnh bềnh trên mặt nước cho đến khi ngất lịm đi. Khi tỉnh lại, cậu thấy mình đang nằm phơi dưới cái nắng chói chang giữa lối đi trong vườn, bộ dạng tả tơi xơ xác. Kế bên, một cậu bé cất giọng: “Có một con chồn chết ở đây. Mình làm đám tang cho nó đi.”

“Đừng con,” mẹ Teddy can ngăn, “mình đem nó vào nhà lau khô xem sao. Biết đâu nó vẫn chưa chết hẳn.”

Thế là họ bế sinh linh bé nhỏ ấy vào trong. Một người đàn ông cao lớn dùng ngón cái và ngón trỏ nhấc bổng cậu lên, bảo rằng cậu chưa chết mà chỉ bị sặc nước. Cả nhà liền ủ ấm cậu trong lớp bông gòn, cẩn thận hơ bên ngọn lửa nhỏ. Lát sau, cậu chàng từ từ hé mắt và hắt xì một cái rõ to.

“Nào,” người đàn ông cao lớn lên tiếng (ông là một người Anh vừa chuyển đến căn nhà gỗ này), “đừng làm nó hoảng sợ nhé, để xem nó sẽ làm gì.”

Khiến một con chồn hoảng sợ e là điều khó nhất trên đời, bởi lẽ từ chóp mũi đến tận cuống đuôi chúng đều căng tràn sự tò mò. Phương châm sống của cả họ nhà chồn là “Chạy đi và khám phá,” và Rikki-tikki đích thị là một con chồn thứ thiệt. Cậu chàng ngó nghiêng miếng bông gòn, đánh giá rằng thứ này chẳng thể nhét đầy bụng, bèn chạy lăng xăng quanh bàn. Rồi cậu ngồi thẳng dậy, chải chuốt lại bộ lông cho tươm tất, tự gãi ngứa, và thoắt cái đã nhảy tót lên vai cậu bé.

{8197}

Rikki-tikki rướn người nhìn xuống khe hở giữa cổ áo và gáy cậu bé.

“Đừng sợ con trai,” ba Teddy trấn an. “Đó là cách nó kết bạn đấy.”

“Á! Nó đang cù dưới cằm con kìa,” Teddy bật cười.

Rikki-tikki tò mò ngó xuống cổ áo, khịt khịt mũi ngửi tai cậu bé, rồi lẹ làng leo xuống sàn nhà, ngồi đó và tự xoa xoa cái mũi của mình.

“Trời đất ơi,” mẹ Teddy thốt lên, “vậy mà đây lại là một sinh vật hoang dã đấy! Em đoán nó ngoan ngoãn thế là nhờ mình đã đối đãi ân cần với nó.”

“Giống chồn nào cũng vậy cả thôi em,” chồng cô đáp lời. “Nếu Teddy không túm đuôi nhấc nó lên hay cố nhốt vào lồng, nó sẽ tha hồ chạy ra chạy vào nhà suốt cả ngày cho xem. Cho nó ăn chút gì đi em.”

Họ mang cho cậu một miếng thịt sống nhỏ. Rikki-tikki ăn lấy ăn để với vẻ vô cùng khoái chí. No nê, cậu chàng đủng đỉnh bước ra hiên nhà, vươn mình dưới ánh mặt trời sưởi ấm và xù tung bộ lông lên để hơ khô tận gốc rễ. Chẳng mấy chốc, sinh lực đã tràn trề trở lại trong cơ thể cậu.

{0198}

Cậu chàng chúi mũi vào lọ mực.

“Trong căn nhà này còn khối thứ để khám phá,” cậu tự nhủ, “chắc chắn là nhiều hơn tất thảy những gì gia đình mình có thể tìm thấy trong cả một đời. Mình nhất định sẽ ở lại và tìm hiểu cho tường tận mới được.”

Cậu dành trọn ngày hôm ấy chỉ để rảo bước thám hiểm khắp ngóc ngách trong nhà. Cậu suýt chút nữa thì chết đuối trong bồn tắm, rồi lại tò mò chúi mũi vào lọ mực trên bàn viết, để rồi bị bỏng điếng chóp mũi vì quẹt phải đầu điếu xì gà của người đàn ông cao lớn khi trèo lên đùi ông hòng xem cách con người viết lách. Lúc chạng vạng, cậu lon ton chạy vào phòng của Teddy để xem người ta thắp những ngọn đèn dầu hỏa thế nào. Và khi Teddy leo lên giường đi ngủ, Rikki-tikki cũng trèo lên theo. Tuy nhiên, cậu chẳng phải là một người bạn ngủ yên giấc, bởi cậu cứ thức bồn chồn, dỏng tai nghe ngóng mọi động tĩnh trong đêm hòng truy tìm cội nguồn của những âm thanh đó. Khi ba mẹ Teddy bước vào phòng để kiểm tra giấc ngủ của con trai như thói quen trước lúc nghỉ ngơi, họ thấy Rikki-tikki vẫn chong mắt thức trên gối.

“Em không thích thế này chút nào,” mẹ Teddy e ngại nói. “Nhỡ nó cắn thằng bé thì sao.”

“Nó sẽ không làm thế đâu em,” người cha mỉm cười xua tay. “Teddy ở cùng con thú nhỏ này còn an toàn hơn vạn lần so với việc để một con chó săn khát máu túc trực canh gác. Nếu giả như giờ này có một con rắn trườn vào phòng thằng bé-”

{0199}

Rikki-tikki vẫn đang chong mắt thức trên gối.

Nhưng mẹ Teddy vội xua đi, chẳng hề muốn mường tượng ra một thảm cảnh tồi tệ đến nhường ấy.

Tờ mờ sáng, Rikki-tikki đã chễm chệ vắt vẻo trên vai Teddy, cùng dùng bữa điểm tâm ngoài hiên nhà. Họ đút cho cậu vài mẩu chuối cùng chút trứng luộc. Cậu chàng ngoan ngoãn vòng qua sà vào lòng từng người một, bởi lẽ bất kỳ con chồn nào được giáo dục tử tế cũng đều ấp ủ ước mơ một ngày nào đó sẽ trở thành chồn giữ nhà, được thỏa thuê bay nhảy giữa những căn phòng rộng lớn. Hơn nữa, mẹ của Rikki-tikki - vốn từng sống trong tư dinh của ngài tướng quân ở Segowlee - đã cẩn thận truyền dạy cho cậu mọi quy tắc ứng xử cần thiết nếu mai này giáp mặt với những người da trắng.

{9200}

Cậu chàng dùng bữa sáng, chễm chệ cưỡi trên vai Teddy.

Sau đó, Rikki-tikki dạo ra vườn xem có gì thú vị không. Đó là một khu vườn rộng lớn, mới chỉ được phát quang một nửa, với những bụi cây to ngang ngửa những mái chòi mùa hè, xen lẫn những khóm hồng Marshal Niel3, vài gốc chanh, cam, những rặng tre và những bụi cỏ hoang cao vút. Rikki-tikki liếm môi. “Đúng là một bãi săn tuyệt hảo,” nó thầm nghĩ. Cả cái đuôi nó xù lên như chiếc chổi cọ chai khi mường tượng đến cảnh săn mồi. Rồi nó chạy lăng xăng khắp vườn, khịt mũi ngửi chỗ này, đánh hơi chỗ kia, cho đến khi vẳng nghe thấy những tiếng than khóc não nề phát ra từ một bụi gai.

Đó là Darzee, chú chim chích chòe, cùng với vợ mình. Họ đã khéo léo kết nên một chiếc tổ tuyệt đẹp bằng cách nhặt những sợi xơ khâu kín mép hai chiếc lá lớn, rồi lót đầy bông và lông tơ mềm mại vào bên trong. Chiếc tổ cứ lắc lư êm đềm trong lúc đôi vợ chồng chim ủ rũ đậu trên mép tổ mà khóc lóc.

{0201}

“Chúng tôi khổ quá ngài ơi,” Darzee nức nở.

“Có chuyện gì vậy?” Rikki-tikki hỏi.

“Chúng tôi thật là bất hạnh,” Darzee mếu máo. “Hôm qua, một đứa con của chúng tôi vô phúc rơi khỏi tổ, và Nag đã ăn thịt nó mất rồi.”

“Hừm!” Rikki-tikki lẩm bẩm, “Đáng buồn thật đấy-nhưng tôi mới đến đây nên không biết. Nag là ai thế?”

Darzee và vợ co rúm lại trong tổ, câm bặt. Từ trong đám cỏ rậm rạp dưới gốc cây gai bỗng rít lên một âm thanh trầm đục-một tiếng rít lạnh lẽo và đầy chết chóc khiến Rikki-tikki phải giật lùi lại chẵn hai thước Anh. Rồi, từng tấc một, nhô lên khỏi đám cỏ là cái đầu cùng chiếc mang bành rộng của Nag, con rắn hổ mang đen khổng lồ dài đến năm thước Anh từ đầu lưỡi tới chót đuôi. Nâng một phần ba cơ thể lên khỏi mặt đất, nó lắc lư, đu đưa thân mình hệt như một túm hoa bồ công anh trôi theo chiều gió. Nó nhìn chằm chằm Rikki-tikki bằng đôi mắt rắn lạnh lùng, tàn độc, vĩnh viễn không đổi sắc mặc cho cái đầu xảo quyệt ấy đang toan tính điều gì.

“Nag là ai ư?” nó rít lên. “Tao là Nag. Đức Brahm vĩ đại4 đã đích thân đóng dấu ấn của Người lên khắp nòi giống nhà tao, từ cái thuở con rắn hổ mang đầu tiên biết bành mang ra che nắng cho Người say giấc. Hãy chiêm ngưỡng đi, và hãy run sợ đi!”

{0203}

“Tao là Nag,” con rắn hổ mang đe dọa, “Hãy chiêm ngưỡng, và hãy run sợ!” Thế nhưng, ẩn sâu dưới đáy lòng lạnh lẽo của nó, chính nó lại đang run sợ.

Nó bành mang ra to hết cỡ. Rikki-tikki lấp lóe nhìn thấy một vệt hằn hình chiếc kính trên lưng mang rắn, mang dáng dấp y hệt phần lỗ khuyết của một chiếc móc cài. Chú chồn thoáng sợ hãi, nhưng với loài chồn thì nỗi sợ chẳng bao giờ chực chờ được lâu. Mặc dù Rikki-tikki chưa từng trực diện giáp lá cà với một con hổ mang sống nào, mẹ nó đã từng cho nó ăn thịt những con rắn chết. Nó hiểu rõ sứ mệnh duy nhất trong cuộc đời của một con chồn trưởng thành chính là chiến đấu và ăn thịt loài rắn. Nag cũng biết thừa điều ấy, và tận sâu dưới đáy lòng lạnh lẽo của nó, chính nó lại đang run sợ.

{5250}

Rikki-Tikki-Tavi và Nag

“Chà,” Rikki-tikki nói, cái đuôi lại bắt đầu xù lên tua tủa, “có dấu ấn hay không có dấu ấn, mày nghĩ cái trò xơi tái những con chim non rơi khỏi tổ là đúng đạo lý chắc?”

Nag âm thầm toan tính trong đầu, cặp mắt tà độc không bỏ sót bất kỳ động tĩnh nhỏ nhất nào dấy lên từ đám cỏ phía sau Rikki-tikki. Nó thừa hiểu sự xuất hiện của loài chồn trong khu vườn này đồng nghĩa với cái chết không sớm thì muộn dành cho nó và cả gia đình. Dù vậy, nó muốn đánh lừa sự cảnh giác của Rikki-tikki. Cố ý hạ thấp đầu xuống một chút, con rắn nghiêng mình sang một bên.

“Chúng ta cứ nói lý xem nào,” nó trườn giọng. “Mày ăn trứng chim. Thế tại sao tao lại không được ăn thịt chim non?”

“Phía sau ngài! Coi chừng phía sau ngài kìa!” Darzee hoảng hốt rít lên.

{0207}

Nó vọt thẳng lên không trung, và ngay bên dưới nó, cái đầu của mụ rắn Nagaina sượt qua đầy hiểm độc.

Rikki-tikki đủ khôn ngoan để không phí phạm một tích tắc nào trố mắt nhìn quanh. Nó tung mình lên không trung cao nhất có thể, vừa kịp tránh cái đầu của Nagaina-mụ vợ tàn độc của Nag-đang rít lên sượt qua ngay bên dưới. Mụ ta đã lén lút trườn đến phía sau trong lúc nó mải nói chuyện, âm mưu tung đòn kết liễu. Chú chồn nghe rõ mồn một tiếng rít man rợ của mụ ác xà khi cú đớp trượt mục tiêu. Nó đáp xuống gần như ngang qua lưng mụ, và giá như là một con chồn già dặn tình trường, nó đã vồ ngay lấy cơ hội ngàn vàng ấy để cắn gãy làm đôi sống lưng mụ chỉ bằng một nhát ngoạm. Nhưng nó vẫn còn e dè đòn roi quật trả kinh hoàng của loài hổ mang. Nó có cắn, đúng là như vậy, nhưng lại thả ra quá sớm. Nó vọt thoát khỏi chiếc đuôi đang quật loạn xạ, để lại một mụ Nagaina toạc da và phẫn nộ tột độ.

“Thằng Darzee tồi tệ, độc ác kia!” Nag rít gào, vươn mình cao hết cỡ hòng chạm tới chiếc tổ trên bụi gai. Nhưng Darzee đã xây tổ vượt quá tầm với của loài rắn, và chiếc tổ chỉ thủng thẳng lắc lư trêu ngươi.

Rikki-tikki cảm nhận rõ đôi mắt mình đang vẩn lên đỏ ngầu và nóng hầm hập (khi mắt một con chồn vẩn đỏ, ấy là lúc cơn thịnh nộ ngùn ngụt bốc lên). Nó bật ngửa ra sau, tựa trên đuôi và hai chân sau y hệt một chú kangaroo thu nhỏ. Nó đưa mắt sục sạo khắp bốn bề, miệng kêu lạch cạch phẫn nộ. Thế nhưng, Nag và Nagaina đã mất hút vào những lùm cỏ rậm. Giống rắn là thế, một khi đã đớp hụt, chúng chẳng bao giờ hé răng lấy nửa lời hay để lộ dù chỉ một dấu vết về nước đi tiếp theo. Rikki-tikki cũng chẳng màng cất công đuổi theo, bởi nó không nắm chắc phần thắng nếu phải đối đầu với cả hai ác thú cùng lúc. Nó bèn lóc cóc chạy về phía lối đi rải sỏi gần nhà, ngồi bệt xuống và chìm vào suy tư. Quả là một mối họa khôn lường đối với nó.

Nếu bạn có dịp lật giở những cuốn cổ thư về lịch sử tự nhiên, hẳn bạn sẽ bắt gặp người ta đồn đại rằng mỗi khi con chồn giao chiến với rắn và lỡ bị cắn trúng, nó sẽ lẩn đi tìm một loại thảo mộc bí truyền nào đó để nhai và chữa lành vết thương. Nhưng điều đó hoàn toàn sai bét. Chìa khóa của chiến thắng thực chất nằm gọn ở sự tinh tường của đôi mắt và sự thoăn thoắt của đôi chân-cú mổ chí mạng của rắn đương đầu với cú vọt lẹ làng của chồn-và bởi chẳng một cặp mắt nào trên đời có thể bắt kịp tốc độ xé gió từ cái đầu của con rắn khi nó tung đòn, nên chính bản năng sinh tồn ấy mới thực sự là điều diệu kỳ vượt xa mọi thứ lá lẩu thần tiên. Rikki-tikki biết mình chỉ mới là một chú chồn non tơ, và điều đó càng khiến nó hỉ hả khi tự nhủ rằng mình đã xuất sắc né được một đòn đánh lén từ sau lưng. Trải nghiệm ấy bơm đầy sự tự tin vào huyết quản của nó. Khi Teddy chạy dọc theo lối đi xuống vườn, Rikki-tikki đã trong tâm thế sẵn sàng để được cưng nựng.

Thế nhưng, ngay lúc Teddy vừa khom người xuống, một bóng mờ chợt ngoằn ngoèo ngoắc ngoải trong bụi đất, và một giọng the thé sắc lẹm vang lên: “Liệu hồn đấy. Tao là Cái Chết!” Đó chính là Karait5, con rắn nhỏ màu nâu phủ đầy bụi bặm vốn chỉ khoái cuộn mình chìm vào nền đất. Nọc độc của nó nguy hiểm chẳng kém cạnh gì nanh vuốt của loài hổ mang. Hiềm một nỗi nó quá nhỏ bé nên chẳng ai mảy may bận tâm, và cũng chính vì sự chủ quan đó mà nó gieo rắc cho con người biết bao thảm họa tày trời.

Hai mắt Rikki-tikki phút chốc lại vẩn lên đỏ ngầu. Nó nhảy múa nhịp nhàng trước mặt Karait bằng cái dáng điệu đung đưa, lắc lư kỳ quái được di truyền từ tổ tiên. Trông bộ dạng ấy có vẻ buồn cười, nhưng đó lại là một tư thế lấy thăng bằng hoàn hảo tuyệt đối, thứ cho phép bạn vút bay đi từ bất kỳ góc độ nào mình muốn. Khi đối chọi với loài rắn, đây quả là một lợi thế vàng. Giá như Rikki-tikki nhận thức được một điều, rằng cái trò nó đang làm nguy hiểm gấp vạn lần việc giao chiến với Nag. Bởi lẽ, Karait quá nhỏ bé, nó có thể ngoắt đầu lại nhanh như chớp giật. Trừ phi Rikki ngoạm trúng ngay sát sau gáy đối thủ, bằng không nó sẽ lãnh trọn cú đớp trả thù chí mạng vào mắt hay vào môi. Nhưng Rikki đâu hay biết. Đôi mắt nó rực lửa kiêu hãnh, nó chao đảo tới lui, rình rập tìm đúng một góc hở để tung cú cắn quyết định. Karait bất thình lình mổ ra. Rikki lách mình sang một bên rồi hung hăng lao vào, nhưng cái đầu xám xịt, bụi bặm và chứa đầy nọc độc ấy đã lướt sượt qua vai nó chưa đầy một nửa phân. Nó đành phải mượn đà phóng vọt qua thân con rắn, trong khi cái đầu ma quái kia vẫn bám riết lấy gót chân.

Teddy hét lớn gọi vọng vào nhà: “Ôi, ba mẹ ra xem này! Con chồn của chúng ta đang giết một con rắn!” Cùng lúc Rikki-tikki nghe thấy tiếng thét hoảng loạn của mẹ Teddy, ba cậu bé đã hối hả lao ra với một cây gậy trên tay. Nhưng trước khi ông kịp can thiệp, Karait đã phóng càn một cú quá đà. Chỉ chờ có thế, Rikki-tikki chồm lên, đáp chuẩn xác xuống lưng con rắn. Nó gục đầu sâu vào giữa hai chân trước, há miệng cắn nghiến một nhát thật sâu vào phần nhô cao nhất trên lưng kẻ địch mà nó có thể ngoạm trúng, rồi nhanh nhẹn lăn mình ra xa. Cú cắn trời giáng ấy làm Karait tê liệt hoàn toàn. Rikki-tikki toan xơi tái con mồi từ đuôi lên theo đúng cái thói quen ăn tối của dòng họ, thì nó sực nhớ ra rằng một cái bụng no căng sẽ biến một con chồn dũng mãnh thành một cục thịt ục ịch. Nếu muốn bảo toàn trọn vẹn sức vóc và sự lanh lẹ cho những trận chiến sắp tới, nó buộc phải giữ cho thân hình mình luôn thon gọn.

Nó thủng thẳng bỏ đi tắm bụi dưới những lùm cây thầu dầu, phớt lờ cảnh ba Teddy đang giáng gậy đập nát đầu con Karait. “Làm cái trò ấy để làm gì nhỉ?” Rikki-tikki chép miệng nghĩ thầm. “Mình đã thu xếp gọn gàng đâu ra đấy cả rồi cơ mà!” Thế rồi, mẹ Teddy bế thốc nó lên khỏi lớp bụi đất, ôm ghì lấy nó mà nức nở khóc. Bà cứ lặp đi lặp lại rằng nó đã kéo Teddy về từ cõi chết, còn ba Teddy thì tấm tắc khen ngợi nó là một phép màu do ơn trên phái xuống. Riêng cậu bé Teddy vẫn chôn chân tại chỗ, đôi mắt mở to rợn ngợp vì sợ hãi. Rikki-tikki cảm thấy khá khoái chí trước tất thảy cái sự nhặng xị ngầu này, dù đương nhiên là nó chẳng hiểu mô tê gì sất. Giá như mẹ Teddy dành sự âu yếm đó cho cậu bé vì đã lấm lem bụi đất thì hơn. Dù sao thì Rikki cũng tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc đầy vinh quang ấy.

Bữa tối hôm ấy, ung dung tản bộ qua lại giữa những chiếc ly rượu pha lê lấp lánh trên bàn ăn, lẽ ra nó đã có thể nhồi nhét vào bụng lượng cao lương mỹ vị gấp ba lần thường lệ. Nhưng ký ức về Nag và Nagaina vẫn vảng vất trong tâm trí. Dẫu cho việc được mẹ Teddy vuốt ve trìu mến hay ngồi chễm chệ trên vai cậu chủ nhỏ có êm ái đến nhường nào, thi thoảng đôi mắt nó lại rực lên những tia đỏ quạch, và nó lại phóng vụt đi, cất cao tiếng thét xung trận kéo dài sắc lạnh: “Rikk-tikk-tikki-tikki-tchk!”

{0212}

Chính trong bóng tối dày đặc ấy, nó đã va phải Chuchundra, gã chuột xạ nhút nhát.

Teddy mang nó lên giường, nhất quyết đòi Rikki-tikki rúc dưới cằm mình mà ngủ. Rikki-tikki vốn là giống nòi ngoan ngoãn, được rèn giũa hẳn hoi nên chẳng bao giờ cắn hay cào. Nhưng chỉ đợi Teddy vừa say giấc nồng, nó liền trườn đi, bắt đầu chuyến tuần tra quanh nhà hằng đêm. Chợt trong màn đêm mờ mịt, nó va phải Chuchundra - gã chuột xạ đang dò dẫm men theo chân tường. Chuchundra là một sinh linh nhỏ bé với trái tim luôn phập phồng run rẩy. Gã thút thít và rít lên suốt đêm, vật vã gom chút can đảm để chạy vọt ra giữa căn phòng. Nhưng gã chưa bao giờ làm nổi điều đó.

“Đừng giết tôi,” Chuchundra cất tiếng, giọng như chực khóc. “Rikki-tikki, đừng giết tôi!”

“Anh nghĩ một kẻ chuyên đi săn rắn lại thèm đoái hoài tới bọn chuột xạ sao?” Rikki-tikki đáp, giọng không giấu vẻ khinh khỉnh.

“Kẻ giết rắn rồi cũng bỏ mạng dưới nọc độc của rắn thôi,” Chuchundra rền rĩ, giọng não nề hơn bao giờ hết. “Biết đâu vào một đêm đen đặc nào đó, Nag lại chẳng nhìn nhầm tôi thành anh?”

“Chẳng mảy may nguy hiểm đâu,” Rikki-tikki an ủi. “Vả lại, Nag đang lẩn khuất ngoài vườn, và tôi biết tỏng anh chẳng bao giờ dám ló mặt ra đó.”

“Anh họ Chua6 của tôi, con chuột cống ấy, có dặn tôi-” Chuchundra đang thẽ thọt bỗng im bặt.

“Dặn anh chuyện gì?”

“Suỵt! Nag luẩn quẩn khắp nơi, Rikki-tikki ạ. Lẽ ra anh nên ra vườn mà hỏi chuyện Chua.”

“Tôi không làm thế - vậy nên anh phải phun ra cho tôi nghe. Nhanh lên, Chuchundra, không thì tôi cắn anh đấy!”

Chuchundra ngồi thụp xuống, khóc nức nở đến mức những giọt nước mắt lăn dài làm ướt sũng hàng ria mép. “Tôi khốn khổ quá,” gã thút thít. “Tôi chưa bao giờ gom đủ dũng khí chạy ra giữa phòng. Suỵt! Tôi không được phép ho hé nửa lời với anh đâu. Anh không nghe thấy gì sao, Rikki-tikki?”

Rikki-tikki vểnh tai lắng nghe. Cả ngôi nhà chìm trong tĩnh lặng bủa vây, nhưng nó mơ hồ bắt được một tiếng sột soạt vi tế nhất cõi đời - một âm thanh yếu ớt như tiếng ong bắp cày đậu lên cửa kính - đó là tiếng sột soạt khô khốc của vảy rắn đang trườn trên nền gạch.

“Là Nag hoặc Nagaina,” nó tự nhủ, “và hắn đang luồn vào đường ống thoát nước của phòng tắm. Anh nói chí phải, Chuchundra; đáng lẽ tôi nên hỏi thăm Chua.”

Nó rón rén mò sang phòng tắm của Teddy, nhưng chẳng có mống nào ở đó, rồi nó trườn tiếp sang phòng tắm của mẹ Teddy. Ngay sát chân bức tường trát vữa nhẵn nhụi, người ta có rút đi một viên gạch để làm đường ống xả nước tắm. Lúc Rikki-tikki lẻn đến nấp bờ rìa xây gạch bao quanh bồn tắm, nó chợt nghe thấy tiếng Nag và Nagaina đang xì xào bàn tán dưới ánh trăng bên ngoài.

“Khi ngôi nhà vắng bóng người,” Nagaina rít lên với chồng mụ, “thằng nhãi đó ắt phải bỏ đi, và rồi khu vườn sẽ lại thuộc về chúng ta. Hãy lẻn vào thật khẽ khàng, và nhớ cho kỹ, gã đàn ông to xác đã giết Karait là kẻ phải gánh nhát cắn đầu tiên. Xong việc thì trườn ra báo cho em, rồi chúng ta sẽ cùng nhau đi săn Rikki-tikki.”

“Nhưng em có chắc việc hạ sát con người sẽ mang lại lợi lộc gì không?” Nag hỏi lại.

“Được tất cả. Thử nghĩ xem, khi căn nhà gỗ không còn bóng dáng con người, liệu chúng ta có thấy mống chồn nào lảng vảng ngoài vườn không? Chừng nào ngôi nhà gỗ còn hoang vắng, chúng ta là đức vua và hoàng hậu của khu vườn này. Và hãy nhớ rằng, ngay khi ổ trứng của chúng ta dưới luống dưa nở ra (có thể là vào ngay ngày mai), các con của chúng ta sẽ cần không gian rộng rãi và sự yên bình.”

“Anh chưa nghĩ tới điều đó,” Nag gật gù. “Anh sẽ đi, nhưng sau đó chẳng cần thiết phải cất công lùng sục Rikki-tikki đâu. Anh sẽ kết liễu gã đàn ông to xác và vợ gã, cùng đứa trẻ nếu có thể, rồi lặng lẽ rút lui. Thế thì căn nhà gỗ sẽ trở nên trống trải, và Rikki-tikki ắt sẽ phải dời đi.”

Rikki-tikki run rẩy khắp toàn thân vì giận dữ và căm phẫn tột độ khi nghe những lời ấy. Rồi thì cái đầu của Nag luồn qua ống xả nước, kéo theo sau là cái thân hình lạnh ngắt, dài thượt tới năm feet của hắn. Dẫu cho máu nóng đang sôi sục, Rikki-tikki cũng không khỏi khiếp vía khi chiêm ngưỡng kích cỡ khổng lồ của con rắn hổ mang. Nag cuộn tròn cơ thể lại, vươn cao đầu, dõi mắt vào gian phòng tắm chìm trong bóng tối. Rikki có thể thấy đôi mắt hắn ánh lên thứ ánh sáng lạnh lẽo.

“Giờ đây, nếu ta hạ sát hắn ở đây, Nagaina sẽ phát giác; và nếu ta lao vào sinh tử với hắn trên sàn nhà trống trải, lợi thế ắt thuộc về hắn. Ta phải tính sao đây?” Rikki-tikki-tavi lẩm bẩm.

Nag đu đưa cái đầu qua lại, và rồi Rikki-tikki nghe thấy tiếng hắn uống ừng ực từ vại nước lớn nhất dùng để tắm. “Tốt rồi,” con rắn rít lên. “Lúc nãy, khi Karait mất mạng, gã đàn ông to xác ấy có cầm một cây gậy. Có thể gã vẫn còn giữ nó, nhưng khi gã bước vào tắm vào sáng mai, gã sẽ không mang theo vũ khí. Anh sẽ mai phục ở đây cho đến khi gã bước vào. Nagaina - em có nghe anh nói không? - Anh sẽ nấp trong bóng tối ở đây chờ tới sáng.”

Bên ngoài không có lấy một tiếng hồi đáp, thế nên Rikki-tikki hiểu Nagaina đã bỏ đi. Nag hạ mình xuống, cuộn từng vòng, từng vòng quanh phần bầu dưới đáy vại nước, còn Rikki-tikki thì nằm bất động như xác chết. Qua độ một giờ đồng hồ, nó bắt đầu cựa mình, từng bó cơ nhúc nhích, nhích dần về phía chiếc vại. Nag đang say giấc. Rikki-tikki chằm chằm nhìn vào cái lưng vạm vỡ của hắn, tính toán xem đâu sẽ là tử huyệt cho một cú ngoạm chí mạng. “Nếu ta không làm gãy xương sống hắn ngay trong cú vồ đầu tiên,” Rikki nhủ thầm, “hắn vẫn có thể nghênh chiến. Và nếu hắn phản đòn - Ôi Rikki ơi!” Nó đảo mắt nhìn độ dày của cái cổ ngay dưới mang, nhưng chỗ đó quá thô kệch so với hàm răng nó; còn một vết cắn gần đuôi thì chỉ tổ làm Nag thêm cuồng nộ.

“Phải là cái đầu,” cuối cùng nó quyết đoán; “ngay phần đầu phía trên bành mang. Và một khi đã găm nanh vào đó, ta tuyệt đối không được nhả ra.”

{0217}

Rồi Rikki-tikki bị quật lên quật xuống tơi tả, hệt như một con chuột bị gặm trong mõm chó.

Rồi nó chồm lên. Cái đầu của con rắn nằm nhô ra khỏi vại nước một quãng, ngay dưới đường cong của chiếc vại. Khi hàm răng sắc nhọn cắm phập vào, Rikki liền chống lưng vào phần bầu của bình gốm đất nung màu đỏ, lấy đà ghì chặt cái đầu rắn xuống. Khoảnh khắc ấy cho nó một giây tạo điểm tựa, và nó đã tận dụng triệt để. Ngay sau đó, nó bị quật lên quật xuống tơi tả hệt như một con chuột bị gặm trong mõm chó - quật qua quật lại trên mặt sàn, ném lên rồi ném xuống, và văng theo những vòng tròn lớn. Nhưng đôi mắt nó vẫn rực đỏ sòng sọc, nó nghiến chặt hàm không buông dẫu cho cơ thể con rắn vung vẩy khắp sàn nhà như chiếc roi da quất mạnh, làm lật tung cả chiếc gáo thiếc, đĩa xà phòng và cả bàn chải chà lưng, rồi giáng ầm ầm vào thành thiếc của bồn tắm. Nó càng bị quăng quật thì hai hàm răng lại càng khóa chặt hơn, bởi lẽ nó đinh ninh rằng mình sẽ bị đập cho đến chết. Và, vì danh dự của dòng tộc, nó thà để người ta tìm thấy cái xác với hàm răng khóa chặt vào kẻ thù. Rikki hoa mắt chóng mặt, đau đớn tột cùng, và cảm thấy toàn thân như bị xé nát bấy thì bỗng đâu một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên như sét đánh xé toạc màng nhĩ ngay sau lưng. Một luồng gió nóng rát quạt qua làm nó choáng váng, ngọn lửa đỏ rực liếm sém cả bộ lông tơ. Người đàn ông to xác đã bị đánh thức bởi tiếng động kinh hồn, và gã đã nã cả hai nòng súng săn thẳng vào Nag, ngay phía sau bành mang.

Rikki-tikki nhắm nghiền hai mắt mà nghiến chặt hàm, vì giờ đây nó khá đoan chắc rằng mình đã lìa đời. Nhưng cái đầu con rắn không hề lay động nữa. Người đàn ông to xác nhấc bổng nó lên và lên tiếng: “Lại là con chồn, Alice à. Anh bạn nhỏ này vừa cứu mạng chúng ta đấy.”

Sau đó, mẹ Teddy bước vào với khuôn mặt tái mét, nhìn chằm chằm phần thân xác còn lại của Nag. Rikki-tikki kéo lê cơ thể bò về phòng ngủ của Teddy. Nó dành nửa phần đêm còn lại để khẽ khàng lắc lắc cơ thể, kiểm tra xem liệu mình có thực sự bị vỡ nát thành bốn mươi mảnh như nó vẫn tưởng tượng hay không.

Sáng hôm sau, tuy toàn thân cứng đờ ê ẩm, chú chồn vẫn thấy vô cùng hả dạ với chiến tích của mình. “Bây giờ tôi phải giải quyết Nagaina. Mụ ác xà ấy còn đáng sợ hơn cả năm gã Nag gộp lại. Hơn nữa, trời mới biết đám trứng mụ từng nhắc đến khi nào sẽ nở. Lạy Chúa! Tôi phải đi tìm Darzee ngay thôi,” nó lẩm bẩm.

Chẳng màng đến bữa sáng, Rikki-tikki tức tốc lao thẳng đến bụi gai. Tại đó, Darzee đang gân cổ vút lên khúc ca khải hoàn rộn rã. Tin Nag bỏ mạng đã lan nhanh như gió khắp khu vườn, bởi người phu quét dọn vừa quẳng xác hắn ra bãi rác.

“Ôi chao, cái túm lông ngốc nghếch kia!” Rikki-tikki quắc mắt mắng. “Giờ là lúc để anh hát hò đấy phỏng?”

“Nag đã chết-chết thật rồi-chết mất xác rồi!” Darzee líu lo. “Chàng Rikki-tikki quả cảm đã chộp lấy đầu hắn và cắn chặt. Gã đàn ông to lớn xách cây gậy nổ ra, và rồi Nag đứt lìa làm đôi! Từ nay hắn sẽ chẳng bao giờ ăn thịt con tôi được nữa.”

“Ừ, tất cả những chuyện ấy đều đúng cả. Nhưng Nagaina đâu rồi?” Rikki-tikki gặng hỏi, ánh mắt cẩn trọng lia quanh tứ phía.

“Nagaina đã bò đến ống thoát nước của phòng tắm để gọi Nag,” Darzee ríu rít kể tiếp, “và Nag đi ra trên đầu một cây gậy-người phu quét rác hất xác hắn lên và ném tọt vào đống rác. Nào chúng ta hãy cùng cất vang bài ca ngợi ca chàng Rikki-tikki vĩ đại với đôi mắt đỏ rực!” Nói đoạn, chú chim chích chòe lại vươn cổ ngân nga.

“Nếu tôi mà trèo lên được cái tổ của anh, tôi sẽ hất văng hết đám con của anh ra ngoài cho xem!” Rikki-tikki gắt gỏng. “Anh chẳng bao giờ biết chọn đúng lúc để làm việc cho tử tế. Ở tít trên tổ thì anh an toàn rồi, nhưng dưới này tôi đang phải gánh vác cả một cuộc chiến đấy. Im lặng một phút đi, Darzee.”

“Vì Rikki-tikki vĩ đại và lộng lẫy, tôi sẽ nín ngay đây,” Darzee cung kính đáp. “Có chuyện chi vậy, ôi Kẻ hạ sát Nag đáng sợ?”

“Nagaina đang ở đâu? Tôi hỏi lần thứ ba rồi đấy!”

“Mụ ở trên đống rác gần chuồng ngựa, đang khóc tang Nag. Vĩ đại thay Rikki-tikki với hàm răng trắng lóa.”

“Mặc xác hàm răng trắng lóa của tôi đi! Anh có bao giờ nghe lỏm xem mụ ta giấu ổ trứng ở đâu chưa?”

“Trong luống dưa, ngay góc sát bức tường, nơi có ánh nắng sưởi ấm gần như trọn cả ngày. Mụ ta đã lén vùi chúng ở đó từ mấy tuần trước.”

“Thế mà anh chẳng thèm cất công hé răng với tôi nửa lời ư? Góc sát bức tường, anh bảo thế đúng không?”

“Rikki-tikki, ngài không định xơi tái những quả trứng của mụ ta chứ?”

{0221}

Vợ của Darzee giả vờ bị gãy cánh

“Cũng không hẳn là ăn; không đâu. Darzee, nếu anh còn chút khôn ngoan, hãy bay thẳng ra chuồng ngựa rồi vờ như bị gãy cánh, dụ cho Nagaina đuổi theo anh về phía bụi cây này. Tôi cần độn thổ đến luống dưa ngay, mà nếu ló mặt ra lúc này mụ ta sẽ phát giác mất.”

Darzee vốn là một anh chàng nhỏ thó với bộ não chỉ cỡ chiếc lông vũ, chẳng bao giờ giữ nổi quá một suy nghĩ trong đầu. Chỉ vì biết rằng bầy con của Nagaina cũng nở ra từ những quả trứng giống y hệt con mình, thoạt tiên anh chàng cảm thấy việc mưu sát chúng là bất công. Nhưng vợ anh thì lại là một cô chim thấu hiểu lẽ phải, và cô thừa biết ổ trứng của rắn hổ mang sau này sẽ nở ra cả bầy hổ mang nhúc nhích. Thế là cô phóng vụt khỏi tổ, để mặc Darzee lúi húi ấp ủ bầy con cho ấm rồi lại tiếp tục nghêu ngao khúc ca tang tóc của Nag. Xét ở một vài phương diện, Darzee có những nét giống hệt con người.

Cô vỗ cánh là là trước mặt Nagaina bên đống rác rưởi, thống thiết kêu la: “Ôi, cánh của tôi gãy mất rồi! Thằng bé trong nhà lấy đá chọi tôi gãy cánh mất rồi.” Nói xong, cô vùng vẫy đập cánh đầy tuyệt vọng.

Nagaina ngóc cao đầu, lạnh lẽo rít lên: “Mày đã mật báo cho Rikki-tikki lúc tao đang định kết liễu hắn. Đáng đời, mày đã chọn nhầm chỗ để phơi bày cái bộ dạng què quặt thảm hại rồi.” Và mụ trườn nhanh về phía vợ Darzee, lướt êm ru trên đám bụi mù.

“Thằng bé lấy đá đập gãy cánh tôi rồi!” vợ của Darzee hoảng loạn rít lên.

“Chà! Hẳn mày sẽ vớt vát được chút an ủi khi biết rằng sau khi mày chết, tao sẽ đích thân đi đòi nợ thằng nhãi con ấy. Sáng nay chồng tao đã phải bỏ xác nơi đống rác, nhưng trước lúc màn đêm buông xuống, chính thằng bé trong ngôi nhà kia sẽ phải nằm đơ ra đó. Mày cất công chạy trốn làm gì cho uổng phí? Đằng nào tao cũng sẽ tóm được mày. Con ranh nhỏ bé ngu xuẩn, nhìn tao đây!”

Vợ của Darzee hiểu rõ hơn ai hết rằng mình tuyệt đối không được làm vậy. Bởi lẽ bất kỳ con chim nào trót nhìn vào mắt rắn đều sẽ hoảng loạn đến độ đông cứng thân mình. Cô cứ chới với lượn lờ, buông những tiếng kêu xé ruột xé gan nhưng không bao giờ nhấc bổng khỏi mặt đất, trong khi Nagaina điên cuồng tăng tốc bám riết không buông.

Rikki-tikki dỏng tai nghe tiếng đuổi bắt chạy dọc theo lối mòn từ chuồng ngựa, nó liền vút đi như một mũi tên xé gió lao thẳng đến đầu luống dưa ven tường. Quả nhiên, lẫn giữa đống lá mục ấm áp phủ trên những quả dưa, được cất giấu vô cùng khéo léo, nó phát hiện ra hai mươi lăm quả trứng to cỡ trứng gà tre, lớp vỏ dẻo quẹo trắng bệch chứ chẳng hề cứng cáp.

“Mình đến vừa kịp lúc,” chú chồn khẽ thốt lên. Qua lớp màng mỏng, nó có thể nhìn rõ mồn một lũ rắn con đang cuộn tròn chờ trực. Nó thừa biết rằng một khi chui ra khỏi vỏ, mỗi con trong bầy đều đủ nọc để đoạt mạng một người trưởng thành hoặc một con chồn mangut. Nhanh như chớp, nó điên cuồng cắn nát đỉnh từng quả trứng, nghiền nát lũ rắn non tàn độc, thỉnh thoảng lại bới tung mớ lá rụng để đảm bảo không sót lại bất kỳ mầm họa nào. Cuối cùng, khi chỉ còn trơ lại đúng ba quả trứng và Rikki-tikki đang đắc ý cười khúc khích, tiếng thét kinh hoàng của vợ Darzee đột nhiên vang dội:

“Rikki-tikki, tôi đã dụ Nagaina về phía ngôi nhà, mụ ta đã trườn lên tận hiên, và-ôi, nhanh chân lên-mụ ta định đoạt mạng người đó!”

Rikki-tikki liền nghiền nát hai quả trứng, lộn nhào khỏi luống dưa với quả trứng cuối cùng ngoạm chặt trong mõm, cắm đầu cắm cổ phóng như bay về phía mái hiên. Teddy cùng ba mẹ đang ngồi dùng bữa sáng sớm, nhưng Rikki-tikki thấy chẳng ai thiết tha động đũa. Họ cứng đờ như ba bức tượng đá, mặt mày xám ngoét. Nagaina cuộn mình uốn éo trên tấm thảm ngay cạnh ghế của Teddy, sẵn sàng phóng cú đớp tử thần vào đôi chân trần của cậu bé bất cứ lúc nào. Mụ lúc lắc đầu qua lại, ngâm nga khúc ca đắc thắng nọc độc.

“Hỡi con trai của gã đàn ông đã giết Nag,” mụ ác xà rít lên xảo quyệt, “hãy cứ ngồi yên đó. Tao vẫn chưa sẵn sàng ra tay đâu. Cứ từ từ. Hãy ngồi im phăng phắc, cả ba người bọn mày! Bọn mày nhúc nhích tao sẽ mổ, mà bọn mày không nhúc nhích tao cũng sẽ mổ. Ôi, lũ người ngu ngốc đã sát hại Nag của ta!”

Đôi mắt Teddy đăm đăm nhìn vào ba mình, và tất cả những gì ba cậu có thể làm lúc này là thì thào dặn dò: “Ngồi yên, Teddy. Con tuyệt đối không được nhúc nhích. Teddy, ngoan ngoãn ngồi yên.”

Đúng lúc đó, Rikki-tikki lao tới và gầm lên: “Quay lại đây, Nagaina. Quay lại mà tử chiến với tao!”

“Từ từ đã,” mụ ta đáp lời, đôi mắt lạnh lẽo không hề suy suyển. “Món nợ của mày tao sẽ thanh toán sòng phẳng sau. Hãy nhìn đám bạn của mày đi, Rikki-tikki. Cả bọn đang ngồi chết trân, mặt mày trắng bệch ra kìa. Chúng nó đang sợ hãi tột cùng. Chúng nó không dám cựa quậy, và chỉ cần mày tiến lên nửa bước thôi, tao sẽ mổ.”

“Thử nhìn lại ổ trứng của mày xem,” Rikki-tikki khiêu khích, “trong luống dưa sát góc tường ấy. Ra đó mà ngó, Nagaina!”

Con rắn khổng lồ giật mình quay ngoắt lại, ánh mắt lập tức dán chặt vào quả trứng trên hiên nhà. “A-a! Trả nó cho tao,” mụ gầm gừ.

Rikki-tikki gác hai chi trước lên quả trứng, đôi mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu. “Một quả trứng rắn thì đáng giá bao nhiêu? Đổi lấy một con rắn hổ mang non? Hay một con rắn chúa non? Sinh linh cuối cùng-giọt máu cuối cùng của bầy con thì sao nhỉ? Lũ kiến đang xơi tái sạch sẽ đám trứng ngoài luống dưa kia kìa.”

Nagaina quay ngoắt hẳn lại, hoàn toàn mất trí vì quả trứng độc tôn còn sót lại. Chớp lấy thời cơ, Rikki-tikki thấy ba của Teddy vươn cánh tay vạm vỡ túm lấy vai cậu bé, nhấc bổng cậu băng qua chiếc bàn nhỏ la liệt tách trà, đưa con trai cưng đến nơi an toàn ngoài tầm với của ác xà.

“Mắc bẫy rồi! Lừa được mày rồi! Lừa rồi! Rikk-tck-tck!” Rikki-tikki cười ré lên đắc trí. “Thằng bé an toàn rồi, và chính tao-chính tao-tao đây mới là kẻ đã ngoạm nát cổ gã Nag đêm qua trong phòng tắm.” Dứt lời, nó bật nhảy lách chách, bốn chân chụm lại, đầu cúi rạp sát mép sàn. “Hắn quật tao tơi tả, nhưng chẳng tài nào hất văng tao ra được. Hắn đã bỏ mạng trước cả khi gã đàn ông nã súng bắn hắn đứt đôi. Chính tao đã kết liễu hắn! Rikki-tikki-tck-tck! Nhào vô đây, Nagaina. Nhào vô mà tử chiến với tao. Mày sẽ chẳng phải chịu cảnh góa bụa lâu nữa đâu.”

Nagaina cay đắng nhận ra mình đã đánh mất cơ hội đoạt mạng Teddy, trong khi quả trứng quý giá lại đang nằm lăn lóc giữa hai chân trước của Rikki-tikki. “Trả trứng lại cho tao, Rikki-tikki. Đưa nốt quả trứng cuối cùng cho tao, tao sẽ cuốn gói khỏi đây và không bao giờ quay lại nữa,” mụ xuống nước thỏa hiệp, từ từ hạ bành mang xuống.

“Đúng, mày sẽ đi, và mày sẽ vĩnh viễn không bao giờ có cơ hội quay lại nữa. Bởi vì mày sắp sửa ra bãi rác nằm chung với gã Nag rồi. Quyết chiến đi, mụ góa phụ! Gã đàn ông đã đi lấy súng rồi kìa! Chiến đấu đi!”

{0227}

Nagaina phóng như bay chuồn thẳng xuống lối đi, trong khi Rikki-tikki như một mũi tên rượt đuổi sát gót theo sau.

Rikki-tikki thoăn thoắt nhảy vòng quanh Nagaina, khôn khéo giữ khoảng cách vừa vặn ngoài tầm mổ đoạt mạng của mụ. Đôi mắt nhỏ xíu của nó rực sáng lên như hai hòn than hồng. Nagaina cuộn chặt mình lại rồi phóng sầm sập về phía nó. Rikki-tikki nhẹ nhàng bật cao rồi lùi bước. Hết lần này đến lần khác, ả rắn cái lao lên tấn công, nhưng mỗi bận như thế, cái đầu độc địa ấy lại giáng một cú chát chúa xuống tấm thảm ngoài hiên nhà, để rồi mụ lại thu mình về tựa một chiếc lò xo đồng hồ căng cứng. Kế đó, Rikki-tikki xoay vòng theo một vũ điệu tử thần hòng vòng ra sau lưng đối thủ, còn Nagaina cũng thoăn thoắt xoay theo để luôn nhìn thẳng mặt kẻ thù, khiến những lớp vảy đuôi của mụ chà xát miết xuống tấm thảm, vút lên những thanh âm hệt như tiếng lá khô xạc xào bị cuồng phong cuốn đi.

Rikki-tikki đã hoàn toàn quên mất quả trứng. Vật ấy vẫn nằm chỏng chơ trên hiên nhà, và Nagaina cứ lết lại mỗi lúc một gần hơn, cho tới phút chót, khi Rikki-tikki đang chững lại lấy hơi, mụ đã kịp đớp quả trứng vào miệng, quay phắt đầu về phía bậc thềm và lao vút đi như một mũi tên xé gió dọc theo con lối nhỏ. Rikki-tikki bám sát gót theo sau. Một khi rắn hổ mang đã dốc toàn lực chạy bán sống bán chết, bóng dáng nó lướt đi vùn vụt hệt như một tiếng roi quất xé không gian sượt ngang qua cổ một con chiến mã.

Rikki-tikki thừa hiểu nó phải tóm gọn bằng được mụ ta, bằng không mọi mầm mống hiểm họa sẽ lại hồi sinh. Mụ xà cắm đầu cắm cổ trườn như bay về phía thảm cỏ cao rậm rạp cạnh bụi gai. Trong lúc mải miết đuổi theo, Rikki-tikki vẫn nghe văng vẳng tiếng Darzee rống lên bài ca chiến thắng xuẩn ngốc của anh ta. Thế nhưng, vợ của Darzee lại khôn ngoan hơn nhiều. Cô sà ngay khỏi tổ khi Nagaina lướt ngang, đập cánh phành phạch nhiễu loạn quanh đầu mụ rắn. Giá như Darzee biết xông vào tiếp ứng, họ đã dư sức buộc mụ ta phải quay đầu, nhưng Nagaina chỉ gập mang xuống rồi tiếp tục lao đi vun vút. Dẫu sao, sự chậm trễ vỏn vẹn trong khoảnh khắc ấy cũng đủ để Rikki-tikki theo kịp đối thủ. Ngay khoảnh khắc mụ trườn tuột vào hang chuột - sào huyệt cũ của mụ và Nag, hàm răng trắng nhỏ xíu của chú chồn đã cắm phập vào đuôi mụ, khiến nó bị kéo tuột xuống theo - và quả thực, cực kỳ hiếm có con chồn nào, dẫu khôn ngoan và dạn dày sương gió đến đâu đi chăng nữa, lại cả gan đuổi theo một con rắn hổ mang cái vào tận sào huyệt của nó. Lòng hang ngập chìm trong một màu tối đen như mực. Rikki-tikki nào đâu biết được liệu tới đoạn nào thì khoảng không sẽ nong rộng ra, đủ để Nagaina ngoặt đầu lại mổ một nhát chí mạng. Nó điên cuồng bám riết lấy cái đuôi, sải rộng cả bốn chân để làm phanh hãm tốc lại trên con dốc trơn tuột đầy thứ đất lầy lội, hầm hập nóng.

Rồi những ngọn cỏ bao quanh miệng hang cũng dần ngừng lay động. Darzee thốt lên ảo não: "Mọi chuyện chấm dứt với Rikki-tikki rồi! Chúng ta phải cất lên khúc bi ca báo tử cho nó thôi. Rikki-tikki quả cảm đã bỏ mạng! Vì Nagaina chắc chắn sẽ kết liễu nó sâu dưới lòng đất kia."

Thế là anh chàng cất ngay một điệu sầu ca thê thiết mà anh vừa vội vàng tự biên tự diễn lúc ấy. Và ngay khi anh đang nức nở tới đoạn bi tráng nhất, đám cỏ bên dưới bỗng khẽ rung lên bần bật. Rikki-tikki, mình mẩy phủ một tầng đất cát nhem nhuốc, lết từng bước trườn ra khỏi miệng hang, điềm nhiên thè lưỡi liếm mép. Darzee nín bặt, buông một tiếng kêu sửng sốt khẽ khàng. Rikki-tikki giũ sạch bụi đất trên bộ lông rồi hắt xì một cái. "Mọi chuyện xong xuôi cả rồi," nó bảo. "Mụ góa phụ ấy sẽ chẳng bao giờ còn thấy ánh mặt trời nữa đâu." Lũ kiến đỏ rúc mình giữa kẽ cỏ tình cờ nghe được tuyên bố ấy, lập tức nối đuôi nhau lũ lượt kéo xuống hang từng con một để tự mình kiểm chứng thực hư.

Rikki-tikki cuộn tròn mình ngay trong thảm cỏ và chìm vào giấc ngủ tại chỗ-một giấc ngủ say sưa đến tận ráng chiều tà, bởi nó vừa mới hoàn tất một ngày dài chiến đấu vô cùng khốc liệt.

"Giờ thì," nó uể oải vươn mình cất giọng khi tỉnh giấc, "tôi sẽ quay trở về nhà. Hãy đi báo cho Coppersmith biết đi, Darzee, rồi anh ta sẽ loan báo cho toàn thể sinh linh trong khu vườn này rằng ác điểu Nagaina đã đền tội."

{0230}

Mọi chuyện đã xong xuôi.

Coppersmith vốn là một loài chim sở hữu tiếng hót hệt như tiếng búa nện đều đặn vào chiếc nồi đồng. Sở dĩ nó luôn phát ra thanh âm ngân vang ấy là bởi nó sắm vai sứ giả truyền tin của mọi khu vườn trên khắp cõi Ấn Độ, gánh vác trọng trách báo tin tức cho bất cứ kẻ nào muốn đểnh tai nghe. Khi Rikki-tikki thư thả dạo bước dọc lối đi, nó chợt nghe thấy những nốt nhạc "báo hiệu chú ý" của chú chim rộn lên tựa hồi chiêng nhỏ gọi dùng bữa tối. Ngay sau đó là nhịp điệu dõng dạc, đều đều: "Đinh-đoong-toóc! Nag đã chết-đoong! Nagaina đã chết! Đinh-đoong-toóc!" Âm vang ấy vừa dứt, vạn điểu trong vườn lập tức hòa vào một bản hợp xướng véo von, và bầy ếch nhái cũng góp giọng ộp oạp vang lừng, vì từ trước đến nay, cả Nag lẫn Nagaina vẫn luôn coi ếch nhái và những chú chim non là món điểm tâm ưa thích.

Lúc Rikki quay trở về nhà, Teddy cùng mẹ (với gương mặt vẫn còn nhợt nhạt vì trận ngất xỉu ban chiều) và ba Teddy cùng ùa ra đón. Họ mừng rỡ ôm chầm lấy chú chồn nhỏ, tưởng chừng sắp bật khóc nức nở. Đêm ấy, nó được khao một bữa no nê, thưởng thức tất thảy những món ngon người ta dọn ra cho đến tận khi cái bụng đã căng tròn không nhét thêm được miếng nào nữa. Sau đó, nó leo lên giường và cuộn mình ngủ vùi trên vai Teddy. Đó cũng chính là nơi mẹ Teddy bắt gặp nó khi cô khe khẽ ghé qua kiểm tra vào đêm muộn.

"Nó đã cứu mạng chúng ta và mạng sống của Teddy," cô thì thầm với chồng. "Hãy thử nghĩ mà xem, ân nhân nhỏ bé này đã giành lại mạng sống cho cả gia đình mình đấy."

Rikki-tikki khẽ giật mình thức giấc, bởi lẽ giống chồn vốn ngủ rất thính tai.

"Ồ, là hai người à," nó nói. "Hai người còn bận tâm lo lắng làm gì cơ chứ? Lũ rắn hổ mang đều đã chết sạch rồi. Mà dẫu chúng có chưa chết đi chăng nữa, thì cũng vẫn còn có tôi ở đây bảo vệ mọi người mà."

Rikki-tikki hoàn toàn có quyền hãnh diện về chiến công hiển hách của mình. Thế nhưng nó không vì vậy mà trở nên kiêu ngạo. Nó vẫn cẩn mẫn ngày đêm canh giữ khu vườn thiêng liêng ấy hệt như sứ mệnh muôn thuở của một con chồn quả cảm-bằng bộ hàm sắc nhọn, bằng những cú tung mình điêu luyện và những cú đớp nhanh như chớp giật-cho đến mãi về sau, khi tuyệt nhiên không còn bóng dáng một con rắn hổ mang nào dám cả gan thò đầu qua những bức tường đá rêu phong ấy nữa.



  1. Segowlee (Sagauli) là một khu đồn trú của quân đội Anh tại Ấn Độ thế kỷ 19, nơi đóng quân của binh lính Anh và gia đình họ. 

  2. Trong tiếng Hindi, "Darzee" có nghĩa là "thợ may". Chim Darzee trong truyện là loài chim chích bông (tailorbird), nổi tiếng với tập tính dùng mỏ khâu các mép lá lại với nhau để làm tổ hệt như một thợ may thực thụ. 

  3. Maréchal Niel là một giống hoa hồng leo màu vàng rất nổi tiếng và được ưa chuộng vào thời kỳ Victoria (thế kỷ 19), thường được trồng trong các khu vườn của người Anh tại Ấn Độ. 

  4. Tức thần Brahma (Phạm Thiên) - vị thần Sáng tạo tối cao trong Ấn Độ giáo. Theo thần thoại Hindu, rắn hổ mang đã bành mang che nắng cho các vị thần ngủ, do đó được thần linh ban cho dấu ấn thiêng liêng trên đầu và được tôn kính. 

  5. Rắn cạp nia Ấn Độ (Common krait), một loài rắn cực độc. Dù có kích thước nhỏ và màu sắc dễ ngụy trang trên nền đất tàn dư, nọc độc của nó có thể gây tử vong nhanh chóng, biến nó thành một trong những loài rắn nguy hiểm nhất ở khu vực Nam Á. 

  6. Trong tiếng Hindi, "Chua" (hoặc Chuha) đơn giản có nghĩa là "con chuột". Tác giả đã dùng từ ngữ địa phương này để làm tên riêng cho nhân vật chuột cống nhằm tăng tính chân thực về bối cảnh Ấn Độ.