Toomai của loài Voi

Tôi sẽ nhớ mình đã từng ra sao, tôi chán ngấy thừng và xích-
    Tôi sẽ nhớ lại sức mạnh thuở nào và những chuyện rừng xanh của tôi.
Tôi sẽ không bán lưng mình cho con người để đổi lấy bó mía:
    Tôi sẽ ra đi tìm về đồng loại, và những cư dân rừng thẳm trong hang ổ của họ.

Tôi sẽ đi cho đến khi ngày tàn, cho đến lúc bình minh hé rạng-
    Ra ngoài kia đón nụ hôn không tì vết của gió, sự mơn trớn trong ngần của dòng nước;
Tôi sẽ quên đi chiếc vòng cổ chân và bẻ gãy cọc buộc.
    Tôi sẽ về thăm lại những tình yêu đã mất, và những bạn đồng hành không người sai khiến!

Kala Nag, tức là Rắn Đen, đã phụng sự Chính phủ Ấn Độ bằng mọi cách mà một con voi có thể cống hiến suốt bốn mươi bảy năm ròng. Nó bị bắt khi tròn hai mươi tuổi, vậy nên nay cũng ngót nghét bảy mươi-một độ tuổi chín muồi và đầy chiêm nghiệm đối với họ nhà voi. Nó vẫn nhớ cái thời phải dùng tấm đệm da lớn trên trán để ủi một khẩu pháo kẹt dưới lớp bùn sâu hoắm. Chuyện đó xảy ra từ trước cuộc Chiến tranh Afghan năm 18421, hồi ấy nó thậm chí còn chưa đạt tới thời kỳ sung mãn nhất của sức mạnh.

Mẹ của nó là Radha Pyari - nàng Radha yêu dấu - cũng bị bắt trong cùng một đợt săn lùng với Kala Nag. Trước khi những chiếc ngà sữa bé xíu của Rắn Đen kịp rụng, mẹ nó đã răn dạy rằng bất kỳ con voi nào để lộ sự sợ hãi sẽ chuốc lấy thương vong. Kala Nag sớm thấm thía tính chân lý của lời khuyên ấy. Lần đầu tiên chứng kiến một quả đạn pháo nổ tung, nó hoảng loạn lùi lại, rống lên the thé rồi đâm sầm vào một giá để súng trường. Hậu quả là những mũi lê sắc lẹm đã đâm thủng hết thảy những chỗ mềm yếu nhất trên người nó. Từ đó, trước cả khi bước sang tuổi hai mươi lăm, nó đã rũ bỏ hoàn toàn thói nhút nhát, để rồi vươn lên thành con voi được cưng chiều và chăm sóc chu đáo bậc nhất trong hàng ngũ phục vụ Chính phủ Ấn Độ. Nó từng thồ những túp lều bạt nặng tới một ngàn hai trăm pound trong các cuộc hành quân dằng dặc dọc mạn Thượng Ấn. Nó từng bị những cần cẩu hơi nước nhấc bổng lên tàu thủy, bồng bềnh nhiều ngày trời trên mặt nước, rồi lại oằn lưng cõng một khẩu súng cối tiến vào vùng đất đầy sỏi đá, xa lạ, cách quê hương Ấn Độ vạn dặm. Nó đã tận mắt chứng kiến Hoàng đế Theodore nằm lại giữa đống đổ nát ở Magdala, rồi mới quay về trên chuyến tàu hơi nước mang theo vinh quang mà lính tráng gọi là huy chương Chiến tranh Abyssinian2. Mười năm sau, nó lại phải bất lực nhìn những con voi đồng loại gục ngã vì cái lạnh thấu xương, vì những cơn động kinh, vì nạn đói khát và vì say nắng trên một vùng tử địa mang tên Ali Musjid3. Để rồi sau đó, nó lại bị điều xuống tận hàng ngàn dặm về phương nam, đày ải trong công việc kéo và chất đống những khúc gỗ tếch khổng lồ tại các bãi tập kết ở Moulmein4. Chính tại nơi ấy, nó đã quật gần chết một con voi tơ ương ngạnh dám trốn tránh phần việc công bằng của mình.

{0239}

Kala Nag là con voi được yêu quý nhất trong hàng ngũ phục vụ.

Trải qua biến cố đó, nó được rút khỏi công trường kéo gỗ, rồi cùng vài chục con voi gạo cội khác gia nhập một đội ngũ đặc biệt chuyên đi săn lùng những con voi hoang dã trên rặng đồi Garo5. Chính phủ Ấn Độ luôn bảo vệ nghiêm ngặt loài voi. Có hẳn một bộ phận chuyên trách chẳng làm gì khác ngoài việc săn lùng, vây bắt, thuần dưỡng, rồi phân bổ chúng đi khắp mọi miền đất nước mỗi khi có công việc cần đến sức vóc khổng lồ ấy.

Kala Nag đứng sừng sững, cao chẵn mười feet tính tới ngang vai. Cặp ngà của nó đã bị cưa ngắn đi chỉ còn năm feet, đầu ngà được bọc đồng kiên cố để chống nứt nẻ. Nhưng chỉ với hai khúc cụt ấy, nó còn làm được nhiều chuyện động trời hơn bất cứ con voi tơ nào có cặp ngà sắc nhọn thực thụ. Thường thì, sau những tuần lễ nhẫn nại dồn ép bầy voi hoang tản mát trên các sườn đồi, khoảng bốn mươi đến năm mươi con thú hoang dã khổng lồ sẽ bị dồn vào một rào chắn kiên cố cuối cùng. Khi cánh cổng sập khổng lồ kết bằng những thân cây nguyên thoi giáng sầm xuống khóa chặt lối thoát, Kala Nag, tuân theo mệnh lệnh, sẽ lầm lùi tiến thẳng vào giữa bối cảnh hỗn mang, khói lửa mịt mù và tiếng rống điên cuồng đó (phần lớn những trận càn này diễn ra vào ban đêm, dưới ánh đuốc bập bùng khiến người ta rất khó căn chỉnh khoảng cách). Rắn Đen sẽ điềm tĩnh chọn lấy con voi đực to con và man dại nhất đàn, quật cho nó một trận tơi bời rồi ghìm nó xuống cho đến khi hoàn toàn khuất phục, tạo điều kiện cho những thợ săn cưỡi trên lưng các con voi khác vòng dây thừng trói gô những con nhỏ hơn.

Trải đời và dạn dày sương gió, Rắn Đen Kala Nag thông thạo mọi ngón đòn chiến đấu. Không dưới một lần, nó đã sừng sững đứng đối mặt với cú vồ của một con hổ say máu. Nó cuộn chiếc vòi mềm mại lên cao để tránh nanh vuốt, rồi bằng một cú chặt đầu nhanh như chớp giật - một ngón đòn do chính nó sáng chế ra - đánh văng con ác thú sang một bên ngay giữa không trung. Nó quật ngã kẻ thù, dùng cặp đầu gối khổng lồ nghiền nát con vật cho tới khi hơi thở cuối cùng của chúa sơn lâm lụi tắt trong một tiếng tru rên rỉ, để lại trên mặt đất chỉ còn là một đống bầy nhầy vằn vện mà Kala Nag điềm nhiên nắm đuôi lôi xệch đi.

“Đúng vậy,” Big Toomai, người nài voi của nó, con trai của Black Toomai từng đưa nó đến tận Abyssinia, và là cháu nội của vị Toomai của loài Voi huyền thoại từng chứng kiến ngày Kala Nag bị bắt, dõng dạc nói. “Rắn Đen chẳng biết sợ ai ngoài ta. Nó đã nhìn thấy ba thế hệ nhà ta cho nó ăn uống, tắm rửa chải chuốt, và nó sẽ còn sống để thấy cả thế hệ thứ tư.”

“Nó cũng sợ con nữa,” Little Toomai cất tiếng, rướn thẳng người hết cỡ với chiều cao vỏn vẹn bốn feet, trên người độc một mảnh vải vụn. Cậu nhóc mười tuổi này là con trai cả của Big Toomai. Theo đúng phong tục truyền đời, cậu sẽ kế thừa vị trí của cha trên cổ Kala Nag khi khôn lớn, sẽ nắm lấy cây móc sắt ankus6 nặng trịch đã được mài nhẵn thín qua tay cha cậu, ông nội cậu và cả cụ nội cậu.

{5291}

Kala Nag

Cậu bé thừa biết mình đang nói gì. Cậu sinh ra dưới cái bóng khổng lồ của Kala Nag, đã đùa nghịch với chóp vòi của nó từ trước khi biết chập chững những bước đầu tiên. Cậu đã dắt nó xuống nước tắm táp ngay từ lúc mới lẫm chẫm. Và Kala Nag sẽ chẳng bao giờ dám tơ tưởng đến chuyện bất tuân những mệnh lệnh lanh lảnh của mi, hay chuyện giết mi vào cái ngày mà Big Toomai mang đứa trẻ da nâu bé bỏng đặt dưới ngà Kala Nag, ra lệnh cho nó phải cúi chào người chủ tương lai.

“Đúng vậy,” Little Toomai đắc ý, “nó sợ con,” rồi cậu sải bước đĩnh đạc tới trước mặt Kala Nag, gọi nó là một con lợn già phục phịch và bắt nó lần lượt nhấc từng chân lên.

“Wah!” Little Toomai thốt lên, “mi là một con voi bự chảng,” cậu vừa nói vừa lắc lư mái tóc bù xù, nhại lại lời cha. “Chính phủ có thể xuất tiền mua đàn voi, nhưng chúng thuộc về những người nài voi (mahout) chúng ta. Khi mi già yếu, Kala Nag ạ, sẽ có một vị rajah7 giàu nứt đố đổ vách nào đó tới đây. Ông ta sẽ mua mi từ Chính phủ vì cái dáng vóc và phong thái uy nghi của mi. Rồi mi sẽ chẳng phải động chân động tay vào việc gì nữa, ngoài việc đeo lủng lẳng đôi hoa tai vàng chóe, cõng một cỗ howdah8 dát vàng trên lưng, khoác tấm vải lụa đỏ thêu vàng che kín hai bên sườn, và bệ vệ dẫn đầu các đám rước của nhà Vua. Lúc bấy giờ, ta sẽ chễm chệ trên cổ mi, ôi Kala Nag, tay cầm một cây ankus bằng bạc, còn lũ gia nhân sẽ cầm gậy vàng chạy trước dẹp đường, hét lớn: ‘Dọn đường cho voi của nhà Vua!’ Nghe bùi tai đấy, Kala Nag, nhưng cũng chẳng sánh được với những chuyến đi săn trong rừng thẳm như thế này đâu.”

“Umph!” Big Toomai hừ giọng. “Con đúng là một thằng ranh con, hoang dã như một con nghé mới đẻ. Cái trò chạy lăng xăng khắp đồi núi này đâu phải là cách phục vụ Chính phủ tốt nhất. Cha đang già đi, cha chẳng còn mặn mà gì với lũ voi hoang dã nữa. Hãy cho cha những khu chuồng voi xây gạch kiên cố, mỗi con một chuồng riêng biệt, với những cọc gỗ chôn sâu đóng chặt để buộc thừng cho an toàn. Hãy cho cha những con đường rộng rãi, bằng phẳng để nhẩn nha đi dạo, chứ đừng có nay đây mai đó cắm trại rày rạc thế này. Aha, doanh trại Cawnpore9 mới là chốn bồng lai. Cạnh đó có một khu chợ sầm uất, mỗi ngày lại chỉ phải làm việc vỏn vẹn ba tiếng đồng hồ.”

Little Toomai mường tượng đến những khu chuồng voi ở Cawnpore và nín bặt. Cậu yêu chuộng cuộc sống hoang dã nơi những khu cắm trại hơn vạn lần, và chán ghét đến tận cổ những con đường thênh thang, nhẵn thín ấy. Ở đó ngày ngày phải xách cuốc đi đào cỏ trong khu bảo tồn, và chịu đựng những giờ đồng hồ lê thê chẳng có việc gì làm ngoài việc trân trân nhìn Kala Nag bồn chồn bứt rứt bên cọc buộc.

Thứ mà Little Toomai đam mê là được vắt vẻo leo lên những con đường mòn cheo leo dốc đứng mà chỉ voi mới có thể chinh phục; là cảm giác chao đảo cúi rạp người xuống ngắm nhìn thung lũng sâu thẳm bên dưới; là những ánh nhìn chớp nhoáng về bầy voi hoang dã đang mải mê gặm cỏ cách xa cả dặm đàng; là cảnh bầy lợn rừng rùng rùng bỏ chạy, lũ chim công hoảng loạn tung cánh dưới những bước chân rầm rập của Kala Nag; là những cơn mưa mù mịt mang hơi ấm dịu dàng, khi tất cả đồi núi và thung lũng như bốc khói mờ ảo; là những buổi sáng sương mù tuyệt mỹ khi chẳng ai biết đêm nay mình sẽ ngủ ở chốn nao. Cậu đam mê sự tỉ mẩn, đều đặn trong việc dồn đuổi bầy voi hoang, và rồi bùng nổ trong sự xô lấn điên rồ, trong ánh lửa rừng rực và tiếng ồn ào hỗn độn của đêm vây hãm cuối cùng. Khi bầy voi cuồn cuộn đổ vào rào chắn như những tảng đá mồ côi trong một trận lở đất kinh hoàng, chợt nhận ra mình đã cùng đường tuyệt lộ, chúng quăng mình húc điên cuồng vào những cọc gỗ nặng chịch, chỉ để bị dội ngược trở lại bởi những tiếng la hét chói tai, những ngọn đuốc cháy rực và những loạt đạn rền vang xé toạc màn đêm.

Ngay cả một thằng nhóc cũng có thể hữu dụng ở nơi đó, mà Toomai thì bằng ba đứa nhóc cộng lại. Cậu bé sẽ giương cao ngọn đuốc, vẫy cuồng nhiệt, và gào thét to chẳng kém gì những tay thợ săn cừ khôi nhất. Nhưng khoảnh khắc vĩ đại thực sự là khi cuộc lùa voi bắt đầu, và cái rào chắn Keddah10 ấy mang dáng dấp của một khung cảnh ngày tận thế. Con người ở đó phải giao tiếp bằng ám hiệu, bởi chẳng ai có thể nghe được tiếng nói của chính mình giữa âm thanh đinh tai nhức óc đó. Lúc bấy giờ, Little Toomai sẽ trèo tót lên đỉnh một trong những cây cọc đang rung lên bần bật của rào chắn. Mái tóc nâu cháy nắng tung bay phần phật trên vai, khiến cậu trông hệt như một con yêu tinh nhỏ bé đang múa may dưới ánh lửa đuốc chập chờn. Cứ mỗi khi có một khoảng lặng hiếm hoi, người ta lại nghe thấy giọng nói the thé của cậu bé cất lên khích lệ Kala Nag, xé toạc cả tiếng rống giận dữ, tiếng cây cối gãy đổ răng rắc, tiếng đứt phựt kinh hoàng của những sợi dây thừng và tiếng rên rỉ bất lực của những con voi bị trói. “Mael, mael, Kala Nag! (Tiến lên, tiến lên, Rắn Đen!) Dant do! (Cho nó nếm mùi ngà đi!) Somalo! Somalo! (Cẩn thận, cẩn thận!) Maro! Mar! (Đánh nó, đánh nó!) Coi chừng cái cọc! Arre! Arre! Hai! Yai! Kya-a-ah!” Cậu bé sẽ gào lên như thế. Trận chiến lớn giữa Kala Nag và con voi hoang dã sẽ chao đảo dội qua dội lại khắp Keddah. Những tay thợ săn voi sừng sỏ nhất sẽ vội gạt những giọt mồ hôi đang cay xè khóe mắt, và tranh thủ gật đầu tán thưởng Little Toomai đang quằn quại trong niềm vui sướng hoang dại trên đỉnh những chiếc cọc.

Nhưng cậu đã làm được nhiều việc hơn là chỉ vặn vẹo múa may. Một đêm nọ, cậu tụt nhanh xuống từ cây cọc, lách mình lẻn vào giữa bầy voi hỗn loạn, tung một đầu dây thừng bị chùng rơi xuống đất cho một người nài voi đang tuyệt vọng tìm chỗ bám víu vào chân một con voi con đang giãy giụa đá loạn xạ (đám voi con bao giờ cũng phiền phức hơn lũ voi trưởng thành). Kala Nag tinh mắt nhìn thấy cậu, nhanh như cắt vươn vòi quắp lấy cậu, và chuyền thẳng lên cho Big Toomai. Ông bố đã cho cậu một bạt tai nảy lửa ngay tại trận, rồi nhấc bổng cậu đặt trở lại trên cọc.

Sáng hôm sau, ông ta tiếp tục xả một trận lôi đình: “Chẳng lẽ những khu chuồng voi bằng gạch đàng hoàng và dăm ba cái việc thồ lều trại nhẹ nhàng chưa đủ tốt sao, mà con lại cứ phải xông pha đi săn voi hử, cái thằng ranh con vô tích sự này? Bây giờ thì mấy gã thợ săn đần độn kia, cái lũ mà lương lậu còn chẳng bằng một góc lương của cha, đã bép xép mách chuyện này với Petersen Sahib11 rồi.” Little Toomai tái mặt sợ hãi. Cậu chẳng biết nhiều về những người da trắng, nhưng trong mắt cậu, Petersen Sahib là vị thánh sống quyền lực nhất thế gian. Ngài ấy là tổng chỉ huy mọi hoạt động của Keddah - người đã tự tay bắt thâu tóm mọi con voi cho Chính phủ Ấn Độ, và là người am tường tập tính loài voi hơn bất kỳ ai đang còn sống.

“Cái gì-chuyện gì sẽ xảy ra hở cha?” Little Toomai thảng thốt.

“Xảy ra á! Điều tồi tệ nhất có thể ập đến. Petersen Sahib là một kẻ rồ dại. Nếu không thì tại sao ngài ấy lại cứ cắm đầu đi săn đuổi những con quỷ hoang dã này? Ngài ấy thậm chí có thể tóm cổ con bắt làm một kẻ đi săn, bắt con ngủ vạ vật ở bất cứ xó xỉnh nào trong những khu rừng đầy lam sơn chướng khí này, và cuối cùng thì con sẽ bị giẫm đạp đến nát bét trong rào chắn Keddah. May phước là chuyện ngu ngốc này đã qua đi bình an vô sự. Tuần tới, đợt săn bắt sẽ kết thúc, và những người đồng bằng như cha con mình sẽ được rút về các trạm đóng quân. Sau đó chúng ta sẽ ung dung hành quân trên những con đường bằng phẳng, và tống khứ hết những ký cực về cái chuyện đi săn chết tiệt này. Nhưng, con trai, cha đang vô cùng tức giận vì con dám thọc gậy bánh xe vào cái công việc thuộc về lũ thợ rừng Assamese bẩn thỉu kia. Kala Nag sẽ chẳng nghe lệnh ai ngoài cha, nên cha buộc phải cùng nó vào trong Keddah, ngặt nỗi nó chỉ là một con voi chiến, và nó chẳng giúp ích gì cho bọn họ trong việc buộc thừng. Vì thế cha cứ ung dung ngồi đó, như cái phong thái cần có của một người nài voi,-không đơn thuần là một kẻ đi săn vặt vãnh,-cha nhắc lại, một người nài voi, một người sẽ đường hoàng nhận lương hưu khi kết thúc thời gian phục vụ. Lẽ nào gia tộc của Toomai của loài Voi lại chịu để bị vùi dập dưới vũng bùn lầy của Keddah sao? Thằng ranh tồi tệ! Thằng ranh ranh ma! Đứa con vô tích sự! Đi tắm rửa cho Kala Nag ngay, nhớ kiểm tra kỹ đôi tai của nó, và xem xem có cái gai khốn kiếp nào đâm dưới lòng bàn chân nó không. Nếu không làm cẩn thận, Petersen Sahib chắc chắn sẽ tóm cổ con và biến con thành một kẻ đi săn hoang dại - một thằng dò dấu chân voi, một con gấu rừng. Bah! Thật nhục nhã! Đi ngay!”

Little Toomai lầm lụi bỏ đi chẳng hé răng một lời, nhưng khi cúi xuống nhặt rác kiểm tra bàn chân voi, cậu đã trút hết nỗi ấm ức với Kala Nag. “Không sao đâu,” Little Toomai lẩm bẩm, nhẹ nhàng lật mép cái tai phải khổng lồ của Kala Nag lên. “Họ đã tâu tên ta cho Petersen Sahib rồi, và có lẽ-và có lẽ-và có lẽ-ai mà biết được chữ ngờ? Hai! Đây rồi, một cái gai to tướng mà ta vừa mới nhổ ra!”

Vài ngày sau đó, cả trại hối hả với công việc tập hợp bầy voi lại thành hàng lối, sắp xếp cho lũ voi hoang dã mới bị bắt đi kèm kẹp giữa hai con voi nhà lành nghề để ngăn chúng quậy phá trong chuyến hành quân xuôi về đồng bằng, đồng thời lo kiểm kê lại chăn mền, thừng chão cùng lỉnh kỉnh những thứ đã hao hụt hoặc rơi rớt trong rừng sâu.

Petersen Sahib xuất hiện trên lưng con voi cái thông minh mang tên Pudmini; ngài ấy vừa mới hoàn tất việc phát lương cho các trại khác trên đồi, bởi lẽ mùa giải đã tới lúc hạ màn. Có một viên thư ký bản xứ ngồi nắn nót ghi chép tại một cái bàn kê dưới gốc cây, làm nhiệm vụ phát lương cho những người nài voi. Cứ mỗi người sau khi nhận phần tiền của mình lại quay về chỗ con voi của họ, gia nhập vào hàng ngũ đang chỉnh tề chờ lệnh khởi hành. Những người bắt voi, những người thợ săn, những kẻ đánh chiêng lùa thú, hay những thành viên kỳ cựu của đội Keddah thường trực - những con người đã dầm dề sương gió trong rừng thẳm hết năm này qua năm khác - thảnh thơi ngồi trên lưng những con voi thuộc đội tiên phong của Petersen Sahib, hoặc nhàn nhã tựa lưng vào thân cây, khoanh tay ôm súng trước ngực. Họ buông lời trêu ghẹo những người nài voi sắp sửa nhổ trại, và phá lên cười hô hố mỗi khi có con voi mới bị bắt nào đó phá vỡ đội hình, lăng xăng chạy loạn xạ.

Big Toomai xăm xăm bước tới chỗ viên thư ký, theo sau là Little Toomai lẽo đẽo. Machua Appa, thủ lĩnh đội theo dấu chân thú, rỉ tai một gã bạn: “Cái thằng nhóc đó chí ít cũng là một mầm non săn voi đầy triển vọng đấy. Thật uổng phí khi đẩy con gà rừng tơ ấy xuống vùng đồng bằng để thay lông.”

Nói về Petersen Sahib, ngài ấy dường như có tai mắt ở khắp chốn, hệt như cái cách mà một người luôn phải vểnh tai lắng nghe những sinh vật im lìm nhất thế gian - loài voi hoang dã - cần phải có. Từ tư thế nằm ngả ngớn dọc lưng con Pudmini, ngài quay sang hỏi giọng ráo hoảnh: “Chuyện gì thế? Ta không ngờ trong đám nài voi đồng bằng lại có người đủ dũng khí để trói cổ một con voi chết đấy.”

“Bẩm ngài, đây chẳng phải là một gã đàn ông trưởng thành, mà chỉ là một cậu nhóc vắt mũi chưa sạch. Cậu ta đã lao thẳng vào giữa Keddah trong trận càn cuối cùng, liều mạng quăng cho Barmao sợi dây thừng khi chúng tôi đang chật vật tách cái con voi con có vết bớt trên vai ra khỏi mẹ nó.”

Machua Appa hất hàm chỉ về phía Little Toomai, khiến Petersen Sahib đưa mắt nhìn sang. Little Toomai vội vàng cúi rạp người xuống sát đất.

“Nó ném một sợi dây thừng á? Trông nhóc con còn lùn hơn cả một cái cọc buộc voi. Này nhóc, nhóc tên gì?” Petersen Sahib cất giọng hỏi.

Little Toomai sợ đến mức líu lưỡi không thốt nên lời. Nhưng Kala Nag đứng lù lù phía sau cậu. Toomai chỉ vừa khẽ vẩy tay ra hiệu, con voi đã dùng vòi quắp nhẹ lấy cậu bé, nâng bổng cậu lên ngang tầm trán con Pudmini, đối diện trực diện với Petersen Sahib vĩ đại. Quá đỗi ngượng ngùng, Little Toomai lấy hai tay ôm mặt. Suy cho cùng cậu cũng chỉ là một đứa trẻ, và trừ những lúc gắn liền với loài voi, cậu vẫn bẽn lẽn y hệt những đứa trẻ bình thường khác.

“Oho!” Petersen Sahib thốt lên, khóe môi khẽ nhếch dưới bộ ria mép rậm rạp, “và tại sao nhóc lại dạy con voi của nhóc cái trò đó? Có phải để giúp nhóc dễ bề ăn trộm ngô xanh phơi trên mái nhà người ta không?”

{0255}

“Không phải ngô xanh, thưa Người Bảo Vệ Của Kẻ Nghèo,-mà là dưa hấu,” Little Toomai thỏ thẻ.

“Không phải ngô xanh, thưa Người Bảo Vệ Của Kẻ Nghèo,-mà là dưa hấu,” Little Toomai lặp lại, khiến tất thảy những người đàn ông đang ngồi xung quanh bật cười sảng khoái. Đa phần bọn họ đều từng dạy voi của mình mánh lới ấy khi còn là những cậu bé ranh mãnh. Little Toomai đang bị treo tòng teng cách mặt đất tám feet, và trong giây phút ấy, cậu chỉ ước gì mình có thể chui tọt xuống dưới lòng đất tám feet cho đỡ ngượng.

“Nó là Toomai, con trai tôi, thưa ngài,” Big Toomai cau mày nhăn nhó. “Nó là một đứa trẻ rất hư, rồi có ngày nó sẽ phải bóc lịch trong tù cho xem, thưa ngài.”

“Về chuyện đó ta có phần hồ nghi,” Petersen Sahib điềm nhiên nói. “Một cậu nhóc dám ngang nhiên đối mặt với toàn bộ Keddah ở độ tuổi đó thì sẽ không phải chịu cảnh rục xương trong tù đâu. Nghe này, nhóc, cầm lấy bốn anna12 này đi mua kẹo, bởi nhóc có một cái đầu nhỏ bé nhưng vô cùng dũng cảm ẩn dưới mái tóc dày cộp đó. Rồi thời gian trôi qua, nhóc có thể trở thành một tay thợ săn cừ khôi đấy.” Nghe vậy, Big Toomai càng cau có tợn. “Tuy nhiên, hãy nhớ cho kỹ, Keddah không phải là chốn vui chơi cho trẻ nhỏ,” Petersen Sahib nghiêm giọng nói tiếp.

“Cháu không bao giờ được đến đó sao, thưa ngài?” Little Toomai hỏi, giọng nghẹn ngào với một tiếng thở dốc lớn.

“Đúng thế.” Petersen Sahib lại mỉm cười. “Khi nhóc nhìn thấy những con voi nhảy múa. Đó mới là thời khắc thích hợp. Hãy đến tìm ta khi nhóc đã tận mắt chứng kiến bầy voi nhảy múa, và lúc đó ta sẽ cho phép nhóc bước vào bất kỳ rào chắn Keddah nào.”

Lại có thêm một tràng cười vang dội nổ ra. Bởi lẽ đó là một câu nói đùa cũ rích trong giới những kẻ bắt voi, và ý nghĩa thực sự của nó đơn giản là "không bao giờ". Có những khoảng đất trống thênh thang bị giẫm san phẳng lỳ, giấu kín giữa chốn rừng sâu, được truyền tai nhau là phòng khiêu vũ của voi. Nhưng ngay cả những nơi chốn bí ẩn ấy cũng chỉ tình cờ được phát hiện, và từ cổ chí kim, chưa từng có một con người nào được vinh dự chứng kiến bầy voi nhảy múa. Mỗi khi một người nài voi khoác lác khoe khoang về kỹ năng và sự can đảm của mình, những người bạn đồng nghiệp sẽ mỉa mai, “Thế anh đã bao giờ nhìn thấy những con voi nhảy múa chưa?”

Kala Nag nhẹ nhàng đặt Little Toomai xuống đất. Cậu bé lại kính cẩn cúi rạp người xuống, rồi lẽo đẽo theo sau cha. Cậu ngoan ngoãn đưa đồng xu bạc bốn anna cho mẹ, người đang vỗ về cho đứa em trai nhỏ của cậu bú. Rồi cả gia đình lại trèo lên lưng Kala Nag. Đoàn voi với những tiếng càu nhàu, rít lên chói tai ầm ầm lăn bánh xuống con đường đồi dốc, nhắm hướng đồng bằng thẳng tiến. Đó quả thực là một cuộc hành quân đầy biến động, bởi lũ voi hoang mới bị bắt cứ liên tục quậy phá rắc rối ở mọi khúc sông cạn, đòi hỏi người ta phải dỗ dành hoặc quất roi liên hồi.

Big Toomai giận dữ dùng gậy sắt chọc mạnh vào người Kala Nag để trút bực dọc, thế nhưng Little Toomai thì đang bồng bềnh trong niềm hạnh phúc đến mức cấm khẩu. Petersen Sahib đã để mắt tới cậu, còn cho cậu tiền thưởng nữa chứ. Cậu cảm thấy phơi phới hệt như một gã lính binh nhì vừa được bước ra khỏi hàng ngũ và được đích thân vị tổng tư lệnh hết lời khen ngợi.

“Petersen Sahib có ý gì về điệu nhảy của voi vậy mẹ?” mãi một lúc sau, cậu mới khẽ khàng hỏi mẹ mình.

Big Toomai thính tai nghe thấy, bèn gắt gỏng: “Ý là con sẽ không bao giờ trở thành một trong những con trâu đồi của bọn thợ săn theo dấu. Ý ngài ấy là thế đấy. Ồ, cái anh đằng trước kia, cái quái gì đang ngáng đường vậy hả?”

Một người nài voi Assamese cưỡi con voi đi cách hai ba nhịp phía trước, bực bội quay đầu lại, quát tháo ầm ĩ: “Đưa con Kala Nag lên đây, và cho cái thằng nhóc này của tôi một trận nhừ tử để nó biết cư xử đi. Tại sao Petersen Sahib lại ném tôi xuống cùng với đám lừa ở đồng lúa các người chứ? Lái con thú của anh lên ngang sườn đi, Toomai, và xúi nó thúc ngà vào. Nhân danh tất thảy các Vị Thần Của Những Ngọn Đồi, những con voi mới này bị ma ám rồi, hay là chúng đang ngửi thấy mùi đồng loại của mình trong rừng sâu chăng.” Kala Nag lấy đà tông mạnh vào sườn con voi tơ khiến nó sặc khí. Big Toomai vừa ra tay vừa bực dọc càu nhàu, “Chúng tôi đã càn quét sạch sành sanh bầy voi hoang dã trên những ngọn đồi ở đợt vây bắt cuối cùng rồi. Chẳng qua là do sự bất cẩn trong việc điều khiển voi của anh thôi. Lẽ nào một mình tôi phải đi giữ trật tự dọc theo toàn bộ tuyến đường này chắc?”

“Nghe anh ta nói kìa!” người nài voi Assamese dè bỉu. “Chúng tôi đã càn quét sạch những ngọn đồi! Ho! Ho! Các người thật là thông thái, hỡi những con người đồng bằng. Bất cứ kẻ nào dù ngu ngốc đến mấy, ngoại trừ kẻ chưa bao giờ đặt chân đến rừng xanh, đều sẽ biết rằng bọn thú hoang nhận ra những đợt dồn đuổi đã kết thúc cho mùa này rồi. Vì vậy tất thảy những con voi hoang dã tối nay sẽ-nhưng tại sao ta lại phải phí lời thông thái với một con rùa sông rụt cổ chứ?”

“Bọn chúng sẽ làm gì cơ ạ?” Little Toomai gọi lớn với lên.

“Ohe, nhóc. Nhóc có đó không? Thôi được, ta sẽ kể cho nhóc nghe, vì nhóc có một cái đầu lạnh đấy. Tối nay chúng sẽ nhảy múa, và cha nhóc, cái người huênh hoang đã càn quét sạch tất cả các ngọn đồi khỏi tất cả những con voi ấy, sẽ phải cuống cuồng dùng dây xích đôi khóa chặt các cọc buộc của mình.”

“Lời nói nhảm nhí gì thế này?” Big Toomai gắt. “Cha truyền con nối, suốt bốn mươi năm nay chúng tôi đã chăn dắt voi, và chúng tôi chưa bao giờ phải nghe thứ chuyện hoang đường nhảm nhí như vậy về các điệu nhảy.”

“Đúng thế; nhưng một kẻ đồng bằng sống chui rúc trong túp lều chỉ biết vây quanh mình là bốn bức tường túp lều của anh ta thôi. Được rồi, nếu anh giỏi thì hãy để lũ voi của anh không bị cùm xích vào tối nay, rồi căng mắt ra mà xem chuyện gì sẽ xảy ra. Về phần điệu nhảy của chúng, tôi đã từng tận mắt thấy nơi mà-Bapree-bap!13 Sông Dihang có bao nhiêu khúc lượn cơ chứ? Lại thêm một khúc cạn nữa đây, và chúng ta đành phải lùa mấy con voi con bơi qua thôi. Dừng lại đi, cái anh lạch bạch ở phía sau kia.”

Và cứ theo cái cách như vậy, vừa rôm rả trò chuyện, vừa chí chóe cãi vã, vừa lội bì bõm qua những khúc sông, họ đã hoàn tất chuyến hành quân đầu tiên trong ngày, tìm đến một khu vực được sắp xếp như một trạm dừng chân tiếp nhận cho những con voi mới. Nhưng họ đã mất sạch kiên nhẫn từ rất lâu trước khi đến được bãi đáp đó.

Về đến nơi, bầy voi lề mề bị xích hai chân sau vào những chiếc cọc buộc khổng lồ to bằng gốc cây. Những sợi dây thừng phụ trợ được tăng cường thêm cho những con voi mới, và thức ăn khô được chất thành từng đống lớn ngay trước mặt chúng. Những người nài voi miền đồi núi quay trở lại đại bản doanh của Petersen Sahib trong ánh tà dương lờ mờ, không quên dặn dò những người nài voi đồng bằng phải đặc biệt cảnh giác vào đêm hôm đó, và bật cười khùng khục khi những người nài voi đồng bằng ngờ nghệch vặn hỏi lý do.

Little Toomai chú ý dọn xong bữa tối cho Kala Nag. Khi màn đêm lẳng lặng buông xuống, cậu lang thang quanh khu trại với niềm hạnh phúc ngập tràn vô tả, dáo dác tìm kiếm một chiếc trống tom-tom. Trái tim của những đứa trẻ Ấn Độ mỗi khi ngập tràn hân hoan không chọn cách chạy lăng xăng hay làm ồn ào như lẽ thường. Cậu bé chỉ ngồi xuống và tự thết đãi chính mình một bữa tiệc cảm xúc đầy riêng tư. Chẳng phải cậu, Little Toomai, vừa được chính Petersen Sahib quyền uy bắt chuyện đó sao! Nếu không tìm thấy thứ mình muốn, chắc hẳn cậu sẽ phát ốm vì cuồng nhiệt mất. May thay, người bán kẹo ngọt trong trại đã cho cậu mượn một chiếc trống tom-tom nhỏ-loại trống được vỗ bằng mặt bẹt của bàn tay. Dưới những vì sao lấp lánh đầu tiên trên bầu trời, cậu ngồi bắt chéo chân trước mặt Kala Nag, đặt chiếc trống trong lòng rồi say sưa vỗ nhịp. Cậu cứ vỗ, vỗ mãi; và càng nghĩ về niềm vinh hạnh lớn lao vừa được ban cho, cậu càng đánh trống hăng say hơn, lủi thủi nhưng thỏa mãn giữa mớ thức ăn chất đống của voi. Chẳng có lấy một giai điệu hay một lời ca nào, nhưng từng nhịp tùng tùng dội lên đã đủ để thắp sáng niềm hạnh phúc trong cậu.

Lũ voi mới chồm lên, kéo căng những sợi thừng buộc và thỉnh thoảng lại rít lên rống lớn. Từ trong túp lều trại, cậu nghe tiếng mẹ đang hát ru em trai nhỏ ngủ. Đó là một khúc ca cổ kính, xưa lơ xưa lắc về vị Thần Shiv14 vĩ đại, đấng đã từng ấn định thức ăn cho mọi loài muôn thú. Khúc hát êm ru, bềnh bồng với những vần thơ đầu tiên:

Shiv, đấng ban phát mùa màng và thổi lên những ngọn gió,     Ngự trước cánh cửa một ngày thuở hồng hoang xa thẳm,     Trao cho mỗi sinh linh phần định sẵn: thức ăn, nhọc nhằn và số kiếp,     Từ vị Vua uy nghiêm trên ngai vàng guddee15 đến Kẻ Ăn Xin rách rưới chốn cổng thành.         Mọi vật ngài đều tạo tác-Shiva đấng Bảo Tồn độ lượng.         Mahadeo! Mahadeo!16 Ngài đã dựng nên tất thảy-         Những chiếc gai nhọn cho lạc đà, mớ cỏ khô cho đàn bò,         Và trái tim người mẹ che chở cho những cái đầu ngái ngủ, ôi đứa con trai nhỏ của ta!

Kết thúc mỗi đoạn thơ, Little Toomai lại hân hoan hòa theo bằng một tiếng "tunk-a-tunk", cho đến khi cơn buồn ngủ kéo đến khiến cậu phải duỗi mình trên đống cỏ khô cạnh Kala Nag. Cuối cùng, từng con voi cũng dần quỳ phục xuống theo thói quen của giống loài, chỉ trừ Kala Nag ở cuối hàng bên phải vẫn sừng sững đứng đó. Nó từ từ đung đưa mình sang hai bên, đôi tai vểnh về phía trước như đang nghe ngóng cơn gió đêm mơn man thổi qua những sườn đồi. Không gian hòa quyện vô vàn những âm thanh về đêm, dệt nên một sự tĩnh mịch khổng lồ bao trùm vạn vật-tiếng lách cách của những lóng tre cọ xát vào nhau, tiếng sột soạt của một sinh linh nào đó cựa quậy trong lùm cây, tiếng rỉa cánh và tiếng quang quác của con chim nào đó còn ngái ngủ (chim muông thường hay thức giấc giữa đêm hơn chúng ta vẫn tưởng rất nhiều), và cả tiếng róc rách của dòng nước đổ xuống từ một nơi xa xăm thăm thẳm. Little Toomai đã chìm vào giấc ngủ được một lát, đến lúc cậu bừng tỉnh, ánh trăng đã sáng tỏ rạng ngời, và Kala Nag vẫn đứng sừng sững với đôi tai dỏng cao. Little Toomai cựa mình, làm đống cỏ khô sột soạt, đôi mắt cậu dõi theo đường cong trên tấm lưng đồ sộ của nó in hằn giữa nền trời chi chít ánh sao. Và chính trong khoảnh khắc tĩnh lặng ấy, vẳng từ nơi nào đó rất xa, xa đến mức chỉ mỏng manh như một tiếng kim châm xuyên qua sự tĩnh mịch, cậu nghe thấy tiếng "hoot-toot" vang vọng của một con voi hoang dã.

Cả bầy voi trong hàng nhất loạt chồm dậy như thể bị nã đạn. Tiếng càu nhàu bực dọc của chúng rốt cuộc cũng đánh thức những người nài voi đang say giấc. Họ túa ra, giáng những chiếc vồ lớn xuống các cọc buộc, siết chặt sợi dây này và thắt nút sợi dây nọ cho đến khi vạn vật lại chìm vào im ắng. Một con voi mới suýt chút nữa đã nhổ bật chiếc cọc buộc của nó. Big Toomai vội tháo xích chân Kala Nag và cùm chân trước của nó vào chân sau của con voi kia, nhưng không quên vòng một sợi thừng cỏ quanh chân Kala Nag để răn đe rằng nó đang bị trói chặt. Ông biết rõ ông, cùng với cha và cả ông nội mình, đều đã làm thủ thuật này ròng rã hàng trăm lần trước đó. Vậy mà Kala Nag không hề ùng ục trong họng ngoan ngoãn đáp lời như mọi bận. Nó bất động, trân trân nhìn ra phía ánh trăng, chiếc đầu hơi nghểnh lên và đôi tai xòe rộng như hai cánh quạt, hướng thẳng về những sườn núi cuộn trào của dãy Garo.

"Chăm nom nó nếu đêm nay nó bồn chồn," Big Toomai dặn dò cậu con trai, rồi ông lẳng lặng quay về túp lều và chìm vào giấc ngủ. Little Toomai cũng đang thiu thiu chìm vào giấc nồng thì thình lình nghe thấy một tiếng "tách" giòn rụm của sợi dây xơ dừa bị đứt phựt. Kala Nag đang chầm chậm và lẳng lặng lách mình khỏi những cọc buộc, trơn tru y hệt một đám mây cuồn cuộn trôi khỏi miệng thung lũng. Little Toomai lạch cạch chạy chân trần bám theo, dọc xuống lối mòn nhuộm đẫm ánh trăng, thầm thì gọi với theo: "Kala Nag! Kala Nag! Cho ta theo với, ôi Kala Nag!" Con voi quay người lại trong tĩnh lặng tuyệt đối, cất ba sải chân rảo lại chỗ cậu bé dưới ánh trăng. Nó chúi chiếc vòi xuống, quặp lấy cậu tung bổng lên cổ, và gần như trước khi Little Toomai kịp bám chặt đầu gối, nó đã trôi tuột vào bóng đêm thăm thẳm của rừng già.

Một tiếng rống dội lên rung chuyển từ hàng ngũ voi, nhưng rồi sự im lìm lại nhanh chóng nuốt chửng mọi thứ. Kala Nag bắt đầu sải bước. Thỉnh thoảng, một vạt cỏ cao lướt qua sườn nó nhẹ như gợn sóng lướt qua mạn thuyền; đôi khi, một cụm dây tiêu dại sượt dọc trên lưng nó, hay một thân tre rên rỉ kẽo kẹt khi bị bờ vai khổng lồ hích phải. Nhưng giữa những âm thanh xao động ấy, nó di chuyển trong một sự tĩnh mịch tuyệt đối, bồng bềnh trôi qua khu rừng Garo rậm rạp tựa một dải khói mờ. Nó đang leo ngược lên đỉnh đồi, nhưng dẫu cho Little Toomai có ngước nhìn những vì sao lấp lánh qua kẽ lá, cậu cũng chẳng tài nào đoán nổi là mình đang đi về hướng nào.

Lát sau, Kala Nag đã đặt chân lên đỉnh dốc và dừng lại một khắc. Little Toomai ngợp mắt trước biển ngọn cây trải dài vô tận, đốm lốm đốm và nhạt nhòa dưới ánh trăng mờ ảo, trải xa tít tắp đến hàng dặm. Màn sương mù trắng xanh lững lờ đắp chăn lên con sông dưới đáy thung lũng sâu. Cậu bé rướn người nhòm xuống, cảm nhận khu rừng dưới chân mình đã choàng tỉnh giấc-một sự thức tỉnh rùng mình, cuồn cuộn sinh khí và đông đúc nghẹt thở. Một con dơi ăn quả màu nâu lớn vụt qua sượt ngang tai cậu; những chiếc lông nhím xào xạc lủi nhanh trong lùm cây rậm rạp; và trong màn đêm đặc quánh giữa những thân cây, cậu nghe thấy tiếng một con gấu lợn đang sục sạo hùng hục vào lớp đất tơi xốp, ẩm ướt, thở phì phò đánh hơi từng ngụm đất.

Rồi những vòm cây lại vươn mình khép lại trên đỉnh đầu, Kala Nag bắt đầu lao xuống thung lũng-không còn sự êm ái như trước, mà như một cỗ pháo mất phanh tuột dốc lao ầm ầm xuống bờ đá dựng đứng. Đôi chân đồ sộ dập xuống đều đặn tựa những xi-lanh khổng lồ, mỗi sải dài tám feet, khiến lớp da nhăn nheo ở các khớp khuỷu cọ xát vào nhau kêu sột soạt. Đám bụi rậm hai bên sườn bị xé toạc, vang lên như tiếng một xấp vải rách bươm. Những thân cây non bị cặp vai đồ sộ của nó hất văng sang hai bên, nảy bật lại và đập chát chúa vào hông nó. Những dải dây leo vĩ đại bện xoắn vào nhau lủng lẳng móc trên ngà, trong khi nó không ngừng lắc lư đầu mở đường xông tới. Little Toomai đành phải thu mình áp chặt vào chiếc cổ bè vạm vỡ để tránh bị những cành cây đung đưa quét rơi khỏi lưng nó. Trong khoảnh khắc ấy, cậu chỉ ao ước được trở về nương náu bên những hàng cọc buộc một lần nữa.

{0010}

Lớp cỏ dưới chân bắt đầu nhão nhoét bùn lầy, đôi chân Kala Nag sụt xuống, phát ra những tiếng lép nhép bòn bọt, và lớp sương đêm cô đọng dưới đáy thung lũng quất vào người làm Little Toomai lạnh cóng. Bỗng có tiếng bì bõm, tiếng giẫm đạp rầm rập, và âm thanh của dòng nước chảy xiết. Kala Nag lội xuống lòng sông, cẩn trọng dò dẫm từng bước một. Vượt qua tiếng nước sôi ùng ục quanh cặp chân khổng lồ, Little Toomai lắng nghe thấy vô số tiếng bì bõm lội nước và những tiếng rống đan xen vang vọng từ cả thượng nguồn lẫn hạ lưu-những tràng càu nhàu ầm ĩ và những tiếng khịt mũi hậm hực. Tất cả làn sương mù cuồn cuộn vây quanh cậu như thể đặc quánh lại bởi những chiếc bóng khổng lồ đang chập chờn bơi lội.

"Ai!" Cậu buột miệng thảng thốt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. "Cư dân loài voi đã tụ họp vào đêm nay. Vậy ra đây chính là điệu nhảy đó!"

Kala Nag lóp ngóp bước ra khỏi dòng nước, xịt vòi thật sạch sẽ, rồi bắt đầu một chặng leo dốc mới. Nhưng lần này, nó chẳng hề đơn độc, và cũng chẳng cần tự mình cày xới mở đường. Một lối mòn rộng tới sáu feet đã được tạo sẵn ngay trước mặt nó, nơi những vạt cỏ rừng bẹp dúm đang tuyệt vọng oằn mình cố gượng dậy. Hẳn phải có hàng đàn voi vừa lũ lượt rầm rập đi qua con đường ấy chỉ vài phút trước. Little Toomai ngoái đầu nhìn lại, và lù lù sau lưng cậu là một con voi đực hoang dã vĩ đại với đôi mắt ti hí đỏ rực như những hòn than rực lửa vừa nhấc cái xác khổng lồ của mình ra khỏi dòng sông ngậm sương. Rồi rừng cây lại khép chặt lại, chúng tiếp tục lầm lũi dấn bước và leo lên, bao bọc bởi những tiếng rống rền vang và tiếng cành cây gãy răng rắc vỡ vụn dội lại từ tứ phía.

{5317}

Điệu nhảy của loài voi

Cuối cùng, Kala Nag cũng đứng khựng lại giữa hai gốc cây trên đỉnh đồi. Chúng nằm trong vòng tròn thân cây bao quanh một khu đất nhấp nhô rộng chừng ba bốn mẫu Anh. Ở không gian đó, Little Toomai có thể thấy rõ mặt đất đã bị giẫm đạp đến mức cứng đanh lại như nền gạch. Vài thân cây mọc trơ trọi giữa bãi đất trống bị cọ xát đến tróc cả vỏ, để lộ lớp gỗ trắng bên dưới bóng nhẫy, lấp lánh dưới ánh trăng. Từ những cành cây cao tít, vô số rễ phụ và thân leo buông thõng xuống. Những bông hoa hình quả chuông to cỡ cái phễu, mang sắc trắng như sáp, đang chìm trong giấc ngủ say sưa. Xuyên suốt khoảng không gian rộng lớn ấy, không một ngọn cỏ xanh nào có thể tồn tại-tất cả chỉ còn lại một mặt đất bị giẫm nát bươm.

Ánh trăng phủ lên vạn vật một màu xám sắt lạnh lẽo, ngoại trừ bóng đen đặc như mực của vài con voi đang đứng bất động. Little Toomai nín thở, đôi mắt mở to đến mức tưởng chừng sắp lồi ra khỏi tròng. Cậu dõi theo từng chuyển động. Càng lúc càng có nhiều voi lắc lư bước ra bãi đất trống từ giữa những thân cây. Cậu bé đếm nhẩm đến mười, rồi lại đếm lại trên những ngón tay cho tới khi những con số chục ấy lẫn lộn vào nhau, và đầu cậu bắt đầu quay cuồng. Từ bên ngoài bãi trống, cậu nghe rõ tiếng chúng lao ầm ầm qua lớp bụi rậm, rẽ lối tiến lên sườn đồi; nhưng kỳ lạ thay, ngay khi bước vào trong vòng tròn cây, bầy voi lại lướt đi êm ru như những bóng ma.

Có những con voi đực hoang dã mang đôi ngà trắng lóa, cõng trên mình lớp lá khô, hạt dẻ và những nhánh cây nhỏ vướng trong những nếp nhăn quanh cổ hay mép tai. Theo sau là những con voi cái béo mập, lê những bước chậm chạp, cùng bầy voi con đen trùi trũi, pha chút phớt hồng, cao chừng ba bốn feet, cứ chạy lon ton dưới bụng mẹ mà chẳng chịu đứng yên phút nào. Kế đó là những chàng voi thanh niên kiêu hãnh với cặp ngà mới nhú. Lại có cả những lão voi già ế lêu nghêu, gầy gò, khuôn mặt hốc hác trĩu nặng âu lo, chiếc vòi sần sùi như vỏ cây cằn cỗi. Không thể thiếu những gã voi đực già hung tợn, thân hình chằng chịt những vết sẹo kéo dài từ vai xuống hông, tàn tích của những cuộc tử chiến lẫy lừng; lớp bùn khô khốc từ những lần đằm mình cô độc đang lả tả rụng xuống quanh vai chúng. Trong số đó, có một con voi gãy mất một bên ngà, mang trên hông vết cào xé rợn người do vuốt hổ tát vào bằng toàn bộ sức mạnh.

Chúng đứng thành từng vòng quay đầu vào nhau, hoặc bước qua bước lại thành cặp, đôi khi lại đứng lắc lư, đung đưa một mình-hàng chục rồi lại hàng chục con voi khổng lồ quy tụ.

Toomai biết rằng, chừng nào cậu vẫn ngoan ngoãn nằm im trên lưng Kala Nag, thì sẽ chẳng có mối nguy hiểm nào đe dọa cậu. Ngay cả giữa cảnh chen lấn, xô đẩy hỗn loạn của cuộc dồn đuổi Keddah, chưa từng có con voi hoang dã nào vươn vòi kéo một người nài xuống khỏi cổ voi nhà. Đêm nay, bầy voi dường như đã lãng quên hoàn toàn sự tồn tại của con người. Thỉnh thoảng, chúng khẽ giật mình, vểnh tai nghe ngóng khi có tiếng gông sắt loảng xoảng vang lên từ phía chân đồi. Đó là Pudmini, cô voi cưng của Petersen Sahib. Sợi xích dưới chân nó đã bị giật đứt ngắn ngủn. Nó vừa đi lên đồi vừa càu nhàu, khịt mũi phì phò. Hẳn là nó đã nhổ toạc chiếc cọc buộc của mình để đi thẳng từ trại của Petersen Sahib đến đây. Little Toomai còn nhìn thấy một con voi lạ hoắc với những vết xước sâu hoắm do dây thừng cứa vào ngực và lưng. Rất có thể nó cũng vừa tẩu thoát khỏi một khu trại nào đó trên những ngọn đồi quanh đây.

Cuối cùng, khi không còn tiếng động nào báo hiệu sự xuất hiện của voi từ trong rừng rậm, Kala Nag mới lững thững bước ra khỏi những gốc cây, hòa mình vào đám đông. Tiếng lách cách và gầm gừ vang lên, bầy voi bắt đầu trò chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng biệt và đi dạo quanh bãi đất.

{0271}

Little Toomai nhìn xuống hàng tá, hàng tá những chiếc lưng rộng lớn.

Nằm rạp sát xuống cổ voi, Little Toomai đưa mắt nhìn xuống hàng tá và hàng tá những tấm lưng bè bè, những đôi tai vung vẩy, những chiếc vòi hếch lên và những con mắt nhỏ tí xíu đảo liên hồi. Cậu nghe thấy tiếng lách cách khi những chiếc ngà vô tình va vào nhau, tiếng sột soạt khô khốc của những cái vòi đang quấn quýt, tiếng cọ xát của những tấm vai và mạn sườn khổng lồ giữa bầy đàn, cùng với tiếng đuôi quất phật phật liên hồi. Sau đó, một đám mây trôi qua che khuất mặt trăng, dìm cậu bé vào màn đêm đen đặc. Nhưng sự xô đẩy, chen lấn đều đặn, tĩnh lặng cùng những tiếng rầm rừ vẫn không hề thay đổi. Cậu biết voi đang bao vây Kala Nag từ mọi phía, không có cách nào lùi lại để tách khỏi hội nhóm. Cậu cắn chặt răng, cơ thể run lên bần bật. Ở Keddah chí ít còn có ánh đuốc và tiếng la hét, nhưng tại đây, cậu hoàn toàn cô độc giữa bóng tối bủa vây. Thậm chí có lúc, một chiếc vòi đã vươn lên chạm khẽ vào đầu gối cậu.

Rồi một con voi cất tiếng rống, châm ngòi cho cả bầy gào thét theo suốt năm mười giây kinh hoàng. Sương đêm từ trên cao thi nhau rơi lách tách như mưa xuống những bờ lưng khuất chìm trong bóng tối. Một âm thanh trầm đục bắt đầu vang lên. Ban đầu, nó chưa đủ lớn để Little Toomai đoán được là tiếng gì. Nhưng âm thanh ấy cứ lớn dần, lớn dần. Kala Nag bắt đầu nhấc chân trước lên, rồi đến chân kia, và nện mạnh xuống đất-một-hai, một-hai, đều đặn như nhịp búa nện. Giờ đây, cả bầy voi đang giậm chân cùng một lúc. Âm thanh bùng nổ tựa như tiếng trống trận dội vang trước cửa hang. Sương trên cành thi nhau rụng xuống đến giọt cuối cùng. Tiếng uỳnh uỳnh dội vang không ngớt, khiến mặt đất rung chuyển bần bật. Little Toomai phải bịt chặt hai tay vào tai để xua đi tiếng ồn kinh khủng ấy. Nhưng cậu vẫn cảm nhận được một cơn chấn động khổng lồ chạy dọc khắp cơ thể-âm vang của hàng trăm bàn chân nặng nề đang giậm nát mặt đất gồ ghề. Đôi lúc, cậu thấy Kala Nag và cả bầy cuồn cuộn tiến lên phía trước vài sải chân, tiếng thình thịch chuyển thành tiếng nghiến rắc rắc của những thân cây tươi non bị chà nát. Nhưng chỉ một lúc sau, tiếng chân nện xuống nền đất cứng lại tiếp tục vang dội. Có tiếng cây rên rỉ, cọt kẹt gãy gập ngay sát cạnh. Cậu với tay ra và sờ thấy một lớp vỏ cây, nhưng Kala Nag lại giẫm nhịp bước tới khiến cậu không thể định vị được mình đang ở đâu giữa bãi đất trống. Tuyệt nhiên không một tiếng kêu nào phát ra từ bầy voi, ngoại trừ một lần duy nhất khi hai ba con voi con ré lên cùng lúc. Sau đó là tiếng uỵch nặng nề, tiếng xào xạc, và tiếng giậm chân đùng đùng lại tiếp diễn. Cảnh tượng ấy kéo dài trọn hai giờ đồng hồ, khiến từng nơ-ron thần kinh của Little Toomai đau nhức buốt óc. Nhưng nhờ vào mùi hương đặc trưng của không khí ban đêm, cậu biết bình minh đang tới.

Buổi sáng thức giấc với dải lụa màu vàng nhạt trải dài phía sau những ngọn đồi xanh biếc. Ngay khi tia sáng đầu tiên rọi xuống, như một hiệu lệnh vô hình, tiếng đùng đùng vang rền đột ngột im bặt. Trước khi Little Toomai kịp xua tan tiếng ong ong trong đầu, thậm chí trước khi cậu kịp đổi tư thế, toàn bộ bầy voi đã biến mất tăm, chẳng để lại dấu vết hay tiếng xào xạc nào trên sườn đồi để đoán xem chúng đã đi đâu. Trên bãi trống giờ chỉ còn lại Kala Nag, Pudmini, và con voi có những vết cứa chằng chịt.

Little Toomai hết nhìn rồi lại nhìn. Hình như bãi đất trống đã rộng ra thêm trong đêm. Vẫn có vài cái cây mọc giữa bãi đất, nhưng lớp cỏ rừng và bụi rậm xung quanh đã bị dẹp sang hai bên. Cậu đờ đẫn nhìn lần nữa, chợt vỡ lẽ nguồn cơn của tiếng giậm chân kia. Bầy voi đã giậm nát lớp cỏ dày cùng những bụi mía tươi non thành rác rưởi, nghiền nát đống rác ấy thành vụn vặt, băm nhỏ vụn vặt thành xơ tơi tả, rồi nện chặt tất cả xuống nền đất cứng còng.

"Chà!" Little Toomai thốt lên với đôi mắt nặng trĩu. "Kala Nag, ông bạn lớn của ta, hãy theo chân Pudmini về lại trại của Petersen Sahib thôi, nếu không ta sẽ lộn cổ xuống đất mất."

Con voi thứ ba đứng nhìn hai người bạn rời đi, khịt mũi một tiếng, rồi quay mình bước đi theo con đường riêng. Biết đâu, nó lại thuộc về cơ ngơi của một vị vua bản địa nhỏ bé nào đó, cách đây năm sáu chục, hay thậm chí cả trăm dặm.

Nhưng, vì những đứa trẻ bản địa vốn chẳng có một hệ thần kinh quá nhạy cảm để mà bận tâm, chỉ hai giờ sau, cậu nhóc đã nằm cuộn tròn thoải mái trên chiếc võng của Petersen Sahib, gối đầu lên chiếc áo khoác đi săn của ngài. Trong bụng cậu êm ái nhờ một ly sữa ấm, chút rượu brandy và một ít quinin. Và rồi, trong khi những gã thợ săn già dặn, rậm rạp lông lá và đầy sẹo rừng chật ních xếp thành ba vòng trước mặt, nhìn cậu trân trân như thể đang thấy một hồn ma, cậu bé thủng thẳng kể lại câu chuyện của mình. Những lời kể ngắn gọn, gãy gọn đúng kiểu trẻ con, và cậu kết thúc bằng một lời khẳng định:

“Giờ thì, nếu cháu nói dối nửa lời, xin ngài cứ sai người đi kiểm chứng. Họ sẽ thấy bầy voi đã giậm nát và dọn quang thêm biết bao nhiêu chỗ trong phòng khiêu vũ của chúng. Và họ sẽ tìm thấy hàng chục, hàng chục, vô vàn dấu chân dẫn tới đó. Chúng đã dùng chính những bàn chân to lớn của mình để nới rộng không gian. Cháu đã tận mắt chứng kiến. Kala Nag đã đưa cháu đi, và cháu đã thấy tất cả. Giờ thì Kala Nag đang mỏi nhừ chân rồi đấy!”

Little Toomai ngả lưng vùi vào giấc ngủ say sưa suốt một buổi chiều dài dằng dặc cho tới tận lúc chạng vạng. Trong lúc cậu ngủ, Petersen Sahib cùng Machua Appa đã lần theo dấu vết của hai con voi suốt mười lăm dặm đường đồi. Suốt mười tám năm lăn lộn trong nghề săn voi, Petersen Sahib cũng mới chỉ một lần duy nhất tìm thấy một bãi khiêu vũ như thế. Về phần Machua Appa, ông không cần đưa mắt nhìn bãi đất trống đến lần thứ hai để biết chuyện gì đã xảy ra ở đó, cũng chẳng buồn lấy mũi chân bới thử lớp đất đã bị giẫm đến ép cứng, đầm chặt như đá.

“Thằng bé nói sự thật,” ông ta lên tiếng. “Tất cả những chuyện này vừa mới diễn ra đêm qua thôi, và tôi đếm được có đến bảy mươi dấu chân lội qua sông. Nhìn kìa, thưa ngài, chỗ cái gông sắt dưới chân con Pudmini đã chém lẹm vào vỏ cái cây kia! Vâng; nó cũng có mặt ở đó.”

Họ đưa mắt nhìn nhau rồi lại nhìn quanh quất, trong lòng dâng lên một sự kinh ngạc tột độ. Bởi lẽ, tập tính bí ẩn của loài voi vốn đã vượt xa khỏi tầm hiểu biết của bất kỳ người đàn ông nào, dẫu là người da đen hay người da trắng, để có thể tường minh.

“Bốn mươi lăm năm,” Machua Appa trầm ngâm, “tôi đã dành để đi theo những vị lãnh chúa của tôi, loài voi. Thế nhưng, tôi chưa từng nghe nói tới bất kỳ một đứa con nào của loài người lại được chứng kiến những điều thằng bé này đã thấy. Nhân danh tất cả các Vị Thần của Những Ngọn Đồi, chuyện đó thật... chúng ta có thể nói được gì nữa đây?” Vừa nói, ông vừa khẽ lắc đầu.

Lúc họ quay về tới khu trại thì cũng vừa đến giờ ăn tối. Petersen Sahib ngồi dùng bữa một mình trong lều, nhưng ngài truyền lệnh cho khu trại đem nướng hai con cừu cùng một ít gà tơ. Khẩu phần bột mì, gạo và muối cũng được cấp phát gấp đôi, bởi ngài biết đêm nay sẽ là một đêm tiệc tùng.

{5332}

Toomai of the Elephants

Từ khu trại dưới đồng bằng, Big Toomai đã hấp tấp lật đật chạy ngược lên để lùng sục tìm kiếm cậu con trai cùng con voi của mình. Và giờ, khi đã tìm thấy cả hai, ông lại nhìn họ với một ánh mắt như thể chất chứa sự e dè, sợ sệt. Một bữa tiệc tưng bừng bắt đầu diễn ra bên ánh lửa trại rực rỡ, ngay phía trước hàng ngũ của bầy voi đang bị buộc chặt vào cọc, và Little Toomai chính là người hùng của toàn bộ đêm hội ấy. Những thợ bắt voi da nâu to con vạm vỡ, những người theo dấu, những người nài voi, người trói voi, và cả những cao thủ nắm giữ mọi bí quyết thuần phục những con voi hoang dã nhất, chuyền tay đưa cậu nhóc từ người này sang người khác. Họ lấy máu từ ngực một con gà rừng vừa cắt tiết quệt lên trán cậu, một nghi thức thiêng liêng để minh chứng rằng: từ nay cậu đã là một người con của rừng già, đã chính thức được nhập môn và hoàn toàn tự do sải bước trong bất cứ cánh rừng nào.

Và rồi, khi những ngọn lửa dần tàn lụi, ánh than củi đỏ rực hắt lên tạo ra một ảo giác như thể cả bầy voi cũng vừa được nhúng vào trong máu. Lúc ấy, Machua Appa, vị thủ lĩnh đứng đầu toàn bộ các nài voi của mọi Keddah-Machua Appa, người được ví như bản ngã thứ hai của Petersen Sahib, người suốt bốn mươi năm qua chưa từng đặt chân lên một con đường nào được xây đúc đàng hoàng; Machua Appa, một tượng đài vĩ đại đến mức ông chẳng cần đến cái tên nào khác ngoài Machua Appa-đột ngột đứng bật dậy. Ông nhấc bổng Little Toomai đưa lên cao vút qua khỏi đỉnh đầu mình, rồi cất giọng vang dội:

“Lắng nghe đây, các anh em. Hãy lắng nghe nữa nhé, hỡi các vị chúa tể đang đứng trong hàng ngũ kia, vì ta, Machua Appa, đang cất tiếng! Đứa trẻ này từ nay sẽ không còn bị gọi là Little Toomai nữa, mà sẽ là Toomai of the Elephants, đúng như cái cách người cụ vĩ đại của nó từng được gọi trước đây. Những gì mà con người chưa từng được chiêm ngưỡng thì nó đã nhìn thấu suốt một đêm dài, và sự ân sủng của giống loài voi cùng các Vị Thần Rừng Xanh sẽ luôn đi theo bảo vệ nó. Nó sẽ trở thành một người theo dấu vĩ đại. Nó sẽ vĩ đại hơn cả ta, vâng, vĩ đại hơn cả Machua Appa này! Bằng một đôi mắt tinh tường, nó sẽ lần theo những con đường mới, những dấu vết cũ, và cả những dấu tích hỗn tạp đan xen! Nó sẽ chẳng hề hấn gì khi chạy luồn dưới bụng những con voi đực hoang dã trong Keddah để dùng dây thừng trói chúng lại. Và dẫu cho nó có lỡ trượt ngã trước mũi chân của một con voi đực đang điên cuồng lao tới, con voi đực ấy sẽ nhận ra nó là ai và sẽ không giẫm nát nó. Aihai! Hỡi những vị lãnh chúa đang mang xích của ta,”-ông lao vụt đến chỗ hàng rào cọc buộc-“đây chính là đứa trẻ đã nhìn thấy điệu nhảy của các ngài ở sâu trong những nơi ẩn náu thiêng liêng nhất,-một cảnh tượng mà chưa gã đàn ông nào từng được nhìn thấy! Hãy tôn vinh nó đi, hỡi các lãnh chúa của ta! Salaam karo, các con của ta. Hãy cất tiếng chào mừng Toomai of the Elephants! Gunga Pershad, ahaa! Hira Guj, Birchi Guj, Kuttar Guj, ahaa! Pudmini,-ngươi đã nhìn thấy nó tại buổi nhảy múa, và cả ngươi nữa, Kala Nag, viên ngọc trai trong bầy voi của ta!-ahaa! Cùng nhau nào! Gửi tới Toomai of the Elephants. Barrao!”

{0279}

Gửi tới Toomai of the Elephants. Barrao!

Và đáp lại tiếng thét hoang dã cuối cùng đó, toàn bộ hàng ngũ voi đồng loạt vươn vòi lên cao cho đến khi chóp vòi cuộn lại chạm vào trán chúng. Chúng nhất tề cất lên một tiếng kèn chào mừng rền vang đất rọi-tiếng rống chói tai, oai hùng mà thường chỉ có vị Phó vương của Ấn Độ mới vinh dự được nghe, một nghi lễ Salaamut thiêng liêng của Keddah.

Nhưng lúc này, tất cả sự thành kính ấy đều được dành riêng cho Little Toomai, người đã chứng kiến điều mà chưa một gã đàn ông nào từng nhìn thấy trước đây-điệu vũ của bầy voi trong đêm tối, hoàn toàn đơn độc ngay giữa trái tim của những ngọn đồi Garo!



  1. Cuộc Chiến tranh Anglo-Afghan lần thứ nhất (1839-1842). Việc Kala Nag từng tham gia cuộc chiến này cho thấy độ tuổi rất già và kinh nghiệm trận mạc dày dặn của chú voi. 

  2. Ám chỉ cuộc viễn chinh của quân Anh tới Abyssinia (đế quốc Ethiopia) năm 1868. Hoàng đế Tewodros II (Theodore) đã tự sát tại pháo đài Magdala thay vì đầu hàng quân Anh. 

  3. Tên một pháo đài tại Đèo Khyber (gần biên giới Afghanistan), nơi diễn ra trận chiến tàn khốc trong cuộc Chiến tranh Anglo-Afghan lần thứ hai (1878). Khu vực này nổi tiếng với khí hậu vô cùng khắc nghiệt. 

  4. Thành phố Moulmein (nay là Mawlamyine thuộc Myanmar), từng là một trung tâm khai thác và xuất khẩu gỗ tếch khổng lồ của Đế quốc Anh. 

  5. Rặng đồi Garo nằm ở bang Meghalaya, đông bắc Ấn Độ, một khu vực rừng núi rậm rạp nổi tiếng với quần thể voi hoang dã lớn. 

  6. Dụng cụ điều khiển voi truyền thống của Ấn Độ, gồm một thanh sắt hoặc đồng có đầu nhọn và một chiếc móc cong. 

  7. Tước hiệu dành cho vua, vương hầu hoặc những người cai trị các tiểu quốc bản địa tại Ấn Độ. 

  8. Bành voi, một loại bệ ngồi có mui che hoặc không, được gắn trên lưng voi để chở khách quý hoặc hoàng gia. 

  9. Thành phố Kanpur (nay thuộc bang Uttar Pradesh, Ấn Độ), từng là một trong những căn cứ quân sự (doanh trại) lớn và quan trọng bậc nhất của Anh tại Ấn Độ. 

  10. Một hệ thống rào chắn kiên cố bằng gỗ khổng lồ dùng ở Ấn Độ để lùa và bẫy voi hoang dã nhằm mục đích bắt giữ và thuần dưỡng. 

  11. Từ 'Sahib' bắt nguồn từ tiếng Ả Rập (có nghĩa là 'ông chủ' hoặc 'ngài'), là tước hiệu tôn kính thường được người dân Ấn Độ thời thuộc địa dùng để gọi những người châu Âu có địa vị. 

  12. Đơn vị tiền tệ cũ của Ấn Độ thời thuộc Anh. Một rupee tương đương 16 anna, nên bốn anna bằng một phần tư rupee, đủ để mua được rất nhiều kẹo thời bấy giờ. 

  13. Một câu cảm thán phổ biến trong tiếng Hindi (nguyên gốc là 'bap re bap', nghĩa đen là 'ôi cha ơi'), dùng để bộc lộ sự kinh ngạc, hoảng hốt hoặc khiếp sợ. 

  14. Tức thần Shiva, một trong ba vị thần tối cao (Trimurti) của Ấn Độ giáo, mang cả sức mạnh hủy diệt và tái sinh vũ trụ. 

  15. Ngai vàng hoặc đệm ngồi truyền thống của các vị vua chúa Ấn Độ. 

  16. Bắt nguồn từ tiếng Phạn 'Maha Deva' (có nghĩa là Đại Thần), đây là một tên gọi khác rất phổ biến để tôn vinh vị thần tối cao Shiva.